THỜI GIAN LÀM VIỆC 24/24
 

HOTLINE : (028) 6270 0119 - (028) 2215 4274
0982 120 908 - 090 371 5529 - 0933 161 985
Cơ sở 1: 1051 Bình Quới (XVNT) - P.28 - Q.Bình Thạnh - Tp.HCM
Cơ sở 2: 978 Nguyễn Duy Trinh - P. Phú Hữu - Q9 - Tp.HCM

TRUNG TÂM ĐIỀU DƯỠNG VÀ CAI NGHIỆN MA TÚY THANH ĐA 
Địa chỉ : 1051 Bình Quới (Xô Viết Nghệ Tĩnh) - P.28 - Q.Bình Thạnh - Tp.HCM
Điện thoại: (08).38986513 - 38986515(Ext:12) - (08).22154274 - MST: 0301910027

DÂN TA PHẢI BIẾT SỬ TA, CHO TƯỜNG GỐC TÍCH NƯỚC NHÀ VIỆT NAM

 


CÁC VUA HÙNG ĐÃ CÓ CÔNG DỰNG NƯỚC
BÁC CHÁU TA PHẢI CÙNG NHAU GIỮ LẤY NƯỚC

***
KHÔNG CÓ GÌ QUÝ HƠN ĐỘC LẬP TỰ DO

***
NƯỚC VIỆT NAM LÀ MỘT - DÂN TỘC VIỆT NAM LÀ MỘT
SÔNG CÓ THỂ CẠN, NÚI CÓ THỂ MÒN.
SONG CHÂN LÝ ẤY KHÔNG BAO GIỜ THAY ĐỔI

Hồ Chí Minh

Trong đời tôi, tôi đã từng làm tay sai cho Pháp, rồi tay sai cho Mỹ, đã quá đủ rồi. Tôi không thể tiếp tục làm tay sai cho Trung Quốc.
Tổng thống VNCH - Đại tướng Dương Văn Minh


Chống thực dân Pháp, chống đế quốc Mỹ, chống bọn bành trướng Bắc Kinh để làm gì cho tốn máu xương?
Cách tốt nhất là biến miền Nam thành thuộc địa của Pháp hay của Mỹ, miền Bắc thành một tỉnh của Tàu là khỏe re.

Người Việt bán nước

 

LỜI CHA DẠY LÚC CÒN THƠ 
SỐNG / CHẾT – Cụ Sào Nam Phan Bội Châu

 


SỐNG
Sống tủi làm chi đứng chật trời
Sống nhìn thế giới hổ chăng ai
Sống làm nô lệ cho người khiến
Sống chịu ngu si để chúng cười
Sống tưởng công danh, không tưởng nước
Sống lo phú quý chẳng lo đời,
Sống mà như thế đừng nên sống!
Sống tủi làm chi đứng chật trời?

Sào Nam Phan Bội Châu


CHẾT
Chết mà vì nước, chết vì dân,
Chết đấng nam nhi trả nợ trần.
Chết buổi Đông Chu, hồn thất quốc,
Chết như Tây Hán lúc tam phân.
Chết như Hưng Đạo, hồn thành thánh,
Chết tựa Trưng Vương, phách hóa thần.
Chết cụ Tây Hồ danh chẳng chết,
Chết mà vì nước, chết vì dân.

Sào Nam Phan Bội Châu

***

I. TỔNG QUAN

Chúng ta có hơn 4000 năm giữ nước chống Đại Hán Trung Quốc, Thực Dân Pháp, Phát Xít Nhật và Đế Quốc Mỹ, Chống Trung Quốc chúng ta sẽ có chuyên đề riêng.

  1. VIDEO: SƠ LƯỢC LỊCH SỬ VIỆT NAM TỪ 1945 ĐẾN NĂM 1975
  2. HỘI THẢO ĐẤT NƯỚC SAU 40 NĂM
  3. CÙNG NGHE LẠI LỜI TUYÊN BỐ TỪ CHỨC CỦA NGUYỄN VĂN THIỆU
  4. VIDEO: LỊCH SỬ VIỆT NAM TỪ 1858 ĐẾN 1945 - TAY SAI THỰC DÂN PHÁP
  5. VIDEO: VIỆT NAM THỐNG NHẤT - PHIM TÀI LIỆU DO NHẬT BẢN SẢN XUẤT
  6. LỊCH SỬ VIỆT NAM 1945 ĐẾN 1954 - TAY SAI PHÁT XÍT NHẬT + THỰC DÂN PHÁP VÀ ĐÓN CHỦ MỚI ĐẾ QUỐC MỸ
  7. HÒA ƯỚC GIÁP THÂN (1884)
  8. THỰC DÂN PHÁP XÂM LƯỢC VIỆT NAM: CHIẾN TRANH PHÁP - ĐẠI NAM
  9. KẾ HOẠCH XÂM NHẬP VÀO ĐỈNH CAO QUYỀN LỰC VN CỦA VATICAN
  10. KITÔ GIÁO: LƯỢC SỬ TRUYỀN ĐẠO Ở VIỆT NAM
  11. CHÍNH QUYỀN TAY SAI PHÁT XÍT NHẬT: ĐẾ QUỐC VIỆT NAM
  12. CHÍNH QUYỀN TAY SAI THỰC DÂN PHÁP: QUỐC GIA VIỆT NAM
  13. CHÍNH QUYỀN TAY SAI ĐẾ QUỐC MỸ: VIỆT NAM CỘNG HÒA
  14. VIDEO: BỐN NỖI NHỤC KHÔNG RỬA ĐƯỢC CỦA NGỤY VIỆT NAM CỘNG HÒA
  15. TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP (VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA)
  16. PHONG TRÀO GIẢI PHÓNG DÂN TỘC VIỆT NAM (1885-1945)
  17. CÁCH MẠNG THÁNG TÁM
  18. TỔNG KHỞI NGHĨA HÀ NỘI
  19. HỘI NGHỊ ĐÀ LẠT 1946
  20. PHỦ NHẬN HAI CUỘC KHÁNG CHIẾN THẦN THÁNH CỦA NHÂN DÂN: HÀNH ĐỘNG CỦA NHỮNG KẺ HOANG TƯỞNG VÀ ÁC ĐỘC
  21. SƠ LƯỢC LỊCH SỬ VIỆT NAM 1945 ĐẾN 1954
  22. VIDEO: SƠ LƯỢC LỊCH SỬ VIỆT NAM (1954 - 1975) ĐI ĐẾN MONG ƯỚC CỦA NGƯỜI
  23. HIỆN TƯỢNG VIỆT NAM CHIẾN TRANH ĐÔNG DƯƠNG 1945 - 1968
  24. CHỦ NGHĨA KHỦNG BỐ VÀ DIỆT CHỦNG DÂN TỘC VIỆT NAM CỦA MỸ 1945 - 1974
  25. HIỆN TƯỢNG VIỆT NAM CHIẾN TRANH ĐÔNG DƯƠNG 1968 - 1975
  26. CHIẾN TRANH ĐÔNG DƯƠNG
  27. NHÌN LẠI HAI CUỘC CHIẾN Ở VIỆT NAM - CUỘC CHIẾN 20 NĂM CHỐNG MỸ 1955 - 1975 - PHẦN I
  28. NHÌN LẠI HAI CUỘC CHIẾN Ở VIỆT NAM - CUỘC CHIẾN 20 NĂM CHỐNG MỸ 1955 - 1975 - PHẦN II
  29. ĐÔNG DƯƠNG MỘT CUỘC CHIẾN TRANH NHÂN DÂN
  30. CHIẾN DỊCH ĐÔNG DƯƠNG (1940)
  31. CHỦ NGHĨA KHỦNG BỐ VÀ DIỆT CHỦNG DÂN TỘC VIỆT NAM CỦA MỸ 1945 - 1974
  32. VTV3 - VIỆT NAM TUYẾN LỬA (NHẬT BẢN SX)
  33. VIDEO: GIẢI PHÓNG TRƯỜNG SA 1975 NẾU CHẬM 10 NGÀY, VIỆT NAM SẼ MẤT ĐẢO
  34. CHIẾN DỊCH 'NGOÀI KẾ HOẠCH' GIẢI PHÓNG TRƯỜNG SA 1975
  35. AI LÀ NGƯỜI CHIẾM GIỮ NHIỀU ĐIỂM ĐẢO NHẤT Ở BIỂN ĐÔNG?
  36. BIÊN NIÊN SỬ VIỆT NAM THỜI KỲ 1945-1975
  37. VNCH THUA TẠI BỊ THÌ LÀ...
  38. “KHÉP LẠI QUÁ KHỨ” NHƯNG KHÔNG ĐƯỢC BÓP MÉO LỊCH SỬ
  39. ĐỪNG XUYÊN TẠC LỊCH SỬ DÂN TỘC
  40. SỰ THẬT VỀ CÂY ĐUỐC SỐNG LÊ VĂN TÁM
  41. ÔNG VŨ KHOAN BỘC BẠCH CHUYỆN NGẬM NGÙI "ĐI LÀM KINH TẾ"
  42. VIDEO: QUỐC KỲ VIỆT NAM QUA CÁC THỜI KỲ - PHIM TÀI LIỆU VTV
  43. CUỘC ĐẤU TRANH CHỐNG NHỮNG ÂM MƯU CỦA TƯỞNG GIỚI THẠCH
  44. VIDEO: ĐỜI SỐNG NHÂN DÂN TRUNG QUỐC DƯỚI THỜI CAI TRỊ CỦA TƯỞNG GIỚI THẠCH (QUỐC DÂN ĐẢNG) TRƯỚC KHI BỊ CỘNG SẢN TRUNG QUỐC ĐÁNH BẠI - DƯỚI NHẬN ĐỊNH CỦA CỤ TRẦN TRỌNG KIM
  45. ĐỔI MỚI DẠY - HỌC LỊCH SỬ

(CÒN TIẾP)

II. THỰC DÂN PHÁP

  1. VIỆT NAM VONG QUỐC SỬ
  2. ​THỰC DÂN PHÁP XÂM LƯỢC VIỆT NAM: CHIẾN TRANH PHÁP - ĐẠI NAM
  3. VIDEO: SƠ LƯỢC LỊCH SỬ VIỆT NAM TỪ 1858 ĐẾN 1945
  4. HÀ NỘI THỜI PHÁP THUỘC - TRƯỚC 1954
  5. THỰC DÂN PHÁP XÂM LƯỢC NƯỚC TA
  6. TỘI ÁC CỦA THỰC DÂN PHÁP & NHỮNG TÊN GIÁO SĨ CÔNG GIÁO
  7. NHỮNG TỘI ÁC KINH KHỦNG CỦA ĐẾ QUỐC PHÁP Ở ĐÔNG DƯƠNG (28-09-1927)
  8. BẢN ÁN CHẾ ĐỘ THỰC DÂN PHÁP VÀ Ý NGHĨA CỦA CÁCH MẠNG THÁNG TÁM - 1945
  9. ĐÙ ME "CÔNG TÍCH"
  10. BẢN ÁN CHẾ ĐỘ THỰC DÂN PHÁP 
  11. SỰ CAN THIỆP CỦA MỸ ĐỐI VỚI CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP XÂM LƯỢC LẦN THỨ HAI CỦA VIỆT NAM (1945 – 1954)
  12. YẾU TỐ TRUNG QUỐC TRONG CÁC CUỘC XÂM LƯỢC VIỆT NAM CỦA CÁC NƯỚC PHƯƠNG TÂY
  13. CHÍNH SÁCH NÔ DỊCH VỀ VĂN HÓA CỦA THỰC DÂN PHÁP VÀ MỘT SỐ TRÀO LƯU VĂN HÓA TRƯỚC NĂM 1945 Ở VIỆT NAM
  14. (CÒN TIẾP)

III. PHÁT XÍT NHẬT

  1. CHÍNH QUYỀN TAY SAI PHÁT XÍT NHẬT: ĐẾ QUỐC VIỆT NAM
  2. NHẬT - PHÁP BẮN NHAU VÀ HÀNH ĐỘNG CỦA CHÚNG TA CHỈ THỊ CỦA BAN THƯỜNG VỤ TRUNG ƯƠNG Đ.C.S.Đ.D. NGÀY 12-3-1945
  3. NẠN ĐÓI 1945 - TỘI ÁC CỦA BỌN THỰC DÂN PHÁP -  PHÁT XÍT NHẬT
  4. VIDEO: NỖI ĐAU LỊCH SỬ NẠN ĐÓI 1945
  5. VIDEO: NẠN ĐÓI NĂM 1944-1945 (VIETNAMESE FAMINE OF 1944-1945)
  6. PHONG TRÀO “PHÁ KHO THÓC CỨU ĐÓI” DƯỚI GÓC NHÌN LỊCH SỬ
  7. NHÂN CHỨNG LỊCH SỬ KỂ CHUYỆN PHÁ KHO THÓC NHẬT
  8. CAO TRÀO KHÁNG NHẬT CỨU NƯỚC TIẾN TỚI TỔNG KHỞI NGHĨA THÁNG TÁM NĂM 1945
  9. MẶT TRẬN VIỆT MINH RA ĐỜI ĐÃ CÓ TÁC ĐỘNG NHƯ THẾ NÀO ĐẾN CAO TRÀO KHÁNG NHẬT, CỨU NƯỚC ?
  10. CAO TRÀO KHÁNG NHẬT CỨU NƯỚC

IV. THỰC DÂN PHÁP - ĐẾ QUỐC MỸ

  1. QUÁ TRÌNH CAN THIỆP CỦA MỸ VÀO VIỆT NAM (1948-1975)
  2. CHÍNH QUYỀN TAY SAI THỰC DÂN PHÁP: QUỐC GIA VIỆT NAM
  3. CHÍNH QUYỀN TAY SAI ĐẾ QUỐC MỸ: VIỆT NAM CỘNG HÒA
  4. CUỘC TRƯNG CẦU DÂN Ý MIỀN NAM VIỆT NAM, 1955
  5. LỊCH SỬ QUÂN LỰC VIỆT NAM CỘNG HÒA: HẬU THÂN QUÂN LỰC QUỐC GIA VIỆT NAM CỦA THỰC DÂN PHÁP
  6. QUÂN LỰC VIỆT NAM CỘNG HÒA: HẬU THÂN QUÂN LỰC QUỐC GIA VIỆT NAM CỦA THỰC DÂN PHÁP
  7. TOÀN CẢNH CUỘC ĐỐI ĐẦU LỊCH SỬ VIỆT - MỸ 1954-1975 - KỲ 1
  8. TOÀN CẢNH CUỘC ĐỐI ĐẦU LỊCH SỬ VIỆT - MỸ 1954-1975 - KỲ 2
  9. TOÀN CẢNH CUỘC ĐỐI ĐẦU LỊCH SỬ VIỆT - MỸ 1954-1975 - KỲ 2 - TIẾP THEO
  10. TOÀN CẢNH CUỘC ĐỐI ĐẦU LỊCH SỬ VIỆT - MỸ 1954-1975 - KỲ 3
  11. TOÀN CẢNH CUỘC ĐỐI ĐẦU LỊCH SỬ VIỆT - MỸ 1954-1975 - KỲ 4
  12. TOÀN CẢNH CUỘC ĐỐI ĐẦU LỊCH SỬ VIỆT - MỸ 1954-1975 - KỲ 4 - TIẾP THEO VÀ HẾT
  13. HẬU QUẢ CỦA CUỘC CHIẾN TRANH VIỆT NAM (1954-1975) - MẤY VẤN ĐỀ BÀN LUẬN
  14. (CÒN TIẾP)

V. CÁC CHÍNH QUYỀN TAY SAI

A. ĐẾ QUỐC VIỆT NAM 1945: (TAY SAI PHÁT XÍT NHẬT)

  • Quốc Trưởng: Bảo Đại
  • Thủ tướng: Trần Trọng Kim
  1. HÒA ƯỚC GIÁP THÂN (1884)

  2. NHẬT VÀO ĐÔNG DƯƠNG, CHẤM DỨT ÁCH THỐNG TRỊ CỦA PHÁP TẠI VIỆT NAM!!!
  3. CÓ PHẢI “HỢP TÁC” VỚI PHÁT XÍT NHẬT LÀ KHÔN NGOAN?
  4. CHÍNH PHỦ TRẦN TRỌNG KIM

B. QUỐC GIA VIỆT NAM 1948 - 1955 (TAY SAI THỰC DÂN PHÁP)

  • Quốc trưởng: Bảo Đại
  • Thủ tướng: Nguyễn Văn Xuân
    • Nguyễn Văn Hữu

    • Nguyễn Phúc Bửu Lộc

    • Ngô Đình Diệm

C. VIỆT NAM CỘNG HÒA 1955 - 1975 (TAY SAI ĐẾ QUỐC MỸ)

1. ĐỆ NHẤT CỘNG HÒA 1955-1963

  • Tổng thống:         Ngô Đình Diệm

  1. TỔNG THỐNG NGÔ ĐÌNH DIỆM: CON NGƯỜI VÀ TỘI ÁC
  2. TẠI SAO LẠI GỌI NGÔ ĐÌNH DIỆM LÀ: “TÊN BẠO CHÚA PHẢN THẦN TAM ĐẠI VIỆT GIAN?”
  • Phó Tổng thống: Nguyễn Ngọc Thơ

2. THỜI KỲ QUÂN QUẢN

Thứ tự sự kiện mở đầu Hội đồng giám sát, cố vấn Lãnh đạo quân đội Thủ tướng chính phủ dân sự thời gian
1. Đảo chính 1.11.1963 Hội đồng Quân nhân Cách mạng Dương Văn Minh Nguyễn Ngọc Thơ 11.1963-01.1964
2. Chỉnh lý 30.01.1964 Hội đồng Quân nhân Cách mạng Nguyễn Khánh   01.1964-08.1964
3. Cải tổ 28.06.1964 Ủy ban lãnh đạo lâm thời (Tam đầu chế) Nguyễn Khánh Nguyễn Khánh 08.1964-10.1964
4. Hiến chương 10.1964 Thượng Hội đồng Quốc gia(dân sự) Nguyễn Khánh Trần Văn Hương 10.1964-01.1965
5. Chính phủ Trần Văn Hương giải tán 27.01.1965 Hội đồng Quân lực Nguyễn Khánh Phan Huy Quát 02.1965-06.1965
6. Chính phủ Phan Huy Quát giải tán 14.06.1965 Ủy ban Lãnh đạo Quốc gia Nguyễn Văn Thiệu Nguyễn Cao Kỳ 06.1965-09.1967
 

3. ĐỆ NHỊ CỘNG HÒA 1967-1975

  • Tổng thống:        Nguyễn Văn Thiệu

  • Phó tổng thống:   Nguyễn Cao Kỳ, Trần Văn Hương

TỘI ÁC CỦA ĐẾ QUỐC MỸ - CHƯ HẦU LÍNH ĐÁNH THUÊ - VIỆT NAM CỘNG HÒA TRONG CUỘC CHIẾN TẠI VIỆT NAM

  1. CHỦ NGHĨA KHỦNG BỐ VÀ DIỆT CHỦNG DÂN TỘC VIỆT NAM CỦA MỸ 1945 - 1974

  2. QUÁ TRÌNH CAN THIỆP CỦA MỸ VÀO VIỆT NAM (1948-1975)

  3. NĂM 1954: NGƯỜI MỸ ĐÃ ĐỊNH NÉM 3 QUẢ BOM NGUYÊN TỬ XUỐNG ĐIỆN BIÊN PHỦ NHƯ THẾ NÀO
  4. NĂM 1972: ĐÀI PHÁT THANH VIỆT NAM CÔNG HÒA: KÊU GỌI ĐẾ QUỐC MỸ THẢ BOM NGUYÊN TỬ XUỐNG BẮC VIỆT(8/1972).  CHỈ CÓ LOÀI SÚC VẬT MỚI LÀM NHƯ VẬY THÔI !
  5. NĂM 1973: THỨ TRƯỞNG QUỐC PHÒNG MỸ CLEMEN TUYÊN BỐ ' MỸ KHÔNG TỪ BỎ VIỆC THẢ BOM NGUYÊN TỬ Ở BẮC VIỆT' (1/1973)
  1. NHỮNG TỔN THẤT CỦA MỸ TRONG CHIẾN TRANH Ở VN

  2. NHỮNG VŨ KHÍ TỐI TÂN MỸ DÙNG TRONG CHIẾN TRANH VIỆT NAM

  3. GIẢI MẬT CHIẾN TRANH ĐIỆN TỬ MỸ Ở VIỆT NAM 

  4.  KHÔNG QUÂN MỸ BÓ TAY TRONG CHIẾN TRANH VIỆT NAM

  5. KINH NGHIỆM TÁC CHIẾN CỦA KHÔNG QUÂN TIÊM KÍCH VIỆT NAM

  6. CẢM NGHĨ CỦA MỸ VỀ CHIẾN TRANH VIỆT NAM
  7. CHỦ NGHĨA KHỦNG BỐ VÀ DIỆT CHỦNG DÂN TỘC VIỆT NAM CỦA MỸ 1945 - 1974
  8. TỘI ÁC CỦA NGÔ ĐÌNH DIỆM - NGUYỄN KHÁNH - NGUYỄN VĂN THIỆU CẢ DÂN TỘC NGÀN ĐỜI  KHÔNG BAO GIỜ QUÊN : CẤU KẾT VỚI MỸ RẢI CHẤT ĐỘC DA CAM HỦY HOẠI MÔI TRƯỜNG, GÂY CHẾT CHÓC, DỊ TẬT BẨM SINH, TÀN PHẾ CHO HÀNG TRIỆU NGƯỜI, DI TRUYỀN BAO THẾ HỆ.

  9. THẢM SÁT MẬU THÂN TẠI - HUẾ - ĐÂU LÀ SỰ THẬT
  1. HÌNH ẢNH TỘI ÁC CỦA CHẾ ĐỘ VIỆT NAM CỘNG HÒA VÀ MỸ

  2. LOẠT ẢNH GÂY SỐC VỀ CHIẾN TRANH VIỆT NAM CỦA PHILIP JONES GRIFFITHS PHILIP JONES GRIFFITHS (1936 - 2008) LÀ MỘT TRONG NHỮNG PHÓNG VIÊN ẢNH CHIẾN TRƯỜNG HUYỀN THOẠI TRONG CUỘC CHIẾN TRANH VIỆT NAM. ĐẾN MIỀN NAM VIỆT NAM ĐỂ ĐƯA TIN CHO HÃNG THÔNG TẤN MAGN

  3. CÁC LOẠI PHÁO MỸ SỬ DỤNG TRONG CHIẾN TRANH VIỆT NAM

  4. BIỆT KÍCH SEAL TÁC ĐỘNG CHIẾN TRANH VIỆT NAM THẾ NÀO

  5. VIDEO TỘI ÁC VIỆT NAM CỘNG HÒA

  6. NÉM BOM

  7. TRUNG ĐỘI MÃNH HỔ THẢM SÁT Ở QUÃNG NGÃI - QUÃNG NAM 1967

  8. THẢM SÁT THẠNH PHONG

  9.  VIDEO - MỸ THẢM SÁT DÂN CHÚNG Ở THÔN MỸ LAI 4 -  MASSACRE AT MY LAI FOUR - VIỆT SUB

  10. SPEEDY.EXPRESS

  11. CHIẾN DỊCH SẤM RỀN

  12. "NHỮNG NGÀY CUỐI CÙNG TẠI VIỆT NAM" VÀ TẤN BI KỊCH CỦA MỸ

  13. LINEBACKER II - 1972 

  14. CHIẾN DỊCH PHƯỢNG HOÀNG

  15. 40 NĂM MỸ THẢ QUẢ BOM CUỐI CÙNG XUỐNG VN : HỆ LỤY CHƯA DỨT

  16. VIDEO: 40 NĂM GIẢI PHÓNG MIỀN NAM – LŨ CỜ VÀNG NÓI GÌ?

  17. 300 NĂM NỮA VIỆT NAM MỚI PHÁ HẾT BOM MÌN

  18. VIỆT - MỸ KÝ KẾT HỢP TÁC KHẮC PHỤC HẬU QUẢ BOM MÌN

  19. NHỮNG CỰU BINH MỸ TÌM THẤY MÁI ẤM Ở VIỆT NAM

  20. BÁO CHÍ MỸ VÀ CUỘC CHIẾN TRANH XÂM LƯỢC Ở VIỆT NAM

  21. PHIN TÀI LIỆU: TỘI ÁC CHIẾN TRANH CỦA ĐẾ QUỐC MỸ TRONG CUỘC CHIẾN VIỆT NAM

  22. VIDEO: THẰNG SÚC VẬT LOAN CỦA VNCH - THẰNG GIẾT NGƯỜI KHÔNG BIẾT GHÊ TAY

  23. VIDEO: TỘI ÁC NÀY CHÚA KHÔNG DẠY

  24. NHỮNG TỘI ÁC CHIẾN TRANH CỦA MỸ CÒN DẤU KÍN

  25. TỔN THẤT ĐẾ QUỐC MỸ TRONG CUỘC CHIẾN TRANH XÂM LƯỢC VIỆT NAM 

  26. "Những ngày cuối cùng tại Việt Nam" và tấn bi kịch của Mỹ 

  27. ĐẠI TÁ HOA KỲ TRẢ LỜI BBC: CUỘC CHIẾN TRANH 1954 -1975 LÀ MỸ XÂM LƯỢC VN

  28. VIỆT NAM THOÁT KHỎI THẢM HỌA HẠT NHÂN TRONG CHIẾN TRANH CHỐNG MỸ NHƯ THẾ NÀO?

TỘI ÁC CỦA LÍNH ĐÁNH THUÊ NAM TRIỀU TIÊN ĐỐI VỚI NHÂN DÂN VIỆT NAM

SÒNG PHẲNG VỚI LỊCH SỬ

KHÔNG PHẢI ĐỂ KÍCH ĐỘNG HẬN THÙ

                                                  Nguyên phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình

LẤY OÁN BÁO OÁN - OÁN ẤY CHẤT CHỒNG

LẤY ÂN BÁO OÁN - OÁN ẤY TIÊU TAN

                                                  Thích Ca Mâu Ni

Chúng ta phải biết rõ và không được phép quên lịch sử.

Nhưng chúng ta cũng phải biết tha thứ.

Hãy nhìn quan hệ chúng ta với các nước cựu thù 

PHÁP - NHẬT- HÀN - MỸ

sẽ thấy rõ quan điểm đúng đắn của chúng ta .

 
  1.  CÁC VỤ THẢM SÁT CỦA LÍNH NAM TRIỀU TIÊN TRONG CHIẾN TRANH VIỆT NAM - TẬP 1

  2. CÁC VỤ THẢM SÁT CỦA LÍNH NAM TRIỀU TIÊN TRONG CHIẾN TRANH VIỆT NAM - TẬP 2

  3. CÁC VỤ THẢM SÁT CỦA LÍNH NAM TRIỀU TIÊN TRONG CHIẾN TRANH VIỆT NAM - TẬP 3

  4. CÁC VỤ THẢM SÁT CỦA LÍNH NAM TRIỀU TIÊN TRONG CHIẾN TRANH VIỆT NAM - TẬP 4

  5. VIDEO: PHIM BINH LÍNH HÀN QUỐC TÀN SÁT NGƯỜI DÂN VIỆT NAM TRONG CHIẾN TRANH TRƯỚC 1975 

  6. VIDEO: QUÂN ĐỘI HÀN QUỐC TRONG CHIẾN TRANH VIỆT NAM - HỒI KÍ CỦA CCB HÀN VỀ NGƯỜI GIẢI PHÓNG QUÂN MIỀN NAM

  7. VIDEO: HỒI KÝ VỀ CHIẾN TRANH VIỆT NAM CỦA TƯỚNG HÀN QUỐC KIM JIN SUN

  8. ĐỨC TỔNG GIÁM MỤC HÀN QUỐC XIN LỖI VỀ CHIẾN TRANH VIỆT NAM

  9. THÀNH THẬT XIN LỘI VIỆT NAM

  10. NGƯỜI HÀN QUỐC KỶ NIỆM 41 NĂM VIỆT NAM KẾT THÚC CHIẾN TRANH: CON ƠI ĐỪNG QUÊN, GIỌT NƯỚC MẮT CỦA MẸ

  11. CƠN SỐT HẬU DUỆ MẶT TRỜI VÀ CHUYỆN OÁN THÙ LỊCH SỬ

  12. HÀNH ĐỘNG DÃ MAN CỦA LÍNH ĐÁNH THUÊ HÀN QUỐC VÀ VNCH TRONG CHIẾN TRANH VIỆT NAM

  13. CÁC VỤ THẢM SÁT ĐẪM MÁU DO BINH LÍNH HÀN QUỐC THỰC HIỆN TẠI VIỆT NAM

  14. HÀNH ĐỘNG DÃ MAN CỦA QUÂN ĐỘI HÀN QUỐC TRONG CHIẾN TRANH VIỆT NAM

  15. 45 NĂM THẢM SÁT HÀ MY : THÀNH THẬT XIN LỖI VIỆT NAM

  16. 36 NĂM SAU VỤ THẢM SÁT "CÂY DA DÙ": HÀN QUỐC VÀ VIỆT NAMĐÃ VƯỢT QUA CHÍNH MÌNH

  17. DI TÍCH VỤ THẢM SÁT BÌNH HÒA

  18. TƯỞNG NIỆM VỤ THẢM SÁT 430 THƯỜNG DÂN BÌNH HÒA

  19. TƯỞNG NIỆM VỤ THẢM SÁT DIÊN NIÊN - PHƯỚC BÌNH

  20. BÌNH ĐỊNH TƯỞNG NIỆM VỤ THẢM SÁT GÒ DÀI

  21. VỤ THẢM SÁT BÌNH AN

  22. HỒ SƠ VỤ THẢM SÁT DUY TRINH

  23. BA VỤ THẢM SÁT KHÔNG THỂ LÃNG QUÊN

  24. HÀN QUỐC TẶNG TƯỢNG 'XIN LỖI VIỆT NAM'

  25. NGƯỜI HÀN QUỐC ĐẾN QUẢNG NGÃI ĐỂ 'XIN LỖI VIỆT NAM'

  26. NGƯỜI HÀN QUỐC VÀ PHONG TRÀO 'THÀNH THẬT XIN LỖI VIỆT NAM'

  27. NGƯỜI HÀN QUỐC ĐỐI DIỆN NHÂN CHỨNG VỤ THẢM SÁT Ở QUẢNG NAM

  28. HÀNH ĐỘNG DÃ MAN CỦA LÍNH ĐÁNH THUÊ HÀN QUỐC VÀ VNCH TRONG CHIẾN TRANH VIỆT NAM

  29. NGÀY GIỖ 135 NGƯỜI DÂN QUẢNG NAM BỊ LÍNH ĐẠI HÀN THẢM SÁT

  30. HAI SINH VIÊN HÀN QUỐC ĐẠP XE HƠN 1.700 KM ĐỂ 'XIN LỖI VIỆT NAM' 

TỘI ÁC CỦA QUÂN ĐỘI CHƯ HẦU 

2. NẠN ĐÓI ẤT DẬU NĂM 1945 (2 TRIỆU NGƯỜI CHẾT)

TỘI ÁC THỰC DÂN PHÁP - ĐẾ QUỐC MỸ - PHÁT XÍT NHẬT

+ Nhật - Pháp thu gom gạo - tích trữ lương thực, bắt dân nhổ lúa, trồng đay - bán lúa gạo với giá rẻ mạt.

+ Mỹ phá hủy đường sắt từ Huế ra Bắc phong tỏa đường biển khiến hàng hóa không lưu thông được.

SÒNG PHẲNG VỚI LỊCH SỬ

KHÔNG PHẢI ĐỂ KÍCH ĐỘNG HẬN THÙ

                                                  Nguyên phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình

LẤY OÁN BÁO OÁN - OÁN ẤY CHẤT CHỒNG

LẤY ÂN BÁO OÁN - OÁN ẤY TIÊU TAN

                                                  Thích Ca Mâu Ni

Chúng ta phải biết rõ và không được phép quên lịch sử.

Nhưng chúng ta cũng phải biết tha thứ.

Hãy nhìn quan hệ chúng ta với các nước cựu thù 

PHÁP - NHẬT- HÀN - MỸ

sẽ thấy rõ quan điểm đúng đắn của chúng ta .

 

TỘI ÁC CỦA CHÍNH QUYỀN SÀI GÒN

A. ĐÁNH ĐẬP TRA TẤN TÙ NHÂN VÀ NGƯỜI DÂN

B. THẢM SÁT MẬU THÂN TẠI - HUẾ - ĐÂU LÀ SỰ THẬT

C. TỘI ÁC CỦA NGÔ ĐÌNH DIỆM - NGUYỄN KHÁNH - NGUYỄN VĂN THIỆU- CẢ DÂN TỘC NGÀN ĐỜI  KHÔNG BAO GIỜ QUÊN : CẤU KẾT VỚI MỸ RẢI CHẤT ĐỘC DA CAM HỦY HOẠI MÔI TRƯỜNG, GÂY CHẾT CHÓC, DỊ TẬT BẨM SINH, TÀN PHẾ CHO HÀNG TRIỆU NGƯỜI, DI TRUYỀN BAO THẾ HỆ.

