Bài 1

MA TÚY VÀ CÁC CHẤT GÂY NGHIỆN

 

I. ĐỊNH NGHĨA:

*   Theo Tiến sĩ Nguyễn Hữu Đức: Ma túy là một từ Hán - Việt đă có từ lâu. Ma là tê mê, túy là say sưa. Có lẽ trước đây ông cha ta ám chỉ là thuốc phiện và rượu.

*   Ngày nay ma túy được định nghĩa một cách rộng hơn: ma túy là những chất khi đưa vào cơ thể sẽ tác động vào hệ thần kinh trung ương, gây biến đổi nhận thức, cảm giác, chức năng của hệ thống năo bộ. Nếu sử dụng nhiều lần sẽ dẫn đến t́nh trạng bị lệ thuộc về cơ thể hoặc tâm thần hoặc cả hai. Người sử dụng ma túy do không kiểm soát được bản thân sẽ có những hành vi gây hậu quả nặng nề cho chính ḿnh, gia đ́nh và xă hội.

II. PHÂN LOẠI MA TÚY:

Tùy theo mục đích, có nhiều cách phân loại ma túy.

A. PHÂN LOẠI THEO PHÁP LUẬT:

1. MA TÚY HỢP PHÁP: rượu, cà phê, thuốc lá….Một số dược phẩm được sử dụng để chữa trị bệnh, nếu sử dụng    quá liều, kéo dài sẽ xảy ra t́nh trạng nghiện: Benzodiazepines, Secobarbital, Morphine, Amphetamine, Pseudoephedrine, Cocaine...

2. MA TÚY BẤT HỢP PHÁP: Là những chất bị pháp luật quy định, liệt vào danh sách cấm sử dụng: thuốc phiện, Heroine, Estasy (MDMA).

B. PHÂN LOẠI THEO NGUỒN GỐC:

1. MA TÚY CÓ NGUỒN GỐC THIÊN NHIÊN: thuốc phiện, cần sa, Cocaine ….

2. MA TÚY BÁN TỔNG HỢP: Heroine, codeine, LSD…

3. MA TÚY TỔNG HỢP: Methadone, Mépéridine, Amphetamine…

C. PHÂN LOẠI THEO DƯỢC LƯ:

1. CÁC CHẤT GÂY ĐÊ MÊ (Stupefiantes): ma túy nhóm OMH (Á phiện, Heroine, Morphine, Codéine…) và các chất tổng hợp (Methadone, Mépéridine, Pethidine, Pentanyl,...).

2.  CÁC CHẤT KÍCH THÍCH (Stimulantes): Cocaine, Amphetamine, Ecstasy,…

3. CÁC CHẤT GÂY ẢO GIÁC (Hallucinogens): LSD (D - Lysergic Acid Diethylamid), Cannabis, Phencyclidine, PCP, Mescaline,…

4. CÁC THUỐC GIẢI LO ÂU/ GÂY NGỦ (Anxiolytic/hypnotic): các loại Benzodiazépines, Barbiturates,…

 

 

 

CÁC CHẤT GÂY ĐÊ MÊ

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

CÁC CHẤT GÂY KÍCH THÍCH 

 

 

 

 

 

 

 

CÁC CHẤT GÂY ẢO GIÁC 

                      Nhựa cần sa (Nhựa Hashish)

 

 

 

 

 

 

 

CÁC THUỐC AN DỊU – CHỐNG LO ÂU – GÂY NGỦ

(SEDATIVE – ANXIOLYTIC – HYPNOTIC) 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Bài 2:

ĐIỀU TRỊ CAI NGHIỆN

PHỤC HỒI CHO NGƯỜI NGHIỆN MA TÚY VÀ

VAI TR̉ CAN THIỆP TÂM LƯ VÀ XĂ HỘI

 

I.   TỔNG QUAN NHỮNG THƯƠNG TỔN TRÊN NGƯỜI NGHIỆN MA TÚY:

Nghiện ma túy là một bệnh năo măn tính, khó chữa có đặc tính là dễ tái nghiện. Việc điều trị phục hồi cho người nghiện ma túy đ̣i hỏi ngoài t́nh thương và thấu cảm đối với người cai nghiện c̣n phải kiên nhẫn và phải có kiến thức về cai nghiện ma túy.

Việc t́m kiếm mô h́nh điều trị cho người nghiện ma túy rất khó khăn v́ không có mô h́nh cai nghiện chung nào thích hợp với mọi loại người nghiện. Mô h́nh điều trị tốt cho người này chưa hẳn đă phù hợp với người khácMột phương pháp điều trị hiệu quả phải dựa vào nguyên tắc cơ bản là làm thế nào phương pháp cai nghiện đó đáp ứng được tính chất và yêu cầu đa dạng của người nghiện chứ không chỉ đơn thuần nhằm vào việc sử dụng ma túy của họ.

Quá tŕnh điều trị phải được đánh giá thường xuyên bởi một nhóm điều trị gồm các bác sĩ nội khoa có hiểu biết về chuyên ngành ma túy, bác sĩ tâm thần, bác sĩ điều dưỡng – phục hồi, các nhà giáo dục - hướng nghiệp, các nhà tư vấn - tâm lư học – xă hội học, các cán bộ quản lư…Quá tŕnh điều trị này phải được chuyển đổi kịp thời theo những rối loạn tâm sinh lư của người nghiện ma túy mà chuyên môn ngành nào, ngành ấy phải giải quyết – nhưng bắt buộc các thành viên của nhóm điều trị phải phối hợp tác nghiệp ở một thể thống nhất khi đánh giá và lập kế hoạch điều trị cho đối tượng, nhằm kết hợp lĩnh vực ḿnh và lĩnh vực

Khi người nghiện sử dụng ma túy càng lâu, liều lượng càng tăng th́ hậu quả tác hại càng nhiều và càng nặng nề bấy nhiêu. Những tác động của ma túy trên năo bộ gây ra những tổn thương tạm thời hoặc vĩnh viễn trên người nghiện, làm người nghiện ma túy suy giảm khả năng phán đoán, phân tích, tổng hợp, xử lư thông tin, khả năng tự chủ: người nghiện rất khó khăn khi đưa ra một quyết định đúng đắn. Thêm vào đó, họ lại thiếu nghị lực, thiếu sáng suốt, thiếu ư chí để thực hiện quyết định của ḿnh. Do kư ức hồi tưởng, người nghiện rất dễbị gợi nhớ đến ma túy khi gặp lại những h́nh ảnh, vụ việc liên quan đến việc sử ma túy trước đây: gặp ống chích, kim chích, bạn bè cũ, quán café cũ, nghe nhạc cũ, gặp hoàn cảnh cũ, hay khi nghĩ đến những khoái cảm ngây ngất do sử dụng ma túy: họ bị kích động mạnh mẽ khiến đối tượng rất dễ tái nghiện.

V́ lệ thuộc vào ma túy, cuộc sống người nghiện suốt ngày loanh quanh trong việc t́m kiếm, sử dụng ma túy. Đó là phương thức tồn tại của người nghiện.

Về mặt hành vi, người nghiện phát triển những cách ứng xử không thích nghi và nhiều thói quen xấu – những hành vi đó đă ngăn cách người nghiện với cộng đồng, người nghiện mất đi ḷng tự trọngtinh thần trách nhiệm. Hầu hết người nghiện không cần hoặc không c̣n khả năng hiểu biết những hậu quả do hành vi ḿnh gây nên.

Người nghiện ma túy không đủ nghị lực cũng như không đủ nhận thức để sống một cách trong sạchlành mạnhcó kỹ năng làm việc. Về mặt tinh thầnsức khỏe, nghề nghiệp, trách nhiệm với gia đ́nh, xă hội …có thể suy sụp đến một mức làm sự điều trị - phục hồi cho đối tượng trở thành hết sức khó khăn.

Cai nghiện được gọi là thành công không chỉ nhằm vào mục tiêu người nghiện không tái sử dụng ma túy mà c̣n đ̣i hỏi đối tượng phải có một lối sống điều độ, tự quản lư bản thân một cách tốt đẹp và thực hiện thành công sự thay đổi về nhận thức.

Tóm lại có 4 vấn đề chính cần phải giải quyết trên đối tượng nghiện ma túy đó là:

1.  Tổn thương hệ thống năo bộ và các vấn đề tâm thần của người nghiện ma túy.

2.  Rối loạn và xuống cấp nhận thức – hành vi – nhân cách.

3. Chấn thương tâm lư: đây không phải là một hành động nhất thời mà là một quá tŕnh diễn biến đầy phức tạp của nội tâm cũng như bối cảnh đa phương diện đối với bản thângia đ́nh và xă hội của người nghiện ma túy.

4. Người nghiện ma túy hầu hết đều ở trong t́nh trạng đói ma túy trường diễn, kể cả sau khi cai nghiện. Hội chứng hồi tưởng, chấn thương tâm lư, tổn thương năo bộ, rối loạn hành vi nhân cách rất dễ dẫn người đă cai nghiện đến tái sử dụng ma túy.

 Bốn vấn đề chính tác động qua lại lẫn nhau- chúng vừa là nguyên nhân cũng vừa là hậu quả của việc sử dụng ma túy. Nếu chúng ta giải quyết không toàn diện và triệt để sẽ dễ dẫn người đă cai nghiện đến tái nghiện. 

II. PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ NGHIỆN MA TUƯ

Nghiện ma túy là một bệnh năo măn tính - khó chữa có đặc tính làdễ tái nghiện. Điều trị nghiện ma túy đ̣i hỏi phải kiên nhẫn, có mộtliệu pháp tổng hợpđồng bộ, xuyên suốt, khép kín, linh hoạt, kịp thời.

Cai nghiện được gọi là thành công không chỉ nhằm vào mục tiêungười nghiện không tái sử dụng ma túy mà c̣n đ̣i hỏi đối tượng phải có một lối sống điều độ, tự quản lư bản thân một cách tốt đẹp và thực hiện thành công sự thay đổi về nhận thức.

A/ BỐN VẤN ĐỀ CHÍNH CẦN PHẢI GIẢI QUYẾT TRÊN ĐỐI TƯỢNG NGHIỆN MA TÚY:

1/ TỔN THƯƠNG HỆ THỐNG NĂO BỘ VÀ CÁC VẤN ĐỀ TÂM THẦN CỦA NGƯỜI NGHIỆN MA TÚY: năo bộ là nơi tiếp nhận thông tin, phân tích, tổng hợp, ra quyết định và tập trung ư chí. Những tác động của ma túy trên năo bộ gây ra những tổn thương tạm thời hoặc vĩnh viễn trên người nghiện biểu hiện qua các rối nhiễu tâm lư thực tổn, trạng thái nhiễm độc, lú lẫn tâm trí, phản ứng loạn tâm thần, trạng thái hưng trầm nhược, giảm khả năng xét đoán, xử lư thông tin, mất ư chí, mất khả năng tự chủ, biểu hiện lo lắng và hội chứng hồi tương dẫn người nghiện luôn nghĩ đến và thèm nhớ ma túy với tất cả sự khoái cảm của nó. Càng sử dụng ma túy càng lâu, liều lượng càng cao th́ những tổn thương càng nặng nề bấy nhiêu.

2/ RỐI LOẠN VÀ XUỐNG CẤP NHẬN THỨC - HÀNH VI - NHÂN CÁCH: Sau một thời gian sử dụng ma túy, người nghiện sẽ h́nh thành nhiều thói quen xấu - người nghiện không đủ nhận thứccũng như không đủ nghị lực để sống một cách trong sạch, lành mạnh. Người nghiện mất dần kỹ năng tư duy và làm việc, suốt ngày chỉ loay hoay làm thế nào phải có tiền để mua ma túy, do đó người nghiện sử dụng mọi thủ đoạn, bất chấp hậu quả của việc làm đó để đạt mục đích. Về mặt tinh thần, sức khỏe, nghề nghiệp, trách nhiệm với bản thân, gia đ́nh và xă hội có thể suy sụpđến mức làm sự điều trị, phục hồi cho đối tượng trở thành hết sức khó khăn.

3/ NGHIỆN MA TÚY KHÔNG PHẢI LÀ MỘT HÀNH ĐỘNG NHẤT THỜI MÀ LÀ MỘT QUÁ TR̀NH DIỄN BIẾN PHỨC TẠP NỘI TÂM cũng như BỐI CẢNH ĐA PHƯƠNG DIỆN của bản thân, gia đ́nh và xă hội. Đây là một trong những vấn đề cốt lơi dẫn người nghiện đến với ma túy. Do đó nếu không giải quyết được triệt để những vấn đề này, người nghiện sau khi cai nghiện trở về sẽ rất dễ tái nghiện.

4/ VẤN ĐỀ SỬ DỤNG MA TÚY: Người nghiện ma túy hầu hết đều ở trong t́nh trạng đói ma túy trường diễn, kể cả sau khi cai nghiện.Hội chứng hồi tưởng, chấn thương tâm lư, tổn thương năo bộ, rối loạn hành vi nhân cách rất dễ dẫn người đă cai nghiện đến tái sử dụng ma túy. Do người nghiện ma túy, nếu thiếu ma túy th́ chỉ sau 8 - 12 giờ sẽ phát sinh hội chứng cai với tất cả sự đau nhức, hành hạ thân xác và tinh thần nên bằng mọi giá người nghiện phải kiếm đủ tiền để mua ma túy bất chấp hậu quả việc làm của ḿnh, dễ dẫn đến hành vi phạm pháp của đối tượng.

Bốn vấn đề chính nêu trên tác động qua lại lẫn nhau - chúng vừa là nguyên nhân cũng vừa là hậu quả của việc sử dụng ma túy. Nếu chúng ta giải quyết không toàn diện và triệt để sẽ dễ dẫn người đă cai nghiện đến tái nghiện

Điều trị nghiện ma túy là một sự tổng hợp của nhiều liệu pháp : liệu pháp sinh học, liệu pháp tâm lư (cá nhân, gia đ́nh, nhóm). Tư vấn (cá nhân – gia đ́nh – nhóm) và các liệu pháp y – xă hội. Thiếu sự nghiên cứu đánh giá việc tổng hợp liệu pháp khác nhau làm cho việc điều trị cai nghiện ma túy mang tính chất kinh nghiệm chủ nghĩa.

Thiếu một phương thức chiến lược cho việc điều trị dẫn đến việc đối tượng nghiện ma túy chán nản trong điều trị, thiếu quyết tâm và nghị lực – bỏ điều trị nửa chừng.

B/ ĐỂ GIẢI QUYẾT 04 VẤN ĐỀ NÊU TRÊN, TT Điều dưỡng & Cai nghiện Ma túy Thanh Đa đă áp dụng một CHƯƠNG TR̀NH CAI NGHIỆN ĐA DẠNG, TỔNG HỢP, XUYÊN SUỐT, ĐỒNG BỘ, KHÉP KÍN, LINH HOẠT, KỊP THỜI TÙY THUỘC VÀO TỪNG ĐỐI TƯỢNG bao gồm:

1/ CẮT CƠN, GIẢI ĐỘC, NÂNG CAO SỨC KHỎE.

Cắt cơn nghiện không phải là điều trị thật sự mà chỉ để tạo tiền đề cho một quá tŕnh cai nghiện lâu dài liên tục. Điều trị kịp thời các rối loạn và các bệnh Tâm thần kinh - Lao - HIV/AIDS và các bệnh cơ hội cho người nghiện ma túy.

2/ GIÁO DỤC TRỊ LIỆU:

Nhằm giáo dục - gọt giũa - điều chỉnh - phục hồi nhận thức - hành vi - nhân cách cho người nghiện ma túy. Nội dung công tác giáo dục nhằm hai muc đích:

2.1 Nâng cao nhận thức cho học viên: thông qua dạy văn hóa, học tập các chuyên đề bao gồm: Giáo dục công dân + Giáo dục đạo đức + Giáo dục sức khỏe và cộng đồng + Giáo dục pháp luật, an ninh quốc pḥng + Giáo dục truyền thống…

2.2 Trang bị bản lĩnh và kỹ năng sống:  thông qua các chương tŕnh giáo dục về Tư duy tích cực - Tự chủ quản lư bản thân - Nhận thức các giá trị sống (chương tŕnh được sự hỗ trợ của tổ chức UNESCO và UNICEF của Liên hiệp quốc) - Tâm năng dưỡng sinh: thiền định, tập dưỡng sinh - Sinh hoạt trị liệu - Giải trí trị liệu - Hoạt động trị liệu - Huấn nghiệp trị liệu - Lao động trị liệu - Sản xuất trị liệu.

Thực hiện Cộng đồng trị liệu theo phương pháp Daytop (Mỹ)và Môi trường Trị liệu (liệu pháp đặc thù của Trung tâm Thanh Đa) với những tiêu chí cụ thể

Công tác giáo dục là vấn đề cơ bản nhất trong cai nghiện phục hồi nhằm gọt giũa - điều chỉnh - phục hồi nhận thức - hành vi - nhân cách cho người nghiện ma túy. Công tác giáo dục này phải áp dụng cho đối tượng đang được điều trị chống tái nghiện nhóm Opiats bằng thuốc NALTREXONEhay bằng thuốc METHADONE. Nếu không thực hiện tốt công tác này th́ chất lượng cai nghiện sẽ thấp và công tác cai nghiện sẽ rất khó thành công.

3/ TƯ VẤN - TÂM LƯ TRỊ LIỆU: 

Cá nhân - nhóm - gia đ́nh - Giải quyết khủng hoảng ca… nhằm thấu hiểu những diễn biến phức tap của nội tâm cũng như những bối cảnh tiêu cực liên quan đến cá nhân, gia đ́nh và xă hội.

Từ những cơ sở trên, cán bộ điều trị mới có thể giúp người nghiệnnhận thức được bản thân, sửa đổi lỗi lầm, xóa bỏ sự cô độc, mặc cảm, đồng thời thúc đẩy sự tôn trọng lẫn nhau, sự cởi mở, vui vẻ với mọi người, định hướng được cuộc sống và hành động cho tương lai.

         + Cần phải phân biệt TƯ VẤN không phải là ĐIỀU TRỊ TÂM LƯ: (Liệu pháp Tâm lư)

·        TƯ VẤN: 

Là một tiến tŕnh tương tác, một cuộc đối thoại giữa đối tượng, gia đ́nh với nhân viên điều trị để nhằm mục tiêu :

       +  Thấu hiểu t́nh trạng của đối tượngvà gia đ́nh, cảm xúc, nhận thức, hành vi.

      +  Qua đó thúc đẩy thành công người nghiện và gia đ́nh tham gia việc điều trị.

TƯ VẤN giúp ta nhận thức được thực tại, nhấn mạnh vào yếu tố b́nh thường, từ đó sự trợ giúp phục hồi và giúp cho họ tự t́m ra con đường họ phải đi.

Với định nghĩa như vậy, bất kể là ai có quan tâm đến người nghiện, th́ đều làm tư vấn được.

·        ĐIỀU TRỊ TÂM LƯ:

Nhấn mạnh vào việc mất chức năng, chú trọng vào việc phân tích để mưu sự tái thiết. Điều trị tâm lư th́ giúp đỡ bệnh nhân đi tới con đường đă được định hướng trước từ những phân tích sâu xa mà có.