D. VIỆT NAM CÔNG HÒA KÊU GỌI MỸ THẢ BOM NGUYÊN TỬ XUỐNG MIỀN BẮC VIỆT NAM

  1. NĂM 1954 : NGƯỜI MỸ ĐÃ ĐỊNH NÉM 3 QUẢ BOM NGUYÊN TỬ XUỐNG ĐIỆN BIÊN PHỦ NHƯ THẾ NÀO
  2. NĂM 1972 : ĐÀI PHÁT THANH VIỆT NAM CÔNG HÒA: KÊU GỌI ĐẾ QUỐC MỸ THẢ BOM NGUYÊN TỬ XUỐNG BẮC VIỆT(8/1972).  CHỈ CÓ LOÀI SÚC VẬT MỚI LÀM NHƯ VẬY THÔI!
  3. NĂM 1973 :THỨ TRƯỞNG QUỐC PHÒNG MỸ CLEMEN TUYÊN BỐ ' MỸ KHÔNG TỪ BỎ VIỆC THẢ BOM NGUYÊN TỬ Ở BẮC VIỆT' (1/1973) 

E. LUẬT 10-59

F. CHIẾN DỊCH TỐ CỘNG - DIỆT CỘNG

G. VÙNG BẮN PHÁ TỰ DO

H. MỸ VÀ CHƯ HẦU TÀN SÁT DÃ MAN NHÂN DÂN VIỆT NAM  nhưng bọn cầm quyền VNCH còn cám ơn mà chưa có một lời nào phản đối trừ Đại tướng Dương Văn Minh

  1. “Lộ tẩy” sự thật binh lính Úc thảm sát dân thường trong chiến tranh ở Việt Nam
  2. AI GÂY NÊN THẢM SÁT TẾT MẬU THÂN -  HUẾ
  3. VIDEO - NGUYỄN NGỌC LOAN XỬ BẮN ANH HÙNG CỘNG SẢN NGUYỄN VĂN LÉM 
  4. VIDEO -CHẤT ĐỘC DA CAM NỖI ĐAU CÒN ĐÓ (AGENT ORANGE - SUFFERING IS STILL EXISTING)
  5. VIDEO ĐỒNG CẢM SẺ CHIA - NỔI ĐAU DA CAM
  6. VIDEO - THẢM HỌA DA CAM - VẾT THƯƠNG LÒNG KHÔNG CHẢY MÁU
  7. TỘI ÁC CỦA THỰC DÂN PHÁP
    1. Tội ác diệt chủng của Việt Nam Cộng hòa và sự cuồng tín của bè lũ rân chủ Việt! 
    2.  Tội ác của chế độ VIỆT NAM CỘNG HÒA
    3.  HÌNH ẢNH Tội ác của chế độ VIỆT NAM CỘNG HÒA và MỸ
    4. VIDEO - Sự thật về chế độ VNCH bán nước tay sai 
    5. VIDEO - Phan Thị Kim Phúc Em bé Napalm 
    6. THẢM SÁT MẬU THÂN TẠI HUẾ - ĐÂU LÀ SỰ THẬT
    7. AI GÂY NÊN THẢM SÁT TẾT MẬU THÂN -  HUẾ
    8.  Vụ thảm sát tại nhà tù PHÚ LỢI
    9.  Vụ thảm sát ở đập VĨNH TRINH (Huyện Duy Xuyên) vào đêm 20-1-1955
    10.  Nhà tù CÔN ĐẢO - địa ngục khiến cả thế giới bàng hoàng
    11. Nhà tù PHÚ QUỐC
    12. Nhà tù THỪA PHỦ
    13. Nhà giam CHÍN HẦM
    14. Khu biệt giam Chín hầm của họ Ngô Đình ở Huế
    15. Nhà tù LAO BẢO

SÒNG PHẲNG VỚI LỊCH SỬ

KHÔNG PHẢI ĐỂ KÍCH ĐỘNG HẬN THÙ

                                                  NGUYÊN PHÓ CHỦ TỊCH NƯỚC NGUYỄN THỊ BÌNH

LẤY OÁN BÁO OÁN - OÁN ẤY CHẤT CHỒNG

LẤY ÂN BÁO OÁN - OÁN ẤY TIÊU TAN

                                                  THÍCH CA MÂU NI

CHÚNG TA PHẢI BIẾT  VÀ KHÔNG ĐƯỢC PHÉP QUÊN LỊCH SỬ.

NHƯNG CHÚNG TA CŨNG PHẢI BIẾT THA THỨ.

HÃY NHÌN QUAN HỆ CHÚNG TA VỚI CÁC NƯỚC CỰU THÙ 

PHÁP - NHẬT- HÀN - MỸ

SẼ THẤY RÕ QUAN ĐIỂM ĐÚNG ĐẮN CỦA CHÚNG TA .

 
 

 

CÁC CHÍNH QUYỀN TAY SAI

 

A. ĐẾ QUỐC VIỆT NAM

ĐẾ QUỐC VIỆT NAM

(TAY SAI PHÁT XÍT NHẬT)

(3-1945 đến 8-1945)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

 

 

 

Đế quốc Việt Nam
越南帝國

Thành viên Khối thịnh vượng chung Đại Đông Á

← 

1945

 →

Quốc kỳ của Đế quốc Việt Nam

Quốc kỳ

 

Quốc ca
Việt Nam minh châu trời Đông (quốc ca)
Đăng đàn cung (quốc thiều)

Vị trí của Đế quốc Việt Nam

Vị trí của Đế quốc Việt Nam

 

Thủ đô

Hà Nội (quốc đô)
Huế (đế đô)

Ngôn ngữ

Tiếng Việt

 

Chính thể

Quân chủ chuyên chế(Chính phủ bù nhìn)

 

Hoàng đế

Bảo Đại

Tổng lý đại thần

Trần Trọng Kim

Thời đại lịch sử

Thế chiến II

 - Khởi đầu năm

11/3 1945

 - Giải thể

23/8 1945

Đế quốc Việt Nam (chữ Hán: 越南帝國; tiếng Nhật: ベトナム帝国, ベトナムていこく, Betonamu Teikoku) là tên chính thức của một chính phủ tồn tại 5 tháng trong lịch sử Việt Nam (từ tháng 3 năm 1945 đến tháng 8 năm 1945). Đế quốc Việt Nam được Đế quốc Nhật Bản hậu thuẫn sau khi triều đình Nhà Nguyễn tuyên bố xóa bỏHiệp ước Patenôtre.

Sau khi Đế quốc Nhật Bản tuyên bố "trao trả độc lập cho Việt Nam", Hoàng đế Bảo Đại ra tuyên cáo độc lập và thành lập chính quyền mới thân phát-xít Nhật tạiViệt Nam, với chính phủ do Trần Trọng Kim làm thủ tướng[1], còn Bảo Đại được Nhật Bản công nhận là vua của chính thể mới theo mô hình ở Nhật Bản lúc bấy giờ nhưng không có quốc hội như Đế quốc Nhật Bản. Đế quốc Việt Nam thực chất vẫn là quân chủ chuyên chế mà không phải nền quân chủ lập hiến như ở Anh,Đế quốc Nhật Bản, Đan Mạch, Hà Lan, Na Uy, Thụy Điển và các nước quân chủ lập hiến khác do Đế quốc Việt Nam không có Quốc hội và quyền lực chủ yếu vẫn nằm trong tay Hoàng đế Bảo Đại. Chính phủ này chỉ tồn tại trong thời gian ngắn cho tới khi bị xóa bỏ trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945.

Theo các tài liệu lịch sử của Việt Nam cũng như của phương Tây, ĐẾ QUỐC VIỆT NAM LÀ CHÍNH QUYỀN DO ĐẾ QUỐC NHẬT BẢN DỰNG NÊN VÀ KHÔNG CÓ THỰC QUYỀN[2][3]. NÓ ĐƯỢC XẾP CHUNG VỚI CÁC CHÍNH PHỦ BÙ NHÌN DO NHẬT THÀNH LẬP TẠI CÁC NƯỚC BỊ HỌ CHIẾM ĐÓNG TRONG THẾ CHIẾN THỨ 2 NHƯ MÃN CHÂU QUỐC, CHÍNH PHỦ UÔNG TINH VỆ, MÔNG CƯƠNG, ĐỆ NHỊ CỘNG HÒA PHILIPPINES...[4] Cùng với sự bại trận của Nhật Bản trong thế chiến, tất cả các chính phủ này đều tự sụp đổ hoặc bị Đồng Minh (bao gồm cả Việt Minh) giải thể trong năm 1945[4]

 

Nhật đảo chính Pháp và Đế quốc Việt Nam tuyên bố thành lập

Trong Đệ nhị thế chiến, quân đội Pháp đã mất quyền kiểm soát Đông Dương thuộc Pháp và quyền này rơi vào tay người Nhật vào năm 1941. Tuy nhiên, người Nhật vẫn giữ lại những quan chức Pháp và chỉ điều khiển sau hậu trường.

Ngày 9 tháng 3 năm 1945, khi tình hình chiến tranh Thái Bình Dương thay đổi bất lợi, Nhật đổi chính sách và đảo chính Pháp, bắt giam các tướng lãnh và tước khí giới của quân đội Pháp ở Đông Dương. Đại sứ Nhật ở Đông Dương là Matsumoto Shunichi giao cho đại diện Pháp là Toàn quyền Đông Dương Đô đốc Jean Decoux tối hậu thư đòi người Pháp phải chấp nhận vô điều kiện quyền chỉ huy của Nhật trên mọi phương diện. Ở Huế đại úy Kanebo Noburu vào báo với vua Bảo Đại quyền lực của Pháp đã bị loại.[5] Cùng chiều hướng đó Đế quốc Nhật Bản thỏa thuận trao trả độc lập cho Việt Nam trên danh nghĩa.

Sau cuộc tập kích bất ngờ vào quân Pháp đêm 9-3-1945, vấn đề quan trọng nhất đối với quân Nhật là duy trì bằng được "trật tự và ổn định" nhằm tìm nguồn cung ứng vật chất tại chỗ cho gần 100.000 lính Nhật và để phòng thủ. Tuy nhiên, đúng lúc đó, bộ máy hành chính thực dân mà Nhật kế thừa từ Pháp đã tan rã, vì thế việc lập một bộ máy cai trị bản xứ đặt ra như một đòi hỏi cấp bách và Đế quốc Việt Nam ra đời trong bối cảnh đó[6].

Sáng 10-3-1945, trên đường đi săn, Bảo Đại bị một toán quân Nhật giữ lại và hôm sau đưa về kinh thành[6]. Hôm sau, ngày 11 Tháng Ba năm 1945, vua Bảo Đại triệu cố vấn tối cao của Nhật là đại sứ Yokoyama Masayuki vào điện Kiến Trung để TUYÊN BỐ NƯỚC VIỆT NAM ĐỘC LẬP.[7] Cùng đi với Yokoyama là tổng lãnh sự Konagaya Akira và lãnh sự Watanabe Taizo.[8] Bản tuyên ngôn đó có chữ ký của sáu vị thượng thư trong Cơ mật Viện là Phạm Quỳnh, Hồ Đắc Khải, Ưng Úy, Bùi Bằng Đoàn, Trần Thanh Đạt, và Trương Như Đính, nguyên văn chiếu chỉ đề ngày 27 Tháng Giêng ta năm thứ 20 niên hiệu Bảo Đại:[9]

Theo đó triều đình Huế hủy bỏ Hòa ước Patenôtre ký với Pháp năm 1884 vốn áp đặt nền bảo hộ lên toàn cõi nước Việt.

 

Hoàng đế Bảo Đại

 

Thủ tướng Trần Trọng Kim

Với Dụ số 1 ra ngày 17 tháng 3, vua nêu khẩu hiệu "Dân Vi Quý" (chữ Nho: 民爲貴; lấy dân làm quý) làm phương châm trị quốc. Vua Bảo Đại giải tán nội các cũ, các Thượng thư đồng loạt từ chức. Nhà sử học Trần Trọng Kim được Nhật Bản đón về từ Singapore, rồi được đưa ra Huế để Bảo Đại giao nhiệm vụ thành lập nội các mới. Lúc đó vua Bảo Đại nói với Trần Trọng Kim: "Trước kia người mình chưa độc lập. Nay có cơ hội, tuy chưa phải độc lập hẳn, Nhưng mình cũng phải tỏ ra có đủ tư cách để độc lập. Nếu không có chính phủ thì người Nhật bảo mình bất lực, tất họ lập cách cai trị theo thể lệ nhà binh rất hại cho nước ta. Vậy ông nên vì nghĩa vụ lập thành một chính phủ để lo việc nước."" [12] Trần Trọng Kim được lựa chọn thành viên nội các, Nhật Bản không bắt ông phải dùng những người của họ đã định trước[13].

Tướng Nhật, Tscuchihashi, nghĩ rằng chỉ cần Việt Nam độc lập danh nghĩa hơn là thực chất, và chính phủ mới của Việt Nam phải được Nhật kiểm soát chặt chẽ[14]. Theo tác giả Daniel Grandcléme, thoạt đầu Phạm Quỳnh được chỉ định tạm quyền nhưng ông này quá thân Pháp, ngoài ra ông ta thấy ngay "nền độc lập" có những giới hạn như giống như hồi còn chế độ bảo hộ Pháp: Không có tự chủ về ngoại giao, không có quân đội, không có độc lập tài chính... Nhật liền chọn một nhân vật ôn hoà hơn và gần gũi với Nhật Bản. Đó là nhà sử học Trần Trọng Kim, đang ở Singapore. Nhà vua Bảo Đại chẳng có vai trò gì trong việc chỉ định này.[15]

Để chuẩn bị nội các mới, Bảo Đại hai lần gửi điện vào Sài Gòn mời Ngô Đình Diệm ra Huế, nhưng cả hai bức điện đều bị tình báo Nhật ngăn chặn, vì thật ra phương án sắp đặt cho hoàng thân Cường Để (1882-1951) lên ngôi vua và Ngô Đình Diệm giữ chức thủ tướng trước đó không lâu đã bị giới lãnh đạo quân sự Nhật Bản hủy bỏ, do không muốn gây nhiều xáo trộn, để thay vào bằng kế hoạch Bảo Đại - Trần Trọng Kim cũng được chuẩn bị sẵn từ hơn một năm trước[16].

Ở Việt Nam, đa số quần chúng tỏ ra thờ ơ lạnh nhạt với sự “độc lập” do quân đội Nhật dựng nên. Ngày 17/3/1945, ở các hương thôn, lý trưởng được lệnh tổ chức dân chúng mừng sự ra đời của Đế quốc Việt Nam tại các đình làng, nhưng không khí rất ảm đạm:

“Cửa đình mở rộng, trước sân đình có cờ, chuông, trống, như ngày cúng Thần. Hội đồng xã chỉ lưa thưa có mấy ông. Dân chúng chẳng ai đến cả, trừ một số chức việc có phận sự trong làng. Đến giờ, chuông trống nổi dậy, hương xã làm lễ tế Thần. Lý trưởng đọc lời ‘tuyên cáo độc lập’. Y như một bài văn tế. Xong, chiêng trống tiếp tục và buổi lễ chấm dứt không đầy 30 phút. Không một tiếng vỗ tay. Không một lời hoan hô. Các ông làng xã, khăn đen áo dài khệ nệ như trong các đám cúng Thần theo nghi lễ cổ truyền, lặng lẽ đóng cửa đình sau khi dọn dẹp”[16]

Trong hồi ký của mình, Trần Trọng Kim viết: "Nhật Bản trước vốn là một nước đồng văn đồng hóa ở Á Đông, nhưng về sau đã theo Âu hóa, dùng những phương pháp quỷ quyệt để mở rộngchủ nghĩa đế quốc của họ, trước đã thôn tính Cao Ly và Mãn Châu, sau lại muốn xâm lược nước Tàu và các nước khác ở Á Đông đã bị người Âu châu chiếm giữ. Người Nhật tuy dùng khẩu hiệu "đồng minh cộng nhục" và lấy danh nghĩa "giải phóng các dân tộc bị hà hiếp" nhưng thâm ý là muốn thu hết quyền lợi về mình"[6].

Thành lập nội các Đế quốc Việt Nam

Nội các mới được thành lập vào ngày 17 tháng 4 với Trần Trọng Kim là nội các tổng trưởng. Ngay buổi đầu ông Trần Trọng Kim trình danh sách nội các với Bảo Đại đã có sự hiện diện của viên cố vấn tối cao Nhật Bản tại Huế là Masayuki Yokoyama[6]. Sau khi vua Bảo Đại chấp thuận nội các, cố vấn Nhật xem danh sách nội các rồi nói "Tôi chúc mừng cụ đã chọn được người rất đứng đắn"[13]. Đây là chính phủ đầu tiên của nước Việt Nam (không kể các triều đại phong kiến và chính phủ bảo hộ của Pháp trước đó) và Trần Trọng Kim trở thành thủ tướng đầu tiên của Việt Nam. Với nội các tập hợp được những trí thức có tiếng lúc bấy giờ, thành phần nội các ra mắt quốc dân ngày 19 tháng 4, trong đó có:

  1. Bác sĩ Trần Đình Nam - Bộ trưởng Bộ Nội vụ

  2. Luật sư Trịnh Đình Thảo - Bộ trưởng Bộ Tư pháp.

  3. Kỹ sư Lưu Văn Lang - Bộ trưởng Công chính

  4. Bác sĩ Hồ Tá Khanh - Bộ trưởng Bộ Kinh tế

  5. Luật sư Phan Anh - Bộ trưởng Bộ Thanh niên

  6. Thạc sĩ Hoàng Xuân Hãn - Bộ trưởng Giáo dục và Mỹ nghệ

Cựu Tổng đốc tỉnh Thái Bình là Phan Kế Toại được bổ làm Khâm sai Bắc Kỳ còn Nguyễn Văn Sâm làm Khâm sai Nam Kỳ đại diện cho triều đình Huế ở trong Nam và ngoài Bắc. Tại Hà Nội Phan Kế Toại tiếp thu phủ thống sứ và Trần Văn Lai nhậm chức ở tòa đô chính trước đám đông dân chúng đến chứng kiến việc thu hồi độc lập trên danh nghĩa.[17]

Đế quốc Việt Nam không thành lập Bộ quốc phòng để tránh bị Nhật Bản lôi kéo tham gia chiến tranh thế giới thứ II với tư cách đồng minh của Nhật Bản.[18]

MỚI RA MẮT ĐƯỢC 4 THÁNG, NGÀY 5/8, HÀNG LOẠT THÀNH VIÊN NỘI CÁC TRẦN TRỌNG KIM XIN TỪ CHỨC: 3 BỘ TRƯỞNG XIN TỪ NHIỆM, BỘ TRƯỞNG VŨ NGỌC ANH QUA ĐỜI VÌ TRÚNG BOM MÁY BAY MỸ. CÁC BỘ TRƯỞNG KHÁC TUYÊN BỐ BẤT LỰC, BỞI KHÔNG THỂ LÀM ĐƯỢC VIỆC GÌ NẾU KHÔNG ĐƯỢC CỐ VẤN TỐI CAO NHẬT ĐỒNG Ý, TRONG KHI VUA BẢO ĐẠI CHỈ LO ĂN CHƠI, SĂN BẮN MÀ KHÔNG QUAN TÂM ĐẾN CHÍNH TRỊ. TRẦN TRỌNG KIM CỐ GẮNG LIÊN HỆ NHƯNG CÁC NHÂN VẬT CẤP TIẾN ĐỀU KHƯỚC TỪ CỘNG TÁC, ĐẾN ĐẦU THÁNG 8 CHÍNH TRẦN TRỌNG KIM CŨNG NÓI MÌNH BỊ "TĂNG HUYẾT ÁP" VÀ KHÔNG RA KHỎI NHÀ​[19].

Thành lập Đế quốc Việt Nam

 

Cờ lệnh của Hoàng đế Bảo Đại.

 

Nhật báo Điện tín loan tin Đế quốc Việt Nam tuyên bố độc lập.

THÁNG 6 NĂM 1945, CHÍNH PHỦ TRẦN TRỌNG KIM ĐẶT QUỐC HIỆU LÀ ĐẾ QUỐC VIỆT NAM; ĐẶT QUỐC CA LÀ BÀI HÁT ĐĂNG ĐÀN CUNG; QUỐC KỲ CÓ "NỀN VÀNG HÌNH CHỮ NHẬT, GIỮA CÓ HÌNH QUẺ LY MÀU ĐỎ THẪM".

Cho dù không đứng vững được bao lâu, Nội các Trần Trọng Kim đã cố gắng đặt nền móng xây dựng một thể chế độc lập và tự chủ đầu tiên không thuộc Pháp.[20] Tuy không được chuẩn bị kỹ lưỡng cũng như thiếu thốn rất nhiều nhân sự và vật lực để điều hành một chính phủ vừa manh nha, đối ngoại thì phải cố gắng dung hòa các thế lực quốc tế và chủ thuyết Đại Đông Á của Đế quốc Nhật, đối nội thì có nhiều phe phái muốn giành chính quyền, chính phủ mới vẫn đạt được một số điều kiện cơ bản, nhóm lên hy vọng độc lập và tự chủ cho nước Việt Nam.[18]. NHƯNG THỰC TẾ LẠI CHO THẤY NGÀY CÀNG RÕ HƠN VIỆC ĐƯA TRẦN TRỌNG KIM ĐỨNG RA LẬP NỘI CÁC CHO BẢO ĐẠI TRƯỚC SAU ĐỀU DO NGƯỜI NHẬT ĐẠO DIỄN MỘT CÁCH KHÉO LÉO ĐỂ DẪN DỤ TRẦN TRỌNG KIM VÀO “TRÒNG”. TRONG QUÁ TRÌNH THÀNH LẬP NỘI CÁC, TÌNH BÁO CỦA HẢI QUÂN NHẬT Ở ĐÔNG DƯƠNG ĐÃ CAN THIỆP RẤT SÂU VÀO QUÁ TRÌNH CHỌN LỰA NGƯỜI ĐỨNG ĐẦU CŨNG NHƯ NHÂN SỰ CHÍNH PHỦ[21]. THEO NHẬN ĐỊNH CỦA BÁO NHÂN DÂN SAU NÀY, TUY ÍT NHIỀU NẮM BẮT ĐƯỢC NGUYỆN VỌNG ĐỘC LẬP CỦA QUỐC DÂN, VÀ NHẬN THỨC ĐƯỢC Ý NGHĨA CỦA KHỐI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC, ĐỀ RA ĐƯỢC MỘT SỐ CHỦ TRƯƠNG CẢI CÁCH TIẾN BỘ, NHƯNG CHÍNH PHỦ TRẦN TRỌNG KIM KHÔNG THỂ QUY TỤ, PHÁT HUY ĐƯỢC SỨC MẠNH CỦA DÂN TỘC, BỞI THỰC QUYỀN VÀ PHƯƠNG TIỆN NẰM TRONG TAY NHẬT. CÔNG VIỆC CẤP BÁCH NHẤT KHI ĐÓ LÀ VẬN CHUYỂN GẠO TỪ MIỀN NAM RA MIỀN BẮC ĐỂ CỨU ĐÓI MÀ CHÍNH PHỦ NÀY CŨNG KHÔNG THỰC HIỆN NỔI[6].

Thả tù chính trị và lập đội trị an

Trong những bước đầu tiên là Bộ trưởng Tư pháp Trịnh Đình Thảo ra lệnh thả hàng ngàn tù nhân chính trị bị Pháp giam giữ bao gồm đảng viên Đảng cộng sản Đông Dương và các đảng phái khác.[18]

Tiếp theo đó thì Bộ trưởng Bộ Thanh niên Phan Anh đứng tổ chức đội Thanh niên Tiền tuyến theo tinh thần quốc gia để huy động quốc dân giữ an ninh vì không có bộ quốc phòng. Đế quốc Việt Nam không thành lập Bộ quốc phòng để tránh phải tham gia chiến tranh thế giới thứ II với tư cách đồng minh của Nhật Bản.[18]

(Trịnh Đình Thảo và Phan Anh sau ngày Cách mạng tháng 8 đều theo Việt Minh)

Thu hồi Nam Kỳ

Trong thời gian ngắn ngủi chấp chính, chính phủ mới đã làm được một việc quan trọng nhất là thống nhất trên danh nghĩa xứ Nam Kỳ vào nước Việt Nam kể từ ngày 8 Tháng Tám, 1945. Trước đó vào ngày 20 Tháng Bảy chính phủ Việt Nam cũng thu hồi ba nhượng địa cũ là Hà Nội, Hải Phòng, và Đà Nẵng vốn bị người Pháp chia cắt và áp dụng quy chế trực trị.[22]

Về việc thu hồi Nam Kỳ thì cuộc thương thuyết với Toàn quyền Tsuchihashi có kết quả mặc dù lúc đầu Tsuchihashi còn do dự vì triều đình Cao Miên cũng đòi đất Nam Kỳ. Thủ tướng Trần Trọng Kim phái Nguyễn Văn Sâm là khâm sai vào Sài Gòn tiếp thu. Đại sứ Yokoyama ở Huế theo đó tuyên bố trao trả Nam Kỳ cho triều đình Huế. Ở ngoài Bắc thì Thống sứ Nishimura bàn giao với khâm sai Phan Kế Toại tại Hà Nội ngày 12 Tháng 8, trong khi đó Thống đốc Minoda ở Sài Gòn đang đợi khâm sai Nguyễn Văn Sâm nhưng vị khâm sai mãi đến ngày 19 mới đến nơi. NGÀY 14 THÁNG 8, CHÍNH PHỦ TRẦN TRỌNG KIM CÔNG BỐ CHÍNH THỨC TIẾP THU NAM KỲ. CHỈ ĐƯỢC NON MƯỜI NGÀY, LỰC LƯỢNG QUỐC GIA THỐNG NHẤT CÙNG VIỆT MINH VÀO CHIẾM CÁC CƠ SỞ CÔNG QUYỀN Ở SÀI GÒN NGÀY 24 THÁNG 8, 1945. SANG NGÀY 26 THÌ KHÂM SAI NGUYỄN VĂN SÂM TỪ NHIỆM SAU KHI ĐƯỢC TIN VUA BẢO ĐẠI ĐÃ THOÁI VỊ Ở HUẾ, CHẤM DỨT THỂ CHẾ ĐẾ QUỐC VIỆT NAM.[23]

 

Tem in chân dung Hoàng đế Bảo Đại và Nam Phương Hoàng hậu dưới thời Đế quốc Việt Nam.

Cải cách hành chính

Chính phủ Trần Trọng Kim hợp nhất hai bộ máy hành chính Nam triều và Bảo hộ do thực dân Pháp để lại. Từ đây, chính phủ Trần Trọng Kim đứng đầu hệ thống hành chính thống nhất trên toàn quốc. Chính phủ buộc các quan chức địa phương chỉ được nhận chỉ thị và báo cáo trực tiếp với chính phủ Việt Nam chứ không được liên hệ với Sở Tối cao Cố vấn Nhật Bản. Tuy nhiên các cơ quan công an, tuyên truyền, thông tin liên lạc vẫn do người Nhật kiểm soát.[18]

Chính phủ thành lập Ủy ban Cải tổ và Thống nhất Luật pháp. Hội đồng Cải cách Cai trị, Tư pháp và Tài chính có 16 thành viên như các ông Vũ Văn Hiền, Trần Văn Chương,Trần Văn Ân, Nguyễn Văn Huyên, Trần Đình Nam, Phan Kế Toại được giao nhiệm vụ xúc tiến việc soạn thảo cơ cấu mới cho quốc gia.[24]

Chính phủ này còn dự định lập ra những Tư vấn Hội nghị ở các địa phương để giúp các Cơ quan Hành chính địa phương, tiến tới thành lập Tư vấn Hội nghị Toàn quốc giúp chính phủ cải cách quốc gia và soạn thảo Hiến pháp. Thủ tướng Trần Trọng Kim ra chỉ thị ngày 8 Tháng Năm thành lập Hội nghị Tư vấn Quốc gia gồm 59 thành viên từ nhiều giới để giúp sức.[22] Sau đó sẽ bầu Quốc hội Lập hiến để phê chuẩn và ban hành Hiến pháp. Những dự định này chưa được thực hiện thì chính phủ đã giải tán.

Sơ thảo hiến pháp

Về mặt hành chánh, chính phủ cũng cho soạn sơ thảo một bản hiến pháp cấp tiến bảo đảm quyền tự do chính trị, tự do nghiệp đoàn và tự do tín ngưỡng. Hội đồng dự thảo Hiến pháp có 14 thành viên gồm có những ông Phan Anh, Nguyễn Tường Long, Vũ Đình Hòe, Huỳnh Thúc Kháng, Đặng Thai Mai, Tôn Quang Phiệt, Hồ Tá Khanh, Nguyễn Văn Sâm, Nguyễn Văn Thinh, Hồ Hữu Tường.[24] Chính phủ cũng ra lệnh bãi bỏ thuế thân cho những ai không tài sản và những người với lương dưới 100 đồng một tháng[25]

Thay thế ảnh hưởng của Pháp

Đốc lý Hà Nội là Trần Văn Lai và Đô trưởng Sài Gòn Kha Vạng Cân ra sức đưa người Việt vào thay thế các vị trí của người Pháp trong bộ máy chính quyền và phá hủy các bức tượng do người Pháp dựng lên trong các thành phố.[18]

Một bước đột phá không kém là thay chương trình dạy học bằng tiếng Pháp sang chương trình học bằng Tiếng Việt, do học giả Hoàng Xuân Hãn đề ra. Thủ tướng Trần Trọng Kim giao việc này cho Hội đồng cải cách giáo dục với 18 thành viên trong đó có Hoàng Xuân Hãn, Hoàng Thị Nga, Nguyễn Mạnh Tường, Hoàng Minh Giám, Bùi Kỷ, Ngụy Như Kontum, Ưng Quả, Hồ Văn Ngà.[24]. Đây cũng là nền tảng xây dựng cho chương trình giáo dục Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và giáo dục Việt Nam Cộng hòa sau này. Tiếng Việt cũng được dùng làm ngôn ngữ hành chính, dùng ghi chép các giấy tờ, sổ sách.

Cứu đói

Năm 1945, đường sắt Xuyên Đông Dương không còn sử dụng được nữa và đường thiên lý Bắc Nam cũng bị Đồng Minh ném bom phá hoại. Đường biển thì quân Đồng minh đã gài thủy lôi ở cửa biển Hải Phòng khiến hải cảng chính ở Bắc Kỳ cũng không thông thương được. Tàu chở hàng cỡ lớn đã bị Nhật trưng dụng, đồng thời quân Đồng minh phong tỏa đường biển nên tàu bè chở gạo ra bắc chỉ ra được đến Đà Nẵng. Khi không quân Đồng minh mở rộng tầm oanh kích thì tàu chở gạo phải cập bến ở Quy Nhơn rồi cuối cùng chỉ ra được đến Nha Trang. Các kho thóc ở miền Bắc thì do Nhật Bản nắm giữ để chuẩn bị chở về chính quốc nên không được phép dùng để phát chẩn cứu đói. Khi đó gạo được chất đống trong kho của Nhật, Bảo Đại đã thử thuyết phục đại sứ quán Nhật Bản mở kho phát gạo nhưng chỉ huy Nhật Bản không cho phép.

Không có phương tiện và tài chính, Nhật Bản thì tăng cường lấy gạo ở Việt Nam để chuyển về nước, chính phủ Trần Trọng Kim phải huy động những phương tiện thô sơ chuyển vận gạo từ Nam ra Bắc như xe bò hay thuyền nhỏ. Do thiếu phương tiện và nhân lực nên dù đã cố gắng Đế quốc Việt Nam vẫn không làm thuyên giảm được hậu quả ghê gớm của nạn đói[18]

Sụp đổ

Đế quốc Việt Nam được thành lập như một bộ phận của chính sách Khối Thịnh vượng chung Đại Đông Á của Nhật. Tuy nhiên, nó cũng chỉ là một trong những khẩu hiệu và khái niệm được dùng để biện hộ cho sự chiếm đóng của Đế quốc Nhật Bản tại Đông Á từ thập niên 1930 cho đến hết Đệ nhị thế chiến, trong đó các chính quyền bản xứ phải vận động người dân và nền kinh tế trong nước phục vụ cho lợi ích của Đế quốc Nhật Bản. CÁC CHÍNH QUYỀN NÀY TRÊN DANH NGHĨA ĐƯỢC ĐỘC LẬP SONG THỰC TẾ KHÔNG CÓ NHIỀU QUYỀN LỰC, HẦU HẾT CÁC CHÍNH SÁCH QUAN TRỌNG ĐỀU DO LỰC LƯỢNG QUÂN QUẢN NHẬT QUYẾT ĐỊNH (TIÊU BIỂU NHƯ CHÍNH PHỦ BÙ NHÌN MÃN CHÂU QUỐC CỦA CỰU HOÀNG ĐẾ PHỔ NGHI HAY CHÍNH PHỦ ĐẾ QUỐC ĐẠI HÀN)[26].

VÌ KHÔNG PHẢI LÀ MỘT THẾ LỰC CHÍNH TRỊ ĐƯỢC ỦNG HỘ RỘNG RÃI VÀ KHÔNG CÓ QUÂN ĐỘI RIÊNG, CŨNG KHÔNG CÓ BỘ QUỐC PHÒNG (HOẶC AN NINH), CHÍNH PHỦ TRẦN TRỌNG KIM THỰC TẾ VẪN NẰM DƯỚI SỰ BẢO HỘ CỦA QUÂN ĐỘI NHẬT CHIẾM ĐÓNG ĐÔNG DƯƠNG VÀ CHỈ KIỂM SOÁT ĐƯỢC NHỮNG THÀNH PHỐ VÀ THỊ TRẤN LỚN Ở MIỀN BẮC VÀ MIỀN TRUNG, TRONG KHI KHÔNG KIỂM SOÁT ĐƯỢC TÌNH TRẠNG HỖN LOẠN DIỄN RA Ở NHIỀU NƠI KHÁC. TRONG THỜI KỲ CẦM QUYỀN, ĐẾ QUỐC VIỆT NAM PHẢI ĐỐI MẶT VỚI NHIỀU VẤN ĐỀ: SỰ TẬN THU TÀI NGUYÊN CỦA QUÂN ĐỘI NHẬT BẢN ĐỂ PHỤC VỤ CHIẾN TRANH, VÀ SỰ TRANH GIÀNH CHÍNH QUYỀN HOẶC ẢNH HƯỞNG CỦA NHIỀU THẾ LỰC KHÁC NHAU,[CẦN DẪN NGUỒN] VÀ NHẤT LÀ NẠN ĐÓI ẤT DẬU LÀM CHẾT GẦN 2 TRIỆU NGƯỜI.

Tuy Chính phủ mới quyết định không thành lập Bộ Quốc phòng để không bị Nhật lôi kéo tham gia vào thế chiến thứ II[27], Trần Trọng Kim vẫn giao cho Phan Anh lập đội Thanh niên Tiền tuyến (còn được gọi là phong trào Thanh niên khất thực). Tuy nhiên khi Cách mạng Tháng Tám nổ ra, lực lượng này lại đi theo Việt Minh.