Nhân viên điều trị không nên nhầm lẫn Tư vấn Tâm lư với việc Điều trị Tâm lư để cho rằng ḿnh không phải chuyên gia về tâm thầntừ chối tương tác với người nghiện.

Không có tư vấn, không bao giờ nhân viên điều trị có thể hiểu được đối tượng và giúp đỡ họ được.

 

SO SÁNH TƯ VẤN VÀ LIỆU PHÁP TÂM LƯ :

TƯ VẤN

LIỆU PHÁP TÂM LƯ

- Tính trực tiếp

- Không trực tiếp

- Tính giáo dục

- Gợi mở tư duy

Hỗ trợ

- Tính cấu trúc lại – T́m kiếm sựlập lại các hành vi

- T́nh h́nh và sự phát triển

- Tác động mạnh về tâm lư

- Giải quyết các vấn đề

- Phân tích

Nêu ra những vấn đề về mặt nhận thức

Suy ngẫm về những hành vi đă qua

Nhấn mạnh vào cái ǵ được coi là hành vi tốt và chưa tốt

Hướng vào vấn đề tồn tại về mặt t́nh cảm

 

4/ ĐỂ HỖ TRỢ HỌC VIÊN KHI TRỞ VỀ CỘNG ĐỒNG KHÔNG TÁI SỬ DỤNG MA TÚY, TRUNG TÂM đă TRIỂN KHAI KHOA CHỐNG TÁI NGHIỆN:

Các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc NALTREXONE (là một chất làm MẤT CẢM GIÁC THÈM NHỚ vàT̀M KIẾM MA TÚYKẾT HỢP với KỸ NĂNG TƯ VẤN - TÂM LƯ TRỊ LIỆU - GIÁO DỤC TRỊ LIỆU và các LIỆU PHÁP XĂ HỘI. Kết quả khảo sát cho thấy, sau hơn 4 năm, Khoa đă điều trị cho hơn 1000 học viên, HƠN 72% SỐ HỌC VIÊN CHƯA TÁI NGHIỆN, TRÊN 50% HỌC VIÊN NGOẠI TRÚ ĐĂ CÓ VIỆC LÀM ỔN ĐỊNH.

Trong phương pháp này, việc UỐNG THUỐC NALTREXONE làBIỆN PHÁP HỖ TRỢ. Nếu KHÔNG CÓ BIỆN PHÁP TƯ VẤN - TÂM LƯ TRỊ LIỆU - GIÁO DỤC TRỊ LIỆU - CÁC LIỆU PHÁP XĂ HỘI TH̀ KẾT QUẢ CHỐNG TÁI NGHIỆN SẼ RẤT HẠN CHẾ.

        Việc pḥng chữa bệnh nghiện ma túy điều trị phục hồi cho đối tượng cai nghiện liên quan đến nhiều chuyên ngành . Việc sử dụng ma túy đă phát sinh những biểu hiện bệnh lư nặng nề, khó khăn trong việc điều trị, trong đó cần sự can thiệp điều chỉnh nhân cách hành vi của đối tượng nghiện ma túy và chống tái nghiện, t́m hiểu nguyên nhân và can thiệp sớm.

 

 

 

6.4. CHIẾN LƯỢC TRỊ LIỆU:

-       Các nghiên cứu so sánh và các theo dơi t́nh trạng điều trị kéo dài (rất ít) nênkhông biết rơ hiệu quả tương đối hiệu quả dài hạn của các phương pháp trị liệu.

-       Việc điều trị chứng nghiện ma túy cần thiết phải kết hợp nhiều loại can thiệp khác nhau, kể cả trị liệu cá nhân và tại cộng đồng.

-       Các tác động xă hội, nhằm đấu tranh chống các hành vi nghiện ma túy tiếp tục sử dụng ma túy.

-       Trị liệu gia đ́nh thường không đủ nhưng phương pháp trị liệu này cần thiết phải giải phóng thanh thiếu niên khỏi các xung đột gia đ́nh, để cho phép đối tượng chấp nhận một trị liệu cá nhân.

-       Điều trị cá nhân đối tượng phải được thông báo về sự diễn biến của gia đ́nh. Việc điều trị và theo dơi gồm một nhóm điều trị gồm nhiều ngành: y tế – giáo dục – xă hội – quản lư – dạy nghềthực hiện bằng nhiều biện pháp khác nhau trong đócần đặt nặng phương thức trị liệu nhóm.

-       Việc điều trị – phục hồi cần một thời gian tương đối dài do tính chất bệnh lư phức tạp. Đối tượng cần sự điều trị của nhiều người với nhiều chức năng khác nhau nên dễ bị t́nh trạng phân cắt.Do đó, cần phải có sự thống nhất trong cùng một nhóm điều trịvà có chiến lược điều trị cho từng đối tượng cai nghiện ma túy.


 

Bài 3

SÀNG LỌC – ĐÁNH GIÁ

VÀ LẬP KẾ HOẠCH CHO NGƯỜI NGHIỆN MA TÚY

Để công tác cai nghiện thành công, việc phân loại, đánh giá và lập kế hoạch cho người nghiện ma túy là vô cùng cần thiết. Để đạt được kết quả tốt phải thực hiện các bước sau:

I.       TIÊU CHUẨN ĐIỀU TRỊ HAY MỨC ĐỘ ĐIỀU TRỊ

A.    TIÊU CHUẨN ĐIỀU TRỊ HAY MỨC ĐỘ CHĂM SÓC LÀ G̀?

Bệnh tật có mức độ nặng nhẹ khác nhau, cho nên việc cung điều trị cũng có nhiều mức độ khác nhau. Mỗi người nghiện đều được chăm sóc phù hợp.

Giữa nhân viên chuyên môn và cán bộ quản lư luôn luôn phải giữ mối lien hệ thông tin thường xuyên, qua đó việc thay đổi cách điều trị do những t́nh h́nh hiện tại của học viên đă thay đổi.

Việc đồng ư cho người nghiện có quyền ư kiến và tham gia vào môi trường điều trị của ḿnh là điều nên làm, bởi bằng cách đó, học viên thể hiện trách nhiệm thamn gia của ḿnh.

B.    CÁC KHÍA CẠNH ĐÁNH GIÁ ĐỂ QUYẾT ĐỊNH MỨC ĐỘ CHĂM SÓC:

Việc đánh giá người nghiện gồm 6 điều cơ bản:

1.   Nguy cơ xuất hiện hội chứng cai:

   - Có khả năng xảy ra tai biến do một bẹnh khác lúc lên cơn vă thuốc.

   - Đang có dấu hiệu của hội chứng cai.

   - có thể cắt cơn được không?

2.   Rối loạn sinh học: Ngoài hội chứng cai người nghiện có

             - Bệnh cơ hội hoặc các bệnh măn tính từ trước không?

3.   Trạng thái cảm xúc/ hành vi và những biến chứng:

             - Có bệnh tâm thần.

             - Có vấn đề tâm lư ảnh hưởng đến việc điều trị để trở nên phức tạp.

             - Nếu có th́ những bệnh trên có cản trở quá tŕnh điều trị không?

4.   Chấp nhận/ Không tiếp nhận điều trị:

             - Người nghiện có tự nguyện điều trị hay bị cưỡng bức điều trị?

             - Thái độ người nghiện với việc điều trị: có chán năn, lo lắng hay quyết tâm cai nghiện.

 

5.   Tái nghiện/ Nguy cơ tiếp tục sử dụng ma túy:

             - Tâm trạng người nghiện cực kỳ chán nản.

             - Thiếu tin tưởng vào việc cai nghiện.

 - C̣n nhiều vấn đề tồn tại chưa giải quyết được ảnh hưởng đến tâm lư người nghiện khi đến trung tâm cai nghiện.

             - Yếu tố nguy cơ và yếu tố bảo vệ cho đối tượng cai nghiện.

             - Người nghiện tin tưởng ǵ sau khi rời trung tâm.

6.   Môi trường cho sự phục hồi:

             - Thái độ của các thành viên trong trung tâm tác động trên tư tưởng người nghiện.

             - Sự giúp đỡ sau khi ở trung tâm về của gia đ́nh, xă hội thế nào?

             - Người nghiện có tự tin, có khả năng giải quyết các khó khăn không?

C.    CÁC MỨC ĐỘ CHĂM SÓC:

      Gồm 5 mức độ chăm sóc:

             - Mức độ I:       nhẹ, dựa vào cộng đồng.

             - Mức độ II:      nhẹ, dựa vào cộng đồng học viên được điều trị 9 giờ/ tuần.

             - Mức độ III:     c̣n nhẹ, cơ may khỏi c̣n cao, dựa vào cộng đồng

                    Mức độ II.1   : Tương đối nhẹ, điều trị, giáo dục trên 9 giờ / tuần

                    Mức độ II.2   :Tương đối đă nặng, điều trị giáo dục trên 3 giờ / ngày.

             - Mức độ IV:     Nghiện nặng phải vào trung tâm

                    Mức độ III.1 : Nhập Trung tâm nhận chương tŕnh điều trị

                    Mức độ III.2 :       Nhập Trung tâm phải theo dơi 24/24. Có khả năng điều trị bằng methadone.

             - Mức độ V:      Nghiện nặng + bệnh tâm thần

                                      Theo dơi chăm sóc 24/24, điều trị phục hồi

                                      Đồng thời chữa bệnh tâm thần.

 

 

     II.ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ:

Đánh giá kết quả điều trị là điều không thể thiếu được trong kế hoạch điều trị. Việc đánh giá định kỳ sẽ giúp chúng ta:

1.  Hiểu rơ hơn về đối tượng, ưu khuyết nhược điểm – các vấn đề tâm sinh lư c̣n tiềm tàng, từ đó thay đổi chương tŕnh điều trị cho phù hợp.

2.  Xác định lại mức độ chăm sóc đối tượng. Ví dụ: qua phân loại và điều trị ban đầu, chúng ta nghĩ rằng đối tượng nghiện nhẹ. Song sau một thời gian, chúng ta phải thay đổi mức độ chăm sóc và biện pháp điều trị nếu có dấu hiệu chứng tỏ bệnh nhân đă không khai thật từ lúc ban đầu.

3.  Từ hai điều nhận thức trên, hiệu quả điều trị sẽ được nâng cao.

A. CÁC THỜI ĐIỂM PHẢI ĐÁNH GIÁ:

Việc đánh giá kết quả đ̣i hỏi phải sử dụng một biểu mẫu câu hỏi giống nhau để hỏi đối tượng trong từng thời điểm như sau:

1.  Bệnh nhân bắt đầu điều trị

Ngoài việc điều tra để nắm bắt thông tin về toàn bộ con người của đối tường, cũng như t́nh trạng nghiện của đối tượng, công tác đánh giá cần được tiến hành ngay khi đối tượng được bắt đầu điều trị cắt cơn. Đây là bảng đánh giá đầu tiên. Những thông tin trên này sẽ được sử dụng làm mốc so sánh với những bảng đánh giá sau này.

2.  Khi bệnh nhân nhập khu sinh hoạt hằng ngày

Họ đước đánh giá lần thứ hai, và kết quả này được đem ra so sánh với lần đầu tiên.

3.  Khi bệnh nhân đang ở giai đoạn điều trị.

Họ được đánh giá lần thứ 3. Các thông tin này cũng được so sánh với những lần trước.

4.   Khi bênh nhân ở cuối chương tŕnh  điều trị

Họ được đánh giá lần cuối trước khi rời trung tâm – các thông tin này sẽ được so sánh với các thông tin lần đầu để hiểu được quá tŕnh tiến bộ của họ.

5.   Theo dơi đánh giá ba tháng sau cai khi bệnh nhân trở về nhà.

Đây là thời điểm thích hợp với điều kiện của chúng ta. Nếu bệnh nhân đă tái nghiện, rơ ràng họ cần tư vấn và động viên tái cai, c̣n nếu họ đang tốt đẹp, chúng ta giúp đỡ họ củng cố nhận thức hành vi.

B.  NHỮNG ĐỐI TƯỢNG NÀO CẦN ĐÁNH GIÁ:

Về nguyên tắc, tất cả mọi đối tượng được điều trị đều được đánh giá. Trong thực tế nếu đối tượng quá đông, trường hợp này rất khó đánh giá, chúng ta nên phân loại những nhóm người nghiện, và sau đó đánh giá mẫu đối tượng đại diện mà thôi.

Ví dụ:

-       Đánh giá những đối tượng được chọn làm điểm.

-       Hoặc đánh giá những đối tượng tỏ ra hợp tác với kế hoạch điều trị, hoàn tất chương tŕnh điều trị.

-       Hoặc đánh giá những đối tượng tỏ ra bất hợp tác, bỏ dở điều trị.

C.  CƠ SỞ ĐÁNH GIÁ:

Có rất nhiều hệ thống đánh giá cực ḱ phức tạp, chưa thích hợp với chúng ta. Chúng ta nên đặt ra một hệ thống đánh giá đơn giản. một hệ thống đánh giá đơn giản cần qua những khía cạnh sau:

·      Các đối tượng tham gia duy tŕ điều trị, số ngày tham gia.

·      Các đối tượng kết thúc chương tŕnh điều trị, số ngày tham gia.

·      Sự hài ḷng của đối tượng đối với chương tŕnh điều trị.

Chúng ta đều biết rằng không một người nghiện nào hài ḷng khi họ bắt đầu điều trị và càng tăng lên nếu đối tượng muốn bỏ dở điều trị.

Kết quả sự đánh giá khách quan với mức độ hài ḷng của đối tượng cho phép chúng ta dự báo người nào sẽ bỏ dỡ điều trị, người nào đạt được kết quả.

Kết quả của sự đánh giá không chỉ nhằm mục đích thu thập thông tin để thống kê hay báo cáo, mà những kết quả ấy c̣n phải được sử dụng để nâng cao chất lượng điều trị hay thay đổi chương tŕnh điều trị cho thích hợp với đối tượng.

Để đạt được các mục tiêu nêu trên, sự đánh giá cần được tiến hành trên 3 khía cạnh:

1.   Hiệu lực của điều trị căn cứ vào các tiêu chuẩn sau:

Bảng tự đánh giá của đối tượng gồm các mặt hành vi, cảm xúc, thái độ, mức độ thèm ma túy. Kinh nghiệm cho thấy trong 3 tháng đầu, bệnh nhân rất cường điệu, tự đánh giá rất cao. Sau đó sự trung thực dần trở lại, mức độ đánh giá sẽ thấp hơn.

a)   Đánh giá tinh thần và thái độ lao động.

b)   Đánh giá tinh thần chấp hành nội quy.

c)   Đánh giá các mối quan hệ với tập thể.

d)   Đánh giá mối quan hệ với nhân viên tư vấn.

e)   Đánh giá mức đội cảm xúc tâm lư.

f)     Đánh giá mức độ t́nh cảm với gia đ́nh.

g)   Đánh giá khía cạnh giáo dục dạy nghề.

h)   Đánh giá y khoa về sức khỏe chung.

2.   Hiệu quả của điều trị

Nên sử dụng cách đơn giản như sau:

1)   Tự nguyện thực sự: cộng tác với chương tŕnh điều trị, có tiến bộ.

2)   C̣n lưỡng lự chưa dứt khoát trong việc cai nghiện ma túy.

3)   Không muốn cai: không có dấu hiệu tiến bộ.

3.   Sự hài ḷng của đối tượng

Cho phép chúng ta dự đoán trước về kết quả điều trị.

MỘT VÍ DỤ VỀ KẾT QUẢ ĐÁNH GIÁ SAU 5 GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRỊ

-         Thời gian điều trị chưa đủ/đủ.

-         Sử dụng ma túy giảm/ tăng/ ngừng hẳn sau khi điều trị.

-         Dính líu đến luật pháp trước và sau điều trị.

-         Hoạt động có ích với xă hội trước và sau điều trị.

-         Mức độ hài ḷng về lối sống của ḿnh trước và sau điều trị.

-         Thất bại trong điều trị (biện pháp thay thế mesthadone như một biện pháp nhân bản hơn là cho bệnh nhân vào tù).

   III.LẬP KẾ HOẠCH ĐIỀU TRỊ:

Việc lập kế hoạch được tiến hành ngay sau khi đă nắm bắt những thông tin về người nghiện. Cần cho đối tượng tham gia vào việc xây dựng kế hoạch điều trị cho chính ḿnh.

Chính người nghiện là thành viên có trạch nhiệm trong việc điều trị cho chính ḿnh, thậm chí ngay cả khi họ không muốn điều trị, chúng ta cũng phải để họ tham gia bước đầu vào những mục tiêu sơ khởi, và sẽ nâng dần trách nhiệm họ lên cao trong quá tŕnh tiến hành kế hoạch.

1. Lập kế hoạch điều trị : cần 3 giai đoạn :

-         Mục tiêu cụ thể cho từng giai đoạn.

-         Yêu cầu bệnh nhân tuân thủ các mục tiêu đề ra.

-         Phương pháp tiến hành và cung ứng dịch vụ.

1.1 Mục tiêu cụ thể từng giai đoạn :

Mỗi bệnh nhân, phải có một kế hoạch đề ra mục tiêu theo từng giai đoạn, theo dữ liệu thông tin có được, ví dụ một bệnh nhân bệnh nặng, tâm lư tuyệt vọng th́ có thể 3 mục tiêu như sau :

-         Ngưng sử dụng ma túy, tăng cường sức khỏe

-         Cải thiện tâm trạng qua tâm lư, giáo dục, thuyết phục.

-         Về khía cạnh y khoa, điều trị những bệnh kèm theo.

1.2 Yêu cầu bệnh nhân tuân thủ các mục tiêu đề ra.

Mục tiêu ngưng sử dụng ma túy: làm trong sạch môi trường yêu cầu bệnh nhân duy tŕ t́nh trạng cai, cộng tác với kế hoạch điều trị, sinh hoạt tư vấn cá nhân hay tư vấn nhóm, sinh hoạt nhóm.

-         Mục tiêu điều chỉnh tâm lư: yêu cầukhuyến khích bệnh nhân phát biểu, bảy tỏ cảm xúc, ước muốn – để động viên – giải thích và có biện pháp giúp đỡ hữu hiệu.

-         Với mục tiêu điều trị bệnh : bắt buộc khám chữa bệnh.

1.3 Phương pháp :

Phương pháp thực hiện tùy theo mục tiêuyêu cầu. Nhóm chuyên viên điều trị sẽ phác thảo kế hoạch thực hiện như :

-         Giúp đỡ bệnh nhân cắt cơn, hồi phục sức khỏe.

-         Điều chỉnh tâm lư, cần nắm vững những thông tin bệnh nhân c̣n ẩn giấu, khuyến khích, thuyết phục.

-         Điều trị các bệnh măn tính – Các bệnh cơ hội và các rối loạn tâm sinh lư sau cắt cơn.

2. Các thời điểm thực hiện kế hoạch điều trị :

-         Trong việc lập kế hoạch điều trị cần tiến hành ngay khi đối tượng vào Trung Tâm.

-         Định hướng cho điều trị, bao gồm việc hướng dẫnbám sát đối tượng trong quá tŕnh điều trị.