Khi quân Nhật đầu hàng Đồng Minh, chính phủ Trần Trọng Kim cũng chỉ tồn tại được đến ngày 23 tháng 8 năm 1945. LỰC LƯỢNG VIỆT MINH TỔ CHỨC QUẦN CHÚNG TIẾN HÀNH CUỘC CÁCH MẠNG THÁNG 8. CHÍNH PHỦ TRẦN TRỌNG KIM KHÔNG CÓ HÀNH ĐỘNG QUÂN SỰ CHỐNG LẠI MÀ TỰ NGUYỆN CHUYỂN GIAO CHÍNH QUYỀN CHO VIỆT MINH. VIỆT MINH ĐƯA RA BẢN TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP, TUYÊN BỐ THÀNH LẬP NƯỚC VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA.

Ở miền Nam Việt Nam, Pháp theo quân Anh trở lại Đông Dương và ngày 23 tháng 9 năm 1945 đã nổ súng gây chiến ở Sài Gòn rồi mở rộng đánh chiếm Nam Bộ. Pháp đã chấp thuận đề xuất của một số chính trị gia thuộc Hội đồng tư vấn Nam Kỳ (Conseil consultatif de Cochinchine) lập ra Cộng hòa tự trị Nam Kỳ. Điều này được nhiều người đánh giá là âm mưu của Pháp muốn tách miền Nam Việt Nam ra khỏi Việt Nam.

MỘT SỐ NHÂN SĨ CỦA NỘI CÁC ĐẾ QUỐC VIỆT NAM ĐÃ THAM GIA VÀO VIỆC XÂY DỰNG CHÍNH PHỦ VIỆT NAM CỘNG HÒA SAU ĐÓ TẠI LÃNH THỔ MIỀN NAM NHƯ TRẦN VĂN CHƯƠNG, TRẦN ĐÌNH NAM. MỘT SỐ KHÁC THAM GIA CHÍNH PHỦ LIÊN HIỆP KHÁNG CHIẾN VIỆT NAM HOẶC ĐI THEO VIỆT MINH NHƯ ÔNG HUỲNH THÚC KHÁNG, PHAN ANH, PHAN KẾ TOẠI, TRỊNH ĐÌNH THẢO, TẠ QUANG BỬU, ĐẶNG VĂN HƯỚNG...

Lập trường của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa

CHÍNH PHỦ VIỆT NAM CỘNG HÒA, CỘNG HÒA MIỀN NAM VIỆT NAM VÀ CHỦ THỂ KẾ THỪA CỦA HAI THỰC THỂ TRÊN LÀ CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM ĐỀU CHO RẰNG TRÊN THỰC TẾ ĐẾ QUỐC VIỆT NAM CHỈ LÀ MỘT CHÍNH PHỦ BÙ NHÌN VÀ MỌI QUYỀN LỰC ĐỀU THUỘC VỀ NGƯỜI NHẬT BẢN. CHÍNH PHỦ ĐẾ QUỐC VIỆT NAM CHƯA HỀ THIẾT LẬP ĐƯỢC BỘ MÁY NHÀ NƯỚC HOÀN CHỈNH TỪ TRUNG ƯƠNG ĐẾN ĐỊA PHƯƠNG CŨNG NHƯ VIỆC CHÍNH PHỦ ĐẾ QUỐC VIỆT NAM CHỈ KIỂM SOÁT ĐƯỢC MỘT PHẦN RẤT NHỎ CỦA LÃNH THỔ VIỆT NAM, RANH GIỚI KHÔNG RÕ RÀNG, SỐ LƯỢNG DÂN CƯ KHÔNG ỔN ĐỊNH (DO ĐANG CHIẾN TRANH ĐANG XẢY RA VÀ LỰC LƯỢNG CHIẾN ĐẤU CHÍNH LÀ VIỆT MINH VÀ PHÁT XÍT NHẬT). MỌI QUYẾT ĐỊNH VỀ ĐIỀU HÀNH VIỆT NAM ĐỀU DO NHẬT BẢN THỰC HIỆN CHỨ KHÔNG PHẢI LÀ ĐẾ QUỐC VIỆT NAM.[6]

Bên cạnh đó, do Đế quốc Việt Nam chưa tổ chức được bất kỳ cuộc tổng tuyển cử để bầu lên Quốc hội - cơ quan quyền lực cao nhất của một nhà nước theo thể chế Cộng hòa - như cuộc Tổng tuyển cử năm 1946của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - nên Đế quốc Việt Nam chưa thể trở thành một nhà nước chính danh, một người đại diện hợp pháp của nhân dân Việt Nam. Việc không tổ chức được Tổng tuyển cử còn cho thấy chính phủ Đế quốc Việt Nam không thể duy trì và thực hiện quyền lực quốc gia trong dài hạn và không đủ khả năng bảo vệ và đại diện cho nhân dân Việt Nam. Chính phủ Trần Trọng Kim - Bảo Đại đã bất lực trước các nhiệm vụ tự nó đặt ra lúc đầu. Ngay một công việc cấp bách khi đó là vận chuyển gạo từ miền nam ra miền bắc để cứu đói mà Chính phủ Trần Trọng Kim - Bảo Đại cũng không thực hiện nổi. Đeo bám vào biểu tượng quân chủ đã lỗi thời và một ông vua bù nhìn, công khai xác nhận mối gắn bó, sự phụ thuộc nặng nề vào thế lực xâm lược ngoại bang, gây chiến tranh phi nghĩa và đang trên đường bị tiêu diệt, "chính phủ" Trần Trọng Kim không thể là biểu tượng quy tụ ý chí độc lập của dân tộc Việt Nam; do đó việc "được Nhật trao độc lập" không phản ánh tính chính danh chính trị của "chính phủ" này, chính vì thế nó đã tự đặt mình vào thế đối lập với xu thế thời đại.[6]

Nhận xét

  • Tiến sĩ sử học Vũ Ngự Chiêu:

Chính phủ Trần Trọng Kim hoặc đã bị đánh giá thấp hay lãng quên. Khuynh hướng phù thịnh và sự thiếu tài liệu chính xác phần nào gây nên hậu quả này. Ngoài ra, các guồng máy tuyên truyền của các thế lực tảng lờ sự thực lịch sử, bẻ cong dữ kiện theo mục tiêu chính trị giai đoạn. Tuy nhiên, xúc động đã qua và các tài liệu văn khố cùng tư liệu nguyên bản khác đã được mở, chúng ta có thể đánh giá tầm quan trọng lịch sử của chính phủ Kim. Dài theo sự hiện hữu ngắn ngủi, và trong hoàn cảnh cực kỳ khó khăn, chính phủ Kim đã tham gia vào việc phát động một cuộc cách mạng từ trên xuống, khởi phát từ cuộc thanh trừng chính quyền Decoux. Hai trong những khía cạnh quan trọng cần nhấn mạnh: Đó là sự kích thích đám đông tham gia sinh hoạt chính trị, và, hiện tượng Việt-Nam-hoá hầu hết các cơ cấu xã hội [...] Dẫu vậy, những thành quả của Kim chẳng phải “chìm nhanh vào sự lãng quên không để lại một dấu vết” (Ibid.) Ở phân tích cuối cùng, ít nữa cho tới chuyến đi Bắc Kinh và Mat-scơ-va năm 1950 bí mật cầu viện khối tân Quốc tế Cộng sản, Hồ là người thụ hưởng chính, trong số những việc khác, sự thành tựu của Kim trong “giai đoạn cách mạng dân tộc tư sản,” bước đầu tiên của cuộc phiêu lưu vô định từ một hành tinh nửa phong kiến, nửa thực dân đã chết, tới một xã hội công hữu nguyên thủy chưa ai được tri nghiệm, và có thể chẳng bao giờ có khả năng chào đời.[28]

  • Theo tác giả Lê Xuân Khoa, Đế quốc Việt Nam dù không có thực quyền và chịu sự khống chế của Nhật Bản, song nó cũng "đóng một vai trò nhất định trong lịch sử". Theo mong muốn của Bảo Đại, đây là một bước đệm để cho Việt Nam có cơ hội đòi hỏi nền độc lập hoàn toàn khi thế chiến thứ II kết thúc.[18]

  • Theo Tiến sĩ Lê Mạnh Hùng:

"Chính phủ Trần Trọng Kim được thành lập sau khi Nhật Bản lật đổ chính quyền thuộc địa Pháp tại Đông Dương vào ngày 9 tháng 3, 1945 và tuyên bố trả độc lập cho Việt Nam. Nhưng vì độc lập mà Nhật gọi là trao trả cho Việt Nam rất là giới hạn thành ra việc thành lập chính phủ cũng bị rất nhiều trở ngại. Phải mất trên một tháng từ khi ông Bảo Đại ra tuyên ngôn tuyên bố độc lập vào ngày 11 tháng 3 cho đến ngày 15 tháng tư mới thành lập được chính phủ. Đó là vì Nhật không chịu bất kỳ những nhà chính trị nào dù là thân Nhật mà họ cho rằng có thể có những ước vọng độc lập nhiều hơn là Nhật dành cho.

Với an ninh, quốc phòng và kinh tế tài chánh đều nằm trong tay quân đội Nhật, tất cả những gì mà chính phủ Trần Trọng Kim có thể đạt được trong việc giành lại chủ quyền cho Việt Nam thực tế là chỉ có tính cách biểu tượng. Nhưng trong tình huống Đông Dương vào năm chót của thế chiến thứ hai, biểu tượng này đóng một vai trò rất quan trọng. Biết rằng thất bại của Nhật Bản chỉ là một vấn đề thời gian, Trần Trọng Kim và chính phủ của ông đưa ra một chương trình nhằm thay đổi tâm lý người Việt đến mức mà đất nước sẽ không thể trở lại tình trạng thuộc địa nữa một khi chiến tranh chấm dứt, như lời nói sau đây của ông Hoàng Xuân Hãn khi kể lại mục tiêu của cụ Kim khi thành lập cũng như là của ông khi tham gia chính phủ "Chúng tôi muốn đặt trước Đồng Minh khi chiến tranh chấm dứt với một nước Việt Nam độc lập trên thực tế để chúng ta không thể nào trở lại tình trạng cũ là một thuộc địa của Pháp nữa".

Theo ông Hãn, để đạt được mục tiêu này, họ đề ra ba nhiệm vụ chính. Thứ nhất thương thuyết với Nhật để chuyển nhưọng quyền chính trị và kinh tế về cho Việt Nam cũng như là thống nhất đất nước bị Pháp chia thành ba phần, bằng cách đưa Nam Kỳ và các thành phố Hà Nội, Hải Phòng và Tourane trở lại dưới sự cai trị của triều đình Huế. Thứ hai, Việt Nam hóa cơ cấu hành chánh thuộc địa của Pháp bằng cách thay thế các quan chức và chuyên viên Pháp, Nhật với người Việt. Và thứ ba tạo ra trong quần chúng một tinh thần quốc gia mới, một niềm ái quốc mới qua một hệ thống giáo dục hoàn toàn dùng tiếng Việt làm ngôn ngữ giảng dạy. Theo ông Hoàng Xuân Hãn, họ hy vọng rằng sẽ có được từ một năm đến 18 tháng để thực hiện chương trình này. " [20]

  • Nhà sử học, giáo sư Đinh Xuân Lâm:

Về phía Nhật Bản, chúng cũng nhanh chóng tìm cách nắm chắc bộ máy cầm quyền "bản xứ" do người Pháp lập ra trước đó, và nay đã hoang mang dao động trước vụ Nhật đảo chính Pháp. Chúng bày trò "trao trả độc lập" để làm áp lực buộc vua Bảo Đại ký đạo Dụ số 1 "cải tổ bộ máy triều đình cho phù hợp với tình hình mới". Ngày 19 - 3, viện Cơ mật mới được thành lập trước đó (6-3) do Phạm Quỳnh đứng đầu xin từ chức, Nhật đưa Trần Trọng Kim từ Băng Cốc (Thái Lan) về Sài Gòn, rồi ra Huế gặp Bảo Đại và nhận đứng ra lập nội các mới. Ngày 17/4, nội các Trần Trọng Kim ra mắt. Ngày 4/5, nội các họp phiên đầu tiên, ngày 8/5 bệ kiến Bảo Đại và ra tuyên cáo chính thức. Nội các Trần Trọng Kim với thành phần là những trí thức có tên tuổi - trong số đó phải kể tới một số nhân vật tiêu biểu của nước ta trước năm 1945, có uy tín đối với nhân dân, như Trần Trọng Kim, Hoàng Xuân Hãn, Trịnh Đình Thảo, Phan Anh,…họ đều là giáo sư, luật gia, nhà báo chưa hề dính líu với bộ máy quan trường, trước đó lại từng có nhiều hoạt động thể hiện có tư tưởng yêu nước, có tinh thần dân tộc nên được nhiều người ngưỡng mộ - cũng đã làm cho một bộ phận nhân dân có phần tin tưởng, đặt hy vọng vào.

Thủ đoạn của bọn cầm quyền Nhật là triệt để lợi dụng bộ máy chính quyền do chúng mới dựng lên để lũng đoạn tình hình có lợi cho chúng, chúng chỉ muốn có một chính phủ bù nhìn hoàn toàn để thi hành mọi ý định của chúng. Mặc dù vậy, nội các Trần Trọng Kim vượt qua bao khó khăn từ nhiều phía, chủ yếu là từ Nhật, với lời hứa hẹn "phấn đấu cho Việt Nam thành một quốc gia độc lập" và với những công tác lớn được đưa vào chương trình hành động như "Giải quyết nạn đói", "Thống nhất chủ quyền lãnh thổ"…là những yêu cầu cấp bách của tình hình lúc đó, cũng đã đáp ứng một phần lòng mong mỏi của quốc gia. Đành rằng trong tình hình chiến tranh, bom đạn lúc bấy giờ, lại phải tiến hành các công việc trên dưới sự kiểm soát chặt chẽ của nhà cầm quyền Nhật nên không có điều kiện thu được kết quả như mong muốn, nhưng dù sao thì những chuyến tàu chở gạo Nam Bộ ra Bắc, cũng như những cuộc vận động để Nhật trao trả dần một số quyền trong việc quản lý đất nước, đòi hỏi cho Việt Nam những phần đất mà chế độ thuộc Pháp đã tách khỏi Việt Nam (Đà Nẵng, Hà Nội, Nam Kỳ), cũng phần nào nói lên sự cố gắng và nhiệt tình của các thành viên nội các Trần Trọng Kim. Rõ ràng là các thành viên nội các Trần Trọng Kim - tất nhiên là không phải hoàn toàn như nhau - đều có tinh thần yêu nước và mong muốn làm được một việc gì đó có lợi cho dân cho nước lúc bấy giờ.

...Cho nên suy nghĩ cho kỹ, xét đoán cho sâu để đánh giá cho đúng, hợp tình, hợp lý, chúng tôi cho rằng chính phủ Trần Trọng Kim lợi dụng thân Nhật là chính xác vì thực tế nó ra đời do bàn tay Nhật tạo dựng theo ý định của Nhật, nhưng bảo rằng nó là bù nhìn e rằng chưa thật sự đúng, vì trong thực tế nó vẫn có những chủ trương và việc làm ngoài ý muốn của Nhật và có lợi cho dân, cho nước... [3]

  • Theo lời thuật của Phan Anh, Bộ trưởng Bộ Thanh niên:

Lúc ấy, những công chức người Pháp vẫn tiếp tục làm việc. Nhưng họ có mưu mô. Ngoan ngoãn cúi đầu trước Nhật. Thâm ý là chờ đợi xem thế nào? Chờ đợi một cách tích cực. Cụ thể là: Chịu sự sai bảo của ông chủ mới để được ngồi lỳ trong bộ máy hành chánh. Trong phủ Toàn quyền, trong phủ Thống sứ: toàn là người Pháp. Họ đã mất con bài chính trị, thì phải giữ con bài hành chính... Chắc chắn Nhật chóng hay chầy sẽ đầu hàng. Giữ chặt các chức vụ hành chánh để còn có vai trò trong tương lai. Bên cạnh trận địa hành chánh, lại còn trận địa kín nữa chứ... Tôi với tư cách người yêu nước, tôi đã quan sát tình hình ấy. Chúng tôi không muốn bị cả người Pháp lẫn người Nhật đánh lừa mình. Nhóm trí thức chúng tôi không phải một đảng mà là một nhóm, chúng tôi nghĩ rằng nhiệm vụ cấp bách là phải đuổi bọn Pháp ra khỏi bộ máy hành chính. Chúng tôi huy động sinh viên, thanh niên công chức làm việc đó. "Khẩu hiệu thứ hai của chúng tôi là tạm thời ngồi làm việc với người Nhật, nhưng không là "đồng tác giả" (co-auteurs), không phải là "kẻ hợp tác" với họ; phải giữ thế trung lập...."

Lấy tư cách là thành viên của chính phủ Trần Trọng Kim, tôi nói với ông rằng chúng tôi tuyệt đối không có ảo vọng gì về người Nhật. Tình thế đã dứt khoát rồi. Phải là kẻ điên mới đi hợp tác với Nhật. Có những người điên, nhưng chúng tôi là trí thức, chúng tôi tham gia chính phủ là để phụng sự. Chính với chính sách ấy mà chúng tôi đã thành lập chính phủ với khẩu hiệu như vừa nói là: Đuổi cổ bọn Pháp và nắm lấy độc lập....

Chính phủ Trần Trọng Kim với tất cả bộ trưởng cùng theo đuổi một mục đích như tôi; đã tự vạch ra đường lối chung cho mình mà tôi vừa phác lại để ông thấy rõ. Chính phủ ấy khi ra đời đã tự coi như một mắt xích lâm thời, tôi có thể nói hẳn ra là, theo tôi nhận định, như một công cụ phục vụ cho sự nghiệp giành độc lập. Chúng tôi không coi chính mình là những người' lãnh đạo phong trào, lãnh đạo đất nước, mà là những công cụ, những tay chân của công cuộc đấu tranh dân tộc. Và do đó sự chuyển tiếp từ chính phủ Trần Trọng Kim đến nền cộng hòa trong Cách mạng tháng Tám diễn ra một cách tự nhiên suôn sẻ nữa cơ. Tôi có thể nói với ông rằng với tư cách bộ trưởng, chúng tôi trăm phần trăm ủng hộ Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tất cả, kể cả Thủ tướng Trần Trọng Kim. Đã có sự nhất trí toàn vẹn, sâu sắc về sự chuyển tiếp ấy.[27]

Trong thư viết ngày 8/5/1947 tại Sài Gòn gửi học giả Hoàng Xuân Hãn, ông Trần Trọng Kim nói về sự yếu ớt và bất lực của Đế quốc Việt Nam năm 1945, và vai trò tiếp quản của Việt Minh như sau[6]:

"CÒN VỀ PHƯƠNG DIỆN NGƯỜI MÌNH (ĐẾ QUỐC VIỆT NAM), THÌ TÔI THẤY KHÔNG CÓ GÌ ĐÁNG VUI. PHE NỌ ĐẢNG KIA LĂNG NHĂNG CHẲNG ĐÂU VÀO ĐÂU CẢ. AI CŨNG NÓI VÌ LÒNG ÁI QUỐC, NHƯNG CÁI LÒNG ÁI QUỐC CỦA HỌ CHỈ Ở CỬA MIỆNG MÀ THÔI, NHƯNG KỲ THỰC LÀ VÌ ĐỊA VỊ VÀ QUYỀN LỢI, THÀNH RA TRANH GIÀNH NHAU, NGHI KỴ NHAU RỒI LĂNG MẠ LẪN NHAU... TÔI THẤY TÌNH THẾ CÓ NHIỀU NỖI KHÓ KHĂN QUÁ, MÀ MÌNH THÌ THÂN CÔ THẾ CÔ, KHÔNG LÀM GÌ ĐƯỢC, CHO NÊN CHỈ GIỮ CÁI ĐỊA VỊ BÀNG QUAN MÀ THÔI... TÔI VẪN BIẾT VIỆC CHỐNG PHÁP CHỈ CÓ VIỆT MINH MỚI LÀM NỔI... NAY VIỆT MINH ĐỨNG VÀO CÁI ĐỊA VỊ CHỐNG PHÁP, TẤT LÀ CÓ CÁI THANH THẾ RẤT MẠNH...".

 

 

 

B. QUỐC GIA VIỆT NAM

QUỐC GIA VIỆT NAM

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Cảnh báoGiá trị không được liệt kê cho "tên thông thường"
Quốc gia Việt Nam
  1949–1955  
Quốc huy
Quốc kỳ Quốc huy
Khẩu hiệu
Dân vi quý[1]
Quốc ca 
 

Thanh niên hành khúc
Vị trí của {{{common_name}}}
Thủ đô Sài Gòn
Ngôn ngữ Tiếng Việt
Tiếng Pháp
Chính thể Quân chủ lập hiến
Quốc trưởng¹ Bảo Đại
Thủ tướng (1954-1955) Ngô Đình Diệm
Thời đại lịch sử Chiến tranh lạnh
 - Tuyên bố độc lập 14 tháng 6, 1949 1949
 - Được công nhận 1950
 - Giải thể 26 tháng 10, 1955 1955
Diện tích 16.585 km²; (6.404 mi²)
Tiền tệ Đồng
Ghi chú: Quốc gia Việt Nam tuyên bố chủ quyền trên toàn bộ lãnh thổ Việt Nam (~331.000 km2) nhưng thực tế chỉ kiểm soát dưới 5% lãnh thổ[2] (tương đương 16585 km2). Do lãnh thổ thực tế của Quốc gia Việt Nam quá bé, không ổn định, không có căn cứ rõ ràng để xác định nên lấy phần màu đỏ trong bản đồ trên để tượng trưng.

Quốc gia Việt Nam (tiếng Pháp: État du Viêt Nam) là một chính thể thuộc Liên bang Đông Dương thuộc Liên hiệp Pháp, tuyên bố chủ quyền toàn bộ lãnh thổ Việt Nam, tồn tại trong giai đoạn từ giữa năm 1948 và 1955. Thủ đô đặt tại Sài Gòn, Quốc trưởng Bảo Đại sống và làm việc tại biệt điện ở Đà Lạt[3].

Về mặt hình thức, nhà nước quốc gia này gần như là một quốc gia quân chủ lập hiến (nhưng chưa có Hiến pháp và Quốc hội) với Quốc trưởng là cựu hoàng Bảo Đại (tương tự nhà nước Lào và Campuchia được công nhận ngay sau đó), trong khi đó, Pháp vẫn giữ quyền kiểm soát tài chính, thương mại và chính sách đối ngoại và quân sự của Quốc gia Việt Nam[4].

Đến tháng 6/1954, sau thất bại ở trận Điện Biên Phủ, Pháp đã ký tắt một hiệp ước dự định trao trả độc lập cho Quốc gia Việt Nam[5], nhưng với việc Hiệp định Geneve diễn tiến quá nhanh và được ký chính thức giữa Pháp và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, bản hiệp ước ký tắt của Quốc gia Việt Nam đã trở nên không bao giờ được hoàn thành[6]

Từ năm 1954, theo thỏa thuận của Hiệp định Genève 1954, chính quyền và các lực lượng quân sự của Liên Hiệp Pháp (bao gồm Quốc gia Việt Nam) theo quân đội Pháp tập kết vào miền Nam Việt Nam. Cuộc trưng cầu dân ý vào năm 1955 đã phế truất Quốc trưởng Bảo Đại, đưa thủ tướng Ngô Đình Diệm trở thành Quốc trưởng. Sau đó Quốc trưởng Ngô Đình Diệm tổ chức bầu Quốc hội Lập hiến cho Quốc gia Việt Nam. Quốc hội này ban hành Hiến pháp đổi tên Quốc gia Việt Nam thành Việt Nam Cộng hòa.

Lịch sử

Bối cảnh chính trị

Bảo Đại tuyên bố độc lập

Năm 1940Đế quốc Nhật Bản tấn công Đông Dương và nhanh chóng thỏa thuận được với chính quyền Vichy ở Pháp để Nhật toàn quyền cai trị Đông Dương. Thực dân Pháp chỉ tồn tại đến tháng 3 năm 1945 khi Nhật lật đổ Pháp trên toàn bộ Đông Dương. Ngay sau đó, theo chính sách Khối Thịnh vượng chung Đại Đông Á, Đế quốc Nhật Bản bảo trợ thành lập chính phủ Đế quốc Việt Nam do quốc trưởng Bảo Đại đứng đầu với thủ tướng là Trần Trọng Kim. Cũng như các chính phủ khác ở những vùng bị Nhật chiếm đóng (Mãn Châu quốc, Triều Tiên, Chính phủ Uông Tinh Vệ...), chính phủ này không có thực quyền khi tài chính và nhân lực đều do quân Nhật nắm giữ.

Vua Bảo Đại tuyên bố độc lập ngày 11 tháng 3 năm 1945, thu hồi chủ quyền trên danh nghĩa ở ba kỳ, tiếp sau đó là Campuchia ngày 13 tháng 3 và Lào ngày 8 tháng 4. Trong tuyên bố của Bảo Đại thì Việt Nam hủy bỏ các Hiệp ước Bảo hộ trước kia với Pháp và thu hồi độc lập theo tuyên ngôn Đại Đông Á, và "ông cũng như Chính phủ Việt Nam tin tưởng lòng trung thực của Nhật Bản và nó được xác định làm việc với các nước để đạt được mục đích"[7].

Ngày 7 tháng 4 năm 1945, Vua Bảo Đại ký đạo dụ số 5 chuẩn y thành phần nội các Trần Trọng Kim và ngày 12 tháng 5 giải thể Viện Dân biểu Trung Kỳ. Tháng 6 năm 1945, chính phủ Trần Trọng Kim ra mắt, đặt QUỐC HIỆU LÀ ĐẾ QUỐC VIỆT NAM.

Ngày 16 tháng 8, Thủ tướng Trần Trọng Kim tuyên bố bảo vệ nền độc lập giành được hồi tháng 3, và ngày 18 tháng 8 thì lập ủy ban giải phóng dân tộc, nhóm họp tất cả các đảng phái chính trị để củng cố lực lượng. Theo lời khuyên của Bộ trưởng Ngoại giao, vua Bảo Đại gửi thông điệp cho các lãnh tụ cường quốc Mỹ, Anh, Trung Hoa và Pháp là Tổng thống Harry S Truman, vua nước Anh, Thống chế Tưởng Giới Thạch, và Tướng de Gaulle, kêu gọi họ công nhận nền độc lập của Việt Nam. Không được hồi âm, ngày 24 tháng 8 vua Bảo Đại sức cho Hội đồng Cơ mật tuyên bố thoái vị "để không phải là một trở ngại cho sự giải phóng của đất nước".[10]

Về phía Pháp thì De Gaulle dự kiến sẽ hậu thuẫn cho một chế độ quân chủ ở Việt Nam nhưng người đứng đầu không phải là vua Bảo Đại vì Bảo Đại đã thỏa hiệp với Nhật Bản để được "độc lập". De Gaulle muốn chọn Vĩnh San, tức cựu hoàng Duy Tân.[11]

Từ tháng 3 năm 1945, Việt Nam dần rơi vào tình trạng hỗn loạn vô chính phủQuân đội Đế quốc Nhật Bản thì vẫn chú trọng đến chiến tranh, tìm cách phản công các cuộc oanh tạc của phe Đồng Minh Anh-Mỹ. Trong khi đó chính phủ Trần Trọng Kim và vua Bảo Đại đều không đủ lực lượng quân sự hoặc uy tín chính trị để kiểm soát tình hình. Theo Peter A. Pull, chỉ có Việt Minh là lực lượng có tổ chức duy nhất có khả năng đoạt quyền bính.[12] Tình hình kinh tế càng thêm phức tạp khi chiến tranh đã làm kiệt quệ các ngành công thương còn NHẬT BẢN, VÌ NHU CẦU CHIẾN TRANH, ĐÃ TRƯNG THU LÚA GẠO CÙNG BẮT DÂN PHÁ LÚA TRỒNG ĐAY ĐỂ PHỤC VỤ CUỘC CHIẾN THÊM VÀO ĐÓ LÀ THIÊN TAI THỜI TIẾT, CHÂM NGÒI CHO NẠN ĐÓI ẤT DẬU Ở BẮC KỲ VÀ TRUNG KỲ. CON SỐ ƯỚC TÍNH LÀ CÓ KHOẢNG HAI TRIỆU NGƯỜI CHẾT ĐÓI.

Chiến tranh Đông Dương bùng nổ

Cuối năm 1946, sau khi đàm phán giữa chính phủ Pháp với chính phủ Hồ Chí Minh thất bại, chiến sự Đông Dương bùng nổ. Người Pháp đã vấp phải sự chống trả quyết liệt của Việt Nam, mà lực lượng mạnh nhất làViệt Minh do lãnh tụ Đảng cộng sản Đông Dương Hồ Chí Minh[13] lãnh đạo, khi đó đã lập ra Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Cuộc hành quân Léa năm 1947 với mục đích chính truy bắt các lãnh đạo Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thất bại. Chính quyền Pháp không đạt được mục tiêu cũng như không đủ lực để tiếp tục tấn công, đồng thời chịu áp lực của dư luận quốc tế đòi chấm dứt chiến tranh và trao trả độc lập cho nhân dân Đông Dương. Pháp buộc phải tìm một giải pháp chính trị phù hợp với lợi ích của Pháp và chiến lược "ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản" của khối các nước tư bản phương Tây trong đó có Pháp[14].

 

Mỹ ủng hộ nguyện vọng độc lập dân tộc tại Đông Nam Á trong đó có Việt Nam, nhưng với điều kiện lãnh đạo của những nhà nước mới "không phải là người cộng sản", họ đặc biệt ủng hộ việc thành lập các "nhà nước phi cộng sản" ổn định trong khu vực tiếp giáp Trung Quốc (Tàu Tưởng Giới Thạch). Theo thuyết Domino, Mỹ hỗ trợ những quốc gia đồng minh tại Đông Nam Á vì không muốn "lực lượng cộng sản muốn thống trị châu Á dưới chiêu bài dân tộc".[15] BẰNG PHƯƠNG THỨC VIỆN TRỢ, MỸ ÉP PHÁP PHẢI NHƯỢNG BỘ TRƯỚC PHONG TRÀO CHỦ NGHĨA DÂN TỘC TẠI VIỆT NAM. CHÍNH SÁCH CỦA MỸ LÀ HỖ TRỢ NGƯỜI PHÁP CHIẾN THẮNG TRONG CUỘC CHIẾN CHỐNG VIỆT MINH, SAU ĐÓ SẼ ÉP NGƯỜI PHÁP RÚT LUI KHỎI ĐÔNG DƯƠNG.[16] ĐÁP LẠI, PHÍA PHÁP NHẬN ĐỊNH LÀ MỸ QUÁ NGÂY THƠ, VÀ MỘT NGƯỜI PHÁP ĐÃ NÓI THẲNG LÀ "NHỮNG NGƯỜI MỸ ƯA LO CHUYỆN NGƯỜI KHÁC, NGÂY THƠ VÔ PHƯƠNG CỨU CHỮA, TIN TƯỞNG RẰNG KHI QUÂN ĐỘI PHÁP RÚT LUI, MỌI NGƯỜI SẼ THẤY NỀN ĐỘC LẬP CỦA NGƯỜI VIỆT XUẤT HIỆN."[17]

Người Pháp chấp nhận một lộ trình trao quyền tự quyết cho chính phủ bản xứ với điều kiện người lãnh đạo mà Pháp đồng ý thỏa hiệp "không phải là cộng sản" (hay nói cách khác, chính phủ này đảm bảo duy trì các lợi ích của Pháp tại Đông Dương). THEO SỬ GIA WILLIAM DUIKER, KHẨU HIỆU "CHỐNG CỘNG SẢN" CỦA PHÁP THỰC CHẤT LÀ ĐỂ XÂY DỰNG MỘT CHÍNH QUYỀN BẢN XỨ NGƯỜI VIỆT LÀM ĐỐI TRỌNG VỚI VIỆT MINH ĐỂ GIẢM SỨC ÉP VỀ KINH TẾ - QUÂN SỰ, CŨNG NHƯ THUYẾT PHỤC MỸ VIỆN TRỢ ĐỂ PHÁP CÓ THỂ TIẾP TỤC ĐỨNG CHÂN TẠI ĐÔNG DƯƠNG[18]. BAN ĐẦU, CHÍNH PHÁP ĐÃ ĐÀM PHÁN VỚI VIỆT MINH VÀ CÔNG NHẬN VIỆT NAM LÀ QUỐC GIA TỰ DO TRONG LIÊN HIỆP PHÁP BẰNG HIỆP ĐỊNH SƠ BỘ PHÁP-VIỆT 1946 VÀ TẠM ƯỚC VIỆT - PHÁP. NHƯNG THỰC SỰ THÌ NGAY TỪ ĐẦU, NGƯỜI PHÁP CŨNG KHÔNG CÓ Ý TÔN TRỌNG LÂU DÀI CÁC HIỆP ĐỊNH NÀY. LECLERC, TỔNG CHỈ HUY PHÁP Ở ĐÔNG DƯƠNG KHI ĐỀ NGHỊ ĐÀM PHÁN ĐÃ BỊ TƯỚNG CHARLES DE GAULLE TRÁCH MẮNG: "NẾU TÔI MÀ ĐỒNG Ý MẤY THỨ NHẢM NHÍ NÀY THÌ ĐẾ QUỐC PHÁP ĐÃ TIÊU VONG LÂU RỒI. HÃY ĐỌC THẬT KỸ CÂU CHỮ TRONG TUYÊN BỐ THÁNG 3 CỦA PHÁP VỀ ĐÔNG DƯƠNG".[19] KHI CHIẾN TRANH BÙNG NỔ, CHIẾN LƯỢC "ĐÁNH NHANH THẮNG NHANH" THẤT BẠI THÌ PHÁP MỚI SỬ DỤNG KHẨU HIỆU "CHỐNG CỘNG SẢN", DÙ CHÍNH HỌ ĐÃ TỪNG CHẤP NHẬN VIỆT MINH KHÔNG LÂU TRƯỚC ĐÓ.

 

Thành lập

 
Hiệu kỳ của Quốc trưởng Bảo Đại.