-         Theo dơi sau cai (khi đối tượng trở về cộng đồng)

2.1 Tiến hành ngay khi đối tượng vào Trung tâm :

Nhân viên tiếp nhận phải đánh giá tức thời t́nh trạng của đối tượng, và căn cứ vào đó đề ra kế hoạch cụ thể: phân loại, định múc độ chăm sóc thích hợp và đánh giá kết quả điều trị

a)   Xác định mức độ chăm sóc thích hợp :  đánh giá sơ bộ ban đầu.

b)   Đánh giá sau khi cắt cơn xong :

-         Đối tượng đă ổn định chưa?

-         Những triệu chứng ǵ đang c̣n tồn tại hiện nay?

-         T́nh trạng hiện tại và ước muốn?

2.2 Thành lập đội ngũ điều trị cho đối tượng.

Mỗi đối tượng có những vấn đề riêng biệt,

Việc điều trị toàn diện bệnh lư – tâm lư – sinh học – xă hội đ̣i hỏi một đội ngũ điều trị chuyên nghiệp, đa năng. Tùy theo rối loạn của đối tượngchuyên môn ngành nào, ngành ấy phải giải quyết.

Việc phối hợp công tác phải ở một thể thống nhất khi đánh giá nhu cầu điều trị cho đối tượng.

a)   Mỗi đối tượng phải có và phải hiểu mô h́nh điều trị của ḿnh, mục tiêu ḿnh muốn đạt đến.

b)   Hiểu được mô h́nh điều trị của nhân viên khác, cũng như mục tiêu chung của cả nhóm.

c)   Hiểu rơ cách kết hợp lĩnh vực của ḿnh với lĩnh vực chuyên môn của người khác.

d)   Tránh được biện pháp của ḿnhmâu thuẫn với biện pháp của nhân viên khác.

Sau đây là ví dụ phối hợp của nhóm điều trị gắn bó về một trường hợp cắt cơn xong 2 tháng: đối tượng suy sụp, không cộng tác với điều trị:

-         Nhân viên giáo dục t́m hiểu ngoài sự suy sụp sinh lư sau khi cắt cơn c̣n có vấn đề ǵ nữa không, động viên khích lệ đối tượng: an ủi họ rằng thời điểm của giai đoạn phục hồi, tâm trạng chán nản là điều thường thấy.

-         Nhân viên y tế xác định t́nh trạng bệnh lư của đối tượng.

-         Thảo luận với nhân viên dạy nghề về t́nh trạng của đối tượng.

-         Trao đổi với nhân viên quản lư để t́m hiểu liệu môi trường quản lư có làm thương tổn tâm lư đối tượng không.

-         Trao đổi với nhân viên tâm lư để đánh giá phân tích sâu hơn.

-         Sau cùng đưa ra được cơ cấu và định hướng cho điều trị tiếp theo với đối tượng, giám sát đối tượng trong suốt quá tŕnh điều trị.

3. Các lợi ích của việc lập kế hoạch điều trị:

Một kế hoạch điều trị đúng sẽ phải triển khai điều trị theo hướng tốttoàn diện. Qua kế hoạch điều trị, cả đối tượng lẫn nhân viên điều trị đều có lợi ích.

-         Đa số những người nghiện đều không biết làm sao để cai. Việc cho họ tham gia vào nhóm điều trị sẽ làm họ yên tâm và cộng tác với kế hoạch. Như vậy cơ may thành công rất cao.

-         Người nghiện hiểu những mục tiêu ngắn hạn và dài hạn do chương tŕnh đề ra. Họ được thông báo trước những kế hoạch mà họ phải vượt qua. V́ vậy họ có chuẩn bị về tâm lư để phấn đấu.

-         Người nghiện hiểu được những mục tiêu dài hạn dành cho họ, cũng như các mục tiêu họ phải phấn đấu để vươn tới như một điều kiện tiên quyết để được trở về với gia đ́nh.

II. CÁC TIÊU CHUẨN ĐIỀU TRỊ VÀ CÁC H̀NH THỨC CHĂM SÓC :

A)  ĐỊNH NGHĨA:

Những tài liệu (Phần II+III) sẽ được tŕnh bày ở đây là tóm tắt một phần hay trích dẫn nguyên văn tài liệu: “Đánh giá tiêu chuẩn của người nghiện trong việc điều trị t́nh trạng tối loạn do việc sử dụng các chất ma túy gây ra” năm 1991 và tài liệu “Đánh giá tiêu chuẩn của người nghiện trong việc điều trị những rối loạn có liên quan đến ma túy” tái bản lần 2 năm 1996 của HIỆP HỘI NGHIÊN CỨU VỀ NGHIỆN MA TÚY CỦA HOA KỲ. Những tiêu chuẩn này đại diện cho những phương pháp được nghiên cứuáp dụng nhiều nhất trong việc xác định chính xác mức độ chăm sóc cho đối tượng nghiện ma túy. Đây là kết quả nghiên cứu trong suốt 10 năm của những tổ chức Quốc gia, Tổ chức Liên Bang trên toàn nước Mỹ và nó đă được công nhận của hầu hết các Cơ sở Y tế, tổ chức điều trị cai nghiện, các Công ty Bảo hiểm (Tổ chức quản lư dịch vụ chăm sóc), những tổ chức bảo đảm quyền lợi của người nghiện trong việc điều trị.

1/ Việc đánh giá tiêu chuẩn điều trị cho phép chúng ta t́m ra mức độ chăm sóc thích hợp cho người nghiện ma túy.

2/ “Mức độ chăm sóc” này được định nghĩa là “Mức độ tăng dần các dịch vụ trợ giúp của môi trường và lâm sàng phối hợp lẫn nhau hoặc riêng rẽ với nhau”

3/ Mức độ chăm sóc được xây dựng dựa trên một danh mục mà ta gọi là “Các h́nh thức chăm sóc”

B. CÁC H̀NH THỨC SĂN SÓC VÀ ĐIỀU TRỊ :

Một số nét cơ bản :

1/ Bệnh lư th́ có mức độ nặng nhẹ khác nhau và việc cung cấp dịch vụ điều trị cũng có mức độ khác nhau tương ứng (Mức độ chăm sóc)

2/ Thống nhất đồng bộ giữa những người cung cấp dịch vụ điều trị (nhân viên chuyên môn và cán bộ quản lư) ở từng mức độ chăm sóc khác nhau.

3/ Việc điều trị dựa vào cộng đồng luôn luôn là xuất phát điểm cho bất kỳ đối tượng nào cần được chăm sóc.

4/ Những tiêu chuẩn đánh giá đối tượng càng cụ thể th́ danh mục các dịch vụ chăm sóc càng khách quan, dễ nhận biết.

5/ Tiến tŕnh thực hiện biện pháp trong danh mục theo nhu cầu của đối tượng và điều đó là hoàn toàn hợp lư.

6/ Không có thời gian cố định cho bất kỳ mức độ chăm sóc cụ thể nào.

7/ Bất kỳ khi nào có thể, người nghiện đều có quyền được tham gia một môi trường điều trị ít bị g̣ bó, ức chế nhất, nơi mà việc điều trị cai nghiện được tổ chức sao co có thể tối đa hóa những vấn đề sau:

- Tiếp tục tham gia cùng với sự trợ giúp của cộng đồng.

- Tham gia quyết định chương tŕnh điều trị của riêng ḿnh.

C. CÁC GIAI ĐOẠN CẦN CAN THIỆP:

1/ Can thiệp giai đoạn sớm:

-         Dựa vào cộng đồng

-         Đánh giáđề xuất điều trị

-         Can thiệp sớm

-         Giảm tác hại

-         Vươn xa hơn: Tích cực tuyên truyền bệnh nhân đi điều trị

-         Giáo dục tác hại tệ nạn nghiện ma túy để quần chúng cảnh giác, đối tượng nhận biết tác hại ma túy.

-         Chăm sóc sau cai

-         Pḥng ngừa tái nghiện.

2/ Can thiệp mức độ I :

-         Dựa vào cộng đồng

-         Dịch vụ cho người nghiện ngoại trú

-         Dịch vụ điều trị và phục hồi

-         Mỗi người nghiện được điều trị dưới 9 giờ 1 tuần

3/ Can thiệp mức độ II :

-         Dựa vào cộng đồng

* Mức độ II.1 :

-         Dịch vụ chăm sóc tích cực người nghiện ngoại trú

-         Dịch vụ điều trịphục hồi

-         Mỗi người nghiện được điều trị trên 9 giờ tuần

* Mức độ II.2 :

-         Người nghiện ngoại trú có nằm viện một thời gian

-         Việc điều trị lâm sàng tích cực được tiến hành trên 20 giờ 1 tuần

4/ Can thiệp mức độ III

- Không dựa vào cộng đồng

* Mức độ III.1 :

-         Dịch vụ điều trị nội trú có sự quản lư về lâm sàng ở mức độ trung b́nh

-         Mô h́nh “Điều trị mở”

-         Tối thiểu 5 giờ điều trị mỗi tuần

-         Tập trung vào việc tái hoà nhập cộng đồng trong t́nh trạng không sử dụng ma túy, quay lại làm việc, học tập và cuộc sống gia đ́nh.

-         Gặp mặt song phương, họp nhóm bạn giúp bạn.

* Mức độ III.2:

-         Dành cho đối tượng nặng

-         Dịch vụ điều trị nội trú có sự quản lư tích cực về lâm sàng

-         Mô h́nh “Cộng đồng trị liệu”

-         Môi trường phục hồi được thiết kế chặt chẽ

-         Dịch vụ điều trị lâm sàng với tŕnh độ chuyên môn từ trung b́nh đến cao

-         Niềm tin rằng cộng đồng trị liệu là một yếu tố điều trị

-         Nâng cao ư thức trách nhiệm của đối tượng, thay đổi cá tính.

* Mức độ III.3:

-         Dành cho đối tượng rất nặng

-         Dịch vụ chăm sóc điều trị nội trú có sự quản lư tích cực về mặt y tế

-         Tập trung vào mô h́nh điều trị y tế

-         Môi trường phục hồi được thiết kế chặt chẽ

-         Đội ngũ nhân viên điều trị có ư thức kỷ luật cung cấp dịch vụ theo dơi 24 giờ / ngày

-         Người nghiện với những rối loạn y – sinh học và những biến chứng về cảm giác, hành vi

-         Phương pháp trị liệu bằng chất đối kháng

5/  Can thiệp mức độ IV:

-         Dịch vụ điều trị nội trú có sự quản lư tích cực về y tế

-         Lên kế hoạch theo dơi y khoa suốt 24 giờ bao gồm đánh giá, chăm sóc và điều trị.

-         Mức độ chăm sóc này có ở:

+       Dịch vụ cấp cứu ở bệnh viện đa khoa cho người nội trú

+       Viện cấp cứu tâm thần hay bộ phận cấp cứu tâm thần trong bệnh viện đa khoa

+       Cơ sở, đơn vị được chỉ định làm công tác cai nghiện (Trung tâm cai nghiện)

6/ Những khía cạnh của việc đánh giá: Gồm 6 vấn đề được đánh giá với mức độ khác nhau – từ đó cho phép:

-         Chuyển người nghiện từ chương tŕnh điều trị dựa vào cộng đồng này sang một chường tŕnh điều trị dựa vào cộng đồng khác hay một mức độ chăm sóc khác phù hợp hơn.

II. ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ ĐIỀU TRỊ :

1.   Ngộ độc cấp tínhnguy cơ xuất hiện hội chứng cai

2.   Những rối loạn y – sinh họcbiến chứng (các bệnh phối hợp)

3.   T́nh trạng cảm xúc hành vinhững biến chứng

4.   Viêc chấp nhận/ không chấp nhận điều trị

5.   Tái nghiện/ nguy cơ tiếp tục sử dụng ma tuư

6.   Môi trường: Cộng đồng, t́nh h́nh ma tuư ở địa phương

Những khía cạnh của việc đánh giá:

A. NGỘ ĐỘC CẤP TÍNH NGUY CƠ XUẤT HIỆN HỘI CHỨNG CAI VÀ CÁC BỆNH CƠ HỘI KÈM THEO:

1.  Những nguy cơ đi kèm với t́nh trạng ngộ độc cấp tính

2.  Nguy cơ hội chứng cai (Số lượng, số lần sử dụng, gần đây đối tượng cai nghiện như thế nào?)

3.  Có xuất hiện những dấu hiệu của hội chứng cai hay không?

4.  Được giúp đỡ trong quá tŕnh cắt cơn giải độc

5.  Rối loạn y – sinh học và những biến chứng

6.  Các bệnh cơ hội khác ngoại hội chứng cai

7.  Các bệnh măn tính ngoài hội chứng cai

8.  Chăm sóc t́nh trạng bệnh lưhội chứng cai

B. TRẠNG THÁI CẢM XÚC/ HÀNH VI VÀ NHỮNG BIẾN CHỨNG:

1.     Việc điều trị trở nên phức tạp nếu người nghiện mắc bệnh tâm thần hay rối loạn cảm xúc – tâm lư hành vi

2.     Người nghiện có mắc những bệnh măn tính, bệnh cơ hội đều ảnh hưởng đến công tác điều trị - Không được bỏ sót các bệnh này.

C. VIỆC CHẤP NHẬN, KHÔNG CHẤP NHẬN ĐIỀU TRỊ CẦN XÁC ĐỊNH RƠ:

1.   Người nghiện quyết tâm điều trị không?

2.   Người nghiện có cảm thấy bị cưỡng bức khi phải điều trị không?

3.   Người nghiện đă sẵn sàng thay đổi như thế nào khi được giải thích rơ các vấn đề?

4.   Người nghiện có biểu hiện chấp nhận điều trị là do bị cưỡng ép hay tự nguyện?

5.   Người bệnh lo âu, chán nản về vấn đề nghiện của ḿnh như thế nào?

D. VIỆC TÁI NGHIỆN VÀ NGUY CƠ TIẾP TỤC SỬ DỤNG MA TUƯ:

1.   Người nghiện có tâm trạng cực kỳ chán nản không?

2.   Người nghiện có tiếp tục sử dụng ma tuư không?

3.   Người nghiện có nắm được kỹ năng nhằm đương đầu với nguy cơ tái nghiện hay tiếp tục sử dụng ma tuư không?

4.   Những vấn đề tồn đọngtác nhân gây ức chế đă được giải quyết trước khi họ được an toàn xuất viện như thế nào?

5.   Nhận thức của đối tượng về nguyên nhân và quá tŕnh cai nghiện, về cách đối phó với cảm giác thèm thuốc và kiểm soát tính bốc đồng.

 

 


 

 

Bài 4

NHỮNG PHƯƠNG PHÁP

ĐIỀU TRỊ NGHIỆN MA TUƯ KHÔNG DÙNG THUỐC

Nghiện ma túy là một bệnh năo măn tính, khó chữa có đặc tính là dễ tái nghiện. Việc điều trị phục hồi cho người nghiện ma túy đ̣i hỏi ngoài t́nh thươngthấu cảm đối với người cai nghiện c̣n phải kiên nhẫn và phải có kiến thức về cai nghiện ma túy.

Việc t́m kiếm mô h́nh điều trị cho người nghiện ma túy rất khó khănkhông có mô h́nh cai nghiện chung nào thích hợp với mọi loại người nghiện. Mô h́nh điều trị tốt cho người này chưa hẳn đă phù hợp với người khác. Một phương pháp điều trị hiệu quả phải dựa vào nguyên tắc cơ bảnlàm thế nào phương pháp cai nghiện đó đáp ứng được tính chất và yêu cầu đa dạng của người nghiện chứ không chỉ đơn thuần nhằm vào việc sử dụng ma túy của họ.

Quá tŕnh điều trị phải được đánh giá thường xuyên bởi một nhóm điều trị gồm các bác sĩ nội khoa có hiểu biết về chuyên ngành ma túy, bác sĩ tâm thần, bác sĩ điều dưỡng – phục hồi, các nhà giáo dục - hướng nghiệp, các nhà tư vấn - tâm lư học – xă hội học, các cán bộ quản lư…Quá tŕnh điều trị này phải được chuyển đổi kịp thời theo những rối loạn tâm sinh lư của người nghiện ma túy mà chuyên môn ngành nào, ngành ấy phải giải quyết – nhưng bắt buộc các thành viên của nhóm điều trị phải phối hợp tác nghiệp ở một thể thống nhất khi đánh giálập kế hoạch điều trị cho đối tượng, nhằm kết hợp lĩnh vực ḿnhlĩnh vực chuyên môn của người khác.

Khi người nghiện sử dụng ma túy càng lâu, liều lượng càng tăng th́ hậu quả tác hại càng nhiềucàng nặng nề bấy nhiêu. Những tác động của ma túy trên năo bộ gây ra những tổn thương tạm thời hoặc vĩnh viễn trên người nghiện, làm người nghiện ma túy suy giảm khả năng phán đoán, phân tích, tổng hợp, xử lư thông tin, khả năng tự chủ: người nghiện rất khó khăn khi đưa ra một quyết định đúng đắn. Thêm vào đó, họ lại thiếu nghị lực, thiếu sáng suốt, thiếu ư chí để thực hiện quyết định của ḿnh. Do kư ức hồi tưởng, người nghiện rất dễbị gợi nhớ đến ma túy khi gặp lại những h́nh ảnh, vụ việc liên quan đến việc sử ma túy trước đây: gặp ống chích, kim chích, bạn bè cũ, quán café cũ, nghe nhạc cũ, gặp hoàn cảnh cũ, hay khi nghĩ đến những khoái cảm ngây ngất do sử dụng ma túy: họ bị kích động mạnh mẽ khiến đối tượng rất dễ tái nghiện.

lệ thuộc vào ma túy, cuộc sống người nghiện suốt ngày loanh quanh trong việc t́m kiếm, sử dụng ma túy. Đó là phương thức tồn tại của người nghiện.

Về mặt hành vi, người nghiện phát triển những cách ứng xử không thích nghi và nhiều thói quen xấu – những hành vi đó đă ngăn cách người nghiện với cộng đồng, người nghiện mất đi ḷng tự trọng, tinh thần trách nhiệm. Hầu hết người nghiện không cần hoặc không c̣n khả năng hiểu biết những hậu quả do hành vi ḿnh gây nên.

Người nghiện ma túy không đủ nghị lực cũng như không đủ nhận thức để sống một cách trong sạch, lành mạnh, có kỹ năng làm việc. Về mặt tinh thần, sức khỏe, nghề nghiệp, trách nhiệm với gia đ́nh, xă hội …có thể suy sụp đến một mức làm sự điều trị - phục hồi cho đối tượng trở thành hết sức khó khăn.

Cai nghiện được gọi là thành công không chỉnhằm vào mục tiêu người nghiện không tái sử dụng ma túy mà c̣n đ̣i hỏi đối tượng phải có một lối sống điều độ, tự quản lư bản thân một cách tốt đẹpthực hiện thành công sự thay đổi về nhận thức.