Đầu năm 1947, D'Argenlieu bị triệu hồi về nước do bị người Việt Nam và các đảng phái cánh tả Pháp căm ghét. Trước áp lực của các đảng phái cánh tả Pháp như Đảng Cộng sản Pháp và Đảng Xã hội Pháp, Thủ tướng Ramadier - một đại biểu xã hội chủ nghĩa, thông báo rằng chính phủ của ông ủng hộ nền độc lập và thống nhất cho Việt Nam: "Độc lập trong Liên hiệp Pháp [và] liên minh của ba nước An Nam, nếu người dân An Nam mong muốn nó"Pháp sẵn sàng đàm phán hòa giải với những đại diện chân chính của Việt Nam[20].

Ngay sau đó, Mặt trận Thống nhất Quốc gia Liên hiệp quyết định sẽ ủng hộ Bảo Đại đàm phán với Pháp về nền độc lập của Việt Nam. Tháng 5/1947, Mặt trận Thống nhất Quốc gia Liên hiệp cử phái đoàn đến Hồng Kông gặp Bảo Đại để thuyết phục ông này thành lập một Chính phủ Trung ương và đàm phán với Pháp về nền độc lập của Việt Nam.[21] Sau đó, Pháp cử đại diện gặp Bảo Đại đề xuất về việc đàm phán về nền độc lập của Việt Nam và việc thành lập một chính phủ Việt Nam độc lập. Bảo Đại được Mặt trận Thống nhất Quốc gia Liên hiệp bao gồm các lực lượng chính trị Cao Đài, Hoà Hảo, Việt Nam Cách mệnh Đồng minh Hội, Đại Việt Quốc dân đảng và Việt Nam Quốc dân Đảng hậu thuẫn.[22] Đây là những tổ chức chính trị hoặc tôn giáo từng tham gia chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa hay hợp tác với Việt Minh chống Pháp nhưng do xung đột với Việt Minh nên chuyển sang ủng hộ Bảo Đại thành lập Quốc gia Việt Nam.

Ngày 7/12/1947, tại cuộc họp trên tàu chiến Pháp ở Vịnh Hạ Long, Bảo Đại và Pháp đàm phán rồi ký kết Hiệp ước Vịnh Hạ Long. Hiệp ước thể hiện sự đồng thuận của hai bên về việc thành lập Quốc gia Việt Nam trên cơ sở nguyên tắc độc lập và thống nhất của Việt Nam trong Liên hiệp Pháp. Dù vậy nghĩa chính xác của từ "độc lập", quyền hạn cụ thể của chính phủ mới cũng như vai trò chính phủ này trong cuộc chiến Việt - Pháp đang tiếp diễn không được xác định rõ[23].

Chính phủ hoạt động dưới một hiến chương lâm thời, chọn cờ vàng ba sọc đỏ làm quốc kỳbản "Thanh niên Hành Khúc" với lời nhạc mới làm quốc ca.[24] Quốc gia Việt Nam sẽ có một quân đội riêng tuy nhiên phải "sẵn sàng bảo vệ bất cứ phần nào của Liên Hiệp Pháp".[22] Sự độc lập chính trị của nhà nước Quốc gia Việt Nam được quy định trong Hiệp ước Vịnh Hạ Long quá nhỏ nên hiệp ước này bị Ngô Đình Diệm và cả những chính trị gia trong Mặt trận Thống nhất Quốc gia Liên hiệp chỉ trích.[22] Mỹ ủng hộ việc Pháp đàm phán với Bảo Đại với hy vọng Chính phủ Bảo Đại sẽ giành lại đa số những người Việt Nam theo chủ nghĩa dân tộc từ phía Hồ Chí Minh[25].

Do bị các chính trị gia trong Mặt trận Thống nhất Quốc gia Liên hiệp chỉ trích, Bảo Đại chấm dứt đàm phán với Pháp và đi du lịch châu Âu trong 4 tháng. Người Pháp cử các nhà ngoại giao theo Bảo Đại để thuyết phục ông tiếp tục đàm phán và thành lập Chính phủ. Tháng 1/1948, Cao ủy Pháp tại Đông Dương E. Bollaert tìm gặp Bảo Đại ở Genève, Thụy Sĩ để thuyết phục ông quay về Việt Nam để tiếp tục đàm phán và thành lập Chính phủ. Bảo Đại tuyên bố nếu Hiệp ước Vịnh Hạ Long không được bổ sung ông sẽ không quay về Việt Nam. Sau đó ông đi Cannes, Paris rồi quay về Hồng Kông.[26]

Tháng 3 năm 1948, Bảo Đại và Mặt trận Thống nhất Quốc gia Liên hiệp gặp nhau tại Hương Cảng và đồng ý thành lập chính phủ lâm thời do Nguyễn Văn Xuân đứng đầu. Ngày 5/6/1948, Quốc gia Việt Nam ký kết với Pháp một Hiệp ước Vịnh Hạ Long khác với nội dung Pháp công khai và trọng thể công nhận nền độc lập của Việt Nam. Hiệp ước này vẫn chưa quy định cụ thể các quyền hạn của Quốc gia Việt Nam. Điều này sẽ được thỏa thuận trong các cuộc đàm phán tiếp theo.[22]

Việt Minh chỉ trích Bảo Đại là xấu xa, tội lỗi vì đã lấy lại từ người Pháp chữ "độc lập" thần kỳ mà Hồ Chí Minh đã cố gắng giành giật ở Fontainebleu không được. Những người Pháp có tư tưởng thực dân phản đối điều mà họ cho là sự đầu hàng của Bollaert, đồng thời yêu cầu cắt Nam Kỳ ra khỏi phần còn lại của Việt Nam, đòi đưa Việt Nam quay trở lại chế độ Bảo hộ. Các chính trị gia ở Paris ra sức trấn an những người Pháp ủng hộ chủ nghĩa thực dân và đảm bảo với họ rằng sẽ không có gì thay đổi - cuộc chiến tranh sẽ không chấm dứt. Các lãnh tụ Cộng hoà Bình dân và nhiều người thân cận với Cộng hoà Bình dân lại cho rằng kéo dài chiến tranh sẽ hết sức có lợiđã đi đến quyết định không để cho cuộc chiến tranh kết thúc sớm[27].

Sau đó Bảo Đại rút lui khỏi các hoạt động chính trị và đi châu Âu một lần nữa. Ngày 25/8/1948, từ Saint Germain Bảo Đại báo cho E. Bollaert biết ông sẽ không quay về Việt Nam nếu Pháp không hủy bỏ chế độ thuộc địa tại Nam Kỳ và trao trả Nam Kỳ lại cho Quốc gia Việt Nam cũng như nếu ông không nhận được sự đảm bảo của Pháp cho Việt Nam độc lập.[28]

Tháng 1 năm 1949, cuối cùng Pháp cũng thỏa hiệp trước đòi hỏi của Bảo Đại, gộp đất Nam Kỳ vào Quốc gia Việt Nam. Ngày 8 tháng 3 năm 1949, sau nhiều tháng đàm phán, Tổng thống Pháp Vincent Auriol và Cựu hoàng Bảo Đại đã ký Hiệp ước Elysée tuyên bố xác nhận "nền độc lập của Việt Nam", chính thức thành lập Quốc gia Việt Nam trong khối Liên hiệp Pháp, đứng đầu là Quốc trưởng Bảo Đại.

Quá trình xây dựng

Quốc gia Việt Nam lúc mới thành lập (ngày 7/12/1947) hết sức non yếu do các quyền quan trọng về quân sự, tài chính và ngoại giao đều bị người Pháp chi phối và quyền hành cao nhất trên thực tế là Cao ủy Pháp. Tính độc lập của nhà nước Quốc gia Việt Nam bị nghi ngờ khi mà đa số kinh phí duy trì nó là do Pháp viện trợ, cũng như quân đội không có sĩ quan chỉ huy cấp cao người Việt[29]. Pháp chỉ đơn giản là đưa những người lính mới tuyển mộ được vào các quân đoàn Viễn chinh của chính Pháp, tại đó, người chỉ huy là các sĩ quan Pháp.[30]

Hai vấn đề quan trọng nhất là tài chính và quân đội của chính phủ này thì vẫn do Pháp nắm giữ. Mục đích như tướng Nava đã viết: "...cuộc chiến tranh này phải được chỉ đạo và muốn như vậy sự thống nhất hành động chính trị và quân sự phải được thực hiện trong hàng ngũ của chúng ta cũng như bên đối phương đã từng làm… Cuối cùng, tôi yêu cầu là cần phải làm tất cả để các quốc gia liên kết (trong đó có Quốc gia Việt Nam) phải thực sự tham gia chiến tranh... ĐỒNG THỜI MỸ PHẢI TỪ BỎ Ý ĐỊNH THAY THẾ ẢNH HƯỞNG CỦA HỌ."[31]

Cuối tháng 6 năm 1949, về danh nghĩa, Việt Nam chính thức thống nhất dưới sự quản lý của Quốc gia Việt Nam[22] (thực tế nhiều vùng Việt Nam nằm dưới sự quản lý của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa). Pháp chuyển giao những chức năng hành chính cho Quốc gia Việt Nam một cách chậm chạp. Tính đến đầu năm 1950, có 35 quốc gia công nhận Quốc gia Việt Nam.[32]

Từ tháng 6 cho đến tháng 10 năm 1950, Quốc gia Việt Nam và Pháp họp tại Pau (Pháp) để bàn về việc chuyển giao các chức năng quản lý xuất nhập cảnh, quan hệ ngoại giao, ngoại thương, hải quantài chính cho Quốc gia Việt Nam. Tài chính là vấn đề gây nhiều tranh cãi nhất bao gồm việc kiểm soát lợi nhuận từ hoạt động ngoại hối. Kết quả tất cả các chức năng trên đã được Pháp chuyển giao cho Quốc gia Việt Nam. Thủ tướng Quốc gia Việt Nam Trần Văn Hữu sau khi ký thỏa thuận với Pháp đã tuyên bố: "Nền độc lập của chúng tôi hiện nay thật tuyệt vời". Các quan chức Pháp phàn nàn về Bảo Đại: "Ông ấy tập trung quá mức vào việc lấy lại từ chúng tôi những gì có thể thay vì tìm kiếm sự ủng hộ từ nhân dân... Lịch sử sẽ phán xét ông ấy vì quá chú tâm vào chuyện này". Tuy nhiên người Pháp vẫn giành cho mình quyền quan sát và can thiệp đối với những vấn đề liên quan đến toàn bộ Liên Hiệp Pháp. Người Pháp còn có quyền tiếp cận mọi thông tin nhà nước, tham dự vào tất cả các quyết định của chính phủ và nhận một khoản nhỏ từ lợi tức quốc gia của Việt Nam.[22]

Nhiều người Pháp xem đây là một sự từ bỏ quyền lực tai hại của Pháp tại Việt Nam và là sự cáo chung của Pháp ở Đông Nam Á còn phái đoàn Quốc gia Việt Nam xem những kết quả đạt được ở Pau là một bước tiến. Theo họ muốn giành được độc lập hoàn toàn từ Pháp thì phải thực hiện từ từ lâu dài và kiên nhẫn. Archimedes L.A Patti nhận xét: "Tất nhiên họ (Quốc gia Việt Nam) đã lầm, không bao giờ Pháp cho Việt Nam độc lập để mất Đông Dương. Bảo Đại trở về Việt Nam và cho rằng ông ta đã làm hết sức mình để người Pháp phải giữ lời cam kết. Ông sẽ chờ và xem. Có thể người Mỹ sẽ khích lệ giúp đỡ. Nhưng sau một ngày ở Sài Gòn, thấy Pháp từ chối không cho ông sử dụng dinh Norodom, trụ sở chính quyền thuộc địa Pháp, Bảo Đại liền rút lui về nhà ở Đà Lạt. Sự việc này cho thấy rõ tình hình chẳng có gì thay đổi cả".[33]

Ngày 8/12/1950, Quốc gia Việt Nam và Pháp ký Hiệp định quân sự thành lập Quân đội Quốc gia Việt Nam bằng cách đặt một số đơn vị quân đội Pháp tại Việt Nam dưới quyền chỉ huy của Quốc gia Việt Nam. Đến cuối năm 1950, Pháp đã ký kết các Hiệp ước với Quốc gia Việt Nam, trao trả các quyền hành chính, ngoại giao, thuế quan, quản lý xuất nhập cảnh... cho nhà nước này. Việc chuyển giao quyền kiểm soát các cơ quan chức năng cho Quốc gia Việt Nam được thực hiện dần trong những năm sau đó. Tuy đã được Pháp chuyển giao tất cả các chức năng nhà nước nhưng Quốc gia Việt Nam vẫn phải phụ thuộc vào viện trợ và sự bảo vệ của quân Pháp để duy trì hoạt động. Ví dụ, chỉ riêng việc duy trì quân đội đã đòi hỏi hơn 500 tỷ frăng viện trợ. Các hoạt động quân sự của Quốc gia Việt Nam vẫn thuộc quyền chỉ huy của Uỷ ban quân sự mà Tư lệnh là một sĩ quan Pháp.

Tướng Georges Revers, Tổng Tham mưu trưởng quân đội Pháp, được phái sang Việt Nam để nghiên cứu tình hình (tháng 5, 6 năm 1949) và sau đó đã viết: "Hồ Chí Minh đã có khả năng chống cự lại với sự can thiệp của Pháp lâu đến như thế, chính là vì nhà lãnh đạo Việt Minh đã biết tập hợp chung quanh mình một nhóm những người thực sự có năng lực… Ngược lại, Bảo Đại đã có một chính phủ gồm độ 20 đại biểu của toàn các đảng phái ma, trong số đó đảng mạnh nhất cũng khó mà đếm được 25 đảng viên"[34].

NGƯỜI PHÁP TRÌ HOÃN MỘT CÁCH CÓ TÍNH TOÁN VIỆC THI HÀNH THOẢ HIỆP ÉLYSÉE VỚI QUỐC GIA VIỆT NAM. QUÂN ĐỘI CỦA HỌ TIẾP TỤC THAM CHIẾN TẠI VIỆT NAM, NHÂN VIÊN HÀNH CHÍNH TIẾP TỤC LÀM VIỆC Ở CÁC CẤP CHÍNH QUYỀN; QUỐC GIA VIỆT NAM CHẲNG ĐƯỢC TRAO CHO MỘT CHÚT QUYỀN HÀNH THỰC SỰ NÀO, NHƯ BẤY GIỜ NGƯỜI TA NÓI, QUỐC GIA VIỆT NAM CHỈ LÀ MỘT SỰ NGUỴ TRANG CHO NỀN CAI TRỊ CỦA PHÁP.[35].

Dự định tách khỏi ảnh hưởng của Pháp

Tháng ba năm 1954, Thủ tướng Nguyễn Phúc Bửu Lộc mở cuộc điều đình với Pháp về chủ quyền của Việt Nam đòi hỏi Pháp phải ký hai Hiệp ước riêng. Hiệp ước thứ nhất công nhận sự độc lập trọn vẹn của Quốc gia Việt Nam, Quốc gia Việt Nam sẽ trở thành một nước độc lập không bị ràng buộc bởi Chính phủ Pháp. Hiệp ước thứ hai sẽ minh định quan hệ giữa Việt Nam và Pháp.[36] Trong khi đó chiến trận ở Đông Dương càng tăng cường độ. Sự thất trận của Pháp tại Điện Biên Phủ vào Tháng Năm càng làm tình hình thêm thúc bách.

Ngày 4/6/1954, trước khi Hiệp định Geneve được ký kết 6 tuần, thủ tướng Pháp đã ký Hiệp ước Matignon (1954) với Thủ tướng Quốc gia Việt Nam công nhận Quốc gia Việt Nam hoàn toàn độc lập và là thành viên của khối Liên hiệp Pháp[37]. Theo đó chính phủ Quốc gia Việt Nam sẽ tự chịu trách nhiệm với những hiệp định quốc tế được ký bởi Chính phủ Pháp trước đó nhưng có liên quan tới họ, cũng như không còn bị ràng buộc bởi bất cứ hiệp ước nào do Chính phủ Pháp ký sau này. Tuy nhiên, có ý kiến cho rằng Quốc gia Việt Nam vẫn bị ràng buộc bởi Liên hiệp Pháp vì chính phủ này chỉ sở hữu một vài thuộc tính của một chủ quyền đầy đủ, và đặc biệt là nó phụ thuộc vào Pháp về quốc phòng.[38] Mặt khác, Hiệp ước Matignon chỉ được ký dưới dạng ghi nhớ giữa 2 Thủ tướng chứ không phải nguyên thủ cao nhất của 2 bên (Tổng thống Pháp René Coty và Quốc trưởng Bảo Đại). Nhiều người đổ lỗi cho Quốc gia Việt Nam vì họ không có chữ ký trong Hiệp định, nhưng chính Pháp cũng từ chối ký vào Hiệp ước đã được thương thảo xong. Bảo Đại đã đến Pháp từ tháng 4 và dự định rằng vấn đề ký chính thức sẽ được giải quyết trong 2-3 tuần, nhưng dự định này đã tắt ngấm khi Hiệp định Geneve diễn tiến quá nhanh. Sau khi Hiệp định Geneva được ký, Hiệp ước Matignon đã trở nên không bao giờ được hoàn thành.[6]

Hiệp định Genève

Vào cuối tháng Tư, 1954 thì Hội nghị Genève bắt đầu và kéo dài đến khi ký Hiệp ước vào ngày 21 Tháng Bảy, 1954. Đây là Hiệp ước có 9 phái đoàn tham dự gồm Anh, Hoa Kỳ, Liên Xô, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, Pháp, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Quốc gia Việt Nam, Lào và Campuchia để tái thiết hòa bình ở Đông Dương; trong các thành phần, một số phái đoàn chỉ tham dự mà không ký vào hiệp ước. Hiệp ước đình chỉ chiến sự, tạm thời chia Việt Nam thành hai phần cho hai lực lượng Việt Minh và Liên hiệp Pháp. Kết quả Hiệp định này trên thực tế đã bãi bỏ quyền cai trị của người Pháp trên bán đảo Đông Dương, công nhận nền độc lập của các quốc gia bản xứ, chính thức chấm dứt chế độ thực dân Pháp tại Đông Dương.

THEO HIỆP ƯỚC GENÈVE 1954, LÃNH THỔ NƯỚC VIỆT NAM BỊ TẠM CHIA LÀM HAI VÙNG KIỂM SOÁT, LẤY VĨ TUYẾN 17 (DỌC SÔNG BẾN HẢI) LÀM GIỚI TUYẾN QUÂN SỰ. MIỀN BẮC DO LỰC LƯỢNG VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA KIỂM SOÁT, MIỀN NAM DO LỰC LƯỢNG LIÊN HIỆP PHÁP, TRONG ĐÓ CÓ QUỐC GIA VIỆT NAM KIỂM SOÁT, SAU MỘT THỜI GIAN, THEO ĐIỀU KHOẢN CỦA HIỆP ĐỊNH GENÈVE, QUÂN ĐỘI PHÁP RÚT DẦN VỀ NƯỚC. HIỆP ƯỚC CŨNG QUY ĐỊNH 300 NGÀY LÀ THỜI GIAN ĐỂ CHÍNH QUYỀN VÀ QUÂN ĐỘI VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA VÀ LIÊN HIỆP PHÁP HOÀN THÀNH VIỆC TẬP TRUNG. DÂN CHÚNG ĐƯỢC TỰ DO ĐI LẠI GIỮA HAI MIỀN. THEO BẢN TUYÊN BỐ CUỐI CÙNG SAU 2 NĂM SẼ TIẾN HÀNH TỔNG TUYỂN CỬ THỐNG NHẤT VIỆT NAM.

Ông Trần Văn Đỗ, trưởng đoàn đại diện của Quốc gia Việt Nam tuyên bố sẽ không ký vào Hiệp định Genève với lý do hiệp định gây chia cắt Việt Nam[39] và đẩy Quốc gia Việt Nam vào thế nguy hiểm[40].

Sau khi Hiệp định Genève được ký kết, về vấn đề hiệp thương thống nhất hai miền, Thủ tướng Quốc gia Việt Nam Ngô Đình Diệm tuyên bố: "Chúng tôi không từ chối nguyên tắc tuyển cử tự do để thống nhất đất nước một cách hoà bình và dân chủ" nhưng còn nói thêm là ông "nghi ngờ về việc có thể bảo đảm những điều kiện của cuộc bầu cử tự do ở miền Bắc"[42]. Thủ tướng Ngô Đình Diệm tuyên bố rằng, mục tiêu của Quốc gia Việt Nam là "thống nhất đất nước trong tự do chứ không phải trong nô lệ".[42]. Mặc dù Ngô Đình Diệm tuyên bố muốn "thống nhất đất nước", nhưng nhà sử học Mortimer T. Cohen cho rằng thực tâm ông Diệm không muốn cuộc tổng tuyển cử diễn ra vì ông ta biết mình sẽ không thể thắng cử trước Hồ Chí Minh. Cuộc tổng tuyển cử đã không thể diễn ra như theo Tuyên bố cuối cùng của hiệp định Genève.[43]

Giai đoạn Hậu hiệp định Genève 1954 - 1956

Tuy Quốc gia Việt Nam không bị ràng buộc bởi Hiệp định Genève nhưng vẫn theo quân Pháp tập kết về miền Nam Việt Nam. Quân Pháp sẽ rút dần sau hai năm và Việt Nam sẽ tiến hành tổng tuyển cử thống nhất đất nước.

TUY NHIÊN, BÁO CÁO CỦA CIA CHO TỔNG THỐNG MỸ EISENHOWER THẤY RẰNG KHOẢNG 80% DÂN SỐ VIỆT NAM SẼ BẦU CHO HỒ CHÍ MINH NẾU CUỘC TỔNG TUYỂN CỬ ĐƯỢC THI HÀNH.[44] CÓ QUAN ĐIỂM CHO RẰNG NGÔ ĐÌNH DIỆM KHÔNG MUỐN CÓ CUỘC TỔNG TUYỂN CỬ VÌ ÔNG TA BIẾT RẰNG MÌNH SẼ THUA; VÀ KHÔNG AI CÓ THỂ THẮNG HỒ CHÍ MINH TRONG CUỘC TỔNG TUYỂN CỬ TỰ DO, VÌ ÔNG LÀ MỘT GEORGE WASHINGTON CỦA VIỆT NAM.[45]. VÌ NHỮNG LÝ DO ĐÓ HOA KỲ ĐÃ HẬU THUẪN QUỐC GIA VIỆT NAM ĐỂ CUỘC TUYỂN CỬ KHÔNG THỂ DIỄN RA.

Theo Tuyên bố cuối cùng của Hiệp định Genève thì tổng tuyển cử ở cả hai miền được dự trù vào tháng 7 năm 1956 nhưng Tổng thống Ngô Đình Diệm bác bỏ mọi cuộc thảo luận sơ khởi, hành động này khiến Ngô Đình Diệm bẽ mặt ở phương Tây. Theo nhận xét của Tây phương thì Ngô Đình Diệm là kẻ ngoan cố và khao khát quyền lực chuyên chế, nhưng theo Duncanson thì sự thật phức tạp hơn. Miền Bắc có dân số đông hơn miền Nam 2 triệu người (tính cả gần 1 triệu người miền Bắc di cư vào Nam). Hơn nữa, vào thời điểm 1955 – 1956, trước sự hỗn loạn gây ra bởi sự tranh giành của các giáo phái và do hoạt động bí mật của Việt Minh tại miền Nam, cuộc Cải cách ruộng đất tại miền Bắc Việt Nam tạo ra bầu không khí căng thẳng dẫn đến cuộc nổi dậy của nông dân tại các vùng lân cận Vinh. Do vậy, Ducanson cho rằng những tình hình diễn ra ở cả hai miền khiến Ủy hội Quốc tế Kiểm soát Đình chiến Đông Dương không có hy vọng đảm bảo một cuộc bầu cử thật sự tự do trong đó cử tri có thể bỏ phiếu theo ý muốn mà không sợ bị trả thù chính trị.[46]Tuy nhiên, trái ngược với quan điểm của Ducanson, theo các báo cáo của Ủy ban giám sát quốc tế thì trong giai đoạn 1954-1956, họ chỉ nhận được 19 đơn khiếu nại về việc trả thù chính trị trên toàn lãnh thổ miền Bắc Việt Nam[47].

Được Mỹ hỗ trợ

NĂM 1954, ĐỘI BÁN QUÂN SỰ CỦA MỸ DO EDWARD LANSDALE, NGƯỜI CỦA CIA VÀ ĐÃ LÀM CỐ VẤN CHO PHÁP TẠI VIỆT NAM TỪ 1953, GIÚP HUẤN LUYỆN CÁC LỰC LƯỢNG VŨ TRANG CỦA QUỐC GIA VIỆT NAM (SAU ĐÓ ĐỔI TÊN THÀNH VIỆT NAM CỘNG HÒA); XÂY DỰNG CÁC CƠ SỞ HẠ TẦNG PHỤC VỤ QUÂN SỰ TẠI PHILIPPINES; BÍ MẬT ĐƯA MỘT LƯỢNG LỚN VŨ KHÍ VÀ THIẾT BỊ QUÂN SỰ VÀO VIỆT NAM; GIÚP ĐỠ PHÁT TRIỂN CÁC KẾ HOẠCH "BÌNH ĐỊNH VIỆT MINH VÀ CÁC VÙNG CHỐNG ĐỐI"[48] NGÀY 13-12-1954, MỸ VÀ PHÁP KÝ KẾT VĂN KIỆN CHO PHÉP CÁC CỐ VẤN QUÂN SỰ MỸ THAY THẾ DẦN CHO SĨ QUAN PHÁP THAM GIA HUẤN LUYỆN QUÂN ĐỘI QUỐC GIA VIỆT NAM Ở MIỀN NAM VIỆT NAM. THÁNG 1-1955, MỸ CHÍNH THỨC VIỆN TRỢ QUÂN SỰ TRỰC TIẾP CHO QUÂN ĐỘI QUỐC GIA VIỆT NAM.
TÍNH RA, TỪ NĂM 1954 ĐẾN NĂM 1960, MỸ ĐÃ VIỆN TRỢ CHO VIỆT NAM CỘNG HÒA 7 TỶ ĐÔLA (GIÁ TRỊ VÀO THỜI ĐIỂM BẤY GIỜ), TRONG ĐÓ VIỆN TRỢ QUÂN SỰ LÀ 1.500 TRIỆU ĐÔLA.[49] TRONG NHỮNG NĂM 1954-1956, MỸ ĐÃ BỎ RA 414 TRIỆU ĐÔLA GIÚP TRANG BỊ CHO CÁC LỰC LƯỢNG THƯỜNG TRỰC VIỆT NAM CỘNG HÒA, GỒM 170.000 QUÂN VÀ LỰC LƯỢNG CẢNH SÁT 75.000 QUÂN; 80% NGÂN SÁCH QUÂN SỰ CỦA QUỐC GIA VIỆT NAM LÀ DO MỸ VIỆN TRỢ. TỪ NĂM 1955 ĐẾN 1960, CÓ TẤT CẢ 800 CHUYẾN TÀU CHỜ VŨ KHÍ VÀ PHƯƠNG TIỆN QUÂN SỰ CỦA MỸ VÀO MIỀN NAM VIỆT NAM. SỐ VIỆN TRỢ NÀY GIÚP QUỐC GIA VIỆT NAM ĐỦ SỨC DUY TRÌ BỘ MÁY HÀNH CHÍNH VÀ QUÂN ĐỘI KHI KHÔNG CÒN VIỆN TRỢ CỦA PHÁP. QUÂN ĐỘI QUỐC GIA VIỆT NAM DẦN THAY THẾ CHIẾN THUẬT VÀ VŨ KHÍ CỦA PHÁP BẰNG CỦA MỸ.

Tuy người Pháp công nhận nền độc lập của Quốc gia Việt Nam họ chỉ miễn cưỡng bàn giao các cơ quan hành chính mà họ còn nắm giữ như cố ý gây cản trở tiến trình tách Quốc gia Việt Nam ra khỏi Liên hiệp Pháp, nhất là sau khi Quốc trưởng Bảo Đại chọn Ngô Đình Diệm làm Thủ tướng, một người không có thiện cảm với Pháp. Trong khi đó Pháp tiếp tục chi viện cho nhóm Bình Xuyên và hai giáo phái Cao Đài và Hòa Hảo cho đến năm 1955 mới thôi. Ba nhóm này có khoảng 20.000 quân kiểm soát một vùng rộng lớn; quân Cao Đài chủ yếu ở miền Đông Nam Bộ, quân Hòa Hảo ở miền Tây còn Bình Xuyên chiếm cứ Sài Gòn-Chợ Lớn. Khi không còn chi viện của Pháp nữa, các lực lượng này quay sang làm áp lực và tranh chấp với chính phủ Quốc gia.

Loại bỏ ảnh hưởng của Pháp

Sự kiện quan trọng trong giai đoạn này là việc TỔNG THỐNG HOA KỲ - EISENHOWER GỬI CÔNG HÀM CHÍNH THỨC CHO THỦ TƯỚNG NGÔ ĐÌNH DIỆM CHO BIẾT TỪ ĐÂY CHÍNH PHỦ QUỐC GIA VIỆT NAM SẼ NHẬN VIỆN TRỢ TRỰC TIẾP CỦA CHÍNH PHỦ HOA KỲ CHỨ KHÔNG QUA NHÀ ĐƯƠNG CỤC PHÁP NHƯ TRƯỚC.

Ngô Đình Diệm cho rằng cơ hội duy nhất cho chính phủ quốc gia Việt Nam đứng vững được là phải thoát khỏi những ảnh hưởng còn sót lại của Pháp, và ông quyết định phải thực hiện mục tiêu đó. Chỉ sau vài tháng nắm quyền thủ tướng, tháng 12 năm 1954 ông bãi bỏ quyền phát hành giấy bạc của Ngân hàng Đông Dương (một cơ quan do Pháp thành lập), từ nay giấy bạc lưu hành trên lãnh thổ miền Nam sẽ do Ngân hàng Quốc gia Việt Nam mới thành lập phát hành và cục hối đoái giao cho chính phủ Quốc gia Việt Nam quản lý. Tiếp đó ông yêu cầu chính phủ Pháp trong vòng năm tháng thực hiện chuyển giao cho Quốc gia Việt Nam mọi công tác của Quân đội Quốc gia Việt Nam còn phụ thuộc vào bộ chỉ huy Liên hiệp Pháp.

Xung đột giữa Thủ tướng Ngô Đình Diệm và Quốc trưởng Bảo Đại

Ngoài ra Thủ tướng Ngô Đình Diệm trực tiếp đối đầu với Quốc trưởng Bảo Đại khi ông thông qua Dụ số 21 ngày 11 Tháng Ba, 1955 chính thức sát nhập Hoàng triều Cương thổ lại vào Trung phần[50] chấm dứt đặc quyền của người Pháp và Cựu hoàng Bảo Đại trên vùng Thượng và danh xưng Cao nguyên Trung phần được dùng lại.

Quốc trưởng Bảo Đại thấy không điều khiển được Ngô Đình Diệm cũng tán thành theo người Pháp, gây áp lực đòi Mỹ rút lại mọi ủng hộ cho chính phủ Ngô Đình Diệm và gây sức ép buộc ông này từ chức. Bảo Đại muốn đưa Nguyễn Văn Xuân lên làm Thủ tướng, hoặc Phó thủ tướng, Nguyễn Văn Hinh làm Tổng Tham mưu trưởng còn tướng Bình Xuyên Bảy Viễn làm Bộ trưởng Bộ Nội vụ. Các giáo phái lớn tại miền Nam không quyết định hoàn toàn ủng hộ bên nào. Thậm chí, Đại sứ J. Lowton Collins cũng muốn thay thế ông Diệm. Collins quay về Mỹ vài lần, thuyết phục chính phủ Mỹ gây sức ép buộc ông Diệm từ chức.

Thời điểm này, chính phủ của ông Diệm cũng như bản thân ông tồn tại được thực chất là nhờ những tác động hết sức cần thiết của những người bạn là dân biểu và thượng nghị sĩ Mỹ mà ông đã tranh thủ được khi sang Mỹ vận động vào năm 1950. Khi Đại sứ J. Lowton Collins yêu cầu Washington phải thay thế Ngô Đình Diệm, Ngoại trưởng Hoa Kỳ Dulles tham vấn Thượng nghị sĩ Mike Mansfield. Thượng nghị sĩ Mike Mansfield khen ngợi Ngô Đình Diệm hết lời nên Ngoại trưởng Dulles chỉ thị Đại sứ J. Lowton Collins tiếp tục ủng hộ ông Diệm.[51]

Ngày 1 tháng Giêng, Ngô Đình Diệm ký nghị định hủy bỏ những sòng bài Kim Chung (khu cầu Muối) và Đại Thế giới (Grande Monde) ở Chợ Lớn. Xóm Bình Khang mại dâm cũng bị dẹp, chấm dứt những nguồn tài chánh lớn này của Bình Xuyên. Nhóm này cùng với lực lượng Cao Đài và Hòa Hảo lập Mặt trận Thống nhứt Toàn lực Quốc gia vào Tháng Ba với sự ủng hộ ngầm của Pháp nhằm lật đổ Thủ tướng Ngô Đình Diệm. Do là trước năm 1955, Pháp chi viện cho hai giáo phái 5 triệu đồng mỗi tháng[cần dẫn nguồn] nhưng từ khi Thủ tướng Ngô Đình Diệm không chịu giải ngân số tiền cho các môn phái này nữa kể từ trung tuần tháng hai 1955 thì ba lực lượng trên chống đối ra mặt. Bình Xuyên còn vận động Quốc trưởng Bảo Đại làm áp lực với thủ tướng vì sòng bài đã cung cấp lợi tức cho Bảo Đại một triệu đồng mỗi ngày (trị giá 28.500 Mỹ kim theo hối xuất đương thời).[52]

Ngày 21 tháng ba năm 1955, Mặt trận gửi tối hậu thư cho thủ tướng đòi quyền tham chính. Thủ tướng phải gọi tướng Đỗ Cao Trí về để chống lại công an cảnh sát do Bình Xuyên chỉ huy. Bình Xuyên phản công,pháo kích vào Dinh Độc lập ngày 28 Tháng Ba. Sang tháng 4 năm 1955 thì quân Bình Xuyên đánh thành Cộng Hòa. Quân đội Quốc gia phản công, phá được căn cứ chính của Bình Xuyên ở khu vực cầu Chữ Y khiến lực lượng Bình Xuyên phải triệt thoái khỏi Sài Gòn, Chợ Lớn và rút về Rừng Sác.