Tóm lại có 4 vấn đề chính cần phải giải quyết trên đối tượng nghiện ma túy đó là:

1.     Tổn thương hệ thống năo bộvà các vấn đề tâm thần của người nghiện ma túy.

2.     Rối loạnxuống cấp nhận thứchành vinhân cách.

3.     Chấn thương tâm lư: đâykhông phải một hành động nhất thời mà là một quá tŕnh diễn biến đầy phức tạp của nội tâm cũng như bối cảnh đa phương diện đối với bản thân, gia đ́nhxă hội của người nghiện ma túy.

4. Người nghiện ma túy hầu hết đều ở trong t́nh trạng đói ma túy trường diễn, kể cả sau khi cai nghiện. Hội chứng hồi tưởng, chấn thương tâm lư, tổn thương năo bộ, rối loạn hành vi nhân cách rất dễ dẫn người đă cai nghiện đến tái sử dụng ma túy.

Bốn vấn đề chính tác động qua lại lẫn nhau- chúng vừa là nguyên nhân cũng vừa là hậu quả của việc sử dụng ma túy. Nếu chúng ta giải quyết không toàn diện và triệt để sẽ dễ dẫn người đă cai nghiện đến tái nghiện.

B. NHỮNG NGUYÊN TẮC CƠ BẢN TRONG CAI NGHIỆN PHỤC HỒI

Qua bảng phân tích trên, chúng ta đă thấy cai nghiện ma túy rất khó khăn và phức tạp. Y VĂN đă rút ra một số kết luận sau:

1.      NGUYÊN TẮC ĐIỀU TRỊ:

Không có một loại thuốc, một biện pháp đơn thuần nào (châm cứu, bấm huyệt, phẫu thuật ….) có thể chữa được bệnh nghiện ma túy mà phải đ̣i hỏi một liệu pháp tổng hợp, đồng bộ, xuyên suốt, khép kín, linh hoạt, kịp thời”.

2. BIỆN PHÁP THỰC HIỆN:

Trong điều trị bệnh nghiện ma túy những biện pháp đơn thuần như sử dụng thuốc, châm cứu, bấm huyệt chỉ là biện pháp hỗ trợ cho cắt cơn, giải độc cũng như chống tái nghiện. Biện pháp chủ yếu để cai nghiện thành công người nghiện phải được điều trị toàn diện: ngoài việc sử dụng thuốc người cai nghiện c̣n phải được gọt dũa, điều chỉnh, phục hồi nhận thức, hành vi, nhân cách, giải quyết những chấn thương tâm lư, mâu thuẫn nội tâm thông qua các biện pháp điều trị không dùng thuốc bao gồm:

+       Tư vấn

+       Liệu pháp Tâm lư

+       Quản lư ca

+       Liệu pháp Học tập Xă hội – Tự giúp đỡ (SSTLM)

Một người nghiện nếu không được giải quyết các vấn đề nêu trên th́ sau khi cai nghiện về, hầu hết sẽ tái nghiện. Điều này lư giải tại sao các chương tŕnh cai nghiện thường thất bại và đạt kết quả thấp.

Để hiểu rơ các phương pháp điều trị nêu trên, đề nghị các bạn tham khảo tại mục Nghiên cứu Khoa học - Bài 4:“Vai tṛ Tư vấn – Tâm lư trị liệu – Quản lư ca trong cai nghiện – phục hồi” và tại mục: “Các phương pháp điều trị nghiện ma túy” Phần 2 Bài 3: “Giai đoạn điều trị nội trú tập trung” tại trang web này của Trung tâm.

3. YẾU TỐ QUYẾT TÂM CAI NGHIỆN CỦA ĐỐI TƯỢNG:

yếu tố tiên quyết nhưng không phải yếu tố quyết định trong việc cai nghiện ma túy.

Khi đối tượng không chịu cai nghiện th́ khó có thể chữa được bệnh. Tuy nhiên, biện pháp cai nghiện bắt buộc không phải là không có kết quả. Tại các trung tâm cai nghiện cưỡng bức, đối tượng có thời gian cách ly với môi trường ma túy, sẽ có thời gian suy nghĩ lại ḿnh. Nếu tại các trung tâm cai nghiện tốt, đối tượng sẽ được giúp đỡ, quan tâm, giáo dục đúng đắn; do đó nhận thức, tư tưởng đối tượng sẽ chuyển đổi dần thành cai nghiện tự nguyện. Trái lại, tại các trung tâm cai nghiện không tốttự nguyện hay không tự nguyện cũng sẽ dẫn đối tượng tới những đối kháng với trung tâm, dẫn tới đối kháng thêm với gia đ́nh, dễ có những hành vi hung hăng, bạo loạn bộc phát. Tại các trung tâm không tốt trên, một số đối tượng khác không thể phản kháng được, âm thầm chấp nhận cai nghiện nhưng rất dễ dẫn đến trầm cảm phản ứng, phải chấp nhận thời gian cai nghiện nhưng sau khi rời trung tâm trở về dễ bùng phát dẫn đến tái nghiện nhanh.

4. ĐIỀU TRỊ CÓ KẾT QUẢ PHẢI DUY TR̀ THỜI GIAN ĐIỀU TRỊ ĐỦ DÀI:

Để phục hồi hệ thống năo bộ, gọt dũa, điều chỉnh lại nhận thức, hành vi, nhân cách, giải quyết các chấn thương tâm lư, mâu thuẫn nội tâm, trang bị bản lĩnh, kỹ năng sống, phát hiện các yếu tố nguy cơ và cácyếu tố bảo vệ để biết cách vươn lên, xa lánh môi trường xấu, phát huy lợi thế hoàn cảnh bản thân.

Thời gian cai nghiện lư tưởngtừ 6 tháng đến 2 năm. Trong thời gian cai nghiện, một số trường hợp không nhất thiết phải cách ly hoàn toàn với xă hội mà nên dùng những biện pháp cai nghiện ngoại trú hoặc kết hợp giữa nội trúngoại trú, đồng thời áp dụng những phương cách để người nghiện không sử dụng ma túy (Ví dụ: giúp đỡ, hỗ trợ nhưng kèm theo những biện pháp quản lư chặt chẽ tại cộng đồng, điều trị kết hợp nội trúngoại trú bằng thuốc Naltrexone trong cai nghiện Heroine …) – tuy nhiên, dù biện pháp ǵ chăng nữa th́ công tácgiáo dục, gọt dũa, phục hồi nhận thức, hành vi, nhân cách và giải quyết cácchấn thương tâm lư không thể thiếu được.

Một quan điểm rất sai lầm của nhiều người là cắt cơn nghiện là đă chữa xong bệnh nghiện ma túy. Thực chất cắt cơn nghiện ma túy chỉ là giai đoạn đầu để chuẩn bị cho mọi quy tŕnh điều trị, cai nghiện rất khó khăn tiếp theo. Bản thân việc cắt cơn nghiện có rất ít tác động đến việc thay đổi t́nh trạng sử dụng ma túy của đối tượng mà cần phải điều trị sau cắt cơn một thời gian dài. Việc cắt cơn nghiện được ví như chiếc xe nổ máy nhưng chưa chạy được.

Do các rối loạn tâm trí thực tổn, các phản ứng tâm sinh lư và đặc biệt là chứng hồi tưởng: dẫn người nghiện đến những cơn thèm nhớ ma túy với tất cả sự khoái cảm của nó và sự phản ứng yếu ớt của bản thân trước sự quyến rũ của ma túy. Nếu được điều trị tích cực, đúng cách, đủ thời gian, cách ly với môi trường ma túy: cường độ và tần số nhớ này sẽ giảm dần, tổn thương hệ thống năo bộ được phục hồi, ngoài ra bệnh nhân c̣n được trang bịbản lĩnh và kỹ năng sống, biết được ưu nhược điểm bản thân đểvươn lên trong hoàn cảnh của ḿnh. Tuy nhiên, cần lưu ư là ngay cả khi tạm gọi là cai nghiện thành công, người nghiện vẫn phải tiếp tục cai nghiện cả đời.

II.  GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRỊ CẮT CƠN - GIẢI ĐỘC - NÂNG CAO SỨC KHỎE:

+  Tiến hành ghi chép bệnh án theo lời khai bệnh nhân - Bác sĩ khám bệnh và cho Y lệnh điều trị - chú ư phát hiện các bệnh tâm thần - bệnh cơ hội.

+  Xác định các loại ma tuư và liều lượng ma túy mà đối tượng đă sử dụng để định hướng cắt cơn.

+  Phát đồ cắt cơn: phác đồ an thần kinh của Bộ Y tế đối với bệnh nhân sử dụng Heroine.

+  Thực hiện tư vấn tâm lư trước khi cắt cơn

+  Kết hợp sử dụng thuốc với biện pháp tâm lư và các biện pháp phục hồi chức năng: cắt cơn trong pḥng lạnh (lạnh trị liệu) - Massage - tắm hơi.

+  Cắt cơn kết hợp với điều trị các bệnh cơ hội (Nếu cần thiết phải điều trị ngay).

+  Nâng cao sức khỏe.

III. GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRỊ - GIÁO DỤC NHẰM GỌT GIŨA - ĐIỀU CHỈNH - PHỤC HỒI NHẬN THỨC - HÀNH VI - NHÂN CÁCH bao gồm:

1.   NÂNG CAO NHẬN THỨC -TR̀NH ĐỘ học viên:

1.1 DẠY VĂN HÓA:

1.2 HỌC TẬP CÁC CHUYÊN ĐỀ: Giáo dục công dân + Giáo dục đạo đức + Giáo dục sức khỏe và cộng đồng + Giáo dục pháp luật, an ninh quốc pḥng + Giáo dục truyền thống.

1.3 GIÁO DỤC KẾT HỢP VỚI THỰC TIỄN: Xem phim - giao lưu - thăm viếng….

2.   GIÁO DỤC TRỊ LIỆU: nhằm nâng cao bản lĩnh và kỹ năng sống cho học viên.

2.1.GIÁO DỤC TƯ DUY TÍCH CỰC – TỰ CHỦ, QUẢN LƯ BẢN THÂN – NHẬN THỨC CÁC GIÁ TRỊ SỐNG (Living values). Chương tŕnh này được sự hỗ trợ của Tổ chức UNESCO và UNICEF (Liên hiệp quốc) và do CỤC PH̉NG CHỐNG TỆ NẠN XĂ HỘI - Bộ Lao động - Thương binh & Xă hội huấn luyện.

1.       TƯ DUY TÍCH CỰC:

Khi ta làm những ǵ  - cảm nhận những ǵ cũng bắt đầu từ một suy nghĩ và đều nhận sau đó mọi hệ quả của nó tác động vào bản thânmôi trường, mối quan hệ chung quanh.  

Chúng ta có 4 loại suy nghĩ chính sau đây:

-       Suy nghĩ tích cực: Suy nghĩ mang lại ích lợi cho chính bản thân bạn và cho những người khác. Đó là những suy nghĩ về sự chấp nhận, ḥa b́nh, lạc quan, khoan dung,...Suy nghĩ tích cực là thấy một chiếc ly “đầy nửa ly” thay v́ “vơi nửa ly”; nghĩa là thấy cái ǵ mà bạn có và tập trung vào đó thay v́ cảm thấy thất vọng về những cái mà bạn không có. Suy nghĩ tích cực giúp bạn hạnh phúc hơn nhiều trong cuộc sống.

-       Suy nghĩ tiêu cực: Những suy nghĩ có hại cho chính bạn và cho những người khác. Đó là những suy nghĩ thể hiện sự giận dữ, không thể chịu đựng, chỉ trích, phân biệt ……

-       Suy nghĩ vô ích: Suy nghĩ về quá khứ hay những thứ vượt qua kiểm soát của bạn: “Tại sao?”; “Giá như...”, ...Suy nghĩ loại này bao gồm cả sự nghi ngờ, hối tiếc, ảo vọng không thực tế, lo lắng về những việc nhỏ nhặt.

-       Suy nghĩ cần thiết: Những suy nghĩ để lập kế hoạch cho ngày làm việc của bạn; “Tôi cần phải gặp người này vào thời điểm này, tôi cần phải đi đến nơi này,...”

Suy nghĩ tích cực giúp ta có hành động tốt. Hành động này tác động tự tinổn định cho bản thân đồng thời tác động với môi trườngmối quan hệ quanh ta. Trái lại, nếu chúng ta suy nghĩ tiêu cực, ta sẽ phải trải qua những điều buồn chán, căng thẳngchính ta sẽ là người chịu đựng. Ví dụ:

 

Nếu ta thay thế những suy nghĩ tiêu cực bằng suy nghĩ tích cực ta sẽ có những niềm vui mới và nhiều thành công hơn:

Những bước giúp thay đổi phản ứng tiêu cực sang tích cực:

Bước 1: Tôi chú ư những ǵ tôi nói và cách tôi phản ứng người khác. Tôi kiểm tra và thay đổi chính tôichứ không phải những người khác.

Bước 2: Nếu tôi thấy chính tôi chỉ tríchphản ứng những người khác, tôi thay thế những ư nghĩ này bằng những ư nghĩ, phản ứng hữu íchtích cực.

Bước 3: Bất cứ khi nào tôi có những ư nghĩ tiêu cực về chính tôi, người khác và hoàn cảnh, tôi tập trung nh́n vào những khía cạnh tốttích cực.

Bước 4: Khi tôi đối mặt với những thử thách – Tôi chấp nhận rằng tôi thể thay đổitập trung t́m kiếm những giải pháp có lợihiệu quả.

Bước 5: Ngày hôm nay tôi ghi lại những điểm tích cực của mọi người xung quanh và tập sống tốt giống như vậy.

Bước 6: Ngày hôm nay tôi đă xác định rằng những sức mạnh, khả năng cùng với mục tiêu của cuộc đời tôi là hiện thực. Tôi không quan tâm những lúc nản ḷng và tôi cũng không bị tác động nào ảnh hưởng được trên con đường tự khẳng định hạnh phúc sẵn có của ḿnh.

Sức mạnh và hiệu quả của ư nghĩ: giúp đối tượng

-       Có trách nhiệm về những ư nghĩ của ḿnh.

-       Ư nghĩ có sức mạnh rất lớn, tạo nên cảm xúc dẫn tới hành động.

-       Sự lặp đi lặp lại thường xuyên của các ư nghĩ tích cực sẽ tạo niềm tin và thái độ rơ ràng.

-       Các ư nghĩ giống như những hạt giống gieo trồng trong tâm trí. Càng đầu tư càng thêm nhiều sức mạnh cho ư tưởng đó.

-       Các ư nghĩ tích cực cho ta nghị lựcsức mạnh.

-       Các ư nghĩ tiêu cực khiến ta đánh mất sức mạnh, khiến ta mệt mỏikiệt quệ.

-       Cần mất thời gian để thay đổi các tư duy cũ. Hăy kiên nhẫn với chính ḿnh.

 

1/   Tự kiểm soát làm chủ bản thân:

      + Người nghiện ma tuư vốn  rối loạn tâm sinh lư nên rất dễ bị lôi cuốn, kích động trước một vấn đề ǵ, đó là  một trong những cái cớ để họ trở lại với việc tái sử dụng ma tuư.

      + Bằng phương pháp tư duy tích cực đối tượng  có thể điều chỉnh được những hành động suy nghĩ của chính ḿnh bằng sự  tự kiểm soát làm chủ bản thân. 

    Hai yêu cầu chủ yếu của tự kiểm soát làm chủ bản thân là:

           - Tinh thần khách quan.

           - B́nh tĩnh đánh giá sự việc và cách giải quyết.

Tinh thần thần khách quan làm đối tượng nh́n nhận rơ hơn sự việc và con người của ḿnh không làm sai lạc nhận thức và phán xét của ḿnh.

Từ những dữ kiện có được, đối tượng phải b́nh tĩnh đánh giá lại t́nh huống, sự việc một cách có t́nh có lư và từ đó vạch ra hướng giải quyết vấn đề.

Để giáo dục người nghiện ma tuư, phải thực hiện việc này một cách thường xuyên  cho họ tự đánh giá và tŕnh bày cách giải quyết và cách thực hiện.

Động tác này được lập đi lập lại để trở thành một thói quen tốt.

   Để đạt được hai yêu cầu trên đối tượng cần phải tập các đức tính sau:

       Trách nhiệm: Khi đă quyết định và hành động đối tượng phải dũng cảm chấp nhận những hậu quả, việc làm của ḿnh, không đổ lỗi nhưng cũng không phải khư khư giữ lấy ư kiến ḿnh mà phải can đảm nh́n lại các mặt của vấn đề, phát huy những mặt tốt và cương quyết loại bỏ những cái sai, cái xấu để điều chỉnh lại quyết định và chương tŕnh hành động.

       Tinh thần tập thể: “ Gieo là gặt ” sự hợp tác sẽ dẫn đến sự hợp tác, sức mạnh hợp tác sẽ tạo cho công việc dễ dàng và vui vẻ. Người nghiện ma tuư bản thân sống rất chủ quan và ích kỷ do h́nh thành nhũng thói quen xấu, tinh thần tập thể sẽ tạo cho họ sự thoải mái, nhận thức được chân giá trị của cộng đồng, trách nhiệm vai tṛ của cá nhân trong tập thể.

       Tự kiểm soát làm chủ bản thân là một sự tập luyện lâu dài, đối tượng phải được từng bước làm quen và tiến hành thực hiện bằng những t́nh huống do nhà quản lư đặt ra hoặc những công việc, vụ việc cụ thể trong đời sống cộng đồng .

       Đối tượng phải được đóng góp sự giúp đỡ của nhà quản lư , của tập thể thông qua tư vấn cá nhân, tư vấn nhóm hoặc trong giao ban buổi sáng tại các trung tâm cai nghiện.

       Khi đối tượng đạt được các đức tính trên họ có thể hi vọng đối phó với những nghịch cảnh, nhũng t́nh huống không thuận lợi.

2/   Nhận thức về những giá trị sống:

     CHƯƠNG TR̀NH GIÁO DỤC NHỮNG GIÁ TRỊ SỐNG là một chương tŕnh của nhiều nhà giáo dục trên toàn thế giới – chương tŕnh này được sự hỗ trợ của UNESCO – Nhóm giáo dục của UNICEF và nhiều tổ chức khác. Nội dung chương tŕnh nhằm giáo dục các giá trị về cá nhân – xă hội bao gồm các đức tính: Hợp tác – Tự do - Hạnh phúc – Trung thực – Khiêm tốn – T́nh yêu – Ḥa b́nh – Tôn trọng – Trách nhiệm – Giản dị – Khoan dung và Đoàn kết.

1)    Mục đích của chương tŕnh là:

·        Giúp đỡ các cá nhân suy nghĩ những giá trị cuộc sống – các tác động thực tế trong việc thể hiện những giá trị này khi liên hệ với chính ḿnh, với người khác, với cộng đồng.

·        Để đối tượng hiểu sâu sắc hơn về động cơ, trách nhiệm liên quan đến những suy nghĩ  - hành động của bản thân.

·        Điều chỉnh cho đối tượng nhận thức những giá trị cá nhân, xă hội về đạo đức, tinh thần, lối sống – phát triển và làm sâu sắc hơn các giá trị này.

·        Để các nhà quản lư, giáo dục thấy rơ phương pháp giáo dục  là một phương pháp trị liệu quan trọng giúp đối tượng có thể ḥa nhập vào cộng đồng với sự tôn trọng – tự tin và có mục đích.

2) Chương tŕnh được xây dựng trên 3 luận điểm cơ bản là:

·      Dạy sự tôn trọng nhân phẩm cho mỗi người và mọi người,

·      Khả năng sáng tạo và học tập một cách tích cực khi có cơ hội.

·      Phát triển trong một môi trường tích cực, an toàn, có sự tôn trọng và chăm sóc lẫn nhau.

  IX. XÂY DỰNG NIỀM TIN TRONG MÔI TRƯỜNG TRỊ LIỆU CỘNG ĐỒNG:

Danh ngôn ta có câu: “NIỀM TIN CHỞ ĐƯỢC NÚI”. Xây dựng được niềm tin trong môi trường trị liệu cộng đồng là một trong những yếu tố quan trọng nhằm điều trị và phục hồi cho đối tượng cai nghiện.

         * Niềm tin vào sự tồn tại của ḷng tốt:

      Khi chúng ta dẫn dắt đối tượng của cộng đồng quay trở về quá khứ, chính chúng ta đă giúp đối tượng đối diện với sự thật, nói ra những điều bí mật mà đối tượng dấu diếm trong ḷng để t́m cách học hỏi từ những vấp váp mà đối tượng đă từng gặp phải. Mặc dù gặp bất hạnh như thế nào trong cuộc đời th́ đối tượng cũng không nên đeo đẵng măi những suy nghĩ về những điều đă xảy ra. Chúng ta không đánh giá con người qua những việc mà đối tượng đă làm trong quá khứ mà cần thái độ trung thực để sữa chữa những sai lầm của quá khứ. Người nghiện có thể thay đổi nhưng chỉ khi anh ta thật sự mong muốn ḿnh thay đổi. Nếu như đối tượng cố gắng nổ lực không ngừng th́ nhất định cuối cùng cũng duy tŕ được một lối sống lành mạnh. Đó chính là điều mà trị liệu cộng đồng tin tưởng.

       * Niềm tin vào khả năng hối cải và phục thiện của con người:

        Có một thời gian khá dài cả xă hội đều tin chắc một điều rằng “người nghiện th́ măi măi sẽ là người nghiện”. Môi trường trị liệu cộng đồng đă bác bỏ điều này v́ qua thực tiễn, nhiều người đă từng tham gia điều trị, đă vượt qua được sự cám dỗ của ma tuư và nay đang sống một cuộc sống lành mạnh. Không ít người trong số họ vẫn đang tiếp tục cuộc chiến chống lại nguy cơ tái nghiện. Những ai không bỏ cuộc th́ nhất định cuối cùng sẽ có một cuộc sống b́nh thường và ổn định.

        * Niềm tin vào việc giúp người khác cũng là giúp chính bản thân ḿnh:

        Một trong những phẩm chất quư báu mà đối tượng sau khi điều trị ở môi trường trị liệu cộng đồng có được là việc luôn sẵn sàng giúp đỡ những ai cần sự giúp đỡ. Khái niệm “cho” hầu như trở nên quen thuộc đối với mọi người. Đối tượng muốn duy tŕ một lối sống lành mạnh th́ đối tượng phải biết chia sẽ những ǵ mà anh ta nhận được, anh ta mới là người sở hữu thật sự của chúng. Có một câu nói rất hay mô tả  được hết ư nghĩa của khái niệm “cho” trong môi trường trị liệu cộng đồng : “Bạn sẽ không thể chịu đựng nổi  vấn đề trừ khi bạn chia sẽ với người khác”.

        * Niềm tin vào phẩm giá của con người:

        Có một phẩm chất đạo đức của con người mà ta luôn luôn phải coi trọng đó chính là phẩm giá hay giá trị của con người. Khi người nghiện có niềm tự  hào về phẩm giá của ḿnh thường tích cực tham gia vào chương tŕnh điều trị - phục hồi v́ đó là biện pháp giúp họ nhanh chóng chuyển đổi thái độ và hành vi, nhằm lấy lại những ǵ mà họ đă mất.

       Thành viên nào vốn đă có niềm tự hào về phẩm chất th́ thường tỏ ra là một người tốt của cộng đồng, tuân thủ các quy tắc về trách nhiệm đối với thái độ, hành vi của ḿnh. Duy tŕ được niềm tự hào về - phẩm chất trong lối sống sẽ giúp con người tránh xa ma tuư và tránh xa được cả những yếu tố tiêu cực luôn đi kèm theo nó.

 

 

 X. XÂY DỰNG YẾU TỐ TINH THẦN TRONG MÔI TRƯỜNG TRỊ LIỆU CỘNG ĐỒNG:

      * Trong bất cứ cuộc thảo luận nào về yếu tố tinh thần trong môi trường trị liệu cộng đồng hầu như người ta cũng dễ nói lạc sang chủ đề tôn giáo và tín ngưỡng. Nhằm tránh việc nhằm lẫn giữa yếu tố tinh thần và khái niệm tôn giáo, tinh thần trong cộng đồng trị liệu được định nghĩa là: “ bất kỳ hành động hay hoạt động nào thể hiện, phản ánh ḷng tốt của con người”. Đây là một định nghĩa khái quát, nó bao gồm rất nhiều loại hoạt động của con người kể cả hoạt động tôn giáo hay những việc làm có ích giúp tăng cường nhận thức của con người.

         Chương tŕnh trị liệu cộng đồng không phải là một chương tŕnh thuần túy nói về yếu tố tinh thần mà c̣n cần phải sử dụng nhiều biện pháp trị liệu khác. Yếu tố tinh thần chỉ được sử dụng với khía cạnh giúp cho quá tŕnh thay đổi, phục hồi của người nghiện thông qua việc nh́n nhận cuộc sống dưới một góc độ khác. Điều quan trọng ở đây là sự góp phần điều trị nhằm tăng cường nhận thức cho người nghiện trong giai đoạn phục hồi.

       Cuộc sống trong cộng đồng là một cuộc sống tập thể. Cuộc sống tập thể ở đây tạo ra những điều kiện cần thiết cho người nghiện ma tuư để họ có thể nhanh chóng phục hồi trong môi trường có định hướng rơ ràng về “mục đích và kết quả”. Họ cần phải biết được thế nào là hành vi đúng trước khi có thể bước vào quá tŕnh phục hồi. Đây chính là một thử thách lớn không chỉ với họ mà c̣n với tất cả các nhân viên điều trị.

Sau khi đă t́m lại được chính bản thân ḿnh, người nghiện bắt đầu quá tŕnh học hỏi những giá trị của cuộc sống, hệ thống niềm tin trong cộng đồng, mối quan hệ xă hội, định hướng nghề nghiệp nhằm hướng tới một cuộc sống lành mạnh, không có ma tuư Sự thay đổi lớn lao trong thái độ của đối tượng ở giai đoạn này là rất đáng chú ư. Đối tượng tỏ ra có triển vọng và trở nên có tinh thần trách nhiệm trong lao động và hành vi ứng xử. Anh ta đă có cuộc sống đời thăng trầm ch́m nổi nhưng đối tượng đă biết chấp nhận sự thật, biết kiểm soát nó và t́m kiếm sự giúp đỡ khi cần thiết. Đối tượng hiểu rằng cuộc chiến chống lại sự cám dỗ của ma tuư vẫn chưa chấm dứt và vẫn c̣n phải rèn luyện thêm những điều đă học để có thể duy tŕ một cuộc sống lành mạnh lâu dài. Một người nghiện không đơn thuần là sự phụ thuộc vào ma tuư mà c̣n là sự lệ thuộc vào quá khứ cùng những yếu tố xă hội đi liền với quá khứ ấy. Đối tượng phải biết có thể đốt thành tro tất cả những nổ lực bấy lâu nay nhằm đạt được sự phục hồi. Do đó phải tránh mọi mối liên quan dẫn đến quá khứ tội lỗi đó là yếu tố tiên quyết để duy tŕ cuộc sống lành mạnh không ma tuư.

       Để duy tŕ được những ǵ mà được học, đối tượng phải biết cách chia xẽ những quan điểm – hành vi đúng đắn cho người khác. Đối tượng đă hoàn tất giai đoạn này, phải biết cách dạy lại những thành viên mới bằng chính ví dụ cuộc đời đối tượng. Vai tṛ của đối tượng trong cộng đồng bây giờ là dạy lại những điều ḿnh được học. Chỉ có như vậy đối tượng mới thật sự hiểu hết ư nghĩa của mọi vấn đề đă học và có trách nhiệm hơn đối với hệ thống niềm tin trong môi trường trị liệu cộng đồng. 

KẾT LUẬN

         Nghiện ma túy là một bệnh măn tính, khó chữa, có đặc tính là dễ tái nghiện. Việc cắt cơn nghiện có rất ít tác động đến việc thay đổi t́nh trạng sử dụng ma túy của đối tượng. Do những tổn thương về hệ thống năo bộ tạo nên những rối loạn về hành vi- nhân cách của người bệnh - suy giảm khả năng xét đoán - xử lư thông tin - mất khả năng tự chủ - h́nh thành những thói quen xấu sau một thời gian sử dụng ma túy. Người nghiện ma túy là một người đa nhân cách.

         Lạm dụng ma túy là hội chứng rối loạn toàn cơ thể bắt nguồn từ nhiều lư do khác nhau: Tâm sinh lư người bệnh - hoàn cảnh cá nhân, ảnh hưởng do gia đ́nh và tác động của xă hội.

         Việc sử dụng thuốc chỉ có một tác dụng giới hạn mà cần những biện pháp điều trị tổng hợp: Việc điều trị không chỉ nhằm vào việc cai nghiện của đối tượng mà phải giải quyết tận gốc những vấn đề liên quan đến hành vi - nhân cách, hoàn cảnh cá nhân, gia đ́nh xă hội và động cơ đă ảnh hưởng đến việc nghiện ma túy của từng đối tượng.

          Từ những lư do trên việc trị liệu cho người nghiện trong một môi trường trị liệu cộng đồng là rất cần thiết. Khác với những phương thức điều trị cổ điển, quy ước chỉ gồm thầy thuốc và bệnh nhân, trị liệu cộng đồng đă huy động được toàn bộ những nguồn nhân lực là bệnh nhân - thân nhân bệnh nhân - tập thể người bệnh cũng như toàn bộ nhân viên Trung Tâm tập trung vào mục đích điều trị cho mỗi bệnh nhân, tạo nên một sức mạnh tổng hợp. Với thời gian điều trị dài và những biện pháp đúng đắn nhằm gọt dũa, phục hồi hành vi - nhân cách, tạo cho người cai nghiện những nhận thức đúng đắn, h́nh thành những thói quen, nếp sống tốt để khi trở về với xă hội họ được trang bị bản lĩnh sống với ḷng tự tin và sự tự trọng. Họ sẽ từng bước tiến lên trong cuộc sống với sự hỗ trợ của toàn xă hội.


 

        Bài 5:

 VAI TR̉ TƯ VẤN - TÂM LƯ TRỊ LIỆU – QUẢN LƯ CA TRONG CAI NGHIỆN - PHỤC HỒI

A)  VAI TR̉ CÔNG TÁC TƯ VẤN VÀ TRỊ LIỆU TÂM LƯ TRONG CAI NGHIỆN – PHỤC HỒI CHO NGƯỜI NGHIỆN MA TÚY:

        Việc pḥng chữa bệnh nghiện ma túy điều trị phục hồi cho đối tượng cai nghiện liên quan đến nhiều chuyên ngành . Việc sử dụng ma túy đă phát sinh những biểu hiện bệnh lư nặng nề, khó khăn trong việc điều trị, trong đó cần sự can thiệp điều chỉnh nhân cách hành vi của đối tượng nghiện ma túy và chống tái nghiện, t́m hiểu nguyên nhân và can thiệp sớm.

1)  PH̉NG BỆNH:

1.1    SỰ CAN THIỆP CỦA TẬP THỂ VÀ GIA Đ̀NH có ảnh hưởng ngăn chặn việc đối tượng sử dụng ma túy, tuy nhiên sự đam mê và tính phức tạp của các vấn đề thường dẫn sự can thiệp đến thất bại , nếu sự can thiệp quá đơn giản hoặc quá chậm.

Các nỗ lực pḥng bệnh trước hết là ưu tiên cho việc giáo dụcthuyết phụcSử dụng các báo chí hiện nay vẫn là phương tiện chính mặc dù những phương pháp này vẫn có những mặt hạn chế nhất định.

1.2     CÁC PHƯƠNG TIỆN BÁO CHÍ quá ít trong khi các tác động trực tiếp và gián tiếp của ma túy đối với một số đối tượng lại khá mănh liệt. Bên cạnh đó các khẩu hiệu tuyên truyền hay giáo điều, thậm chí có mặt thô thiển trong việc giáo dục. Các cách giải quyết như trên có khi lại gây hậu quả trái ngược.

Đa số các chương tŕnh giáo dục pḥng bệnh qua các phương tiện thông tin thiếu thường xuyên và liên tục cho thấy hiệu quả không tốt . Không những các chương tŕnh này không giới hạn được việc tăng sử dụng ma túy mà có thể c̣n có tác động thúc đẩy bằng cách làm tăng việc thực nghiệm ma túy.

Một nghiên cứu được thực hiện trên 935 thanh niên học sinh đă cho thấy những người được theo một chương tŕnh giáo dục pḥng ngừa ma túy không chuẩn bị đầy đủ sẽ tăng kiến thức của họ về ma túy , nhưng đồng thời cũng làm tăng việc sử dụng rựơu, marijuana và LSD của họ ( Stuart, 1974 ).

Nguyên nhânsự việc này có thể gắn với sự tăng trí ṭ ṃ, với cáckiến thức thu được về việc sử dụng ma túy, nhất là đối với thanhthiếu niên ở trạng thái chống đối.

1.3     MỘT TIẾP CẬN KIÊN TR̀ yêu cầu sự tham gia tích cực sáng tạocủa thanh thiếu niên trái lại có thể đạt được những kết quả hơn các phương pháp truyền thống về thông tin và giáo dục pḥng bệnh.

V́ những lư do trên, việc thực hiện các chương tŕnh cần đầy đủvà công phu. Mục đích các chương tŕnh này nhằm làm tăng ḷng tự trọng và huy động sự phát triển bản thân hay đưa thanh niên tham gia các hoạt động có tổ chức, phát triển các năng lực của xă hội và bản thân đặc biệt là cac kỹ năng đặc hiệu để chống lạicó hiệu quả các ảnh hưởng xấu của bạn bè.

Nhiều nghiên cứu khác nhau đă cho thấy phương pháp này có hiệu quả trong việc đề pḥng nghiện ma túy khi được áp dụng ở cuối tuổi trẻ em và đầu tuổi thanh niên theo (Bagnall, 1990; Botvin và ctv, 1990; Johnson và ctv, 1990).

Việc giảng dạy các nhận thức và hành vi nhằm củng cố ḷng tự tin, chống lại các áp lực của việc lôi kéo của bạn bè, làm chủ trạng thái lo sợ giao tiếp một cách có hiệu quả hơnphát triểnmột mối quan hệ giữa người với người và xác định các quyền của họ kết hợp với các phương pháp như thao diễn, kiến tập, các tṛ chơi sắm vai và các nhiệm vụ phải thực hiện trong đời sống xă hội ; Chương tŕnh được thực hiện do những người hướng dẫn trong một ê – kíp . Nhóm hướng dẫn này phải được đào tạo về nhận thức – tŕnh độ nghiệp vụ. Trong trường hợp, trên 3684 thanh niên đă được giáo dục chỉ mới 60% chương tŕnh, đă thấy một hiệu quả pḥng bệnh có ư nghĩa sau ba năm đối với thuốc lá và ma túy.

Johnson và ctv. (1990) đă bổ sung công tŕnh của nhóm ở môi trường học đường bằng các tṛ chơi sắm vai trong gia đ́nh và huấn luyện bố mẹ về các kỹ xảo giao tiếp với thanh thiếu niên. Nghiên cứu theo chiều dọc của các tác giả này cho thấy hiệu quả pḥng bệnh đối với thuốc lá và ma túy.

2)   ĐIỀU TRỊ – PHỤC HỒI:

Điều trị nghiện ma túy là một sự tổng hợp của nhiều liệu pháp : liệu pháp sinh học, liệu pháp tâm lư (cá nhân, gia đ́nh, nhóm). Tư vấn (cá nhân – gia đ́nh – nhóm) và các liệu pháp y – xă hội. Thiếu sự nghiên cứu đánh giá việc tổng hợp liệu pháp khác nhau làm cho việc điều trị cai nghiện ma túy mang tính chất kinh nghiệm chủ nghĩa.

+ Thiếu một phương thức chiến lược cho việc điều trị dẫn đến việc đối tượng nghiện ma túy chán nản trong điều trị, thiếu quyết tâm và nghị lực – bỏ điều trị nửa chừng.

+ Cần phải phân biệt TƯ VẤN không phải là ĐIỀU TRỊ TÂM LƯ: (Liệu pháp Tâm lư)

*  TƯ VẤN là một tiến tŕnh tương tác, một cuộc đối thoại giữa đối tượng, gia đ́nh với nhân viên điều trị để nhằm mục tiêu :

+  Thấu hiểu t́nh trạng của đối tượngvà gia đ́nh, cảm xúc, nhận thức, hành vi.

+  Qua đó thúc đẩy thành công người nghiện và gia đ́nh tham gia việc điều trị.

TƯ VẤN giúp ta nhận thức được thực tại, nhấn mạnh vào yếu tố b́nh thường, từ đó sự trợ giúp phục hồi và giúp cho họ tự t́m ra con đường họ phải đi.

Với định nghĩa như vậy, bất kể là ai có quan tâm đến người nghiện, th́ đều làm tư vấn được.

*  ĐIỀU TRỊ TÂM LƯ nhấn mạnh vào việc mất chức năng, chú trọng vào việc phân tích để mưu sự tái thiết. Điều trị tâm lư th́ giúp đỡ bệnh nhân đi tới con đường đă được định hướng trước từ những phân tích sâu xa mà có.

Nhân viên điều trị không nên nhầm lẫn Tư vấn Tâm lư với việc Điều trị Tâm lư để cho rằng ḿnh không phải chuyên gia về tâm thầntừ chối tương tác với người nghiện.

Không có tư vấn, không bao giờ nhân viên điều trị có thể hiểu được đối tượng và giúp đỡ họ được.

SO SÁNH TƯ VẤN VÀ LIỆU PHÁP TÂM LƯ :

TƯ VẤN

LIỆU PHÁP TÂM LƯ

- Tính trực tiếp

- Không trực tiếp

- Tính giáo dục

- Gợi mở tư duy

Hỗ trợ

- Tính cấu trúc lại – T́m kiếm sự lập lại các hành vi

- T́nh h́nh và sự phát triển

- Tác động mạnh về tâm lư

- Giải quyết các vấn đề

- Phân tích

Nêu ra những vấn đề về mặt nhận thức

Suy ngẫm về những hành vi đă qua

Nhấn mạnh vào cái ǵ được coi là hành vi tốt và chưa tốt

Hướng vào vấn đề tồn tại về mặt t́nh cảm

 

 3) KỸ NĂNG TƯ VẤN CÁ NHÂN – GIA Đ̀NH - NHÓM:

3.1    ĐỊNH NGHĨA:

Tư vấn là một quá tŕnh giúp đỡ một cá nhân, gia đ́nh hoặc nhóm người giải quyết những khó khăn của họ. Hoạt động tư vấn không chỉ nhằm giúp đỡ đối tượng giải quyết vấn đề hiện tạicủa họ mà c̣n tăng cường khả năng đối phó của các đối tượngvới các vấn đề trong tương lai.