Sau đó lại có tin Bảo Đại đòi Ngô Đình Diệm sang Pháp trình diện để giải quyết các tranh chấp. Thủ tướng liền cho triệu tập một số đoàn thể chính trị và nhân sĩ vào Dinh Độc lập hội kiến và tham khảo tìm cách đối phó với tình trạng ngày thêm xáo trộn. Nhóm này liền liên kết lập ra Ủy ban Cách mạng Quốc gia và trình lên ba kiến nghị cũng vào ngày 29 tháng tư, 1955:

1- Truất phế Bảo Đại
2- Giải tán chánh phủ hiện hữu
3- Ủy nhiệm Ngô Đình Diệm thanh trừng quân phiến loạn Bình Xuyên, buộc Pháp rời khỏi Miền Nam, và mở cuộc bầu cử quốc dân đại hội.

Tháng 9 năm 1955, Thủ tướng Ngô Đình Diệm chỉ đạo đại tá Dương Văn Minh mở Chiến dịch Hoàng Diệu truy nã Bình Xuyên ở Rừng Sác. Quân Bình Xuyên bị hoàn toàn tiêu diệt. Lê Văn Viễn lưu vong sangCampuchia rồi sang Pháp, chấm dứt thực lực của Bình Xuyên.

Ngô Đình Diệm đã dẹp yên chuyện tướng Nguyễn Văn Hinh công khai đối đầu và đe dọa đảo chính đồng thời cương quyết từ chối cho Tướng Bình Xuyên là Bảy Viễn (Lê Văn Viễn) tham gia chính quyền dù Bảy Viễn đe dọa tắm máu Sài Gòn nếu yêu cầu của mình không được đáp ứng.[51]

Thành lập Việt Nam Cộng hòa

Năm 1955, sau một cuộc trưng cầu dân ý thắng lợi, thủ tướng Ngô Đình Diệm đã phế truất Quốc trưởng Bảo Đại, lên làm Tổng thống đầu tiên của chính phủ Việt Nam Cộng hoà. ĐÂY LÀ NỀN ĐỆ NHẤT CỘNG HOÀ VIỆT NAM VÀ TÊN GỌI QUỐC GIA VIỆT NAM KHÔNG CÒN ĐƯỢC SỬ DỤNG NỮA.

Phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa luôn coi cuộc trưng cầu dân ý là một trò hề khi Ngô Đình Diệm đã gian lận một cách trắng trợn [53] và không thừa nhận cuộc trưng cầu dân ý này.

Quân đội

Thành lập

Ngày 8/12/1950, Quốc gia Việt Nam và Pháp ký Hiệp định quân sự thành lập Quân đội Quốc gia Việt Nam bằng cách đặt một số đơn vị quân đội Pháp tại Việt Nam dưới quyền chỉ huy của Quốc gia Việt Nam. Dự kiến quân đội này sẽ bao gồm 120.000 quân và 4.000 sĩ quan. Pháp sẽ hỗ trợ Quốc gia Việt Nam thành lập những đơn vị mới do sĩ quan Việt Nam chỉ huy và đào tạo sĩ quan người Việt thay thế dần những sĩ quan Pháp đang hiện diện trong Quân đội Quốc gia Việt Nam.

Do vậy, có tài liệu cho rằng Quân đội Quốc gia Việt Nam được huấn luyện kém và không có sĩ quan chỉ huy cấp cao người Việt[29]. Pháp chỉ đơn giản là đưa những người lính mới tuyển mộ được vào các quân đoàn Viễn chinh của chính Pháp, tại đó, người chỉ huy là các sĩ quan Pháp.[30]

Quân đội Quốc gia Việt Nam phát triển nhanh chóng về số lượng bao gồm những tiểu đoàn bộ binh hạng nhẹ. Tính đến mùa đông năm 1953 Quân đội Quốc gia có 200.000 quân chính quy (trong đó có 50.000 quân dự bị) và 78.000 địa phương quân. Vào Tháng Chạp năm 1954, sau khi Kế hoạch Navarre được triển khai thì quân số trong Quân đội Quốc gia Việt Nam lên tới 230.000 người, trong đó có 165.000 quân chính quy và 65.000 quân địa phương.[56] Số tiền người Pháp bỏ ra để viện trợ cho hoạt động của quân đội này là: 524 tỉ francs năm 1952, 585 tỉ năm 1953, 575 tỉ năm 1954.

Ngày 1 tháng 12 năm 1948. chính phủ Quốc gia Việt Nam lập ra Trường Sĩ quan Việt Nam ở Đập Đá, Huế để đào tạo nhân sự chỉ huy cho Quân đội Quốc gia Việt Nam. Hai năm sau, trường sở được chuyển lên Đà Lạt với tên mới là Trường Võ bị Liên quân Đà Lạt, khai giảng ngày 5 tháng 11 năm 1950.[57]

Hai Trường Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức và Nam Định được thành lập ngày 11/5/1950 và chính thức hoạt động ngày 1/10/1951, có trách nhiệm đào tạo sỹ quan cho Quân đội Quốc gia Việt Nam.

Đến cuối năm 1953, Quân đội Quốc gia Việt Nam được đặt dưới quyền chỉ huy của tướng Nguyễn Văn Hinh.[58]. Thực tế các sĩ quan người Việt này vẫn nằm dưới sự chỉ huy của sỹ quan Pháp thuộc Bộ Tư lệnh quân đội Liên hiệp Pháp tại Đông Dương (ví dụ như trong trận Điện Biên Phủ các tiểu đoàn Quốc gia Việt Nam phải tuân lệnh của trung tá Pháp Pierre Langlais). Hiệp ước Elysee cũng ghi rõ: "Trong thời chiến, toàn thể quân đội Việt Nam và Liên hiệp Pháp được đặt chung dưới quyền chỉ huy của Uỷ ban quân sự mà Tư lệnh sẽ là một sĩ quan Pháp có một Tham mưu trưỏng phụ tá."

 

Edmund A. Gullion, Bí thư Cố vấn Pháp ở Sài Gòn (từ 1950) cho rằng: "Thật khó mà truyền được một tinh thần dân tộc hăng say vào một đội quân người bản xứ mà trước đây sĩ quan và hạ sĩ quan của họ đều là người Pháp da trắng… Các đơn vị Việt Nam đi hoạt động rất ít khi được người Pháp hỗ trợ… Có lẽ dấu hiệu có ý nghĩa nhất và cũng là đáng buồn nhất trong việc Pháp thiếu sót không tổ chức được quân đội Việt Nam thực sự độc lập và có thế chiến đấu theo cách của De Lattre hiểu, là ở Điện Biên Phủ đã vắng bóng mọi đơn vị chiến đấu Việt Nam. Đó là một cuộc trình diễn của Pháp". Tại Điện Biên Phủ, ngày 6/5/1954, người Việt chiếm gần 3% số sĩ quan, 16,2% số hạ sĩ quan, 39,2% số lính. Tuy nhiên quân đội Quốc gia Việt Nam có tinh thần chiến đấu thấp và có ít tiếng nói trong việc quyết định các vấn đề chiến thuật và chiến lược, và cũng có rất ít lý do để chiến đấu một cách mãnh liệt trong một cuộc chiến tranh của người Pháp[60].

Tập kết vào miền Nam

Sau khi Pháp thua trận Điện Biên Phủ và kí Hiệp định Geneve, quân đội Quốc gia Việt Nam theo quân Pháp tập kết về miền Nam Việt Nam. Ngày 12 tháng Giêng năm 1955, Ngô Đình Diệm đã bổ nhiệm Thiếu tướng Lê Văn Tỵ vào chức vụ Tổng Tham mưu trưởng. Quân đội Quốc gia Việt Nam chuyển sang nằm dưới quyền chính phủ Đệ nhất Cộng hòa Việt Nam của tổng thống Ngô Đình Diệm và trở thành hạt nhân củaQuân lực Việt Nam Cộng hòa.

Ngoại giao

Chiếu theo Điều II trong Hiệp ước Elysée thì Quốc gia Việt Nam có quyền trao đổi đại sứ với các nước khác nhưng Tổng thống Pháp, nhân danh Chủ tịch Liên hiệp Pháp có quyền phê chuẩn hay không chấp nhận, đồng thời "Việt Nam sẽ theo đuổi một chính sách ngoại giao phù hợp với chính sách của Liên hiệp Pháp". Tính đến đầu năm 1950 có 35 quốc gia công nhận Quốc gia Việt Nam.[32].

 

Hoa Kỳ và Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland công nhận chính quyền Quốc gia Việt Nam ngày 7 tháng hai năm 1950. Donald Heath được cử làm đại sứ Mỹ đầu tiên sang nhận nhiệm sở ở Sài Gòn.[61]

Trong quá trình tồn tại, trước sức ép từ Mỹ, Pháp phải nới rộng tính độc lập và tự trị của Quốc gia Việt Nam so với lúc mới thành lập. Tháng 9/1951, Quốc gia Việt Nam đại diện Việt Nam tham gia Hội nghị San Francisco gồm phái đoàn của 51 nước để thảo luận về việc ký Hiệp ước Hoà bình với Nhật Bản.[62]. Một thành tựu ngoại giao của Quốc gia Việt Nam là việc thâu hồi chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa vàTrường Sa từ tay Nhật Bản.[62][63]

Đánh giá

Lập trường của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa

Việt Nam Dân chủ Cộng hòa bác bỏ sự tồn tại của Quốc gia Việt Nam ngay từ khi Quốc gia Việt Nam mới thành lập năm 1949. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do Hồ Chí Minh lãnh đạo chưa bao giờ thừa nhận tính chính danh và hợp pháp của nó. Họ cho rằng đó không phải là ý nguyện của người dân Việt Nam muốn được độc lập hoàn toàn, thay vì vẫn duy trì một quốc gia thuộc Liên hiệp Pháp. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa xem Quốc gia Việt Nam chỉ là Chính phủ bù nhìn, là chiêu bài để Pháp thi hành chính sách "Da vàng hóa chiến tranh", dùng "Độc lập giả hiệu" để mê hoặc người Việt trong khi Pháp vẫn ngầm đứng sau khống chế[65][66].

Theo Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Pháp đã tự nguyện từ bỏ quyền đại diện trên trường quốc tế ngay từ khi Pháp trao quyền kiểm soát Việt Nam cho Phát xít Nhật vào năm 1945. Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được bầu lên bởi cuộc tổng tuyển cử tháng 1 năm 1946 nên Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là người đại diện chính danh duy nhất của toàn bộ nhân dân Việt Nam ở cả ba miền Bắc-Trung-Nam. Chính phủ Quốc gia Việt Nam không đủ cơ sở pháp lý và thực tế để trở thành người đại diện cho nhân dân Việt Nam. Do cả Chính phủ Pháp và Chính phủ Quốc gia Việt Nam không phải người đại diện chính danh của nhân dân Việt Nam nên bất kỳ văn kiện pháp lý liên quan tới nhân dân Việt Nam và đất nước Việt Nam được ký bởi Chính phủ Pháp và Chính phủ Quốc gia Việt Nam đều vô giá trị, bao gồm cả Hiệp ước Matignon.[cần dẫn nguồn]

Cũng theo Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, 95% lãnh thổ Việt Nam thực tế vẫn ở dưới quyền của họ[67] nên Việt Nam Dân chủ Cộng hòa mới là chính phủ chính danh, là người đại diện hợp pháp cho nhân dân Việt Nam.

Thái độ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đối với Vĩnh Thuỵ: "Ông Vĩnh Thuỵ đã trịnh trọng thề trung thành với Tổ quốc, với nhân dân và Chính phủ. Nếu ông ấy cam tâm buôn dân bán nước, thì ông ấy sẽ bị tội phản quốc như những kẻ phản quốc khác... Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không nhìn nhận những cuộc đàm phán ấy (cuộc đàm phán giữa cựu hoàng Bảo Đại cũng như các thành viên trong nội các Quốc gia Việt Nam với Chính phủ Pháp)... Giữa một tư nhân với Chính phủ (Các chính phủ hợp hiến trên thế giới) cả nước bầu lên, thì có gì là sửa đổi mối quan hệ?[67]Vĩnh Thụy trở về với 10.000 viễn binh Pháp, để giết hại thêm đồng bào Việt Nam. Vĩnh Thụy cam tâm bán nước, đó là sự thực. Âm mưu của thực dân Pháp là đặt lại chế độ nô lệ ở Việt Nam. Vĩnh Thụy làm tay sai cho thực dân, là một tên phản quốc. Pháp luật Việt Nam tuy khoan hồng với những người biết cải tà quy chính nhưng sẽ thẳng tay trừng trị những tên Việt gian đầu sỏ đã bán nước buôn dân. Quân và dân Việt Nam quyết tâm đánh tan tất cả âm mưu của thực dân, quyết kháng chiến để tranh cho kỳ được độc lập và thống nhất thật sự.[68]Chúng tôi không cần gì đến bọn bù nhìn và phản quốc.[69]".

Khi trả lời điện phỏng vấn của Dân quốc Nhật báo (Trung Hoa Dân Quốc) ngày 3/4/1949, chủ tịch Hồ Chí Minh đã trả lời câu hỏi về hiệp định Elysée như sau: "Đối với dân Việt Nam, đó chỉ là một tờ giấy lộn. Thứ thống nhất và độc lập giả hiệu ấy chẳng lừa bịp được ai. Ngay nhân dân Pháp và dư luận thế giới cũng đã hiểu rõ và tố cáo điều đó. Lúc nào quân đội thực dân Pháp hoàn toàn rút khỏi đất nước Việt Nam, thì mới có thống nhất và độc lập."[70][71]

ĐÀI TIẾNG NÓI VIỆT NAM NHẬN ĐỊNH: "BƯỚC CHUYỂN TỪ “QUỐC GIA VIỆT NAM” SANG “VIỆT NAM CỘNG HÒA” LÀ BƯỚC CHUYỂN TỪ LÀM TAY SAI CHO THỰC DÂN PHÁP SANG LÀM TAY SAI CHO ĐẾ QUỐC MỸ... QUÂN ĐỘI “QUỐC GIA VIỆT NAM” CỦA BẢO ĐẠI LÀ ĐỂ BẢO VỆ NỀN THỐNG TRỊ CỦA NGƯỜI PHÁP Ở ĐÔNG DƯƠNG. VIÊN TƯỚNG TƯ LỆNH PHẠM VĂN PHÚ, KẺ ĐÃ BẠI TRẬN THẢM HẠI TẠI CHIẾN TRƯỜNG TÂY NGUYÊN NĂM 1975, CŨNG TỪNG LÀ LÍNH VIỆT CHIẾN ĐẤU HĂNG HÁI BÊN CÁC CHIẾN HỮU PHÁP TẠI ĐIỆN BIÊN PHỦ NĂM 1954. TẠI ĐIỆN BIÊN, ÔNG PHẠM VĂN PHÚ KHI ĐÓ SI MÊ HÁT QUỐC CA PHÁP, HÔ HÀO CÁC BINH SĨ NGỤY KHÁC ĐÁNH TRẢ QUÂN VIỆT MINH CỦA TƯỚNG VÕ NGUYÊN GIÁP".[72]

Tổng tuyển cử 1946 là là việc khẳng định tính pháp lý của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cũng như quyền tự quyết dân tộc của nhân dân Việt Nam. Từ đó cho thấy, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là người được nhân dân Việt Nam chính thức và hợp pháp trao cho tư cách là người đại diện chính danh duy nhất cho nhân dân Việt Nam và là lực lượng duy nhất có quyền bảo vệ nhân dân Việt Nam[73].

Hoa Kỳ

Nhà nước Quốc gia Việt Nam hình thành thông qua đàm phán nên nó là sản phẩm dàn xếp giữa Pháp và một số chính trị gia Việt Nam không ủng hộ Chính phủ kháng chiến Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Tài liệu của Lầu Năm Góc đánh giá chế độ Bảo Đại không có tính đại chúng cũng không hiệu quả còn quân đội của nó, phụ thuộc vào sự chỉ huy của sỹ quan Pháp, thiếu sức mạnh.[74]

Nhà sử học Stephen G. Hyslop tổng kết: những quốc gia được trao trả độc lập hòa bình chủ yếu là thuộc địa của Anh và Hà Lan, những quốc gia đi theo chủ nghĩa thực dân định cư vốn không còn tha thiết duy trì thuộc địa vì thu được ít lợi tức, trong khi đó người Pháp thì ngược lại. Họ là nước đi theo chủ nghĩa thực dân bóc lột và không muốn mất đi lợi tức từ thuộc địa, nên đã cố gắng tái chiếm thuộc địa tới cùng cho tới lúc bị đánh bại mới thôi (như ở Việt Nam và Algérie)[75].

Theo nhà sử học Archimedes L.A Patti: Nước Pháp chưa bao giờ tỏ ra một chút gì muốn "giải thoát" cho thuộc địa cũ của nó. Ngày 2/5/1945, tại Hội nghị San Francisco, Bộ trưởng Ngoại giao Pháp G. Bidault tuyên bố chỉ có Pháp mới có quyền quyết định tương lai Đông Dương, rằng quyền ủy trị có thể áp dụng trên các thuộc địa khác chứ không thể áp dụng cho Đông Dương.[76]

Ngày 5 tháng 6 năm 1948, Bảo Đại và Bollaert ký kết Hiệp định tại Vịnh Hạ Long trong đó Pháp tuyên bố "trịnh trọng công nhận nền độc lập của Việt Nam", nhưng đặc biệt Pháp chỉ giữ lại quyền kiểm soát công tác đối ngoại và quân đội, việc chuyển giao các chức năng khác của chính phủ sẽ được giải quyết ở các cuộc thương lượng sau. THỰC TẾ QUỐC GIA VIỆT NAM CHẲNG ĐƯỢC TRAO CHO QUYỀN HÀNH GÌ. Việt Minh chỉ trích Bảo Đại là xấu xa, tội lỗi vì đã lấy lại từ người Pháp chữ "độc lập" thần kỳ mà Hồ Chí Minh đã cố gắng giành giật ở Fontainebleu không được. Đến ngày 8 tháng 3 năm 1949, Tổng thống Pháp Vincent Auriol và Cựu hoàng Bảo Đại ký Hiệp ước Elysée, trong đó các bộ phận chủ chốt trong chính phủ vẫn do Pháp nắm giữ và cơ cấu thuộc địa cũ vẫn còn nguyên vẹn. Bảo Đại đã ký Hiệp định Elysée để nhằm một khi nắm chính quyền, ông có thể chơi ván bài quốc tế theo kiểu của ông. Ông đã đặt lòng tin vào sự ủng hộ của Mỹ mà ông hy vọng sẽ kiềm chế được Pháp và cung cấp cho Việt Nam viện trợ kinh tế cần thiết. L.A Patti nhận xét Bảo Đại vừa là một nhà chính trị vừa là một người dân tộc chủ nghĩa.[77]

Công việc đặt ra trước mắt Bảo Đại khi thành lập chính phủ đầy những khó khăn: sự ngoan cố của Pháp, sự thờ ơ của quần chúngsự chống đối về chính trị. Người Pháp trì hoãn một cách có tính toán việc thi hành thoả hiệp Élysée. Quân đội của họ vẫn ở lại Việt Nam, nhân viên hành chính tiếp tục làm việc ở các cấp chính quyền; Quốc gia Việt Nam chẳng được trao cho một chút quyền hành thực sự nào, như bấy giờ người ta nói, Quốc gia Việt Nam chỉ là một sự nguỵ trang cho nền cai trị của Pháp[35].

Pháp

Kỳ thực Pháp coi giải pháp Bảo Đại chỉ là do tình thế thúc ép, họ không tin tưởng và tôn trọng chính phủ này.

Năm 1949, Tổng tham mưu trưởng lục quân Pháp, đại tướng Revers sau chuyến khảo sát tình hình Đông Dương đã có bản tường trình mật trong đó viết: "Vấn đề điều đình với Việt Nam thì tìm những người quốc gia chống cộng để điều đình. Giải pháp Bảo đại chỉ là một giải pháp thí nghiệm, nhưng chế độ Bảo Đại là một chế độ ung thối với sự tham nhũng, buôn lậu đồng bạc, buôn lậu giấy phép nhập cảng, những khu chứa cờ bạc đĩ điếm..." (Trung tâm du hí Đại thế Giới ở Chợ Lớn được chính phủ Bảo Đại cho phép công khai sòng bạc và chứa mại dâm để kiếm chác). Bản tường trình sau đó bị lộ khiến chính phủ Pháp "muối mặt", và Revers bị cho về hưu non sau khi ra khai trình tại Hội đồng tối cao quân lực. bản thân Bảo Đại cũng nhận xét rằng: "Cái được gọi là giải pháp Bảo Đại hóa ra là giải pháp của người Pháp."[78]

Trên thực tế, Hiệp ước Elysée quy định về quân sự: "Trong thời chiến, toàn thể quân đội Việt Nam và Liên hiệp Pháp được đặt chung dưới quyền chỉ huy của Uỷ ban quân sự mà Tư lệnh sẽ là một sĩ quan Pháp có một Tham mưu trưởng phụ tá."

Hơn nữa, chính Pháp trước đó cũng đã ký với Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa bản Hiệp định sơ bộ Pháp-Việt 1946 và Tạm ước Việt - Pháp, với những hứa hẹn tương tự sẽ công nhận Việt Nam là "nước tự do" thuộc Liên hiệp Pháp. Nhưng sau đó hai bên tiếp tục có những xung đột quân sự tại Hải Phòng và Hà Nội. Khi Pháp gửi tối hậu thư đòi Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đình chỉ mọi hoạt động chuẩn bị chiến tranh, tước vũ khí của Tự vệ Hà Nội và trao cho quân đội Pháp việc duy trì an ninh tại Hà Nội, chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa từ chối nhượng bộ. Ngay sau đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến.[79]

Người Pháp nhận thức rằng sự sụp đổ của hệ thống thuộc địa trên phạm vi thế giới là một xu hướng thực tế nhưng với tư cách một cường quốc, người Pháp tiếp tục đẩy mạnh chiến tranh, nhằm tìm cho nước Pháp "một lối thoát danh dự" ra khỏi cuộc chiến tại Việt Nam[80]. Những người Pháp ủng hộ cuộc chiến cho rằng nếu Pháp để mất Đông Dương, sở hữu của Pháp tại hải ngoại sẽ nhanh chóng bị mất theo[81]. Chính vì thế Pháp cố kéo dài cuộc chiến cho đến năm 1954, cho tới khi bị Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đánh bại ở trận Điện Biên Phủ[80].

Tướng Georges Revers, Tổng Tham mưu trưởng quân đội Pháp, được phái sang Việt Nam để nghiên cứu tình hình (tháng 5, 6 năm 1949) và sau đó đã viết:

"Hồ Chí Minh đã có khả năng chống cự lại với sự can thiệp của Pháp lâu đến như thế, chính là vì nhà lãnh đạo Việt Minh đã biết tập hợp chung quanh mình một nhóm những người thực sự có năng lực… Ngược lại, Bảo Đại đã có một chính phủ gồm độ 20 đại biểu của toàn các đảng phái ma, trong số đó đảng mạnh nhất cũng khó mà đếm được 25 đảng viên"[34].

Đối với hệ thống thuộc địa của Pháp, Hiến pháp Pháp năm 1946 quy định Liên hiệp Pháp bao gồm Pháp, các lãnh thổ hải ngoại của Pháp và những nhà nước liên quan (Điều 60). Tình trạng của từng quốc gia thuộc Liên hiệp Pháp phụ thuộc vào các điều ước quốc gia này ký kết với Pháp quy định mối quan hệ với Pháp (Điều 61).[82] Sau thất bại tại Điện Biên Phủ và việc BA NƯỚC ĐÔNG DƯƠNG GIÀNH ĐỘC LẬP HOÀN TOÀN, TẠI CÁC THUỘC ĐỊA KHÁC CỦA PHÁP NHƯ ALGÉRIE, CAMEROON, MOROCCO VÀ TUNISIA, CÁC LỰC LƯỢNG CHÍNH TRỊ CŨNG TỔ CHỨC NỔI DẬY ĐÒI ĐỘC LẬP THEO GƯƠNG NGƯỜI VIỆT NAM, việc duy trì Liên hiệp Pháp trở nên rất khó khăn. Năm 1958, Cộng đồng Pháp khai sinh và Liên hiệp Pháp chấm dứt tồn tại. Điều 86 Hiến pháp Pháp (năm 1958) quy định mỗi quốc gia hội viên thuộc Cộng đồng Pháp có thể độc lập sau khi ký kết các hiệp ước với Pháp và có quyền lựa chọn vẫn là hội viên của Cộng đồng Pháp hoặc ra khỏi khối[83]. TRONG THẬP NIÊN 60, CÁC NƯỚC THUỘC CỘNG ĐỒNG PHÁP NHƯ ALGÉRIE,TUNISIA VÀ MAROC LẦN LƯỢT KÝ KẾT HIỆP ƯỚC VỚI PHÁP ĐỂ TUYÊN BỐ ĐỘC LẬP. ĐẾN NĂM 1967, PHÁP KÝ HIỆP ĐỊNH TRAO TRẢ ĐỘC LẬP CHO PHẦN LỚN CÁC THUỘC ĐỊA CỦA MÌNH. CŨNG TRONG XU THẾ PHI THỰC DÂN HÓA TRÊN QUY MÔ TOÀN CẦU, CHỈ TRONG NĂM 1960, 17 NƯỚC THUỘC ĐỊA CHÂU PHI TUYÊN BỐ ĐỘC LẬP.

 

 

C. VIỆT NAM CỘNG HÒA

VIỆT NAM CỘNG HÒA

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

 

Việt Nam Cộng hòa (1955–1975) là một cựu chính thể được thành lập từ Quốc gia Việt Nam (1949–1955), về danh nghĩa tuyên bố chủ quyền trên toàn bộ lãnh thổ Việt Nam, trên thực tế chỉ kiểm soát một phần lãnh thổ ở phía nam vĩ tuyến 17 ngay sau khi thành lập. Từ khi có Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam (năm 1960) và hậu thân là Cộng hòa miền Nam Việt Nam (năm 1969), Việt Nam Cộng hòa là một trong hai chính thể cùng tồn tại ở miền Nam Việt Nam, quản lý các vùng lãnh thổ không thuộc phạm vi quản lý của Mặt trận Dân tộc Giải phóng và Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Sau chiến dịch Mùa Xuân 1975, Việt Nam Cộng hòa sụp đổ và toàn bộ miền Nam Việt Nam thuộc kiểm soát của Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã cùng nhau tiến hành cuộc Tổng tuyển cử năm 1976 vào ngày 25 tháng 04 năm 1976 để bầu ra Quốc hội và Chính phủ thống nhất cho cả hai miền. Đây là cuộc Tổng tuyển cử thứ hai được diễn ra trên toàn hai miền của Việt Nam, sau cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên diễn ra vào năm 1946[1]. Vào ngày 2 tháng 7 năm 1976, Quốc hội chung quyết định thành lập nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam dựa trên cơ sở kế thừa Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Cộng hòa Miền Nam Việt Nam.

 

Lịch sử

Quốc gia Việt Nam 1949-1955

Đệ nhất Cộng hòa 1955-1963

 
Vận động trưng cầu dân ý năm 1955 đưa Ngô Đình Diệm lên nắm quyền

Sau Cuộc trưng cầu dân ý miền Nam Việt Nam, 1955, thủ tướng Ngô Đình Diệm đánh bại quốc trưởng Bảo Đại để lên nắm quyền trở thành Quốc trưởng Quốc gia Việt Nam.[2] Sau đó, Quốc gia Việt Nam tổ chức bầu cử Quốc hội Lập hiến. Quốc hội này ban hành Hiến pháp thành lập Việt Nam Cộng hòa trên cơ sở kế thừa Quốc gia Việt Nam, thủ đô là thành phố Sài Gòn, ngày ban hành Hiến pháp 26 tháng 10 trở thành ngày Quốc khánh của Đệ nhất Cộng hòa. Việt Nam Cộng hòa theo thể chế chính trị đa đảng, kinh tế tư bản chủ nghĩa và được Mỹ giúp đỡ, bảo vệ để chống lại Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam tại miền Nam.

Dưới thời Tổng thống Ngô Đình Diệm, chính quyền đi theo chủ nghĩa Cần lao Nhân vị. Trong khoảng 5 năm, Việt Nam Cộng hòa đã có một số thành tựu: xã hội ổn định, kinh tế phát triển, định cư gần 1 triệu dân di cư từ miền Bắc, thành lập Viện Đại học Huế...

Tuy nhiên, chính quyền Tổng thống Ngô Đình Diệm bị giới đối lập xem là chính phủ độc tài gia đình trị, dần dần có nhiều mâu thuẫn nội bộ. Từ năm 1955 và đặc biệt là từ 1959, cùng với sự hậu thuẫn của Hoa Kỳ (do lo ngại ảnh hưởng của chủ nghĩa cộng sản), chính quyền Ngô Đình Diệm thực hiện chính sách đàn áp người cộng sản, tố cộng diệt cộng trên toàn bộ Nam Việt Nam, dựa theo Luật 10-59 (đạo luật nhằm trừng trị các hành động phá hoại an ninh quốc gia, mạng sống và tài sản của nhân dân, và quy định việc thiết lập các phiên tòa quân sự đặc biệt).[3] Phong trào Đồng khởi năm 1960 (do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo) và cuộc đảo chính hụt năm 1960 là những đòn giáng mạnh vào chế độ. Sự kiện Phật Đản năm 1963, việc cấm treo cờ Phật giáo ở Huế đã gây ra phản ứng mạnh mẽ từ các Phật tử, dẫn đến các hoạt động đàn áp Phật giáo của chính quyền. Việc Thượng toạ Thích Quảng Đức tự thiêu giữa đường phố Sài Gòn cùng những phát biểu của bà Ngô Đình Nhu (tức dân biểu Trần Lệ Xuân) làm chế độ Ngô Đình Diệm bị báo chí phương Tây đả kích kịch liệt và mất hết mọi sự ủng hộ từ phương Tây.

Ngày 1 tháng 11 năm 1963, nền Đệ nhất Cộng hòa bị lật đổ bởi một nhóm quân nhân dưới sự chỉ huy của một số tướng lĩnh (trong đó có tướng Dương Văn Minh); về sau, ngày này được xem là ngày Quốc khánh của Đệ nhị Cộng hòa Việt Nam. Cả 3 anh em Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Nhu và Ngô Đình Cẩn đều bị giết. Theo như hồi ký của bộ trưởng Bộ quốc phòng Mỹ Robert McNamara, chính CIA đã hậu thuẫn cho việc lật đổ này và McNamara xem đó là một sai lầm nghiêm trọng mà Hoa Kỳ mắc phải. Tuy nhiên việc sát hại ba anh em Diệm-Nhu-Cẩn không phải là chủ trương của Hoa Kỳ.

Kể từ đây, sự phụ thuộc của Việt Nam Cộng hòa vào viện trợ của Hoa Kỳ, về tài chính cũng như về quân sự, nhất là theo quan điểm một số người, sự can thiệp của tòa đại sứ Mỹ vào công việc nội bộ về chính trị và quân sự của Việt Nam Cộng hòa ngày càng lên cao.

Thời kỳ quân quản 1963-1967

 
Hai tướng Nguyễn Cao Kỳ (người đầu tiên bên trái) và Nguyễn Văn Thiệu(thứ 6 từ trái sang phải) đại diện Việt Nam Cộng hòa tại hội nghị SEATOnhóm họp tại Manila năm 1966

Tiếp sau đó là giai đoạn khủng hoảng lãnh đạo chính trị ở miền Nam bởi một loạt đảo chính liên tiếp cho đến khi tướng Nguyễn Văn Thiệu thiết lập nền Đệ nhị Cộng hòa Việt Nam. Trong thời gian 20 tháng miền Nam phải chứng kiến hơn 10 biến cố chính trị (chỉnh lý 1964 của tướng Nguyễn Khánh; thành lập Tam đầu chế; phong trào chống Hiến chương Vũng Tàu; chính phủ dân sự Trần Văn Hương lên rồi đổ; chính phủ dân sự Phan Huy Quát lên rồi đổ; đảo chính hụt ngày 13 tháng 9, 1964 của tướng Dương Văn Đức và Lâm Văn Phát; đảo chính hụt ngày 20 tháng 2, 1965 của đại tá Phạm Ngọc Thảo). Phe quân đội lần lượt truất phế nhau cùng những chính phủ dân sự được dựng lên rồi phải rút lui. Cùng khi đó về mặt xã hội, các khối Phật giáo và Công giáo nhiều lần xuống đường biểu tình làm áp lực. Về mặt pháp lý bản Hiến pháp năm 1956 bị vô hiệu hóa. Thay vào đó là một loạt hiến chương có tính cách tạm thời như:[4]

  1. Hiến chương 4 tháng 11 năm 1963
  2. Hiến chương 7 tháng 2 năm 1964
  3. Hiến chương 16 tháng 8 năm 1964 (thường gọi là Hiến chương Vũng Tàu)
  4. Hiến chương 20 tháng 10 năm 1964.

Về mặt quân sự, Việt Nam Cộng hòa, Hoa Kỳ cùng với các đồng minh tiếp tục chiến đấu chống lại các hoạt động quân sự của lực lượng Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam do Liên Xô, Trung Quốc và khối xã hội chủ nghĩa hậu thuẫn trong Chiến tranh Việt Nam.