3.2   ĐẶC ĐIỂM CỦA HOẠT ĐỘNG TƯ VẤN:

-          Lấy đối tượng làm trung tâm.

-          Tiếp cận đối tượng về mặt sinh học – tâm lư – xă hội.

-          Tập trung tới các vấn đề hiện tại của đối tượng và gia đ́nh: Có giới hạn thời gian.

3.3   MỤC TIÊU CỦA TƯ VẤN :

-Giúp đối tượng giảm bớt những xúc cảm tiêu cực trong hoàn cảnh khó khăn.

-Giúp đối tượng tăng thêm hiểu biết về bản thân họ và hoàn cảnh của họ.

-Giúp đối tượng khôi phục lại hoặc nâng cao khả năng của họ.

-Khuyến khíchhọ có các phương pháp đối phó hữu hiệu cho tương lai.

4.     MỘT SỐ NGUYÊN TẮC TRONG TƯ VẤN:

4.1.  TIN TƯỞNG VÀO KHẢ NĂNG CỦA ĐỐI TƯỢNG:

Mỗi một cá nhân đều có khả năng giải quyết các vấn đề của riêng ḿnh. Đối tượng sẽ có thể giải quyết các khó khăn của họmột cách hữu hiệu hơn nếu họ nhận được sự khích lệ sự trợ giúp của Tư vấn viên.

4.2.  KHÔNG PHÁN XÉT:

Mỗi một cá nhân là cá thể riêng biệt và khác với cá nhân khác. Mỗi người có một hệ thống giá trịniềm tinvà kinh nghiệm của riêng ḿnh. Tư vấn viên nên t́m hiểu nét cá biệt của từng đối tượng và không nên áp đặt hệ thống giá trị của ḿnh lên đối tượng.

4.3.  TÔN TRỌNG ĐỐI TƯỢNG:

Người tư vấn phải tôn trọng mọi đối tượng như một cá nhân với ḷng tự trọng và giá trị vốn có của riêng họ. Đối tượng phải được tôn trọng, dù cho các niềm tin và giá trị của họ không được chấp nhậnNgay cả khi đó là một phần nguyên nhân gây ra vấn đề làdo họ gây nên. Chúng ta nên giúp đối tượng hiểu tác động của nhận thức đă ảnh hưởng như thế nào tới họ.

4.4.  TRAO QUYỀN CHO ĐỐI TƯỢNG:

Người tư vấn không làm thay cho đối tượng nhưng phải hỗ trợ để họ tăng cường khả năng hành động của chính ḿnh như: dạy cho họ kỹ năng giải quyết vấn đề, trợ giúp và khuyến khích đối tượng cố gắng giải quyết vấn đề của họ.

4.5. SỰ TỰ QUYẾT ĐỊNH CỦA ĐỐI TƯỢNG:

Người tư vấn nên tránh đưa ra lời khuyên mang tính áp đặt quyết định vào đối tượng. Tuy nhiên, nếu đối tượng bị loạn tâm, muốn tự tử, giết người, hoặc quá trầm nhược (nên không thể đưa ra các quyết định cho bản thân họ), th́ người tư vấn phải đóng một vai tṛ tích cực và tham gia trực tiếp.

4.6. ĐẢM BẢO TÍNH BÍ MẬT:

Bất cứ điều ǵ đă đem ra thảo luận giữa người tư vấn và đối tượng trong suốt thời gian tư vấn đều không nên chia sẻ với người khác nếu không có sự đồng ư của đối tượngTư vấn viên có thể chỉ chia sẻ thông tin nếu t́nh h́nh nguy hiểm có thể đe doạ bản thân, đối tượng hoặc những người khác và sự chia sẻ thông tin đó có ích cho đối tượng.

5.   CÁC BƯỚC HOẠT ĐỘNG CỦA  CÔNG TÁC TƯ VẤN:

5.1. TIẾP XÚC BAN ĐẦU:

Lần tiếp xúc ban đầugiữa tư vấn viên và đối tượng, nhóm hoặcgia đ́nh là thời điểm quan trọng nhằm thiết lập một bầu không khí tin tưởng và hiểu biết lẫn nhauBuổi tiếp xúc ban đầu thường có tính chất quyết định để có buổi tiếp theo hay không.

Sau đây là một số phương pháp để xây dựng mối quan hệ tốt đẹp với đối tượng trong lần tiếp xúc ban đầu :

-     Thiết lập một bầu không khícho đối tượng có được sự tin tưởng, tự tin.

-     Giới thiệu bản thântên – vị trí công tác – mục đích cuộc gặp gỡ và bản thân như một người chuyên môn có sự hiểu biết, có học thức và khả năng giúp đỡ người khác để tạo sự yên tâm tin tưởng của đối tượng.

-     Không được chỉ tríchmà nên tôn trọng đối tượng tạo bầu không khí thân thiện cởi mở.

-     Nhận thức được những giới hạn cá nhân (trí tuệ và t́nh cảm) của đối tượng.

-     B́nh tĩnh, kiên tŕ  kể cả với những đối tượng kiêu ngạo vàkhông hợp tác.

-     Theo dơi người đối thoại qua âm của giọng nói, biểu hiện của nét mặt, điệu bộ và cách dùng từ.

Một số phương pháp để đối tượng tin tưởng vào sự quan tâm và hiểu biết của người tư vấn:

-          Để đối tượng bộc lộ về các vấn đề liên quan đến họ, họ sẽ cảm thấy dễ chịu hơn v́ có người đang quan tâm.

-          Lắng nghe một cách chăm chú cẩn thận.

-          Hỏi đối tượng một cách b́nh tĩnh – rơ ràng – t́nh cảm.

-          Hiểu và đánh giá đúngnhững cảm xúc của đối tượng.

Một số cách thức dưới đây giúp đối tượng nhận thức được vấn đề của bản thân:

-          Bàn bạc về nguyên nhân của vấn đề mà đối tượng đang quan tâm.

-          Thảo luậnvà khám phá cùng đối tượng về hành vi và tác động tiêu cực, ảnh hưởng của chúng tới đối tượng.

-          So sánh t́nh trạng của đối tượng trước đây với thời điểm có vấn đề.

5.2. ĐÁNH GIÁ VẤN ĐỀ:

Mục đích người tư vấn thu thập thông tin là để t́m ra thực chấtcủa vấn đề và giúp đối tượng hiểu t́nh huống và vấn đề của họ. Người tư vấn t́m hiểu vấn đề một cách chính xác thông qua việcphân tích như sau :

·        Vấn đề trước mắt là ǵ ?

·        Mức độ nghiêm trọng của vấn đề?

·        Vấn đề đă tồn tại bao lâu?

·        Vấn đề đă xảy ra như thế nàoNguyên nhân của vấn đề là ǵ?

·        Vấn đề đă được giải quyết như thế nào? đối tượng đă cố gắng giải quyết vấn đề như thế nào? đối tượng có t́m kiếm sự giúp đỡ của ai khác không?

·        Đối tượng cảm thấy vấn đề như thế nào? Có hành động để giải quyết vấn đề không? Có nghĩ hoặc cảm thấy vấn đề được giải quyết khôngThụ động hay tích cực  trong đối phó với vấn đề ?

5.3. XÁC ĐỊNH GIẢI PHÁP VÀ SỰ LỰA CHỌN GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ:

Khi đă xác định được và hiểu biết rơ ràng nguyên nhân của vấn đề, người tư vấn nên giúp đối tượng t́m kiếm các giải pháp khả thi để giải quyết các vấn đề đó. Một số nguyên tắc dùng để xác định các giải pháp cho đối tượng:

-       Không nên đưa ra các giải pháp thay cho đối tượng, mà nên động viên và chỉ dẫn họ tự đưa ra những giải pháp khác nhau.

-       Nếu đối tượng không thể tự đưa ra các giải pháp để giải quyết vấn đề của họ th́ người tư vấn có thể gợi ư để họ lựa chọn.

-       Giúp đối tượng t́m hiểu những nguồn hỗ trợ và những giới hạn bằng việc cung cấp cho họ những thông tin hữu ích.

-       Không nên phủ nhậnbất cứ một quan điểm hay sự lựa chọn nào mà đối tượng đă đưa ra mà chỉ giúp đối tượng thấy vàhiểu được mọi thuận lợi và không thuận lợi của mỗi một sự lựa chọn.

5.4.  LỰA CHỌN CHƯƠNG TR̀NH HÀNH ĐỘNG:

-       Tư vấn viên không nên lựa chọn thay cho đối tượng hoặckhông nên khuyên đối tượng chọn phương pháp nào.

-       Người tư vấn nên tôn trọng quyết định của đối tượng mặc dù tư vấn viên tin rằng sự lựa chọn khác là cách hành động tốt hơn.

-       Từ những nhận thức trên, đối tượng cảm nhận về sự quan tâm của người tư vấn tới các quyết định của họ và tin tưởng rằng quyết định của họ sẽ được hỗ trợ.

5.5.  CHIẾN LƯỢC  TIẾN HÀNH:

Khi đối tượng quyết định cách thức hành động th́ chúng ta nênhỗ trợ, chỉ định cho họ trong quá tŕnh tiến hành các cách thức lựa chọn. Sau đây là một số gợi ư giúp đối tượng tiến hành các biện pháp:

+     Mục đích của mỗi một giải pháp phải rơ ràng.

+     Các nhiệm vụ phải mang tính thực tế khả thi. Nếu những việc làm vượt quá khả năng của đối tượng th́ dễ dẫn đến sự thất bại.Nếu những nhiệm vụ đưa ra thực tế và khả thi sẽ tạo ḷng tự tin vàthúc đẩy việc hoàn thành công việc.

+     Đối tượng cần hiểu rơ những công việc ǵ, trách nhiệm và nhiệmvụ sẽ được hoàn thành như thế nào?

+     Người tư vấn cầntránh làm hộ các công việc mà đối tượng có thể làm được, v́ nếu làm thay cho đối tượng th́ sẽ làm cho họ trở nên lệ thuộc.

5.6.  ĐÁNH GIÁ VÀ TỔNG KẾT:

+       Sau mỗi một hành động hoặc sau các sự lựa chọn, người tư vấn và đối tượng nên thảo luận và tổng kếtĐánh giá là hoạt động quan trọng để xác định chiến lược mới nếu có nhu cầu thay đổi, và để giúp đối tượng cảm nhận về t́nh huống của họ sau khi họ đă thực hiện các hoạt động.

+       Sau khi kết thúc, theo dơi trong một thời gianlà cần thiết để đảm bảo rằng đối tượng làm việc tốt.

6.   TRỊ LIỆU TÂM LƯ CÁ NHÂN - GIA Đ̀NH - NHÓM:

6.1 TRỊ LIỆU TÂM LƯ CÁ NHÂN:

       Phương pháp tâm lư liệu pháp phân tâm thường được đề nghị sử dụng đối với đối tượng nghiện ma túy.

       Các xung đột về lệ thuộc hoạt hoá nhanh trong quan hệ bệnh nhân với thầy thuốc.

       Các biểu hiện rối loạn tâm sinh lư đe doạ cắt đứt việc chữa bệnh khi thầy thuốc điều trị bàng quan và thiếu thông cảm có thể nghĩ rằng đối tượng có thể đe doạ ảnh hưởng chung quanh.

       Điều chỉnh mối quan hệ để thích ứng với các thái độ trái ngược và hai chiều của đối tượng không đủ.

       Đối tượng thường: Biểu hiện trực tiếp hay gián tiếp các cảm nghĩ thù nghịch do đó mục tiêu là xác định, thảo luận làm rơ kế hoạch đối phó nhằm giáo dục ngăn chặn khi có biểu hiện chống đối.

       Thanh thiếu niên cần một mối quan hệ nhưng các em thường hay phát sinh những cơn giận dữ – Người điều trị không được ghét bỏ nhưng cũng không đầu hàng mà trái lại phải tạm giải quyết rồi nghiên cứu phân tích một cách kỹ lưỡng chi tiết để có biện pháp giải quyết thích hợp.

        Những căng thẳng ở đối tượng thường được trút vào các hành độngvà do đó cần được nghiên cứu và giải thích và đối xử một cách phù hợp với hành động phát sinh do cảm xúc đó.

        Một số các hành động của thanh thiếu niên có thể bắt buộcngười điều trị tự ḿnh phải hành động. Thường khó tránh được việc đặt ra ranh giới cho các hành vi đă xử sự của đối tượng, đặc biệt khi các ranh giới đó đặt nó vào một t́nh thế nguy hiểm. Một số vấn đề cần được thảo luận và giải quyết.

+  Nếu người điều trị bắt ngừng dùng ma túy và phải điều trị th́ đối tượng có thể nghĩ rằng mục tiêu của thầy thuốc điều trị là cưỡng bức, kiểm tra đối tượng.

+  Nếu trái lại vấn đề đó không đặt ra, th́ đối tượng có thể nghĩ rằngngười điều trị không quan tâm đến đối tượng và không thể hi vọng một thay đổi nào.

+  Sự tạo lập các ranh giới có vai tṛ cố gắng và khôi phục một khoảng tâm trí bên trong có thể dễ dàng tạo dựng các xung đột chuyển di ( Jeammet, 1987 ) mà nó có thể hoạt hoá một số mặt.

Tiếp cận nhận thức đề ra những phương pháp có ích để đề cập và làm biến đổi các tư duy loạn chức năng liên quanđến ma túy, quan niệm về bản thân và các mối quan hệ. Những vấn đề trên góp phần vào một quá tŕnh trị liệu thuộc cảm hứng phân tích trội.

         Được sử dụng đơn độc, các phương tiện này có thể cho phép thu được các thích ứng hời hợt với các mong đợi của thầy điều trị, tạo điều kiện tốt cho việc tổ chức cái mà Winnicott đă gọi là cái tôi giả (Faux – self )

6.2  TRỊ LIỆU TÂM LƯ GIA Đ̀NH:

-  Liệu pháp gia đ́nhgiúp cha mẹ biết cách giáo dục và theo dơi con cái một cách hiệu quả. Nhiều bậc cha mẹ do không biết cách giáo dục đă đẩy con cái thêm vào con đường nghiện ngập, do bất măn, do nuông chiều nhiều lư do khác.

-  Cần giúp đỡ gia đ́nh biện pháp giáo dục tuỳ thuộc từng đối tượng , tuỳ thuộc từng hoàn cảnh nhất là đối với những gia đ́nh có vấn đề phức tạp giữa cha mẹ cần làm cho cha mẹ xích lại gần nhau bằng cách giúp họ xác định những trách nhiệm và hậu quảđối với con cái để họ hợp tác thực hiện các mục đích đề ra. Khi các hành vi của người nghiện khả quan hơn th́ cácxung đột giữa cặp cha mẹ lại có thể cải thiện diễn biến tốt hơn.

-  Tiếp cận hành vimục đích nhằm cải thiện sự quan hệ trong gia đ́nhcải thiện các vấn đề giữa các thành viên trong gia đ́nhvà mặc nhiên tạo một số nguyên tắc ứng xử giữa đối tượng và cha mẹ, cùng thân nhân của đối tượng cai nghiện ma túy.

-  Tiếp cận phân tâmgiới hạn nói chung ở chỗ cố gắng ngăn ngừa đối tượng khỏi bị ảnh hưởng của xung đột gia đ́nh để có thể đạt tới trị liệu cá nhân. Các khó khăn khi làm giảm các xung độttrong các mối quan hệ luôn đ̣i hỏi việc kết hợp sự cải thiện các mối quan hệ trong gia đ́nh và các phương thức trị liệu cá nhân.

6.3  TRỊ LIỆU TÂM LƯ NHÓM:

-  Các nhóm bạn bè đối tượng và các nhóm cha mẹ phải được hướng dẫn để hiểu biết nguyên nhân và hậu quả các hành vi nghiện ma túy, các khó khăn về tâm lư và các vấn đề liên quan giữa các nhân với những người chung quanh việc nâng đỡ của nhóm làm giảm các thái độ thờ ơ, thiếu trách nhiệm của đối tượng.

-  Trị liệu nhóm sử dụng các biện pháp đấu tranh trực tiếp chống các tư tưởng, các hành vi nghiện ngập, chống lại sự nài xinsử dụng chất ma túy. Ngoài ra, c̣n giúp đỡ đối tượng nâng cao kỹ năng xă hội tạo quan hệ, sự giao tiếp giải quyết các vấn đề giữa con người và con người .

6.4  CHIẾN LƯỢC TRỊ LIỆU:

-  Các nghiên cứu so sánh và các theo dơi t́nh trạng điều trị kéo dài (rất ít) nênkhông biết rơ hiệu quả tương đối hiệu quả dài hạn của các phương pháp trị liệu.

-  Việc điều trị chứng nghiện ma túy cần thiết phải kết hợp nhiều loại can thiệp khác nhau, kể cả trị liệu cá nhân và tại cộng đồng.

-  Các tác động xă hội, nhằm đấu tranh chống các hành vi nghiện ma túy tiếp tục sử dụng ma túy.

-  Trị liệu gia đ́nh thường không đủ nhưng phương pháp trị liệu này cần thiết phải giải phóng thanh thiếu niên khỏi các xung đột gia đ́nh, để cho phép đối tượng chấp nhận một trị liệu cá nhân.

-  Điều trị cá nhân đối tượng phải được thông báo về sự diễn biến của gia đ́nh. Việc điều trị và theo dơi gồm một nhóm điều trị gồm nhiều ngành: y tế – giáo dục – xă hội – quản lư – dạy nghềthực hiện bằng nhiều biện pháp khác nhau trong đócần đặt nặng phương thức trị liệu nhóm.

-  Việc điều trị – phục hồi cần một thời gian tương đối dài do tính chất bệnh lư phức tạp. Đối tượng cần sự điều trị của nhiều người với nhiều chức năng khác nhau nên dễ bị t́nh trạng phân cắt.Do đó, cần phải có sự thống nhất trong cùng một nhóm điều trịvà có chiến lược điều trị cho từng đối tượng cai nghiện ma túy.

B.   TƯ VẤN VÀ TRỊ LIỆU TÂM LƯ CÁ NHÂN CHO NGƯỜI NGHIỆN MA TÚY

I)        MỤC ĐÍCH:

·        Giúp cá nhân giải quyết  một số vấn đề khó khăn nhất thời về cảm xúc, tâm lư (tư vấn khủng hoảng). H́nh thức này có thể dành cho bất kỳ học viên nào có vấn đề khó khăn trong thời gian đang điều trị tại Trung Tâm. Thời gian và mục tiêu có giới hạn và được định hướng theo vấn đề.

·        Giúp cá nhân học viên tự hiểu ḿnh, tự đánh giá và tự thực hiện tiến tŕnh thay đổi hành vi - nhận thức, hướng tới tái thích nghi với hoàn cảnh sống của bản thân ḿnh. H́nh thức này dành cho những học viên có những khó khăn mang tính chất kéo dài: mâu thuẫn gia đ́nh, trở ngại trong việc học, việc làm, t́nh cảm cá nhân ….  Thời gian và mục tiêu có định hướng dài hạn.

·        Giúp học viên có kiến thức hiểu biết về những tác hại của ma túy, quá tŕnh hồi phục, các yếu tố bảo vệ cũng như những yếu tố nguy cơ dẫn đến tái nghiện. Nội dung này luôn được lồng ghép vào trong nội dung tư  vấn cá nhân cho mọi đối tượng tham gia tư vấn.

·        Trị liệu tâm lư hỗ trợ cho các đối tượng có các rối loạn tâm lư như lo âu, trầm cảm, ám ảnh ….. (Có kết hợp hội chẩn với bộ phận y tế của Trung Tâm để chỉ định dùng thuốc khi thật sự cần thiết).

·        Tư vấn cá nhân cũng có thể được thực hiện như bước đầu chuẩn bị cho học viên tham gia vào tư vấn nhóm.

·        Tư vấn cá nhân là một  tiến tŕnh tương tác, một cuộc đối thoại giữa người nghiện ma túy với nhân viên điều trị để nhằm mục tiêu:

-       Thấu hiểu t́nh trạng của người nghiện, cảm giác, nhận thức, hành vi.

-       Qua đó thúc đẩy thành công người nghiện tham gia việc điều trị.

-       Với định nghĩa như vậy, bất kể là ai có quan tâm đến người nghiện, th́ điều làm tư vấn cá nhân được.

II)     NHỮNG KHÓ KHĂN THƯỜNG GẶP PHẢI KHI LÀM TƯ VẤN CÁ NHÂN:

Trong giai đoạn đầu của điều trị, tư vấn cá nhân rất khó khăn v́ những hiện tượng rối loạn tâm lư của bệnh nhân thông thường như sau:

-       Nhớ ma túy vô cùng.

-       Trong ḷng muốn bỏ điều trị.

-       Nhớ nhà, buồn chán, cô đơn.

-       Bị giam lỏng trong Trung Tâm, không có tự do như trước.

-       Khó khăn trong việc chung sống tập thể. Trước đây thế giới của bệnh nhân là ma túy, bây giờ không c̣n ma túy, bắt đầu giao tiếp với người khác bước đầu không quen.

Một khó khăn luôn xảy ra trong suốt quá tŕnh điều trị phục hồi do bởi điều kiện của người nghiện, ví dụ:

-       Động cơ điều trị là do xă hội hay gia đ́nh bắt buộc.

-       Nhận thức sai lầm, lệch lạc trên nhiều khía cạnh.

-       Khả năng giao tiếp kém.

-       Khả năng diễn tả vấn đề của ḿnh kém.

-       Thiếu ḷng tin, sống co rút  và luôn luôn đề pḥng người khác.

-       Thiếu thành thật, nói dối quanh co   

-       Không tự trọng.

Vượt qua được tất cả những khó khăn trên, thúc đẩy được một người nghiện tự nguyện tham gia điều trị thành công của nhà tư vấn tâm lư.

III)    NHỮNG KỸ NĂNG TƯ VẤN:

Tư vấn cá nhân là điều ai cũng có thể làm với người nghiện, từ người đơn giăn với những lời nói mộc mạc, đến người tinh tế nhạy bén trong nhận thức. Nhưng để tư vấn thành công, tức là thúc đẩy được quá tŕnh điều trị, tư vấn cũng cần một số điều kiện:

1) Quan trọng hàng đầu là lấy được ḷng tin của người nghiện.

Thời gian dài sử dụng ma túy làm cho đối tượng bất cần đời, không tin ai. Nếu như được họ tin cậy, nhân viên tư vấn đă đi được hơn nửa đường công việc. Cách lấy ḷng tin của ta gồm:

+       Đồng cảm với họ: hăy đặt ḿnh vào vị trí hoàn cảnh người nghiện, từ đó mới cảm nhận đau đớn họ đang chịu đựng.

+       Biết lắng nghe họ nói để từ đó t́m ra những điểm trọng yếu trong vấn đề phức tạp của họ. Nếu tư vấn nói nhiều hơn bệnh nhân, có nghĩa là ông ta không c̣n cơ may hiểu biết.

+       Tích cực quan tâm đến vui buồn của họ, hăy để cho họ cảm nhận rằng: nhân viên điều trị rất lo âu về họ, quan tâm đến cuộc đời họ.

+       Thiết lập một quan hệ tốt với bệnh nhân và giúp họ ngay khi có thể giúp đỡ được.

2)   Nắm vững tâm sinh lư của họ để biết được thời điểm họ thay đổi nhận thức. Đây là điều khó khăn nếu nhân viên điều trị không gần gũithân thiết người nghiện nghe họ bộc bạch,tâm sự.

3)   Biết cách lợi dụng nghịch cảnh của họ và nội qui chặt chẽ trong Trung Tâm để hướng bệnh nhân cộng tác với điều trị.

              Nếu một bệnh nhân thực sự chưa muốn thoát ra khỏi ma túy, người tư vấn nên gợi cho bệnh nhân rằng: họ sẽ tiếp tục nghiện th́ sẽ được ǵ?

4)   Nhận biết được những điểm mạnh, những sở trường của người nghiện để nhắc nhở họ rằng: họ vẫn là người đầy đủ khả năng sống và làm việc như một người b́nh thường không có ma túy.

5)   Biết lắng nghe những ư kiến phản hồi của người nghiện về cách thức tiếp cận vấn đề của ḿnh.

6)   Tạo ra cho người nghiện những thử thách từ nhỏ đến lớn để tăng dần chí phấn đấuḷng tự trọng của họ.

7)   Biết cách cổ vũ, khích lợi bệnh nhân khi họ làm tốt, chia sẻ an ủi khi họ có cố gắng mà vẫn chưa làm tốt được.

8)   Sau cùng, nếu người nghiện không thể chuyển đổi hành vi của họ được, hoặc chuyển đổi thành công, nhà tư vấn phải hiểu tại sao. Chuyển đổi là một quá tŕnh khoa học, nhiều cơ sở để dự đoán trước.

IV)    TRỊ LIỆU TÂM LƯ CÁ NHÂN:

Phương pháp tâm lư liệu pháp phân tâm thường được đề nghị sử dụng đối với đối tượng nghiện ma túy.

Các xung đột về lệ thuộc  hoạt hóa nhanh  trong quan hệ bệnh nhân với thầy thuốc.

Các biểu hiện rối loạn tâm sinh lư đe dọa cắt đứt việc chữa bệnh khi thầy thuốc đang điều trị bàng quan thiếu thông cảm có thể nghĩ rằng đối tượng có thể đe dọa  ảnh hưởng chung quanh.

Điều chỉnh mối quan hệ để thích ứng với các thái độ trái ngượchai chiều của đối tượng không  đủ.

Đối tượng thường: Biểu hiện trực tiếp  hay gián tiếp các cảm nghĩ thù nghịch do đó các mục tiêu là việc xác định thảo luận làm rơ kế hoạch đối phó nhằm giáo dục ngăn chặn khi có biểi hiện chống đối.

C.  TƯ VẤN VÀ TRỊ LIỆU TÂM LƯ CHO GIA Đ̀NH NGƯỜI NGHIỆN MA TÚY.

I)    MỤC ĐÍCH :

+     Giúp các thành viên khác nhau trong gia đ́nh của học viên hiểu rơ những vấn đề liên qua đến ma túy, tác hại của ma túy, quy tŕnh cai nghiện – phục hồi, nội quy và hoạt động của Trung Tâm. H́nh thức có thể áp dụng : tư vấn cho gia đ́nh từng học viên hoặc tư vấn nhóm gia đ́nh (của nhiều học viên).

+     Giúp gia đ́nh tiếp nhận học viên trở về sau quá tŕnh điều trị tại Trung tâm : Biện pháp ngăn ngừa sử dụng ma túy: các yếu tố bảo vệ, các yếu tố nguy cơ , kỹ năng hỗ trợ người nghiện chống nguy cơ tái nghiện và giúp họ từng bước tái hoà nhập cộng đồng.

+     Tư vấn gia đ́nh khi cần giải quyết các vấn đề mâu thuẫn, xung đột giữa các thành viên (thông thường cần có sự tham gia của người nghiện và các thành viên liên quan ).

II)   TƯ VẤN CHO GIA Đ̀NH NGƯỜI NGHIỆN MA TÚY:

Gia đ́nh đóng vai quan trọng trong sự quyết định hay đề pḥng việc sử dụng ma túy: việc sử dụng ma túy của cha mẹ, tâm bệnh lư của cha mẹ, các mối quan hệ vợ chồng, các mối quan hệ cha mẹ con cái là những yếu tố phụ thuộc lẫn nhau. Rối loạn các yếu tố này, có thể ảnh hưởng tới toàn bộ các yếu tố khác.

Việc dùng ma túy của thanh thiếu niên cũng có thể là thái độ phản ứng lại mối quan hệ hay tâm bệnh lư của cha mẹ đối tượng không đồng ư.

Do đó vấn đề tư vấn cho gia đ́nh người nghiện ma túy là một vấn đề khó khăn và đề nghị người tư vấn cần phải làm rơ.

1.  Gia đ́nh có người sử dụng ma túy :

-     Không ít trường hợp có gia đ́nh hơn hai người sử dụng hoặc buôn bán ma túy cùng lúc. Đây là một vấn đề rất khó khăn cho công tác điều trị khi rời trung tâm về. Khả năng tái nghiện hầu như chắc chắn.

-     Trong gia đ́nh nếu có hơn 2 anh chị em nghiện ma túy mà chỉ có một người chịu cai nghiện th́ việc phục hồi rất khó khăn.

     Trong trường hợp này phải :

-  Xem xét hoàn cảnh gia đ́nh đối tượng cùng những ảnh hưởng của nó tới cơ hội phục hồi của đối tượng.

-  Động viên tất cả những thành viên trong gia đ́nh, nhất là những người có nguy cơ ảnh hưởng đến quá tŕnh phục hồi của đối tượng.

-  Phải tính đến một môi trường khác, nếu trở về gia đ́nh việc chống tái nghiện bị đe doạ.

2.  Cha mẹ sử dụng ma túy :       

Khi cha mẹ một hoặc hai sử dụng ma túy – việc cai nghiện của đối tượng vô cùng khó khăn: hai nhân tố bảo vệ đă mất một hoặc cả hai. Cha mẹ nghiện th́ không thể giúp đỡ về t́nh cảm cũng như đạo đức cho con ḿnh.

Trong trường hợp này phải :

-  Nói rơ với cha mẹ, nếu muốn con cái họ từ bỏ được ma túy, trước tiên họ phải cai nghiện.

-  Nếu không thể tạo ra được một môi trường gia đ́nh tốt cho đối tượng, th́ khi về cần nghĩ đến việc để đối tượng cai nghiện sống với những người thân khác.

Các nghiên cứu về các chất ma túy của Needle và ctv ( 1988 ) thấy các bà mẹ (chứ không phải các ông cha) sử dụng ma túy th́ con cái thường dùng chất ma túy nhiều hơn các thanh thiếu niên có mẹ không dùng ma tuư.

Các yếu tố khác có thể tăng nguy cơ dùng ma túy ở con cái các người nghiện rượu và nghiện ma túy: do bị ngược đăi, bạo hành, bị bỏ rơi.

Ở New York năm 1987, 64% số trẻ em bị ngược đăi và bỏ rơi liên quan đến lạm dụng ma túy hay rượu ( Chasnoff, 1988 ). Khi có vấn đề, cả gia đ́nh ở trong t́nh trạng mất thăng bằng, sinh hoạt gia đ́nh bị rối loạn.

3.  Hoàn cảnh gia đ́nh quá khó khăn về kinh tế:

Người nghiện ma túy thuộc thành phần nghèo khó thường cha mẹ ít quan tâm đến việc điều trị cho con cái. Họ giao phó tất cả cho Nhà Nước, hoặc các Trung tâm cai nghiện dễ dàng bỏ điều trị ngay khi con cái họ có yêu cầu.

Trong trường hợp này cần giải thích với gia đ́nh người nghiện về những tác hại và lợi ích của việc cai nghiện nhằm mục đích lôi kéo sự tham gia của gia đ́nh vào việc điều trị.  Gia đ́nh phải được thừơng xuyên thông báo tiến tŕnh điều trị của đối tượng nhằm kích thích sự quan tâm của gia đ́nh đối với con cái.

Nếu có điều kiện kêu gọi sự hỗ trợ của xă hội giúp đỡ họ bằng những biện pháp cụ thể, để họ có thể tiếp tục thực hiện những yêu cầu điều trị.

4.  Thái độ cha mẹ đối với con cái nghiện ma túy :

Một số gia đ́nh khi biết con cái nghiện ma túy có cảm giác bất lực, xấu hổ, thất bại, thiếu bổn phận và rất ngại để lộ vấn đề này ra ngoài gia đ́nh. V́ những suy nghĩ này – cha mẹ không có hành động thích hợp bằng cách cho con cái họ điều trị tại gia đ́nh thay v́ đến các trung tâm cai nghiện.

Trong truờng hợp này, công tác tư vấn giúp đỡ cho các bậc cha mẹ hiểu rơ tác hại và hậu quả của việc sử dụng ma túy nếu để t́nh trạng nghiện ngập con em họ kéo dài sẽ càng thêm tác hại và càng làm gia đ́nh họ thêm tan nát.

5.  Tâm bệnh lư của cha mẹ:

Các đối tượng nào có cha hay mẹ mắc một bệnh tâm trí thường có khuynh hướng sử dụng ma tuư nhiều hơn người khác ( Choquet và ctv., 1990). Trường hợp cha mẹ bị trầm nhược th́ có nguy cơ dễ sử dụng các chất ma túy.

6.  Sự đỗ vỡ của gia đ́nh :

Sự phân ly gia đ́nh do chết, ly thân hay ly dị là một nhân tố nguy cơ của lạm dụng ma túy ở thanh thiếu niên.

Một số đối tượng đă nghiện ma túy v́ những tổn thương t́nh cảm phát sinh từ gia đ́nh, do đỗ vỡ của cha mẹ. Việc cha mẹ chia tay thường đi kèm với những bất hoà, xích mích.

Một trong những hậu quả của gia  đ́nh tan vỡ là sự buông lỏng kỷ luật trong gia đ́nh, khiến cho trẻ em vượt ra ngoài quản lư của cha mẹ.

Có những trường hợp đối tượng đă sử dụng ma túy như một nỗ lực nhằm cứu văn cuộc hôn nhân của cha mẹ bằng cách nghiện để buộc cha mẹ thôi bất hoà mà quan tâm đến đối tượng hơn.

Anh hưởng của việc gia đ́nh tan vỡ đối với vấn đề lạm dụng ma túy của đối tượng cần phải được giải quyết trong quá tŕnh điều trị. Nhân viên tư vấn cố gắng giúp đối tượng chấp nhận vấn đề và phải trang bị cho đối tượng những tư tưởng ổn định khi rời trung tâm về sống với một trong hai người.

Việc sử dụng ma tuư gặp 2 lần nhiều hơn trong các gia đ́nh bị tan vỡ ( Leselbaum và ctv ., 1984 ). Các gia đ́nh bị tan vỡ có số người sử dụng ma túy nhiều hơn so các người gia đ́nh có hạnh phúc.

7.  Gia đ́nh không hoà thuận :

Sự bất hoà của cha mẹ liên quan đến việc dùng ma túy ở tuổi thanh thiếu niên. Nadier và ctv (1981) thấy có sự quan hệ không tốt giữa cha mẹ ngày càng làm tăng tần suất sử dụng ma túy. Cha Mẹ căi nhau thường xuyên sẽ khiến con cái sử dụng ma túy hơn.

Một người nghiện ma túy thường gây nên những đổnát trong gia đ́nh. Sau bao năm cố gắng chung sống và chịu đựng với người nghiện, gia đ́nh luôn luôn sống trong t́nh trạng bất hoà, xáo trộn nhiều mặt.

Nếu gia đ́nh trước đó đă gặp nhiều khó khăn, t́nh trạng nghiện của đối tượng làm cho gia đ́nh càng trở nên tồi tệ hơn.

Một gia đ́nh bất hoà sẽ khó ḷng nhất trí với trung tâm về biện pháp cai nghiện cho đối tượng. Các thành viên quan trọng trong gia đ́nh này thường có những quyết định mâu thuẫn nhau làm cho chương tŕnh điều trị bị phá hoại, săn sóc hậu cai không thực hiện được.

Trong một số trường hợp khác, người nghiện bị giằng co giữa các thế lực trong gia đ́nh và họ thường lợi dụng khe khở này để bỏ dở điều trị.

Với các gia đ́nh này, nhân viên tư vấn phải :

Thông qua người nghiện, người điều trị phải nắm được một cách sâu sắc động cơ gây ra bất hoà trong gia đ́nh họ. Vấn đề sau đó là giúp đối tượng thoát ra khỏi những ảnh hưởng không lành mạnh từ phía gia đ́nh không ổn định của học viên.

T́m ra người nào có ảnh hưởng lớn nhất trong gia đ́nh, hướng họ đến cộng tác với chương tŕnh điều trị như một trợ thủ cho trung tâm.

8.  Các mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái :

a)     Phong cách giáo dục :

Leselbaum và ctv ( 1984 ) thấy có sự liên quan giữa sử dụng ma túy và kiểm tra của gia đ́nh : các thanh niên sử dụng ma túy nói rằng cha mẹ họ ít kiểm tra việc đi chơi và việc học tập của họ.

Trong nghiên cứu của Barnes và Windle ( 1987 ), cha mẹ càng đặt ra các quy tắc về các hoạt động của con cái th́ tỷ lệ các vấn đề liên quan đến rượu, sử dụng các chất ma túy bất hợp pháp và các hành vi lệch lạc ngày càng ít hơn.

Tỷ lệ Thanh thiến niên sử dụng ma túy cao ở những người có cha mẹ lơ là t́nh cảm.

b) Các mối quan hệ t́nh cảm :

Quan hệ xung đột ở cha mẹ luôn luôn ảnh hưởng lớn đến số thanh thiếu niên sử dụng ma túy.

Sự thương yêu giữa cha mẹ giảm việc dùng ma túy ở thanh thiếu niên.           

Các hậu quả của các mối quan hệ với cha và mẹ đă được biệt hoá. Kandel và ctv ( 1978 ) báo cáo rằng sự thiếu thốn t́nh cảm cần thiết với cha ảnh hưởng đến việc sử dụng các chất ma túy. Brook và ctv ( 1981 ) xác nhận rằng một mối quan hệ nồng ấm với cha làm giảm việc sử dụng các chất ma túy. Trong nghiên cứu của Mellinger và ctv (1975), các thanh niên sinh viên không sử dụng ma túy cảm thấy gần gũi với cha họ hơn và có ít xung đột với cha. Các học  sinh trung họcdùng chất ma túy với liều cao đă nêu lên sự bàng quan của người cha trong 18% trường hợp ( Dandson và Choquet 1980).