 

Thứ tự sự kiện mở đầu Hội đồng giám sát, cố vấn Lãnh đạo quân đội Thủ tướng chính phủ dân sự thời gian
1. Đảo chính 1.11.1963 Hội đồng Quân nhân Cách mạng Dương Văn Minh Nguyễn Ngọc Thơ 11.1963-01.1964
2. Chỉnh lý 30.01.1964 Hội đồng Quân nhân Cách mạng Nguyễn Khánh   01.1964-08.1964
3. Cải tổ 28.06.1964 Ủy ban lãnh đạo lâm thời (Tam đầu chế) Nguyễn Khánh Nguyễn Khánh 08.1964-10.1964
4. Hiến chương 10.1964 Thượng Hội đồng Quốc gia(dân sự) Nguyễn Khánh Trần Văn Hương 10.1964-01.1965
5. Chính phủ Trần Văn Hương giải tán 27.01.1965 Hội đồng Quân lực Nguyễn Khánh Phan Huy Quát 02.1965-06.1965
6. Chính phủ Phan Huy Quát giải tán 14.06.1965 Ủy ban Lãnh đạo Quốc gia Nguyễn Văn Thiệu Nguyễn Cao Kỳ 06.1965-09.1967
 
 
Người dân đi bầu năm 1967. Cuộc bầu cử kết thúc với việc liên danhNguyễn Văn Thiệu - Nguyễn Cao Kỳđạt 34,8% số phiếu để đắc cử tổng thống và phó tổng thống, đánh dấu việc thành lập Đệ nhị Việt Nam Cộng hòa

Đệ nhị Cộng hòa 1967-1975

Tháng 6 năm 1966 (?), Ủy ban Lãnh đạo Quốc gia do tướng Nguyễn Văn Thiệu và Nguyễn Cao Kỳ điều hành tuyên bố mở cuộc bầu cử Quốc hội lập hiến vào ngày 3 tháng 9. Theo đó 118 đại biểu đắc cử gồm nhiều thành phần và đến 1 tháng 4 năm 1967 thì ra tuyên cáo bản Hiến pháp Đệ nhị Cộng hòa Việt Nam. Hiến pháp này là cơ sở pháp lý của Việt Nam Cộng hòa cho đến 30 tháng 4 năm 1975[5].

Cuộc tổng tuyển cử tổng thống và Quốc hội diễn ra ngày 3 tháng 9 năm 1967 với 11 liên danh tranh cử trong đó có những ứng cử viên như chính trị gia kỳ cựu như Phan Khắc Sửu và Trần Văn Hương. Trong số hơn sáu triệu cử tri thì năm triệu người đi bầu, tức tỷ lệ 80%. Liên danh Nguyễn Văn Thiệu-Nguyễn Cao Kỳ đắc cử với 35% số phiếu. Về nhì là luật sư Trương Đình Dzu với 17%.[6]

Tháng 6 năm 1969, trong vùng kiểm soát của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam đã diễn ra Đại hội đại biểu quốc dân và thành lập ra Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam, do Huỳnh Tấn Phát làm chủ tịch và Hội đồng Cố vấn do Nguyễn Hữu Thọ làm chủ tịch.

Năm 1971 là cuộc Tổng Tuyển cử thứ nhì của nền Đệ nhị Cộng hòa. Kỳ này Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu tái đắc cử nhiệm kỳ thứ hai một cách dễ dàng vì không có đối thủ nào khác ra tranh cử. Khi sự việc này xảy ra, nhiều người cho là do điều luật mới thông qua ngày 3 Tháng Sáu năm 1971 nhằm hạn chế khả năng tham gia của ứng cử viên đối lập. Theo đó thì ứng cử viên phải có 40 chữ ký ủng hộ của dân biểu hay nghị sĩ Quốc hội và 100 chữ ký của các thành viên trong hội đồng tỉnh.[7] Dương Văn Minh vàNguyễn Cao Kỳ vì không thỏa mãn được quy định trên đã phải rút tên, chỉ còn Nguyễn Văn Thiệu là ứng cử viên duy nhất trong cuộc bầu cử.

Vào năm 1973, sau Hiệp định Paris (được thảo luận giữa bốn bên tham chiến là Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Hoa Kỳ, Cộng hòa Miền Nam Việt Nam và Việt Nam Cộng hòa), quân đội Hoa Kỳ đã rút khỏi Việt Nam. Việt Nam Cộng hòa cố gắng trì hoãn việc ký kết hiệp định, nhưng phía Mỹ đã có quyết định dứt khoát về việc này và gây áp lực cho chính phủ Việt Nam Cộng hòa. Cuối cùng, Việt Nam Cộng hòa phải chấp nhận ký kết hiệp định.

Bị mất viện trợ về tài lực và quân sự từ phía Hoa Kỳ, Việt Nam Cộng hòa không thể tự đứng vững được. Năm 1975, sau khi thất thủ Ban Mê Thuột (nay gọi là Buôn Ma Thuột), trước sự tấn công mãnh liệt của Quân Giải phóng, cộng thêm các sai lầm chiến lược, quân đội Việt Nam Cộng hòa đã nhanh chóng tan rã, mất quyền kiểm soát lãnh thổ. Nhiều tướng lãnh cao cấp Việt Nam Cộng hòa đã tự ý rời bỏ hàng ngũ. Tổng thống Dương Văn Minh, người được đề cử chức vụ này vào ngày 29 tháng 4 năm 1975, đã ra lệnh đầu hàng vô điều kiện trước Quân Giải phóng và Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam vào ngày 30 tháng 4năm 1975.

Chính thể mới

Ngày 30-4-1975, sau khi tiếp nhận sự đầu hàng của Chính phủ Việt Nam Cộng hòa, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam (gọi tắt là Cộng hòa Miền Nam Việt Nam) tuyên bố: “Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam hiện nay thực hiện chủ quyền trên toàn vẹn lãnh thổ của mình trên toàn bộ miền Nam Việt Nam, là người đại diện chân chính và hợp pháp duy nhất của nhân dân Miền Nam Việt Nam, có đầy đủ quyền hành giải quyết những vấn đề quốc tế của miền Nam Việt Nam”. Thông qua tuyên bố này và việc tiếp nhận sự đầu hàng của Chính phủ Việt Nam Cộng hòa, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã khẳng định Cộng hòa miền Nam Việt Nam chính thức thực hiện quyền kế thừa quốc gia đối với Việt Nam Cộng hòa, đặc biệt là kế thừa chủ quyền của Việt Nam Cộng hòa đối với lãnh thổ miền Nam Việt Nam, trong đó có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Trên thực tế, sau năm 1975, Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã kế thừa lãnh thổ, các cơ quan đại diện ở nước ngoài, tư cách thành viên tại các tổ chức quốc tế (WHO, ILO, UNESCO, ICAO, IAEA, IMF, Ngân hàng Thế giới…). Tất cả những kế thừa này của Cộng hòa miền Nam Việt Nam đều được thực hiện theo đúng thông lệ quốc tế và Công ước về kế thừa quốc gia đối với Điều ước quốc tế năm 1978.[8].

Quân sự

Quân lực Việt Nam Cộng Hòa là lực lượng quân đội của chính quyền Việt Nam Cộng hòa. Thành lập từ năm 1955 với nòng cốt là lực lượng quân đội Quốc gia Việt Nam trongLiên hiệp Pháp, chủ yếu là Bảo an đoàn, Bảo chính đoàn. Ngày truyền thống (còn gọi là ngày Quân lực) là ngày 19 tháng 6.

Quân lực Việt Nam Cộng hòa được trang bị hùng hậu với sức cơ động cao và hoả lực mạnh, được sự hỗ trợ tích cực của Mỹ, và các đồng minh, để chống lại Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, vốn được sự hậu thuẫn của chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Quân lực Việt Nam Cộng hòa còn bị gọi là "quân đội Sài Gòn" hay "quân ngụy" theo cách gọi của chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đương thời. Quân lực Việt Nam Cộng hòa cũng là lực lượng chính trong cuộc đảo chính 1963 lật đổ chế độNgô Đình Diệm, và tham chính trong chính quyền cho đến ngày Việt Nam Cộng hòa sụp đổ.

Quân lực Việt Nam Cộng hòa là một quân đội hiện đại, tốn kém, đòi hỏi kinh phí hoạt động gần 3 tỷ đôla Mỹ (vào thời điểm bấy giờ) mỗi năm. Nền kinh tế Việt Nam Cộng hòa không thể cáng đáng được kinh phí này, nên Việt Nam Cộng hòa đã gần như phải dựa hoàn toàn vào viện trợ kinh tế của Mỹ để có thể thực hiện phòng thủ quốc gia. Khi Mỹ giảm viện trợ xuống còn 1,1 tỷ đô la vào năm 1974, nền kinh tế lâm vào cuộc khủng hoảng với lạm phát ở mức 200%, Quân lực Việt Nam Cộng Hòa không còn đủ kinh phí hoạt động, tình trạng thiếu đạn dược, vũ khí, xăng dầu đã dẫn đến hỏa lực yếu và giảm tính cơ động.[25]. Sau sự kiện 30 tháng 4, 1975, lực lượng quân đội này đã tan rã.

Kinh tế

Nền kinh tế Việt Nam Cộng hòa là một nền kinh tế thị trường, chưa phát triển, và mở cửa. Mức độ tự do của nền kinh tế khá cao trong những năm 1963 đến 1973. Tuy nhiên, phát triển kinh tế vẫn được triển khai dựa trên các kế hoạch kinh tế 5 năm hoặc kế hoạch bốn năm. Nền kinh tế ổn định trong giai đoạn 1955-1960, sau đó do tác động của chiến tranh leo thang đã trở nên mất ổn định với những đặc trưng như tốc độtăng trưởng kinh tế không đều (có nhiều năm bị âm), tỷ lệ lạm phát cao, thâm hụt ngân sách nhà nước và thâm hụt thương mại. Chính quyền đã phải tiến hành cải cách ruộng đất hai lần.

Mỹ đóng vai trò to lớn đối với phát triển kinh tế của Việt Nam Cộng hòa thông qua viện trợ kinh tế cũng như hỗ trợ kỹ thuật. Giới thương nhân Hoa kiều cũng nắm giữ một tỷ lệ đáng kể các ngành trong nền kinh tế.

Nhìn chung, kinh tế Việt Nam Cộng hòa có quy mô nhỏbị hạn chế vì tình hình bất ổn, sự tàn phá của chiến tranh và lệ thuộc vào viện trợ ngoại quốc. Lợi tức quốc gia mỗi đầu người năm 1967 là 21.013 đồng, tính theo hối suất Mỹ kim là 176,87 USD.[37] GDP bình quân đầu người năm cao nhất (1971) của người dân Miền Nam là 200 USD (tuy nhiên năm 1974 đã sụt xuống còn 54 USD do Mỹ cắt giảm viện trợ và tiền VNCH mất giá khoảng 400% trong 2 năm).[25] Theo tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng, nền kinh tế có nhiều triển vọng "nếu hội đủ điều kiện cần thiết để tiến tới chỗ thoát khỏi tình trạng lạc hậu".[38]

Đánh giá

Quan điểm của chính quyền Mỹ

Tài liệu được giải mật của Lầu Năm Góc vào năm 2010 cũng viết: "Không có sự yểm trợ của Hoa Kỳ, Diệm hầu như chắc chắn không thể đứng vững được ở miền Nam... Nam Việt Nam, về bản chất, là một sáng tạo của Hoa Kỳ"[75] Thậm chí tổng thống Mỹ Nixon trong lúc tức giận còn từng nói: "Không thể để có cái đuôi chó phản lại cái đầu con chó được."[76]

Trung tướng Bernard Trainor, từng phục vụ ở Việt Nam hai lần, của cả hai loại hình Chiến tranh đặc biệt và Chiến tranh cục bộ, so sánh cuộc chiến ở Việt Nam với cuộc chiến tranh giành độc lập Hoa Kỳ: "Tôi thấy cuộc kháng chiến của Việt Nam có nét tương đồng với cuộc Cách mạng của Mỹ. Cũng như các nhà cách mạng Mỹ thời đó, người Việt quyết chiến đến cùng. Những người dân Mỹ hồi đó đã đi tới một quyết định rằng độc lập là thiết yếu. Họ đặt cược tính mạng và của cải của mình vào sự nghiệp giành độc lập... Hy vọng ban đầu là thu phục trái tim khối óc của người dân, nhưng hy vọng này đã bị tan tành bởi sự thất bại của chính quyền Sài Gòn trong việc giành tín nhiệm của người dân và chiến lược Tìm và diệt của Westmoreland…".[77]

Quan điểm của giới chức Việt Nam Cộng hoà

Các quan chức cấp cao Việt Nam Cộng hoà cũng công nhận sự lệ thuộc của họ vào Hoa Kỳ. Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Nguyễn Văn Thiệu đã từng phát biểu: "Nếu Mỹ mà không viện trợ cho chúng tôi nữa thì không phải là một ngày, một tháng hay một năm mà chỉ sau 3 giờ, chúng tôi sẽ rời khỏi dinh Độc Lập!".[78]. Trong bài viết "30/4/1975, Dương Văn Minh và tôi", Nguyễn Hữu Thái thuật lại lời Tổng thống Dương Văn Minh đã nói với ký giả Francois Vanuxem khi được ông này khuyên rút về Vùng 4 chiến thuật để chờ Trung Quốc can thiệp nhằm tìm một giải pháp trung lập hóa Miền Nam: "Hết Tây (Pháp) rồi đến Mỹ, chẳng lẽ bây giờ còn đi làm tay sai cho Tàu nữa sao!".[79]

Ông Hồ Ngọc Nhuận, một dân biểu thời Việt Nam Cộng Hòa trả lời phỏng vấn năm 2009: "Ngày xưa tôi gọi đây là chiến tranh của Mỹ tại vì ổng (Mỹ) vô trong này từ cấp lớn đến cấp nhỏ ổng đều ở trên đầu, ổng làm cố vấn hết. Từ trên xuống dưới là của ảnh hết, súng cũng của ảnh, hành quân cũng của ảnh, đánh gì cũng của ảnh và trách nhiệm cũng của ảnh. Còn ông tổng thống trước khi ổng chạy đi thì ổng lên tiếng chửi Mỹ. Cái người ủng hộ Mỹ nhất mà cũng quay lại chửi Mỹ thì hỏi tôi không chống Mỹ sao được?"[80]

Năm 2005, khi và trả lời phỏng vấn của báo Thanh Niên, nguyên Thủ tướng Việt Nam Cộng hòa Nguyễn Cao Kỳ nhận định rằng: "Mỹ luôn luôn đứng ra trước sân khấu, làm "kép nhất". Vì vậy ai cũng cho rằng đây là cuộc chiến tranh của người Mỹ và chúng tôi chỉ là những kẻ đánh thuê..."[81] Trong bộ phim tài liệu của hãng PBS, ông kể rằng mình cùng Nguyễn Văn Thiệu, Nguyễn Khánh, và Nguyễn Chánh Thi từng bị đại sứ Mỹ triệu tập và đập bàn ghế trách mắng thậm tệ, rằng "từ nhỏ tới lớn, ngay cả cha ruột cũng chưa bao giờ chửi mắng tôi nặng nề và lâu đến như vậy"[82] Tướng tổng tư lệnh Nguyễn Khánh thì phải rời khỏi Việt Nam bởi mệnh lệnh từ chính Đại tướng Mỹ Maxwell D. Taylor, năm sau Nguyễn Chánh Thi cũng chịu chung số phận.[83]

Đại tướng Cao Văn Viên viết trong hồi ký: "Chúng ta không có trách nhiệm về chiến tranh. Trách nhiệm về cuộc chiến ở đây là của người Mỹ. Chính sách đó do họ đề ra, chúng ta chỉ theo họ mà thôi !"[84]

Chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh thì nói: "Tôi nói thật, trong tất cả các đời tổng thống Việt Nam Cộng hòa, ai mà Mỹ không ưa thì người ấy bị hất đổ ngay... Người Mỹ họ có đường lối của họ: đó là họ phải nắm chỉ huy ở miền Nam này. Họ chỉ huy trong mọi lĩnh vực, từ chính trị, kinh tế tới ngoại giao Mỹ đều nắm hết."[85]

 

Nguyễn Tiến Hưng, bộ trưởng kinh tế Việt Nam Cộng hoà nhận xét về sự sụp đổ của Việt Nam Cộng hoà:

 

Nguyễn Văn Ngân, nguyên trợ lý đặc biệt của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, đã nhận xét: "Người Mỹ đã thay thế người Pháp với chính sách thực dân mới. Vào thế kỷ XX, người Pháp nhân danh khai hóa để khai thác tài nguyên thuộc địa, nay người Mỹ nhân danh dân chủ để khai thác xương máu người Việt trong việc thiết lập một "tiền đồn chống Cộng" tại Đông Nam Á... Nền dân chủ mà người Mỹ tán dương khi can thiệp vào Việt Nam là nền dân chủ được định nghĩa trong quyền lợi của Mỹ, một thứ phó sản được dùng làm bình phong để thực hiện chính sách chia để trị, thiết lập đạo quân thứ năm, khuyến khích tình trạng vô chính phủ, nội loạn… để dễ bề khuynh loát và khi cần thiết để thực hiện các cuộc đảo chính và ám sát lãnh tụ quốc gia bằng bàn tay của các tay sai bản xứ…"[87]

Quan điểm của đối phương

Theo quan điểm của đối phương tức Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thì họ không công nhận sự hợp pháp của chính phủ Việt Nam Cộng hòa. Họ xem nó chỉ là một thứ "quốc gia giả hiệu" để Hoa Kỳ hợp thức hóa mưu đồ chia cắt Việt Nam của Mỹ.[68]

Cũng theo quan điểm của Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam, Việt Nam Cộng hòa được Hoa Kỳ lập ra để "dùng người Việt Nam đánh người Việt Nam", ngăn chặn phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng, khống chế, dập tắt các cuộc đấu tranh cách mạng ở nông thôn, bình định đồng bằng, lập ấp chiến lược để dồn dân, chiếm đóng, khống chế quần chúng. Hoa Kỳ thí nghiệm cuộc chiến tranh đó để rút kinh nghiệm đàn áp phong trào giải phóng dân tộc, đe doạ các nước mới giành được độc lập, bắt các nước đó phải chấp nhận chủ nghĩa thực dân mới.[69]. Do vậy một phần lớn người dân miền Nam không ủng hộ Việt Nam Cộng hòa mà đã đi theo phong trào Đồng khởi giành chính quyền[70] Các chiến lược chiến tranh của Hoa Kỳ và kế hoạch lập "Ấp chiến lược" của Việt Nam Cộng hòa đã vấp phải sự chống đối mạnh mẽ của người dân miền Nam nên đã phá sản.[71] Lực lượng vũ trang của quân Giải phóng có thể đánh nhiều trận táo bạo, có hiệu suất cao cũng là nhờ có sự hỗ trợ của nhân dân miền Nam.[72]. Vùng quân Giải phóng kiểm soát nhờ đó được mở rộng, chiếm phần lớn lãnh thổ miền Nam, trở thành hậu phương trực tiếp và vững chắc giúp họ đương đầu được với quân đội Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng hòa.[73].

Đài Tiếng nói Việt Nam - cơ quan phát thanh quốc gia của Việt Nam nhận định:

"Chính nghĩa không thuộc về chế độ "Việt Nam Cộng hòa". Ngay từ đầu, chính thể "Việt Nam Cộng hòa" đã không có một cơ sở pháp lý vững vàng nào. Mãi tới tận năm 1955 nó mới ra đời một cách bất hợp pháp trên nửa lãnh thổ phía nam của Việt Nam như một "sáng tạo" thuần túy của người Mỹ nhằm theo đuổi các mục tiêu phản ánh lợi ích riêng của họ (thị trường Đông Nam Á, gia tăng ảnh hưởng ở vị trí chiến lược, ngăn chặn làn sóng xã hội chủ nghĩa…)... Trong khi đó Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được thành lập chính danh trên toàn lãnh thổ Việt Nam vào năm 1945. Ngay trong năm 1946, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã tiến hành tổng tuyển cử bầu Quốc hội theo chế độ phổ thông đầu phiếu trên toàn quốc với sự tham gia của đông đảo nhân dân và đã có bản Hiến pháp đầu tiên được thông qua – hai sự kiện này đặt cơ sở pháp lý vững chắc cho nhà nước dân chủ mới khai sinh.
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, dù đang trên thế thắng về mặt quân sự (với trận Điện Biên Phủ lừng lẫy năm châu) vẫn chấp nhận một cuộc tổng tuyển cử sòng phẳng trên tinh thần hòa hợp để thống nhất đất nước đang tạm thời bị chia cắt. Tuy nhiên cả phía Mỹ và cái gọi là Việt Nam Cộng hòa đều kiên quyết từ chối thiện chí đó... Ông Ngô Đình Diệm - do CIA (Mỹ) "tìm thấy" và đưa về Việt Nam làm Thủ tướng của chính phủ bù nhìn Bảo Đại - đã tuyên bố không có tổng tuyển cử gì hết, trắng trợn vi phạm Hiệp định Geneva, và đi ngược lại nguyện vọng thống nhất của dân tộc...
Nền tảng trực tiếp cho sự ra đời của Việt Nam Cộng hòa là chính thể Quốc gia Việt Nam (1949-1955) – đây là một chế độ bù nhìn do Pháp lập nên trong thời kỳ kháng Pháp và do Bảo Đại (mất ngôi hoàng đế sau Cách mạng tháng Tám) làm quốc trưởng. Quốc kỳ "ba que" của Việt Nam Cộng hòa cũng chính là quốc kỳ của "Quốc gia Việt Nam" được Pháp "trao trả độc lập"... Về bản chất chính trị, "Việt Nam Cộng hòa" đại diện cho các tầng lớp tư sản mại bản và phong kiến thân Mỹ... Bước chuyển từ "Quốc gia Việt Nam" sang "Việt Nam Cộng hòa" là bước chuyển từ làm tay sai cho thực dân Pháp sang làm tay sai cho đế quốc Mỹ... Còn tính chính danh của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là rất cao, nên Mỹ không thể lấy cớ để lôi kéo quân của Liên Hợp Quốc vào lãnh thổ Việt Nam tham chiến như đã từng xảy ra trên bán đảo Triều Tiên.[74]

Bên cạnh đó, Việt Nam Cộng hòa không phải là một chính thể được lòng dân. Cũng Đài Tiếng nói Việt Nam nhận định:

"Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, lòng dân luôn hướng về Đảng Cộng sản Việt Nam, cả ở miền Bắc lẫn miền Nam... Ở miền Nam liên tục diễn ra các cuộc biểu tình của dân chúng, của Phật giáo, sinh viên, trí thức, ký giả... các hoạt động đấu tranh vũ trang rộng khắp của quần chúng phá thế kìm kẹp ở nông thôn (như phong trào đồng khởi ở Bến Tre và toàn Nam bộ)... Nằm ngay cửa ngõ Sài Gòn là khu "đất thép" Củ Chi của các du kích và quân giải phóng miền Nam, tồn tại bao năm như cái gai thách thức chế độ Mỹ-ngụy... Cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1968 đã giáng một đòn mạnh, chỉ cho thế giới thấy chính thể Việt Nam Cộng hòa mất lòng dân đến mức nào... Vì rõ ràng, những người cộng sản không thể tiến hành một cuộc tấn công đồng loạt, rộng khắp và mãnh liệt trong thời gian dài như vậy (trên toàn đô thị miền Nam, trong điều kiện hết sức khó khăn) nếu thiếu sự che chở bao bọc của đông đảo nhân dân...
Nếu Việt Nam Cộng hòa thực sự hợp lòng dân, được nhân dân ủng hộ thì có lẽ sẽ không xuất hiện Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam (vào năm 1960), cùng với lực lượng Quân Giải phóng miền Nam (năm 1961), rồi sau đó là chính phủ Cộng hòa Miền Nam Việt Nam (vào năm 1969) ngay trên phần đất của miền Nam Việt Nam, với nhân lực chính là người miền Nam, nói giọng miền Nam. Như vậy ở phía nam vĩ tuyến 17 đã hình thành 2 vùng kiểm soát với 2 quân đội tương ứng, khiến cho tính hợp pháp và chính danh của chế độ Việt Nam Cộng hòa vốn đã kém lại càng bị thách thức nghiêm trọng...
Thậm chí ngay cả ở những vùng Mỹ-ngụy chiếm giữ, vẫn tồn tại song song hai hệ thống chính quyền, hai lực lượng. Một bên là chế độ ngụy công khai, một bên là các đảng bộ cộng sản cùng các đơn vị công an và bộ đội địa phương hoạt động ngầm tương ứng với các đơn vị hành chính... Lực lượng tình báo cách mạng đã xâm nhập hết sức hiệu quả vào bộ máy an ninh tình báo ngụy và hệ thống chính quyền ngụy, kể cả ở cấp cao nhất... Trước giờ cáo chung, ngụy quyền còn tuyên truyền quân giải phóng sẽ dìm Sài Gòn trong biển máu. Nhưng cuối cùng thì không có cuộc tắm máu nào như thế cả. Các hình ảnh do chính phóng viên ảnh và quay phim nước ngoài ghi lại đã cho thấy quần chúng hồ hởi đón chào quân giải phóng đến nhường nào trong trưa 30/4/1975 tại Sài Gòn... Như vậy, có thể khẳng định một cách chắc chắn rằng cuộc Chiến tranh Việt Nam 1955-1975 không phải là nội chiến mà là cuộc kháng chiến chính nghĩa do toàn dân tiến hành chống lại ngoại xâm và tay sai của ngoại bang."[74]

Quan điểm của lực lượng phản chiến tại Mỹ

 
Người biểu tình phản chiến Mỹ với sự châm biếm: Đế quốc Mỹ và "Con rối Sài Gòn"

Năm 1972, Uỷ ban đối ngoại Thượng viện Hoa Kỳ tổ chức một cuộc điều trần về cuộc chiến tranh Việt Nam suốt ba ngày liền, xoay quanh chủ đề nguồn gốc, nguyên nhân của cuộc chiến Việt Nam và những bài học rút ra từ đó. Bốn học giả có tên tuổi đại diện cho phong trào phản chiến Leslie Gelb, James Thomson, Arthur Schlesinger và Noam Chomsky, từng nghiên cứu nhiều về Việt Nam, được Quốc hội Mỹ mời đến báo cáo góp ý kiến cho Quốc hội về cuộc chiến tranh Việt Nam. Đánh giá về Việt Nam Cộng hòa, giáo sư Noam Chomsky của học viện MIT đã nói:

"Chính phủ Nam Việt Nam đã trở thành nơi ẩn nấp của những người Việt Nam từng đi theo Pháp trong cuộc chiến đấu chống lại nền độc lập của đất nước họ. Chính phủ Nam Việt Nam không có cơ sở thành trì trong nhân dân. Nó đi theo hướng bóc lột dân chúng nông thôn và tầng lớp dưới ở thành thị, trên thực tế nó là sự tiếp tục chế độ thuộc địa của Pháp"[88]

Theo một góc nhìn khác, tiến sĩ Daniel Ellsberg, sĩ quan Lầu Năm Góc và là cố vấn Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ trong buổi phỏng vấn với CNN và trong quyển sách "Những Bí mật về Chiến tranh Việt Nam" đã viết:

"Không hề có chiến tranh Đông Dương thứ nhất và thứ nhì, chỉ có một cuộc xung đột nối tiếp trong một phần tư thế kỷ. Dùng ngôn từ thực tế, đứng về một phía (Mỹ), ngay từ đầu nó đã là một cuộc chiến của Mỹ: mới đầu là Pháp-Mỹ, sau đến toàn là Mỹ. Trong cả hai trường hợp, nó là một cuộc đấu tranh của người Việt Nam – không phải là tất cả người Việt Nam nhưng cũng đủ để duy trì cuộc đấu tranh – chống chính sách của Mỹ và những kinh viện, ủy nhiệm, kỹ thuật gia, hỏa lực, và cuối cùng, quân đội và phi công, của Mỹ. Một cuộc chiến mà trong đó một phía (Việt Nam Cộng hòa) hoàn toàn được trang bị và trả lương bởi một quyền lực ngoại quốc – một quyền lực nắm quyền quyết định về bản chất của chế độ địa phương vì những quyền lợi của mình – thì đó không phải là một cuộc nội chiến..."[89]

Quan điểm của giới sử gia phương Tây

Nhiều nhà sử học phương Tây thì xem chính thể này như là sản phẩm của chính sách can thiệp thực dân mới mà Mỹ tiến hành tại Đông Nam Á.[88][90][91].

Nhà sử học Frances FitzGerald viết: "Chiến thắng của họ (Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam) là chiến thắng của dân tộc Việt Nam - người Bắc cũng như người Nam. Khác xa với một cuộc nội chiến, cuộc đấu tranh của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam là một sự khẳng định nguyên tắc thống nhất dân tộc mà chính quyền Sài Gòn đã tuyên bố ủng hộ rồi phản bội"[92]

Nhiều sử gia cho rằng chính thể này là một chính thể con rối của Mỹ.[93] Chuyên gia bình định, Trung Tá Mỹ William R. Corson thừa nhận rằng "vai trò của chế độ bù nhìn của Mỹ ở miền Nam Việt Nam là "cướp bóc, thu thuế, tái lập lại địa chủ, và tiến hành trả thù chống lại người dân". Nhà sử học James Gibson tóm tắt tình hình: "Chế độ miền Nam Việt Nam không có khả năng chiến thắng vì không có sự ủng hộ của những người nông dân, nó đã có không còn là một "chế độ" theo đúng nghĩa. Liên minh chính trị bất ổn định và hoạt động bộ máy thì quan liêu. Hoạt động của chính phủ dân sự và quân sự đã hầu như chấm dứt. Mặt trận Dân tộc Giải phóng đã gần như tuyên bố quyền kiểm soát tại các khu vực rộng lớn... nó rất khác với một chính phủ Sài Gòn yếu ớt, không có nền dân chủ cơ bản và một mong muốn mạnh mẽ cho sự thống nhất Việt Nam"[94].

Nhà sử học Marilyn Young nhận xét: "Sự tha hóa tư sản của chính phủ Nam Việt Nam từ thời Diệm đã trở nên tồi tệ hơn khi người khác kế nhiệm ông. Chính quyền Sài Gòn vô vọng, tham nhũng, đàn áp dân chủ dữ dội. Đến cuối thập niên 1960 đã có hàng ngàn tù nhân chính trị ở Nam Việt Nam. Bầu cử là một trò hề, không có quá trình cải cách khả thi cho chính quyền Sài Gòn và kết quả là nhiều nhà cải cách tham gia cuộc đấu tranh vũ trang của đối phương." Trong khi Việt Minh đã giảm thuế, xóa nợ và cho thuê đất với nông dân nghèo, Diệm đã đưa giai cấp địa chủ trở lại. Nông dân đã phải trả lại đất cho địa chủ rồi phải trả tiền thuê đất. Tiền thuê đất này được thu bởi quân đội Nam Việt Nam. Điều này tạo ra một cơn giận dữ ở nông thôn, quân đội Nam Việt Nam bị mắng chửi là "tàn nhẫn hệt như bọn Pháp", kết quả là tại nông thôn, 75% người dân ủng hộ quân Giải phóng, 20% trung lập trong khi chỉ có 5% ủng hộ chế độ Sài Gòn.[95]

James M. Carter, giáo sư Đại học Drew nhận xét trong sách "Inventing Vietnam: The United States and State Building, 1954-1968" (Nhà xuất bản Đại học Cambridge, 2008) như sau[96]:

Chính thể Sài Gòn không thể tự nuôi nổi chính mình; thậm chí không thu đủ lợi tức cho hoạt động hàng ngày. Họ phải phụ thuộc vào viện trợ Mỹ... Từ trước đó, giới chức Mỹ đã thôi nói về xây dựng quốc gia, cải cách ruộng đất, dân chủ, minh bạch. Thay vào đó, họ bàn về một cuộc chiến phải thắng trước những kẻ thù của nhà nước hư cấu "miền Nam Việt Nam" (fictive state).
Quỹ đạo này của chính sách Mỹ khiến người ta gần như không thể nói thực về thành công, thất bại, đặc biệt là với các nhà hoạch định chính sách. Chưa bao giờ Hoa Kỳ đạt tới mục tiêu là chính thể Sài Gòn có thể tự mình tồn tại mà không cần dựa vào viện trợ Mỹ.

Nguồn Gốc Quân Đội Tay Sai Việt Nam Cộng Hòa - Tay Sai Thực Dân Pháp Và Đế Quốc Mỹ

Tất cả Sĩ quan cấp Tướng và nhiều Sĩ quan cấp Tá đều được Thực dân Pháp và Đế quốc Mỹ đào tạo để đàn áp nhân dân và cách mạng Việt Nam

 

Quân lực Việt Nam Cộng hòa

 

Quân lực Việt Nam Cộng hòa

ARVN Cap Badge for Captains & Colonels.svg
Phù hiệu.

Hoạt động

1955 – 1975

Quốc gia

 Việt Nam Cộng hòa

Phân loại

Lực lượng vũ trang

Tên khác

Quân đội Việt Nam Cộng hòa

Khẩu hiệu

Tổ quốc - Danh Dự - Trách nhiệm

Màu sắc

Vàng, đỏ

Tham chiến

Chiến tranh đặc biệt
Chiến dịch Mậu Thân
Mùa hè đỏ lửa
Hải chiến Hoàng Sa

Các tư lệnh

Chỉ huy
nổi tiếng

Dư Quốc Đống
Linh Quang Viên
Lê Văn Tỵ
Nguyễn Văn Thiệu
Dương Văn Minh
Trần Văn Đôn
Cao Văn Viên
Lê Văn Hưng
Trần Thiện Khiêm
Trần Văn Hai
Lê Văn Nghiêm
Phạm Văn Phú
Đỗ Mậu
Nguyễn Khoa Nam
Nguyễn Chánh Thi
Đỗ Cao Trí
Nguyễn Cao Kỳ
Nguyễn Khánh
Dương Văn Đức
Nguyễn Hữu Có
Lâm Ngươn Tánh
Lê Nguyên Vỹ
Lê Minh Đảo
Ngô Quang Trưởng
Nguyễn Văn Hinh

Huy hiệu

Quân kỳ 1

Flag of RVNMF.svg

Quân kỳ 2

Flag of the Republic of Vietnam Military Forces.svg

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Quân lực Việt Nam Cộng hòa (chính tả cũ: Quân-lực Việt-nam Cộng-hòa; tiếng Anh: Republic of Vietnam Military ForcesRVNMF) là LỰC LƯỢNG QUÂN ĐỘI CỦA CHÍNH QUYỀN VIỆT NAM CỘNG HÒA, THÀNH LẬP TỪ NĂM 1955, VỚI NÒNG CỐT LÀ LỰC LƯỢNG QUÂN ĐỘI QUỐC GIA VIỆT NAM TRONG LIÊN HIỆP PHÁP, CHỦ YẾU LÀ BẢO AN ĐOÀN,BẢO CHÍNH ĐOÀN. Ngày truyền thống (còn gọi là ngày Quân lực) là ngày 19 tháng 6. Trong các tài liệu của phía VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA VÀ MẶT TRẬN DÂN TỘC GIẢI PHÓNG MIỀN NAM VIỆT NAM, QUÂN LỰC CỘNG HÒA BỊ ĐỐI PHƯƠNG GÁN CHO BIỆT DANH "QUÂN ĐỘI SÀI GÒN" HOẶC "NGỤY QUÂN". TRONG QUÁ TRÌNH TỒN TẠI CỦA MÌNH, QUÂN LỰC CỘNG HÒA NHIỀU LẦN THAM GIA CÁC BIẾN CỐ CHÍNH TRỊ, MÀ CAO ĐIỂM LÀ CUỘC ĐẢO CHÍNH 1963 LẬT ĐỔ TỔNG THỐNG NGÔ ĐÌNH DIỆM, VÀ SAU ĐÓ THAM CHÍNH TRONG CHÍNH QUYỀN CHO ĐẾN NGÀY VIỆT NAM CỘNG HÒA SỤP ĐỔ.

Quân lực Cộng hòa được trang bị hùng hậu với sức cơ động cao và hỏa lực mạnh, được sự hỗ trợ tích cực của Mỹ và các đồng minh, để chống lại Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam, lực lượng vũ trang của Mặt trận Dân tộc là một bộ phận của Quân đội Nhân dân Việt Nam, được sự viện trợ từ Liên Xô, Trung Quốc, và các đồng minh. Tuy vậy, khác với đối phương được tổ chức đơn giản, gọn nhẹhiệu quả cao, Quân lực Cộng hòa là một quân đội trang bị hiện đại, mô phỏng hoàn toàn theo Hoa Kỳ nên rất tốn kém, đòi hỏi kinh phí hoạt động gần 3 tỷ đô la Mỹ mỗi năm (giá và thời điểm bấy giờ) (gấp 10 lần đối phương). Nền Kinh tế Việt Nam Cộng hòa, vốn quá lệ thuộc vào Mỹ đã không thể cáng đáng được kinh phí này, nên Việt Nam Cộng hòa đã gần như phải dựa hoàn toàn vào viện trợ kinh tế của Mỹ để có thể thực hiện phòng thủ trước đối phương có sức mạnh phù hợp với hình thái chiến tranh thực địa hơn.

Khi Mỹ giảm viện trợ xuống còn 1,1 tỷ đô la vào năm 1974, nền kinh tế Việt Nam Cộng hòa lâm vào cuộc khủng hoảng với lạm phát ở mức 200%Quân lực Cộng hòa vốn không được tổ chức thích hợp, lại cộng thêm nạn tham nhũng nên đã rơi vào tình trạng thiếu kinh phí để duy trì mức hoạt động như trước. Dù có không ít những đơn vị được trang bị tốt nhưng những đơn vị này rơi vào tình trạng thiếu đạn dược, bảo trì, xăng dầu dẫn đến giảm hỏa lực và tính cơ động. Cùng với những điểm yếu khác về chỉ huytinh thần chiến đấu, chỉ sau 55 ngày đêm chiến dịch Mùa Xuân 1975 của Quân đội Nhân dân, Lực lượng quân đội với hơn 1 triệu quân này đã tan rã.

 

Quá trình phát triển

Thời kỳ trước khi Quốc gia Việt Nam thành lập

Trong suốt thời gian chiếm đóng Đông Dương, quân đội Pháp có những người Việt phục vụ trong Quân đội để đáp ứng nhu cầu chiến trường. Các quân nhân này được đào tạo theo quy chế Pháp và đại đa số là binh lính, hạ sĩ quan với một số rất ít sĩ quan.

Khi chiến tranh lan rộng, để huy động thêm nhân lực, người Pháp đã thành lập các Lực lượng phụ thuộc (Forces suppletives) bao gồm lính được tuyển mộ tại địa phương DO SĨ QUAN PHÁP CHỈ HUY.

Ngày 1 tháng 10năm 1946, Vệ binh Cộng hòa Nam Kỳ được thành lập, là Lực lượng quân sự đầu tiên của Chính phủ Cộng hòa Tự trị Nam Kỳ.

Ngày 9 tháng 6 năm 1948, Lực lượng này được đổi tên thành Vệ binh Nam Việt. Ngày 12 tháng 4 năm 1947, Lực lượng Bảo vệ quân ra đời tại Huế, năm 1948 cải danh thành VIỆT BINH ĐOÀN.

Tháng 7 năm 1948, Lực lượng quân sự người Việt tại Bắc Kỳ ra đời mang tên Bảo chính đoàn.

Thực chất, đây là những Lực lượng quân sự Địa phương, tổ chức để hỗ trợ cho Quân đội Pháp, về NGUYÊN TẮC TRỰC THUỘC CHÍNH QUYỀN NGƯỜI VIỆT, TRÊN THỰC TẾ VẪN DO CÁC SĨ QUAN PHÁP CHỈ HUY.

Thời kỳ Quốc gia Việt Nam

Theo Hiệp ước Elysée ngày 8 tháng 3 năm 1949, Quốc gia Việt Nam được thành lập, có Quân đội và Chính sách ngoại giao riêng. Theo Nghị định Quốc phòng ngày 13 tháng 4 năm 1949, một Lực lượng Quân đội Quốc gia được thành lập, lấy tên là Vệ binh Quốc giaCác lực lượng Vệ binh Nam Việt, Việt binh đoàn, Bảo chính đoàn và Vệ binh sơn cước được chuyển sang Vệ binh Quốc gia.

Trong nỗ lực thành lập Quân đội Quốc gia, vấn đề cơ bản là đào tạo sĩ quan và hạ sĩ quan. Quốc gia Việt Nam thừa nhận tình trạng thiếu những người được huấn luyện quân sự nhưng tuyên bố vì lý do chính trị, việc sử dụng sĩ quan Pháp là trở ngại. Trong khi đó Pháp lại không chấp nhận trang bị vũ khí cho những đơn vị Quân đội Quốc gia mới thành lập trừ khi Việt Nam chấp nhận một tỷ lệ nhất định sĩ quan nước ngoài trong Quân đội Quốc gia trong thời gian sĩ quan Việt Nam đang được đào tạo tại những cơ sở huấn luyện mới thành lập. Pháp có trách nhiệm hỗ trợ Việt Nam trong công tác huấn luyện sĩ quan.

Ngày 11 tháng 5 năm 1950, Thủ tướng Trần Văn Hữu tuyên bố chính thức thành lập Vệ binh Quốc gia Việt Nam với quân số lúc đó là 60.000 người.

Ngày 8 tháng 12, 1950, Quốc gia Việt Nam và Pháp ký Hiệp định quân sự thành lập Quân đội Quốc gia bằng cách đặt một số đơn vị Quân đội Pháp tại Việt Nam dưới quyền chỉ huy của Quốc gia Việt Nam. Dự kiến quân đội này sẽ bao gồm 120.000 quân và 4.000 sĩ quan. Tất cả sĩ quan đều phải là người Việt. Quốc trưởng Bảo Đại là Tổng chỉ huy của Quân đội Quốc gia Việt Nam từ năm 1950 đến 1955.

Sau hai lần thay đổi nội các, Quốc trưởng Bảo Đại ký Dụ số 43 ngày 23 tháng 5 năm 1952 thành lập Bộ Tổng tham mưu Quân đội Quốc gia Việt Nam từ ngày 1 tháng 5 năm 1952. Quân đội Quốc gia có Tổng chỉ huy là Quốc trưởng Bảo Đại và được đặt dưới quyền quản trị của Bộ Tổng tham mưu. Tổng tham mưu trưởng đầu tiên là một sĩ quan người Việt quốc tịch Pháp, nguyên Đại tá Chánh Võ phòng của Quốc trưởng, tân Thiếu tướng Nguyễn Văn Hinh. Trụ sở Bộ Tổng tham mưu đặt tại số 1 đường Galiéni, tức thành Ô Ma (Camp Aux Mares), Sài Gòn. Toàn Việt Nam được phân thành 4 quân khu đầu tiên và một số sĩ quan cấp tá người Việt đã được bổ nhiệm vào chức vụ Tư lệnh Quân khu. Cùng năm đó, Binh chủng Hải quân và Binh chủng Nhảy dù được thành lập. Tuy vậy, các Tư lệnh chiến trường của Pháp lại có quyền yêu cầu các đơn vị của Quốc gia Việt Nam hỗ trợ trong các cuộc hành quân.

Để đẩy mạnh hơn nữa việc tuyển quân, từ năm 1953, chính quyền Quốc gia Việt Nam cho thực hiện cuộc Tổng động viên với lệnh tất cả thanh niên tuổi từ 18 đến 33 phải ghi danh. Quân đội Quốc gia Việt Nam phát triển nhanh chóng về số lượng. Khi hội nghị Geneve được ký kết đã có 82 "Tiểu đoàn Việt Nam", 81 "Tiểu đoàn khinh quân" và 5 Tiểu đoàn Nhảy dù, chưa kể 3 Trung đoàn cơ giới, 8 nhóm Pháo binh, 5 nhóm Vận tải và 5 Tiểu đoàn Công binh đó là chưa kể Tuần binh, Quân đội của các Giáo phái và Bình Xuyên, tổng cộng là 272.000 người (không kể số lính da vàng trong các đơn vị da trắng). Số tiền người Pháp bỏ ra để thành lập Quân đội này là: 524 tỉ francs năm 1952, 585 tỉ năm 1953, 575 tỉ năm 1954. (thực chất là lính đánh thuê cho Pháp - chú thích TTTĐ)

Sau chiến bại của Pháp tại trận Điện Biên Phủ, Quân đội Quốc gia Việt Nam lâm vào tình thế khó khăn. Sách của Quân lực Cộng hòa mô tả thời kỳ này như sau:

Người lính quốc gia đã không còn tinh thần để chiến đấu vì trước đà thắng thế của đối phương, phải liên miên chịu đựng áp lực nặng nề, vừa chiến đấu mệt mỏi, không được nghỉ ngơi, không được bổ sung, vừa bị khủng hoảng tinh thần bởi các sự tuyên truyền của đối phương" nên đã đào ngũ khá nhiều. Từ ngày 21-7 đến ngày 20-8-1954, chỉ trong 1 tháng, số đào ngũ ở miền Bắc lên tới 21.421 người, gồm 112 sĩ quan, 1.031 hạ sĩ quan và 20.278 binh sĩ. Số đào ngũ vẫn gia tăng vào những tháng chót

Quân đội Việt Nam Cộng hòa

QLVNCHQuân lực Việt Nam Cộng hòa

Binh chủng

Lục quân

Hải quân

Không quân

Dấu hiệu/Cấp bậc

Quân hàm

Phù hiệu các đơn vị

Hiệu kỳ các đơn vị

Lịch sử

Tiến trình phát triển

Các đại đơn vị

Các tướng lãnh

 

Việt Nam Cộng hòa và bốn vùng chiến thuật.

Năm 1955, sau khi Quốc trưởng Bảo Đại bị truất phế, Thủ tướng Ngô Đình Diệm tuyên bố thành lập Việt Nam Cộng hòa,  Quân đội Quốc gia từ đó cải danh là Quân đội Việt Nam Cộng hòa. Cùng năm 1955, Bộ Tổng tham mưu không còn tùy thuộc hệ thống chỉ huy Pháp.

Cũng trong năm này, khối bộ binh được tổ chức là 4 Sư đoàn dã chiến và 6 Sư đoàn khinh chiến.

Năm 1956, trụ sở Bộ Tổng tham mưu dời về trại Trần Hưng Đạo (tức Camp Chanson trước kia). Các Quân khu được tổ chức lại thành 6 quân khu. Cũng trong năm này, Hải quân Việt Nam Cộng hòa bắt đầu tiếp nhận tàu chiến từ Hải quân Hoa Kỳ, gồm 31 chiến hạm với 193 chiến đỉnh, đến 1963 mới chấm dứt.

Năm 1957, Quân đoàn I và Quân đoàn II được thành lập. Cùng năm, thành lập Binh chủng Lực lượng đặc biệt, huấn luyện sĩ quan và hạ sĩ quan tại trường Biệt động đội ở Đồng Đế, và đơn vị đầu tiên mang tên Liên đội Quan sát Số 1.

Đầu năm 1959, các Sư đoàn khinh chiến và dã chiến được tổ chức lại thành 7 Sư đoàn bộ binh[18]. Ngày 1 tháng 3 năm 1959, Quân đoàn III được thành lập, gồm Sư đoàn 5 và 7 bộ binh. Cùng năm, Lữ đoàn Thủy quân Lục chiến tách ra khỏi Hải quân và trở thành Lực lượng Tổng trừ bị.

Năm 1960, Binh chủng Biệt động quân được thành lập với 50 đại đội và bắt đầu hoạt động sâu trong vùng kiểm soát của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam. Đại đơn vị Cảnh sát Quân sự cũng được tái tổ chức ngày 1 tháng 10, tập hợp các đơn vị cũ từ năm 1948 dưới tên mới là Quân cảnh. Cũng trong năm này, Chính phủ Việt Nam Cộng hòa ban hành động viên từng phần. Theo đó thì tất cả những thanh niên trong lứa tuổi quân dịch (18-35) phải vào quân ngũ trong một thời gian.

Ngày 11 tháng 11 năm 1960, Đại tá Nguyễn Chánh Thi đã chỉ huy một số đơn vị thuộc Lữ đoàn Nhảy dù, Biệt động quân, Thiết giáp.... làm đảo chính quân sự. Tuy nhiên, cuộc đảo chính bị dập tắt nhanh chóng.

Ngày 13 tháng 4 năm 1961, Tổng thống Ngô Đình Diệm ra sắc lệnh số SL.98/QP chia lại lãnh thổ thành ba vùng chiến thuật và Biệt khu Thủ đô. Vùng 1 chiến thuật gồm các tỉnh từ Quảng Trị đến Quảng Ngãi, do Quân đoàn I trấn đóng. Vùng 2 chiến thuật gồm Cao nguyên Trung phần và các tỉnh duyên hải nam Trung phần từ Bình Định vào tới Bình Thuận, do Quân đoàn II trấn đóng. Vùng 3 chiến thuật gồm các tỉnh từ Bình Tuy vào Nam do Quân đoàn III trấn đóng. Biệt khu Thủ đô gồm Đô thành Sài Gòn và tỉnh Gia Định.

Năm 1962, Liên đoàn Nhảy dù gồm 7 tiểu đoàn nhảy dù 1, 3, 4, 5, 6, 7 và 8, tiền thân là các Tiểu đoàn nhảy dù thuộc địa của Pháp, được phát triển thành Lữ đoàn Nhảy dù. Liên đoàn 31 Lực lượng Đặc biệt cũng được thành lập. Các đơn vị Không quân tác chiến và yểm trợ tác chiến được tăng lên cấp Không đoàn tại mỗi Quân đoàn, gồm các Không đoàn 41 (Đà Nẵng), 62 (Pleiku), 23 (Biên Hòa), 33 (Tân Sơn Nhất), 74 (Cần Thơ). Sư đoàn 9 và 25 bộ binh cũng được thành lập trong năm này, nâng cấp số đơn vị bộ binh lên thành 9 Sư đoàn.

Ngày 1 tháng 1 năm 1963, Tổng thống Ngô Đình Diệm cho thành lập Quân đoàn IV và Vùng 4 chiến thuật. Theo đó, cơ cấu các vùng chiến thuật và các đơn vị cơ hữu quân đoàn được tổ chức lại như sau:

  • Vùng 1 chiến thuật (Bắc Trung phần) với Quân đoàn I, gồm các Sư đoàn 1 và Sư đoàn 2 bộ binh.

  • Vùng 2 chiến thuật (Cao nguyên và duyên hải nam Trung phần) với Quân đoàn II, gồm các Sư đoàn 22 và Sư đoàn 23 bộ binh.

  • Vùng 3 chiến thuật (Miền đông Nam phần) với Quân đoàn III, gồm các Sư đoàn 5 và Sư đoàn 10 bộ binh.

  • Vùng 4 chiến thuật (Miền tây Nam phần) với Quân đoàn IV, gồm các Sư đoàn 7, Sư đoàn 9 và Sư đoàn 21 bộ binh.

Các tướng lĩnh

Hội đồng Quân lực tại lễ quốc khánh 1 tháng 11 năm 1966.

Trong lịch sử tồn tại của Quân đội Quốc gia sau là Quân lực VNCH, có 173 người được phong cấp tướng, trong đó có 1 Thống tướng. Còn lại là các cấp Đại tướng, Trung tướng, Thiếu tướng và Chuẩn tướng. Rất nhiều tướng lĩnh (chiếm 1/3) được phong hàm tướng trong giai đoạn 1963-1965, thời kỳ mà dân chúng gọi là "loạn tướng".

  • Thống tướng Lê Văn Tỵ (Được phong Thống tướng ngày 21-7-1964, 3 tháng trước ngày từ trần)
  • Đại tướng: 5
  • Trung tướng: 49
  • Thiếu tướng: 46
  • Chuẩn tướng: 72
- Các tướng lĩnh còn lại, xin xem danh sách:
  • Danh sách Đại tướng Việt Nam Cộng hòa
  • Danh sách Trung tướng Việt Nam Cộng hòa
  • Danh sách Thiếu tướng Việt Nam Cộng hòa
  • Danh sách Chuẩn tướng Việt Nam Cộng hòa
- Cấp tá Việt Nam Cộng hòa:
  • Danh sách Đại tá Việt Nam Cộng hòa
Từ khóa: ARVN Colonels (u) - General Hieu


Đào tạo và học viện quân sự (Hầu hết các tướng Việt Nam Cộng Hòa đều do Pháp đào tạo)

 
 

Việt Nam Cộng hòa có một số cơ sở Trung tâm Huấn luyện Quốc gia, đào tạo nhân sự cho ngành quân lực. Đứng đầu là Trường Võ bị Quốc gia Đà Lạt. Ngoài ra còn có Trường Bộ binh Thủ Đức, Trường Huấn luyện Không quân Nha Trang, Trường Sĩ quan Hải quân Nha Trang, Trường Hạ sĩ quan Quân lực Việt Nam Cộng hòa, Trung tâm Huấn luyện Quang Trung, Trung tâm Huấn luyện Biệt động quân Dục Mỹ...

Mỗi vùng chiến thuật có một trung tâm huấn luyện:[22]

  • Vùng 1 (Quân khu 1): Trung tâm Huấn luyện Quốc gia Đống Đa ở Huế.
  • Vùng 2 (Quân khu 2): Trung tâm Huấn luyện Quốc gia Lam Sơn ở Dục Mỹ, Ninh Hòa, Khánh Hòa
  • Vùng 3 (Quân khu 3): Trung tâm Huấn luyện Quốc gia Vạn Kiếp ở Bà Rịa, Phước Tuy.
  • Vùng 4 (Quân khu 4): Trung tâm Huấn luyện Quốc gia Chi Lăng ở Châu Đốc.

Quân số và vũ khí năm 1975

  • Đầu năm 1975, ngoài Bộ Tổng tham mưu với các cơ quan, binh chủng và binh sở trong hệ thống quản trị (hành chánh, nhân viên, huấn luyện, chiến tranh chính trị, tiếp vận), Quân lực Việt Nam Cộng hòa còn có các đơn vị yểm trợ tác chiến gồm 4 Bộ tư lệnh Quân đoàn và các đơn vị yểm trợ trực thuộc. Các đơn vị trực tiếp tác chiến gồm:
    • Lục quân: 11 Sư đoàn bộ binh, 1 Sư đoàn Nhảy dù, 1 Sư đoàn Thủy quân lục chiến, Liên đoàn 81 Biệt cách Dù, 17 Liên đoàn Biệt động quân, 4 Lữ đoàn Kỵ binh Thiết giáp, Lực lượng Lôi Hổ và Biệt Hải thuộc Nha Kỹ thuật, các đơn vị Pháo binh biệt lập và Lực lượng Địa phương quân gồm 400 Tiểu đoàn, Nghĩa quân hơn 50.000 quân.
    • Thiết giáp kỵ binh: Có 4 Lữ đoàn Kỵ binh, 18 Thiết đoàn (tương đương Trung đoàn) và 57 Chi đoàn (tương đương Tiểu đoàn) xe tăng Thiết giáp với 383 xe tăng (162 M48A3, 221 M41) và 1.691 Thiết giáp chở quân M-113.
    • Pháo binh: Có 66 Tiểu đoàn và trên 160 Trung đội Pháo binh độc lập với khoảng 1.500 khẩu pháo 105mm, 155mm và một số pháo tự hành 175mm.
    • Không quân. Quân số 60.000, gồm: 1 Bộ tư lệnh Quân chủng với đầy đủ các cơ quan và binh sở yểm trợ, 5 Sư đoàn Không quân tác chiến (20 phi đoàn khu trục cơ, trang bị khoảng 550 phi cơ A-1H, A-37và F-5, 23 Phi đoàn trực thăng, trang bị khoảng 1.000 phi cơ UH-1 và CH-47, 8 Phi đoàn quan sát, trang bị khoảng 200 phi cơ O1, O2 và U17), 1 Sư đoàn vận tải (9 Phi đoàn vận tải, trang bị khoảng 150 phi cơ C7, C-47, C-119 và C-130), 1 Không đoàn tân trang chế tạo, 4 Phi đoàn hỏa long, trang bị phi cơ AC-119, AC-130 Spectre Gunship. Ngoài ra còn có Phi đoàn Trắc giác (tình báo kỹ thuật), Phi đoàn Quan sát RC119L và Biệt đoàn Đặc vụ 314.
    • Hải quân. Quân số hơn 40.000, ngoài các đơn vị yểm trợ hành chánh, nhân viên, huấn luyện, tiếp vận (có Hải quân Công xưởng), gồm 3 Lực lượng tác chiến: (1) Hành quân lưu động sông, với 14 Giang đoàn trang bị khoảng 260 chiến đỉnh; (2) Hành quân lưu động biển với một hạm đội trang bị Tuần dương hạm, Hộ tống hạm, Khu trục hạm, Tuần duyên hạm, Giang pháo hạm, Trợ chiến hạm, Dương vận hạm, Hải vận hạm và Giang vận hạm; (3) các Lực lượng Đặc nhiệm 211 Thủy bộ với 6 Giang đoàn, 212 Tuần thám với 12 Giang đoàn, 214 Trung ương với 6 Giang đoàn, và Liên đoàn Người nhái. Tổng cộng được trang bị khoảng 1.500 tàu xuồng các loại, trong đó có khoảng 700 tàu chiến trên sông và trên biển.

preview

Lục quân​

preview

Thiết giáp kỵ kinh

preview

Pháo binh

preview

Công binh

preview

Không quân

preview

Hải quân

 

  • Năm 1975, theo số liệu từ hồi ký Đại thắng mùa xuân của Đại tướng Văn Tiến Dũng
  • [25], toàn bộ Quân lực Cộng Hòa gồm có 1.351.000 quân, trong đó có 495.000 quân chủ lực, 475.000 quân địa phương, 381.000 quân "Phòng vệ dân sự" có vũ trang, gồm 13 Sư đoàn chủ lực, 17 Liên đoàn biệt động quân.
  • Theo Walter J. Boyne[26], toàn bộ Quân lực Cộng hòa gồm có 750.000 người (chưa kể quân dân vệ), trong đó 229.000 là Lực lượng chiến đấu nòng cốt để chống lại gần 500.000 quân Giải phóng ở miền Nam,bao gồm cả các Lực lượng chính quy và du kích, trong đó có hơn 200.000 bộ đội chính quy mà hơn 80.000 quân đã ở lại miền Nam sau Hiệp định Paris.

Theo đánh giá về trang bị và quân số, Quân lực Cộng hòa có Lục quân và Không quân đứng thứ 4 thế giới, Hải quân đứng thứ 9 thế giới. So với đối thủ là Quân đội Nhân dân Việt Nam, họ có ưu thế 2 lần về quân số, 4 lần về xe tăng và đại bác, hơn tuyệt đối về Không quân và Hải quân.

Những điểm yếu về Lực lượng

Nữ quân nhân thuộc lực lượng Nhân dân Tự Vệ ở Kiến Điền, Bến Cát, Bình Dương tuần tra chống quân du kích Quân Giải phóng miền Nam thời kỳ chiến tranh.

Tuy trang bị hùng hậu, song thực tế tác chiến cho thấy khi không còn quân Mỹ hỗ trợ, quân đội này thường thất trận khi đối đầu với chủ lực của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Chỉ sau gần 2 tháng của Chiến dịch Mùa Xuân 1975, Quân lực Việt Nam Cộng Hòa với hơn 1,2 triệu quân hoàn toàn bị tiêu diệt hoặc tan rã. Các nhà nghiên cứu đã liệt kê một số nguyên nhân để lý giải cho sự sụp đổ to lớn và toàn diện này.

  • Theo nhà nghiên cứu quân sự Nguyễn Đức Phương trong bài viết "Việt Nam Cộng hòa 1975, nguyên nhân sụp đổ" thì một trong các nguyên nhân Quân lực Cộng hòa thất bại là vì được "tổ chức rập khuôn theo lối Mỹ, một lính tác chiến có năm người yểm trợ như tiếp liệu, quân nhu, quân y, hành chính… nên trên thực tế lính tác chiến chưa tới 200 ngàn người, thành phần không tác chiến (non combatant) chiếm khá nhiều, Địa phương quân và Nghĩa quân chỉ đủ sức cầm cự chờ lính bộ binh của Sư đoàn". Lối đánh này sử đụng tối đa hỏa lực nên vô cùng tốn kém, đòi hỏi phải cung cấp dồi dào về vũ khí đạn dược. Mỗi năm Quân lực Cộng hòa cần hơn 3 tỷ đôla viện trợ mới đủ để duy trì sức chiến đấu, trong khi Quân đội Nhân dân Việt Nam chỉ cần khoảng 300 triệu đôlađủ để củng cố lực lượng. Kết quả tất yếu là khi bị Mỹ giảm viện trợ, nhiều máy bay, xe tăng, tàu chiến… thiếu cơ phận thay thế đã trở thành bất khiển dụng. Hỏa lực Không quân giảm 60% so với năm 1972. Dự trữ đạn dược tuy còn tới gần 2 triệu tấn (gấp 15 lần đối phương), nhưng nếu tiêu tốn nhanh như chiến thuật mà Mỹ áp dụng thì chỉ đủ đánh cho tới tháng 6 năm 1975.
  • Tuy Quân lực Việt Nam Cộng hòa có ưu thế số lượng nhưng về mặt phẩm chất vũ khí không có ưu thế. Xe tăng chỉ có M48 Patton tương đương với T-54, pháo 155 và 105 ly tầm viễn xạ tối đa chỉ được 15 và 11 cây số, ngang với pháo 122 ly cấp Sư đoàn của Quân đội Nhân dân Việt Nam, pháo 175 ly thì không có nhiều. Hơn nữa do phải chiến đấu nhiều năm trong điều kiện bị áp đảo về hỏa lực nên Quân đội Nhân dân Việt Nam có kinh nghiệm hơn hẳn về ngụy trang và phản pháo, trong khi Quân lực Việt Nam Cộng hòa vì quen dựa dẫm vào yểm trợ hỏa lực của Mỹ nên thường bị lúng túng khi phải tự lực chiến đấu. Các tướng lĩnh Mỹ đã nhận xét: "Hiệu quả chiến đấu của Quân lực Việt Nam Cộng hòa không đều, họ đứng vững được bởi sự trợ giúp của các cố vấn Mỹ và hỏa lực yểm trợ mạnh mẽ của Mỹ từ trên không... Điểm yếu nội tại trong cấu trúc chỉ huy là họ tỏ ra quá phụ thuộc vào yểm trợ hỏa lực của Mỹ"[27][28].
  • Về chiến lược quân sự, Quân lực Việt Nam Cộng hòa thiếu sự ủng hộ của nhân dân (nhất là ở nông thôn)[29], trong khi đó Quân đội Nhân dân Việt Nam lại áp dụng hiệu quả chiến lược chiến tranh nhân dân, do đó Quân lực Việt Nam Cộng hòa bị dồn ép liên tục, phải trải quân khắp nơi để giữ đất. Toàn bộ 13 Sư đoàn và 17 Liên đoàn Biệt động quân (tương đương với hơn 6 sư đoàn) phải bảo vệ 44 tỉnh, tính trung bình một tỉnh chỉ được hơn một Trung đoàn bảo vệ. Trong khi đó Quân đội Nhân dân Việt Nam do nắm thế chủ động chiến lược có thể tập trung hơn 10 Trung đoàn để đánh một tỉnh như tại Ban Mê Thuột tháng 3-1975.
Một cố vấn Mỹ và binh lính Việt Nam Cộng hòa
  • Nạn tham nhũng làm hao mòn trang bị và sức chiến đấu của quân đội: như cả nửa triệu tấn gạo biến mất khỏi các kho lương thực trong năm 1967. Súng cũng được tuồn ra bán với giá 25-30 đôla một khẩu. Nếu ai muốn mua một xe bọc thép hoặc một máy bay lên thẳng thì việc đó cũng có thể dàn xếp được. Hồi ký Nguyễn Cao Kỳ nêu trường hợp Tư lệnh đồng bằng sông Cửu Long đã lấy cắp 8.000 đài vô tuyến và 24.000 vũ khí cá nhân do Hoa Kỳ trang bị và sớm tiêu thụ hết sạch sành sanh, tài liệu mật từ Tòa đại sứ Mỹ cho biết phần lớn số đó đã lọt vào tay quân Giải phóng[30]
  • vấn đề quan trọng nhất vẫn là tổ chức và con người. Tại một nước có truyền thống Nho giáo như Việt Nam, các nhà lãnh đạo phải thể hiện được lối sống đạo đức và tài năng của bản thân trong một tập thể chung. Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và các nhà lãnh đạo của họ thể hiện được lý tưởng hết sức quan trọng này. Ngược lại, Chính phủ Việt Nam Cộng hòa thì không ngừng tham gia vào các âm mưu chính trị, tham nhũng quá nhiều, và thiếu ổn định, do đó làm sụt giảm sự ủng hộ và làm xói mòn tinh thần của binh sĩ Quân lực Việt Nam Cộng hòa. Nạn đào ngũ là một vấn đề nghiêm trọng đối với Việt Nam Cộng hòa. Từ năm 1965 đến năm 1972, ước tính có khoảng 840.000 binh sĩ đã đào ngũ. Riêng từ tháng 4 tới tháng 12/1974, có 176.000 lính đào ngũ. Tại các lực lượng tinh nhuệ của Quân Lực Việt Nam Cộng hòa, Biệt động quân có tỷ lệ đào ngũ lớn nhất (55%), tiếp theo là các đơn vị dù (30%) và Thủy quân Lục chiến (15%). TRONG KHI ĐÓ, QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM ĐÃ DUY TRÌ MỘT LỢI THẾ TÂM LÝ MẠNH MẼ, VỚI NHỮNG NGƯỜI LÍNH TRÀN ĐẦY TINH THẦN SẴN SÀNG HY SINH MỤC ĐÍCH CÁ NHÂN ĐỂ CỐNG HIẾN CHO NỖ LỰC CHIẾN TRANH CỦA TẬP THỂ.[31]

Theo William Colby, người từng đứng đầu tổ chức tình báo CIA tại Việt Nam Cộng hòa thì Quân lực VNCH "Được huấn luyện theo chiến thuật Hoa Kỳ, thì nay họ lại phải vận dụng chiến thuật ấy trong điều kiện thiếu thốn đạn dược, máy bay khác hẳn những gì họ đã học" và "giới quân sự Nam Việt Nam trước viễn cảnh của một trận chiến đấu cuối cùng đầy tuyệt vọng, đã bắt đầu quan tâm nhiều đến sự sống còn của gia đình mình hơn là quan tâm đến lợi ích chung"[32]. Ký giả Alan Dawson nhận xét: Đội quân này trang bị vũ khí tốt hơn bất kỳ nước châu Á nào khác, có nhiều máy bay chiến đấu, có nhiều đạn dược, xăng dầu, quân cụ, xe cộ và lương thực hơn hầu hết các quân đội trên thế giới. Nó chỉ thiếu mỗi một điều thôi. Một người Mỹ nói với một binh sĩ Sài Gòn rằng: Chúng tôi đã cho anh mọi thứ anh cần, trừ sự dũng cảm. Chỉ tại anh không có thứ ấy. [33]

Ngay sau thất bại trong chiến dịch Đường 14 - Phước Long (tháng 2/1975), cố vấn Mỹ John Pilger đã tiên liệu chính xác rằng sự sụp đổ của QLVNCH sẽ sớm diễn ra. Ông viết:

Sài Gòn đang sụp đổ trước mắt, một Sài Gòn được người Mỹ hậu thuẫn, một thành phố được coi là "thủ đô tiêu dùng" nhưng chẳng hề sản xuất được một mặt hàng nào ngoài chiến tranh. Trong hàng ngũ của quân đội lớn thứ tư thế giới vào thời điểm đó, binh lính đang đào ngũ với tốc độ cả nghìn người trong một ngày...[34]

Năm 2005, khi về Việt Nam và trả lời phỏng vấn của báo Thanh Niên, Tướng Nguyễn Cao Kỳ, nguyên Phó Tổng thống kiêm tư lệnh Không quân Việt Nam Cộng hòa nhận định rằng:

"Mỹ luôn luôn đứng ra trước sân khấu, làm "kép nhất". Vì vậy ai cũng cho rằng đây là cuộc chiến tranh của người Mỹ và chúng tôi là những kẻ đánh thuê.
Tôi biết rất rõ ràng về cái gọi là những người chỉ huy, những ông tướng lĩnh miền Nam khi ấy. Từ ông Thiệu đến những ông khác dưới trướng, xin lỗi, toàn là những vị ăn chơi phè phỡn, tài không có mà đức cũng không. Trước đây có "ông" Mỹ đứng sau thì không có chuyện gì, nhưng khi phải một mình trực tiếp đối diện với khó khăn thì bản chất cũng như tài năng lộ ra ngay.
Trong một cuộc chiến, nói gì thì nói, theo tôi quan trọng nhất vẫn là Lực lượng, là Quân đội. Quân đội miền Nam, không có ai đáng giá cả, kể từ ông Nguyễn Văn Thiệu - Tổng thống kiêm Tổng tư lệnh - trở xuống. Trong số những vị cùng vai với tôi, cứ mười ông thì đến mười một ông tham sống sợ chết! Trong khi đó, miền Bắc các chỉ huy lại có rất nhiều kinh nghiệm chiến trường, được cấp dưới tin cậy và kính trọng về nhân cách, đó là sự hơn hẳn.[35]

Tan rã

Trực thăng UH-1 của Việt Nam Cộng Hòa bị ném xuống biển sau khi di tản ra tàu sân bay Mỹ
  • Tháng 3 năm 1975, sau khi Phước Long và Ban Mê Thuột thất thủ, Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh tái phối trí, rút bỏ Quân khu 1 và 2, dồn toàn quân về Quân khu 3 và 4 chống giữ. Cuộc rút quân tái phối trí hoàn toàn thất bại. Cuối tháng 4, ông Thiệu từ chức, các tướng tá tháo chạy, và trong vòng 55 ngày, toàn bộ Quân lực Việt Nam Cộng hòa đã tan rã, chủ yếu vì suy sụp tinh thần và thiếu lãnh đạo.
  •  
  • Trận giao tranh cuối cùng của Quân lực Việt Nam Cộng hòa ngoài vòng đai Sài Gòn xảy ra tại Xuân Lộc, do Sư đoàn 18 bộ binh, dưới sự chỉ huy của tướng Lê Minh Đảo, và Lữ đoàn 1 Nhảy dù, dưới sự chỉ huy của Trung tá Nguyễn Văn Đỉnh. Sau trận này Lê Minh Đảo bị đối phương bắt và phải đi cải tạo.
  • Trận giao tranh cuối cùng của Quân lực Việt Nam Cộng hòa trong thành phố Sài Gòn xảy ra tại bản doanh Bộ Tổng tham mưu Quân lực Việt Nam Cộng Hòa, do Liên đoàn 81 Biệt kích dù, dưới sự chỉ huy của chỉ huy trương Biệt đội 3 Chiến thuật, Thiếu tá Phạm Châu Tài.
  • Lực lượng tan rã và đầu hàng sau cùng của Quân lực Việt Nam Cộng hòa là Liên đoàn 81 Biệt cách Dù, dưới sự chỉ huy của chỉ huy trưởng Liên đoàn 81 Biệt cách Dù, Đại táPhan Văn Huấn.

Sau năm 1975, hơn 200.000 quân nhân và nhân viên chính phủ Việt Nam Cộng hòa bị bắt và phải đi các trại cải tạo của chính quyền mới[36]. Con số 200.000 cũng được Jean Louis Margolin nói đến theo xác nhận của Phạm Văn Đồng. Cũng có một quân số tương đương như vậy chạy trốn ra nước ngoài bằng tàu hoặc trực thăng. Một số quân nhân khác thì lại được gọi nhập ngũ và phục vụ trong Quân đội Nhân dân Việt Nam, với nhiệm vụ sửa chữa, bảo trì các loại vũ khí của Mỹ mà Quân đội Nhân dân Việt Nam thu được để tái sử dụng trong Chiến tranh biên giới Tây Nam.

 

googletienlang2014.blogspot.com

CỜ VÀNG VÀ BỐN PHIÊN BẢN TRONG LỊCH SỬ

 

Lời dẫn: Lá cờ vàng đã bị ném vào sọt rác theo cả nghĩa bóng lẫn nghĩa đen. Thế nhưng, ở bài  Video clip: Nguyễn Quang A và Giấc mơ phục dựng cờ ba que khi tự ứng cử ĐBQH bị người dân khu phố phản đối vần còn một vài bạn đọc cố ra sức ca tụng cờ vàng ba sọc là "Long linh kì của dân tộc"! Vì lý do đó, có một số bạn đọc khác đề nghị  Google.tienlang chép lại ý kiến về lịch sử lá cờ vàng ba sọc của chị Lê Hương Lan- Trưởng Nhóm Biên tập khi tranh luận với một cụ cờ vàng chính hiệu trên fb tại stt Thư giãn: CHUYỆN CỜ VÀNG BỊ VỨT VÀO SỌT RÁCthành một bài độc lập trên Google.tienlang. Xin nói thêm, đây là 1 stt của anh Bao Bất Đồng.

Dưới đây, Google.tienlang sẽ thực hiện yêu cầu này của bạn đọc.

**********************

Nam nhi đại trượng phu đầu đội trời chân đạp đất , ai chí lớn ôm mộng bá vương thì xưng hùng xưng bá , ai không muốn làm rồng làm cọp thì chọn minh chủ mà thờ. Nam nhi có được tôn trọng hay không là ở chỗ chọn và thờ minh chủ. Có thề lựa chọn minh chủ sai lầm nhưng gã nam nhi ấy vẫn đáng nể trọng nếu trung dũng. Thời loạn lạc , nam nhi có thể chọn sai minh chủ một lần cũng không ai trách , còn cái hạng đổi chủ như thay quần kiểu Lã Bố thì coi như thua toàn tập . Lã Bố là tay phản trắc nhưng ít ra cũng có tài oánh trận còn loại phản trắc mà bất tài thì ….


I. Bèo dạt mây trôi.

Dưới thời Pháp thuộc , tổ tiên cờ Vàng gọi nước Pháp là “mẫu quốc”.. Lá cờ vàng phiên bản 1.0 được đẻ ra bởi vua Thành Thái vào 1890.

Tới khi “mẫu quốc” chán dùng cờ vàng (1916) thì nó được xếp xó thay vào đó là cờ Long Tinh.

Cờ quạt nào đi nữa nó cũng phải nằm dưới đít cờ Tam Tài , và cũng chẳng ảnh hưởng gì đến tinh thần phụng sự mẫu quốc của các nhà “ái cuốc” Ngô Đình Khả , Nguyễn Hữu Bài ,Ngô ĐÌnh Diệm….

Ngày 11/3/1945 ông vua Bù nhìn Bảo Đại được Đại Sứ Nhật Yokohama đến báo cho biết Việt Nam đã được độc lập. Ông vua hào hoa phóng đãng bỡ ngỡ vì cục “độc lập” trên trời rơi xuống. Ngày 17/4/1945, ông Trần Trọng Kim thành lập chính phủ “ĐẾ QUỐC VIỆT NAM” phục vụ cho quyền lợi của người Nhật. Và một lần nữa Cờ Vàng được sử dụng, đây là phiên bản 2.0 (Ngày hôm nay , các anh cờ vàng một mực khăng khăng chính phủ Trần Trọng Kim là độc lập rồi , quần chúng và Đảng Cộng sản mần cách mạng tháng 8 là cướp quyền ông Trần Trọng Kim mà thôi ).Cờ vàng nhận chủ mới được vỏn vẹn hơn trăm ngày thì khai tử vì Bảo Đại thoái vị (30//8/1945) trao quyền hành lại cho Việt Minh .

Sau chiến tranh thế giới lần thứ hai thì “mẫu cuốc” tái chiếm Việt Nam. Ngày 7/12/1947 , “Quốc Gia Việt Nam” ra đời trên …..chiến hạm ở vịnh Hạ Long với Bảo Đại là quốc trưởng. Cờ Vàng lại trở về với chủ cũ, lần này là cờ vàng phiên bản 3.0. Túm cái váy lại là chỉ riêng ông Vua Bảo Đại đã làm vua tới 3 lần , phụng sự hai ông chủ , xài hai phiên bản cờ Vàng , một cờ Long Tinh.

Sau hiệp định Geneve , Mỹ hất cẳng Pháp khỏi Đông Dương, Ông Ngô ĐÌnh Diệm , tôi trung của Bảo Đại năm nào truất phế đại ca lên làm Tổng Thống , các anh lính khố xanh khố đỏ hoan hỉ đốt lon lá kiểu Pháp, thay bằng lon lá kiểu Mỹ .Cờ Vàng thêm lần nữa đổi chủ , gọi là cờ vàng phiên bản 4.0, là quốc kì VNCH. Ông Đại Thần Phản trắc Ngô ĐÌnh Diệm có lần nguyện dâng Miền Nam( VNCH) cho Chúa. May mà ông ta chết sớm , nếu không danh sách chủ của cờ vàng còn dài ra.

Như vậy Cờ Vàng ra đời dưới thời Pháp thuộc và nhiều phen được xài rồi cất , cất rồi xài, đổi chủ liên miên . Những con người đứng dưới lá cờ vàng cũng đổi chủ phà phà .cho nên lá cờ này cũng chẳng có lý tưởng gì sất, và nó cũng chẳng dính dáng gì đến nhân dân Việt Nam ,nó được đẻ ra bởi một ông vua 18 tuổi trong vòng kiềm chế của người Pháp và được xài đi xài lại theo ý muốn của ngoại bang.  

 

II. Nói Chiến tranh Việt Nam là nội chiến để giải quyết khâu oai.
Có lần trên forum của cờ vàng Cali, có người hỏi mấy ảnh một câu “Là người Việt Nam, các bạn có tự hào về hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ hay không ? Các bạn chỉ được trả lời có hay không”. Các anh ấy phán rằng “ Câu hỏi này không thể trả lời có hay không bởi vì chúng tôi chỉ tự hào về kháng chiến chống Pháp mà thôi,giai đoạn 54-075 là nội chiến , có gì mà tự hào ”.

Trong kháng chiến chống Pháp , dân Cờ Vàng đóng góp cái chi mà họ họ tự hào ? Hàng ngũ tướng lĩnh QLVNCH có ai từng cầm súng chống Pháp hay không? Trong khi cả dân tộc đổ máu chống Pháp giành lại độc lập thì cờ vàng lại gia nhập Quân Đội Quốc Gia Việt Nam , làm tay sai cho Pháp , bắn vào chính đồng bào của mình . Những nhân vật Cờ vàng nổi trội sau này làm lớn trong VNCH toàn xuất thân từ lính khố xanh khố đỏ cả. Thống Tướng Lê Văn Tỵ, Đại Tướng Dương Văn Minh, Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu, Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ, Đại Tướng Cao Văn Viên, Thiếu Tướng Phạm Văn Phú…. Danh sách này dài dằng dặc .Rặt những anh ăn lương Pháp, cầm súng Pháp bắn vào đồng bào . Với người Pháp hay người Mỹ thì nhân dân Việt Nam muốn họ cuốn xéo đi . Quân đội QGVN và QLVNCH một mực bám váy Pháp- Mỹ , chiến đấu đề người Pháp- Mỹ ở lại mảnh đất này . Vai trò của QĐ QGVN và QLVNCH không có gì khác nhau .Thậm chí cách bú mớm để sống cũng y chang nhau . Trong cả hai cuộc kháng chiến người Việt Nam xem ngoại bang là đối thủ trọng yếu , chỉ xem QĐ QGVN và QLVNCH là tay sai ăn theo ngoại bang . Thời kháng chiến có bao nhiêu là khẩu hiệu “chống Pháp- chống Mỹ” , chả ai đếm xỉa gì đến 2 quân đội này
Vậy tại sao cờ vàng không gọi Kháng Chiến Chống Pháp là nội chiến dù rằng Quốc Gia Việt NamVNCH khác chủ chứ không khác bản chất ? họ cứ khăng khăng Kháng chiến chống Mỹ‘NỘI CHIẾN” vì cái gì ? Nói toạc móng heo là để giải quyết khâu oai. Bởi vì gốc gác dân cờ vàng là tay sai chứ chưa một lần được tự quyết,có tư cách , có chính nghĩa, dân cờ vàng số phận long đong bèo dạt mây trôi y chang như lá cờ vàng vậy .Họ gọi Kháng Chiến chống Mỹ là Nội Chiến nghĩa là nâng tầm QLVNCH ngang với QĐND và Mặt trận DTGP Miền Nam, oai ra phết ấy chứ , sẽ chùi được cái nhãn tay sai in trên trán , sẵn tiện xóa luôn tội phản quốc .

III. Về đâu em hỡi?

Lịch sử Cờ Vàng tóm tắt ngắn gọn là có bốn phiên bản, qua vài lần make up chút đỉnh, được đổi chủ nhiều lầnluôn nằm dưới đít các quốc kỳ ngoại bang . Cho tới những ngày cuối cùng của năm con Ngựa thì đứa con tinh thần của vua Thành Thái vẫn tung bay ở Mỹ, được xếp ngang hàng cùng cờ của hội chim cảnh , hội chó cảnh Huê Kỳ. Mới đây thì Bộ Ngoại giao Mỹ tuyên bố không công nhận lá cờ này là cờ của cộng đồng người Việt Ở Mỹ, không biết rồi cờ vàng sẽ đi đâu về đâu. Sự thật , lá cớ đó đã chết vào trưa 30-4-1975 rồi , chỗ của nó là bảo tàng lịch sử chứ không phải là công cụ thẩm du tinh thần của một số người.

 


Bao Bất Đồng

 

Lịch sử Quân lực Việt Nam Cộng hòa

QLVNCH

Quân lực Việt Nam Cộng hòa

Binh chủng
Lục quân
Hải quân
Không quân
Dấu hiệu/Cấp bậc
Quân hàm
Phù hiệu các đơn vị
Hiệu kỳ các đơn vị
Lịch sử
Tiến trình phát triển
Các đại đơn vị
Các tướng lãnh

vi.wikipedia.org

Lịch sử Quân lực Việt Nam Cộng hòa bắt đầu từ cuối thập niên 1940 với tư cách là các đơn vị người Việt phục vụ trong Quân đội Pháp tại Đông Dương. Sự tồn tại của quân đội này kéo dài đến 30 tháng 4 năm 1975.

 

Giai đoạn tiền thân (1948-1954)

Trong suốt thời gian chiếm đóng Đông Dương, Quân đội Pháp có những người Việt phục vụ trong quân đội để đáp ứng nhu cầu chiến trường. Các quân nhân này được đào tạo theo quy chế Pháp và đại đa số là binh lính, hạ sĩ quan với một số rất ít sĩ quan.

Năm 1948: Với sự hỗ trợ của Quân đội Pháp, Chính phủ Quốc gia Việt Nam thành lập trường sĩ quan Quốc gia Việt Nam tại Huế.

Năm 1949: Dời trường sĩ quan Quốc gia Việt Nam về Đà Lạt và hợp lại với trường Võ bị Liên quân Viễn đông Đặc biệt của Pháp, lấy tên mới là Trường Võ bị Liên quân Đà Lạt, đào tạo sĩ quan Việt Nam cho Quốc gia Việt Nam (năm 1959, trường này cải danh thành Trường Võ bị Quốc gia Đà Lạt, đến năm 1965 (từ khoá 22b), trường cải tổ chương trình huấn luyện lên đến 4 năm).

Năm 1950: Quốc gia Việt Nam và Pháp ký Hiệp định quân sự thành lập Quân đội Quốc gia Việt Nam bằng cách đặt một số đơn vị quân đội Pháp tại Việt Nam dưới quyền chỉ huy của Quốc gia Việt Nam. Quốc hội Pháp thông qua dự luật thành lập một Quân đội cho Quốc gia Việt Nam trong Liên hiệp Pháp với quân số 60.000 người. Cùng năm 1950, Quốc gia Việt Nam thành lập Trường Sĩ quan Trừ bị Thủ Ðức và Nam Định.

Năm 1952: Quốc trưởng Bảo Đại ra sắc lệnh chính thức thành lập Bộ Tổng tham mưu Quân đội Quốc gia Việt Nam vào ngày 1 tháng 5 năm 1952, đặt trụ sở tại số 1 đường Galiéni, Sài Gòn (sau năm 1955 là đường Trần Hưng Đạo).

Năm 1953: Thành lập Trung tâm Huấn luyện Quán Tre (sau là Trung tâm Huấn luyện Quốc gia Quang Trung) đào tạo binh sĩ các ngành.

Năm 1954: Quân số đạt khoảng 200.000 người, thuộc các Binh chủng Bộ binh, Nhảy dù, Thiết giáp, Pháo binh, Truyền tin, Công binh, Quân vận, Không quân, Hải quân, với tổ chức như sau:

  • Bộ binh: gồm 67 Tiểu đoàn
  • Công binh: 6 Đại đội
  • Không quân: 2 Phi đoàn quan sát trợ chiến, 39 phi cơ quan sát, vận tải cơ, Morane Saulnier phi cơ Pháp, Cessna L19, C45 và C47 do Hoa Kỳ cung cấp.
  • Nhảy dù: 5 Tiểu đoàn (cuối năm 1954, các Tiểu đoàn này được tổ chức thành Liên đoàn).
  • Pháo binh: 5 Tiểu đoàn 150 mm
  • Quân vận: 6 Đại đội
  • Thiết giáp: 1 Trung đoàn thám thính, 5 Chi đội chiến xa biệt lập, 1 Trung tâm Huấn luyện
  • Truyền tin: 6 Đại đội
  • Hải quân: 3 Hải đoàn xung phong, 3 Liên đoàn tuần giang, 1 Lực lượng Biệt kích không rõ quân số trang bị hai loại trung vận đĩnh (LCM—Landing Craft Medium) và tiểu vận đĩnh (LCVP—Landing Craft Vehicle And Personnel) do Hoa Kỳ cung cấp năm 1950. Lực lượng Biệt kích nầy sau Hiệp định Geneva, dời vào Nam đổi tên là Hải quân bộ binh, và là tiền thân của Binh chủng Thuỷ quân Lục chiến sau này.

Giai đoạn Đệ nhất Cộng hòa (1955-1963)

Năm 1955: Sau khi Quốc trưởng Bảo Đại bị truất phế, Thủ tướng Ngô Đình Diệm tuyên bố thành lập Việt Nam Cộng hòa, và Quân đội Quốc gia Việt Nam từ đó cải danh là Quân đội Việt Nam Cộng hòa. Cùng năm này, Bộ Tổng tham mưu không còn tuỳ thuộc hệ thống chỉ huy của Pháp. Binh chủng Không quân tiếp nhận căn cứ Nha Trang và đổi tên thành Căn cứ Trợ lực Không quân số 1. Pháo binh thành lập thêm các Tiểu đoàn 6, 12, 32, 34. Hải quân được trang bị 24 chiến hạm, hơn 110 chiến đỉnh, tổ chức thành 5 Hải đoàn và 1 Hải lực.

Năm 1956: Bộ Tổng tham mưu dời vào trại Trần Hưng Đạo, gần cổng vào phi trường Tân Sơn Nhất, và bắt đầu cải tiến toàn bộ cơ cấu tổ chức. Các Tiểu đoàn bộ binh được tổ chức lại thành 4 Sư đoàn dã chiến (1, 2, 3, 4) và 6 Sư đoàn khinh chiến (11, 12, 13, 14, 15, 16). Mỗi Sư đoàn khoảng hơn 5.000 người. Pháo binh có thêm Tiểu đoàn 23, 25, 34. Tiểu đoàn 34 là đơn vị đầu tiên được trang bị đại bác 155 mm. Cùng năm này, mỗi Sư đoàn bộ binh được trang bị thêm 2 Tiểu đoàn pháo binh với 18 khẩu 105 mm. Không quân tiếp nhận thêm căn cứ Tân Sơn Nhất và căn cứ Biên Hòa. Cả hai đổi thành Căn cứ Trợ lực Không quân số 2 và số 3. Hải quân bắt đầu tiếp nhận tàu chiến từ Hải quân Hoa Kỳ gồm 31 chiến hạm với 193 chiến đỉnh.

Năm 1957: Thành lập Binh chủng Lực lượng Đặc biệt, huấn luyện sĩ quan và hạ sĩ quan tại trường Biệt động đội ở Đồng Đế (tiền thân của Trường Hạ sĩ quan Quân lực Việt Nam Cộng hòa), và đơn vị đầu tiên mang tên Liên đội Quan sát Số 1.

  • Ngày 1 tháng 6 thành lập Bộ tư lệnh Quân đoàn I (phạm vi Đệ nhị Quân khu cũ) tại Đà Nẵng với trách nhiệm bảo an lãnh thổ các tỉnh duyên hải miền Trung từ Quảng Trị vào tới Quảng Ngãi.
  • Ngày 1 tháng 10 thành lập Bộ tư lệnh Quân đoàn II (phạm vi Đệ tam và Đệ tứ Quân khu cũ) tại Ban Mê Thuột (năm 1962 dời lên Pleiku) với trách nhiệm bảo an lãnh thổ các tỉnh cao nguyên Trung phần từ Kontum tới Lâm Đồng và các tỉnh duyên hải nam Trung phần từ Bình Định tới Bình Thuận.

Năm 1958: Quân số Không quân tăng lên thành 7 Phi đoàn, gồm: 1 Phi đoàn khu trục, 2 Phi đoàn liên lạc, 2 Phi đoàn vận tải, 1 Phi đoàn trực thăng, và 1 Phi đoàn đặc vụ. Đầu tháng 12 cuối năm, cải tổ các Sư đoàn dã chiến số 1, 2, 3, 4 và 6, các Sư đoàn khinh binh số 11, 12, 13, 14, 15 và 16 được cải tổ thành 7 Sư đoàn bộ binh số 1, 2, 5, 7, 21, 22 và 23 với quân số mối Sư đoàn là 10.500 người.

Năm 1959: Ngày 1 tháng 3 thành lập Bộ tư lệnh Quân đoàn III tại Biên Hòa với trách nhiệm bảo an các tỉnh gồm miền đông (phạm vị Đệ nhất Quân khu) và miền tây Nam phần (phạm vi Đệ ngũ Quân khu) từ Bình Tuy (Hàm Tân) xuống tới An Xuyên (Cà Mau).

Năm 1960: Binh chủng Biệt động quân được thành lập với 50 Đại đội và bắt đầu hoạt động sâu trong vùng kiểm soát của Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam.

Năm 1961: Binh chủng Lực lượng Đặc biệt cải danh Liên đội quan sát số 1 thành Liên đoàn 77 Lực lượng Đặc biệt. Cùng năm 1961, Không quân được trang bị nhiều loại phi cơ, nhất là khu trục cơ AD6, trực thăng chiến đấu H34.

Năm 1962: Liên đoàn Nhảy dù gồm các Tiểu đoàn (nguyên là các đơn vị thuộc địa của Pháp) được phát triển thành Lữ đoàn nhảy dù gồm 7 Tiểu đoàn Nhảy dù 1, 3, 4, 5, 6, 7, 8. Liên đoàn 31 Lực lượng Đặc biệt được thành lập. Các đơn vị Không quân tác chiến và yểm trợ tác chiến được tăng lên cấp Không đoàn tại mỗi Quân đoàn, với các Không đoàn như sau: Không đoàn 41 (Đà Nẵng), Không đoàn 62 (Pleiku), Không đoàn 23 (Biên Hòa), Không đoàn 33 (Tân Sơn Nhất), Không đoàn 74 (Cần Thơ). Cũng trong năm này, Liên đoàn Thuỷ quân Lục chiến được cải danh thành Lữ đoàn và tách rời khỏi Hải quân. đồng thời thành lập thêm Sư đoàn 9 và 25 bộ binh, nâng tổng số Lực lượng bộ binh lên thành 9 Sư đoàn.

Năm 1963: Ngày 1 tháng 1 thành lập Bộ tư lệnh Quân đoàn IV tại Cần Thơ với trách nhiệm bảo an các tỉnh thuộc miền tây Nam phần.

Giai đoạn Đệ nhị Cộng hòa (1963-1975)

Thiết giáp M41 của Quân lực trang bị pháo 76 mm

Năm 1963: Binh chủng Thiết giáp được trang bị thiết vận xa M113 và M114, 4 Trung đoàn Kỵ binh Thiết giáp với thám thính xa M8, chiến xa M24, và 1 Liên đoàn thủy xa. Binh chủng Biệt động quân tăng quân số lên đến 86 Đại đội, và thành lập thêm các Bộ chỉ huy Tiểu đoàn bên cạnh các Bộ Tư lệnh Quân đoàn/Vùng chiến thuật, với các phiên hiệu 11, 21, 22, 31, 32, 33, và 41.

Năm 1964: Hải quân tiếp nhận tàu chiến từ Hải quân Hoa Kỳ, gồm 9 chiến hạm loại lớn và hằng trăm ghe bằng sợi thủy tinh gắn máy Yabuta thay ghe buồm của Lực lượng Hải thuyền. Đến 1967 đợt trang bị nầy mới kết thúc. Binh chủng Thiết giáp được tân trang chiến xa M41 thay thế chiến xa M24, và thám thính xa V100 thay thế thám thính xa M8. Cùng năm 1964, Liên đoàn 77 Lực lượng Đặc biệt đổi danh thành Liên đoàn 301 Lực lượng Đặc biệt.

Năm 1965: Liên đoàn 301 và 31 Lực lượng Đặc biệt bị giải tán để sắp xếp lại và chính thức gọi là Binh chủng Lực lượng Đặc biệt, gồm một Bộ Tư lệnh, một Đại đội Tổng hành dinh, một Trung tâm Huấn luyện, và 4 Bộ chỉ huy ở 4 Quân khu. Mỗi Bộ chỉ huy có một số Đại đội và mỗi Đại đội có một số toán (quân số mỗi toán khoảng 12 người). Tổng cộng quân số Lực lượng Đặc biệt vào khoảng 5.000 trong thời điểm đó. Lữ đoàn Nhảy dù phát triển thành Sư đoàn Nhảy dù gồm các Lữ đoàn 1, 2 và 3, trong đó mỗi Lữ đoàn có 3 Tiểu đoàn gồm các Tiểu đoàn: 1, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9 và 11. Mỗi Lữ đoàn được trang bị thêm 1 Tiểu đoàn Pháo binh với đại bác nhẹ 105 mm (Tiểu đoàn 1, 2 và 3 Pháo binh Nhảy Dù). Mỗi Tiểu đoàn Nhảy dù được trang bị thêm 1 Đại đội vũ khí nặng gồm cối 60 mm, súng không giật SKG 90 mm, và trung liên M60. Các cá nhân được trang bị súng tự động AR-15, (tiền thân súng M-16). Thời điểm này các đơn vị dù bắt đầu chuyển quân theo chiến thuật trực thăng vận của Hoa Kỳ, ít còn nhảy dù bọc gió loại cổ điển vào vùng chiến thuật. Cũng trong năm này thành lập Sư đoàn thứ 10 trong Lực lượng bộ binh với phiên hiệu là Sư đoàn 10 (đến năm 1967 cải danh thành Sư đoàn 18 bộ binh). Cũng trong năm này cải danh Quân đội Việt Nam Cộng hòa thành Quân lực Việt Nam Cộng hòa.

Bác sĩ người Mỹ trong chương trình MEDCAP và 1 binh sĩ người Việt Nam. Hình chụp tại 1 ngôi làng nhỏ ở miền Nam

Năm 1967: Không quân được 1 Phi đoàn khu trục trang bị phản lực cơ F5. Phiên hiệu của các đơn vị Không quân được cải tổ, xếp thành 3 số. Theo đó, số hàng trăm để chỉ công dụng của đơn vị, như: Số 1 là Phi đoàn liên lạc, số 2 là trực thăng, số 3 là đặc vụ, số 4 là vận tải, số 5 là khu trục, số 7 là quan sát, số 8 là hỏa long, và số 9 là huấn luyện.

Năm 1968: Sau Sự kiện Tết Mậu Thân, Hoa Kỳ bắt đầu áp dụng chương trình tối tân hóa quân sự. Đầu tiên là Lực lượng Tổng trừ bị, dần dần đến toàn bộ chủ lực quân được tân trang quân trang quân dụng, sử dụng súng trường tự động M-16.

Năm 1971: Ngày 1 tháng 10 thành lập thêm Sư đoàn bộ binh thứ 11 với phiên hiệu là Sư đoàn 3.

Năm 1973: Sau Hiệp định Paris, Hoa Kỳ bắt đầu áp dụng chương trình "Việt Nam hóa chiến tranh", rút quân ra khỏi việt Nam và bàn giao toàn bộ quân dụng lại cho Quân lực Việt Nam Cộng hòa, chủ yếu nhằm tiếp tục phát triển Hải quân, Không quân, Pháo binh và Thiết giáp. Hoa Kỳ vẫn tiếp tục cung cấp đạn dược vũ khí, nhưng bắt đầu từ tài khóa 1974-1975, nguồn viện trợ cạn dần và đến đầu năm 1975 thì đi dến tình trạng thiếu hụt trầm trọng.

Cuối năm 1974 và đầu năm 1975, Binh chủng Biệt động quân thành lập thêm thêm Liên đoàn 8 và 9 (đặt thành các đơn vị Tổng trừ bị cho Bộ Tổng tham mưu).

Năm 1975: Toàn bộ Quân lực Việt Nam Cộng hòa gồm có 1 triệu quân, gần 2 triệu súng trường, 1.200 chiến xa và thiết vận xa, kể cả chiến xa M48 loại mới nhất của Hoa Kỳ, hơn 1.000 khẩu đại bác từ 105 mm xe kéo đến 175 mm cơ động, 40.000 xe vận tải, 1.600 chiến hạm chiến đỉnh, và hơn 2.000 phi cơ và trực thăng.

Ngoài Bộ Tổng tham mưu với các Cơ quan, Binh chủng, và Binh sở trong hệ thống quản trị gồm: (hành chánh, nhân viên, huấn luyện, chiến tranh chính trị, tiếp vận), còn có các đơn vị yểm trợ tác chiến gồm 4 Bộ tư lệnh Quân đoàn và các đơn vị yểm trợ trực thuộc. Các đơn vị trực tiếp tác chiến gồm:

  • Lục quân: Có 11 Sư đoàn Bộ binh, 1 Sư đoàn Nhảy dù, 1 Sư đoàn Thủy quân Lục chiến, 1 Liên đoàn Biệt kích Nhảy dù, 17 Liên đoàn biệt động quân, 4 Lữ đoàn Kỵ binh Thiết giáp, Lực lượng Lôi Hổ và Biệt Hải thuộc Nha Kỹ thuật, các đơn vị Pháo binh biệt lập, và Lực lượng Địa phương quân (400 Tiểu đoàn), Nghĩa quân hơn 50.000 quân.
  • Không quân: Quân số 60.000 gồm: 1 Bộ tư lệnh Quân chủng với đầy đủ các cơ quan và binh sở yểm trợ, 5 Sư đoàn Không quân tác chiến gồm: (20 phi đoàn khu trục cơ, trang bị khoảng 550 phi cơ A1H, A37, và F5, 23 phi đoàn trực thăng, trang bị khoảng 1000 phi cơ UH1 và CH47, 8 phi đoàn quan sát, trang bị khoảng 200 phi cơ O1, O2, và U17), 1 Sư đoàn vận tải gồm: (9 phi đoàn vận tải, trang bị khoảng 150 phi cơ. C7, C47, C119, và C130), 1 Không đoàn tân trang chế tạo, 4 phi đoàn hỏa long, trang bị phi cơ AC119, AC130 Spectre Gunship. Ngoài ra còn có các Phi đoàn trắc giác (tình báo kỹ thuật), Phi đoàn quan sát RC119L, và Biệt đoàn đặc vụ 314.
  • Hải Quân: Quân số hơn 40.000, ngoài các đơn vị yểm trợ hành chánh, nhân viên, huấn luyện, tiếp vận (có Hải quân Công xưởng), gồm 3 Lực lượng tác chiến: (1) Hành quân lưu động sông, với 14 giang đoàn trang bị khoảng 260 chiến đỉnh, (2) Hành quân lưu động biển với 1 Hạm đội trang bị tuần dương hạm, hộ tống hạm, khu trục hạm, tuần duyên hạm, giang pháo hạm, trợ chiến hạm, dương vận hạm, hải vận hạm, và giang vận hạm và (3) các Lực lượng Đặc nhiệm 211 Thủy bộ với 6 Giang đoàn, 212 Tuần thám với 12 Giang đoàn, 214 Trung ương với 6 Giang đoàn và Liên đoàn người nhái.

Giai đoạn sụp đổ (3/1975-4/1975)

Tháng 3/1975, sau khi Phước Long và Buôn Mê Thuột thất thủ: Tổng thống Nguyễn văn Thiệu ra lệnh tái phối trí, rút bỏ Quân khu I và II, dồn toàn quân về Quân khu III và IV chống giữ. Cuộc rút quân tái phối trí hoàn toàn thất bại, ông Thiệu từ chức, các tướng tá tháo chạy, và trong vòng 55 ngày, toàn bộ Quân lực Việt Nam Cộng hòa tan rã, không vì giao tranh mà vì suy sụp tinh thần và không còn lãnh đạo.

Trận giao tranh cuối cùng của Quân lực Việt Nam Cộng hòa ngoài vành đai Sài Gòn xảy ra tại Xuân Lộc, do Sư đoàn 18 bộ binh dưới sự chỉ huy của Thiếu tướng Lê Minh Đảo và Lữ đoàn 1 Nhảy dù dưới sự chỉ huy của Trung tá Nguyễn Văn Đỉnh.

Trận giao tranh cuối cùng của Quân lực Việt Nam Cộng hòa trong thành phố Sài Gòn xảy ra tại bản doanh Bộ Tổng tham mưu, do Liên đoàn 81 Biệt kích Dù dưới sự chỉ huy của Thiếu tá Phạm Châu Tài, Biệt đội trưởng Biệt đội 3 chiến thuật (Bộ chỉ huy chiến thuật 3).

Lực lượng tan hàng sau cùng của Quân lực Việt Nam Cộng hòa là Liên đoàn 81 Biệt kích Dù, dưới sự chỉ huy của Đại tá Liên đoàn trưởng Phan Văn Huấn.

Xem thêm

  • Quân lực Việt Nam Cộng hòa

Tham khảo

 

  • "Chiến-tranh Việt-Nam Toàn Tập", Nguyễn Đức Phương, Nhà xuất bản Làng Văn 2001
  • Các đơn vị QLVNCH

Đang xem 385

Hôm nay 1,688

Tổng lượt xem 15,230,069