Việc nuông chiều của người mẹ liên quan với các nguy cơ sau này của việc dùng thuốc lá, rựơu và ma túy. Sự nuông chiều của mẹ với thanh thiếu niên tạo điều kiện xấu cho việc xử dụng các chất ma túy (Brook và ctv 1989). Các thanh thiếu niên đang điều trị tại các trung tâm cai nghiện ma túy theo nghiên cứu của Denoff (1988) cho rằng các bà mẹ hay chen vào nhiều vấn đề không phù hơp. Schwartz và ctv ( 1990 ) đă đánh giá về xúc cảm quá đáng của người mẹ : mức độ cao về xúc cảm bộc lộ của bà mẹ liên quan đến một nguy cơ nhân lên 3 lần về trầm nhược, lạm dụng ma túy hay các rối loạn hành vi ở trẻ em.

9.  Các hành hạ về cơ thể và t́nh dục:

Các hành hạ về thể xác và t́nh dục thường kết hợp với lạm dụng và lệ thuộc ma túy của thanh thiếu niên :

Cavaiola và Schiff (1989) đă khảo sát trong 500 thanh thiếu niên cai nghiện ma túy, thấy 15% trường hợp bị hành hạ về thể chất, 6% bị hành hạ về t́nh dục, 5% loạn luân kết hợp với hành hạ thể chất, 5% loạn luân không có hành hạ thể chất.

Trong nghiên cứu Edwal và ctv (1989), 597 thanh thiếu niên được điều trị v́ lạm dụng ma túy, tự khai là nạn nhân của các vụ hành hạ t́nh dục trong và ngoài gia đ́nh : 7,2% trường hợp bị hành hạ t́nh dục trong gia đ́nh, 7,9% trường hợp bị hành hạ t́nh dục ngoài gia đ́nh .

     Các thanh thiếu niên nghiện ma túy nạn nhân của các hành hạ t́nh dục biểu hiện các rối loạn tâm bệnh lư nặng hơn đặc biệt  một tần suất lớn hơn về các hành vi tự sát : ư định tự sát đă được thực hiện trên 56,5 nạn nhân của tệ loạn luân, 35,7% nạn nhân của tệ hành hạ t́nh dục ngoài gia đ́nh, so với 20,4% số thanh thiếu niên nghiện ma túy không phải là nạn nhân của các hành hạ t́nh dục.

    IV)  TRỊ LIỆU TÂM LƯ GIA Đ̀NH :

Là phương thức được sử dụng để giúp gia đ́nh giảm các xung đột và tăng cường trách nhiệm của các thành viên. Quá tŕnh này dựa trên giả thuyết rằng các hoạt động giúp đỡ của nhân viên tập trung vào lĩnh vực gia đ́nh, không phải chỉ với một cá nhân nào khác. Đơn vị cần thay đổi là gia đ́nh. Tất cả các thành viên trong gia đ́nh đều cần tham gia vào các hoạt động thay đổi. Các yếu tố cơ cấu, mối quan hệ giữa các thành viên rất quan trọng. Gia đ́nh đóng vai tṛ rất quan trọng vào kết quả trị liệu, v́ cả gia đ́nh được xem như là một hệ thống, bao gồm nhiều nhân tố, nhiều cá nhân có điều kiện hỗ trợ tốt nhất. V́ thế, mục đích trong quá tŕnh này là giúp cho cả gia đ́nh lấy lại được thăng bằng, tăng cường trách nhiệm, đẩy mạnh sự hoà hợp, và hoàn thiện các mối quan hệ.

Hiện nay có rất nhiều lư thuyết và phương thức  trị liệu gia đ́nh. Nhân viên điều trị có thể làm việc với một hay nhiều thành viên trong gia đ́nh vào những lúc khác nhau và chú trọng vào những quan hệ trong gia đ́nh, gồm vấn đề như sau :

·        Nhận định t́nh huống : nhân viên điều trị nhận định t́nh huống của toàn thể gia đ́nh : cơ cấu, tiểu sử, mối quan hệ, vấn đề hiện nay và các nhu cầu – qua từng quan niệm của mỗi thành viên v́ mỗi thành viên có thể có cách nh́n khác nhau về cùng một vấn đề.

·        Xác định lại vấn đề : khi gia đ́nh đến t́m sự giúp đỡ , họ thường có một cách nh́n của riêng họ về nguyên nhân và tính chất của vấn đề. Vấn đề có thể trở nên phức tạp hơn khi ta xem xét quan niệm và nhu cầu khác nhau của mỗi thành viên trong gia đ́nh. Thường khi, nhân viên phải giúp gia đ́nh xác định lại vấn đề với nhiều nguyên nhân và yếu tố khác nhau.

·        Nhận định nhu cầu cần thay đổi : v́ các thành viên trong gia đ́nh có cách nh́n nhận khác nhau , nhân viên cần giúp gia đ́nh xem xét lại nhu cầu của mỗi cá nhân cũng như của toàn thể gia đ́nh và đặt mục tiêu cụ thể. Đôi khi các thành viên có những mục tiêu đối lập lẫn nhau.

·        Xác định các nguồn hỗ trợ – trong và ngoài gia đ́nh : nhân viên giúp gia đ́nh nhận định những tiềm năng trong gia đ́nh và các nguồn hỗ trợ ngoài gia đ́nh.

·        Thực hiện các chiến lược để thay đổi : nhân viên điều trị sử dụng một số các kỹ thuật như thảo luận, hồi tưởng và diễn lại t́nh huống, bài tập và thay đổi hành vi v.v. để tạo sự thay đổi trong hệ thống gia đ́nh. Sự thay đổi có thể nhắm vào cơ cấu, mối quan hệ cụ thể, và sự tác động qua lại hoặc một số hành vi cụ thể .

·        Đánh giá, kết thúc và theo dơi : nhân viên điều trị giúp gia đ́nh nhận định và đánh giá các thay đổi, trong từng cá nhân và trong gia đ́nh, và giúp họ chuẩn bị tinh thần cho những t́nh huống khó khăn có thể xảy ra trong tương lai. Đôi khi cũng cần có sự theo dơi sau khi kết thúc để xác định mức độ tiến triển.

Phương thức này có nhiều kỹ thuật khác  nhau, và thời gian trị  liệu cũng tuỳ thuộc theo tính chất và mức độ của vấn đề khó khăn của gia đ́nh.

·          Các trị liệu tâm lư gia đ́nh giúp cha mẹ biết cách giáo dục và theo dơi con cái một cách hiệu quả. Nhiều bậc cha mẹ do không biết cách giáo dục đă đẩy con cái thêm vào con đường nghiện ngập, do bất măn, do nuông chiều  và nhiều lư do khác.

·          Cần giúp đỡ gia đ́nh biện pháp giáo dục tuỳ thuộc từng đối tượng, tuỳ thuộc từng hoàn cảnh nhất là đối với những gia đ́nh có vấn đề phức tạp giữa cha mẹ khi giữa cha và mẹ có những đỗ vỡ cần làm cho cha mẹ xích lại gần nhau bằng cách giúp họ xác định trách nhiệm và hậu quả đối với con cái để họ hợp tác thực hiện các mục đích đề ra. Khi các hành vi của người nghiện khả quan hơn th́ các xung đột giữa cặp cha mẹ lại có thể cải thiện diễn biến tốt hơn.

·          Tiếp cận hành vi, mục đích nhằm cải thiện sự quan hệ trong gia đ́nh, cải thiện các vấn đề giữa các thành viên trong gia đ́nh và mặc nhiên tạo một số nguyên tắc ứng xử giữa đối tượng và cha mẹ, cùng thân nhân của đối tượng cai nghiện ma túy.

·          Tiếp cận phân tâm giới hạn nói chung ở chỗ cố gắng ngăn ngừa đối tượng khỏi bị ảnh hưởng của các xung đột gia đ́nh để có thể đạt tới trị liệu cá nhân. Các khó khăn khi làm giảm các xung đột trong các mối quan hệ luôn đ̣i hỏi sự kết hợp việc cải thiện các mối quan hệ trong gia đ́nh và các phương thức trị liệu cá nhân.

D.  TƯ VẤN VÀTÂM LƯ TRỊ LIỆU NHÓM NGƯỜI NGHIỆN MA TÚY:

      Trị liệu tâm lư nhómtư vấn nhómnhiều điểm tương đồng trong tŕnh tự tiến hành. Mặc dù cùng chung mục đích là điều trị.

      Tư vấn tâm lư nhóm nhấn mạnh vào những hành vi, gắng công gọt dũa và thay đổi chúng.

      C̣n trị liệu tâm lư nhóm có tính chất đi sâu hơn vào nội tâm người nghiện, hướng vào việc điều chỉnh những vấn đề có tính chất bản chất, những xung đột của bệnh nhân về phương tiện cảm xúc. Tuy khác nhau về phương thức giải quyết nhưng các bước chuẩn bị lại giống như nhau, và nhân viên điều trị làm trưởng nhóm có thể hướng dẫn nhóm theo hướng tích cực thấy cần thiết.

Bước 1 : Nội dung bước 1

1.1    Những yêu cầu của nhân viên điều trị.

1.2    Đặt ra những ư muốn của từng học viên.

1.3    Quy định thời gian sinh hoạt.

1.4    Quy định tiêu chuẩn của tiêu chuẩn thành phần – tổ chức.

1.5    Nội quy nhóm

1.6    Những quy định cho một môi trường an toàn gồm các yếu tố.

·      Mọi thông tin trong nhóm không được phổ biến ra ngoài cho các học viên khác biết.

·      Mọi lời nói hành động đều phải có tính cách xây dựng, giúp đỡ, không được mang tính chất đả phá, chỉ trích, triệt hạ nhau.

·      Nếu vi phạm kỷ luật sẽ bị chuyển ra nhóm, mang tính chất đối đầu cao hơn.

·      Mọi tâm tư, nguyện vọng của thành viên đều được nhân viên điều trị tận t́nh giúp đỡ. Nếu vượt ra khỏi thẩm quyền, sẽ chuyển đến cấp cao hơn để đảm bảo rằng mọi nguyện vọng đúng đắn của học viên sẽ được giải quyết.

Bước 2 : Biện pháp hoạt động.

·      Những vấn đề cần đề cập.

·      Biện pháp để xây dựng chỉnh đốn hành vi cho nhau.

·      Biện pháp kỷ luật đối với thành viên ngoan cố ( h́nh phạt nặng nhất là đuổi khỏi nhóm – nghiêm trọng hơn th́ sẽ bị xử phạt cấp Trung Tâm ).

Bước 3 : Nội dung điều trị:

·      Tŕnh bày những vấn đề thiết thực, có nội dung tốt, nêu lên những nhân tố điển h́nh người khác noi gương.

·      Đặt ra những vấn đề đ̣i hỏi học viên phải động năo, xử lư. Qua đó bộc lộ được nội tâm và hành vi.

   Quy định cho cả nhóm được biến thành một nội quy sinh hoạt, nhấn mạnh vào :

1.   Phải tôn trọng lẫn nhau.

2.   Phải trách nhiệm với nhau.

3.   Chú ư lắng nghe và có sự thông cảm nhau

4.   Thấy rơ và phát hiện những điều chưa tốt

5.   Luôn luôn xây dựng lẫn nhau

           Khuôn khổ chương tŕnh điều trị đề cập đến những vấn đề như sau:

-         Những triển vọng về giải pháp chữa trị

-         Những triển vọng về bệnh nhân nghiện ma túy.

-         Thời gian hoạt động của nhóm.

-         Những quy định tham gia nhóm

-         Những quy định chăm sóc

-         Những quy định về an toàn

-         Những vấn đề về thành phần nhóm

1. AN TOÀN:

    An toàn đề cập đến hệ thống các quy định nhằm quản lư :

-       Những hành vi đúng đắn (bằng lời).

-       Các điều kiện theo đó một người sẽ bị chuyển ra khỏi nhóm (nếu  hành vi bạo lực đối với các thành viên khác) và phải đổi qua nhóm khác có những điều kiện khắc khe hơn.

-       Các điều kiện đảm bảo giữ kín các thông tin của các thành viên trong nhóm.

-       Tâm tư của các thành viên trong nhóm sẽ được sự giúp đỡ thông qua các nhân viên điều trị hoặc bởi các thành viên khác trong nhóm.

2.  THÀNH PHẦN CỦA NHÓM:

          Các nhóm được h́nh thành từ những người có đặc điểm tương tự (không giống nhau ) có kết quả cai nghiện giống nhau. Các nhóm người nghiện là không đồng nhất.

3.   QUY MÔ CỦA NHÓM

     Các nhóm  thường vào khoảng từ 5 – 15 thành viên

4.   PHÂN LOẠI NHÓM :

      CÁC NHÓM “ĐÓNG”: Gồm khoản 10 thành viên cùng lứa tuổi, giới, có những đặc điểm tương tự nhau. H́nh thức nhóm đóng này được sử dụng cho những mục tiêu được xác định trước và thời gian sinh hoạt không dài ngày. Nhóm trưởng là nhân viên điều trị có cá tính cương quyết.

      CÁC NHÓM “MỞ”: Gồm khoản 30 thành viên, có thể thu nhận thành viên mới, và các thành viên có thể được đưa sang các nhóm đóng do một yêu cầu điều trị có mục tiêu rơ rệt.

      Khi các nhóm mở này được sử dụng cho các chương tŕnh điều trị kéo dài, nếu cần nhóm mở vẫn phải được đối phó như nhóm đóng.

      Sinh hoạt của nhóm có thể tuần 3 lần, hoặc hàng ngày dưới h́nh thức thảo luận hay bài giảng. Đặc điểm của nhóm đóng là đối chất, đấu tranh (Trưởng nhóm là nhân viên điều trị có chuyên môn tâm lư, hiểu biết đối tượng )

 

5. CÁC GIAI ĐOẠN HOẠT ĐỘNG

 5.1. Bước đầu các thành viên được định hướng, biết cách tham gia vào chương tŕnh.

5.2. Sau đó phát hiện – giải quyết là những mâu thuẫn, những sai phạm, những chống đối  để sửa chữa cho nhau.

Về phương tiện điều trị, nhóm là đại diện cho một xă hội, một môi trường sinh hoạt nhỏ. Mọi sinh hoạt trong nhóm dần dần giúp cho học viên hiểu biết về mặt xă hội để sửa đổi hành vi. Mỗi thành viên trong nhóm sau một thời gian điều trị có thể là người dự báo tốt nhất về sự thành công hay thất bại trong mỗi mô h́nh điều trị. Một câu tục ngữ Pháp phát biểu: “ Cho tôi biết bạn anh là ai tôi sẽ biết anh là người như thế nào”. Thật vậy sự thành đạt của một thành viên trong nhóm có thể phản ánh sự thành công của nhóm, và sự tái hoà nhập cộng đồng chỉ có thể tốt lành một khi người nghiện có những kỹ năng đầy đủ về mặt xă hội.

6. MỘT SỐ PHƯƠNG THỨC SINH HOẠT NHÓM:

-       Liên hệ

-       Tôn trọng lẫn nhau

-       Tập trung chú ư

-       Quan tâm một cách có trách nhiệm

-       Chú ư lắng nghe

-       Sự cảm thông

-       Trao đổi thông tin với ư thức xây dựng mà những thông tin này có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp với các thành viên trong nhóm.

-       Sự nhận diện, phát hiện các vấn đề có liên quan.

I.    TƯ VẤN NHÓM CHO NGƯỜI NGHIỆN MA TÚY:

          Nhóm là đại diện cho một xă hội thu gọn.

          Sửa đổi hành vi một cách tốt nhất là thông qua sự hiểu biết về mặt xă hội và thông qua các sinh hoạt trong nhóm.

Mỗi thành viên là người dự báo tốt nhất về sự thành công hay không thành công của mỗi quá tŕnh cai nghiện.

Tái hoà nhập cộng đồng chỉ có thể xảy ra nếu bệnh nhân có hiểu biết đầy đủ về mặt xă hội.

1.  ĐỊNH NGHĨA :

       Tư vấn nhóm là một h́nh thức điều trị gồm một số những người nghiện h́nh thành một tổ chức trong đó :

-         Hành vi của mỗi thành viên được cả nhóm cùng biết.

-         Các thành viên trong nhóm đều đồng đẳng và học tập lẫn nhau.

       Sự tập hợp các đối tượng nghiện thành từng nhóm sinh hoạt riêng có một lợi ích nhất định trong quá tŕnh điều trị.

1.1  Mỗi thành viên thể hiện sự hiện hữu cũng như nhận thức của ḿnh bằng chính những phát biểu của ḿnh trước tập thể.

1.2 Mỗi thành viên được nhóm đóng góp hiểu rằng họ sẽ ảnh hưởng đến những người khác cũng như sửa chữa những khuyết điểm của họ.

1.3 Học viên được giúp đỡ để phân tíchnhận thức những hành vi b́nh thường và không b́nh thường, hành vi đúng sai. Họ được giúp đỡ để biết hành vi của chính ḿnh thông qua sự phản hồi của những thành viên khác trong nhóm.

1.4 Học viên được học để hiểu rằng họ không phải là người xấu, họ có thể có những suy nghĩ, những t́nh cảm đúng đắn của ḿnh để nhận xét giúp đỡ người khác trong cùng nhóm hoặc người ngoài nhóm.

                  Như vậy qua tư vấn nhóm, hai phương diện chứa nguy cơ cao là nội tâm và quan hệ cá nhân sẽ được bộc lộ, sinh hoạt nhóm sẽ được bộc lộ, sinh hoạt nhóm sẽ đạt được một số yếu tố sau :

·            Những hiểu biết thêm về bản thân ḿnh cũng như các thành viên khác trong nhóm.

·            Những hy vọng về tương lai, cuộc sống không có ma túy.

·            Những hiểu biết về cuộc sống tập thể, những mối quan hệ đúng đắn giữa người và người.

·            Ḷng vị tha săn sóc lẫn nhau.

·            Học tập lẫn nhau.

·            Học tập kỹ năng xă hội hoá. Những cách sống sao với nhau cho hoà thuận

·            Học tập kỹ năng xử lư thông tin. Biết cách đánh giá và phát huy những hiểu biết đă qua.

·            Sự phấn chấn, hăng hái do sống trong môi trường lành mạnh

·            Học tập về t́nh yêu thương gia đ́nh tập thể và ngay cả cá nhân ḿnh.

·            Sẽ tạo được sự tự tin dần dần cho các học viên.

·            Sự bắt chước học tập lẫn nhau.

·            Trong các yếu tố lợi ích do tư vấn nhóm đem lại, hai yếu tố học tập lẫn nhau hăng hái sống tác dụng mạnh mẽ nhất trong tác động chuyển đổi hành vi.

2.      MỤC ĐÍCH CỦA TƯ VẤN NHÓM.

+       Trọng tâm của tư vấn nhóm là nhằm tập hợp những đối tượng học viên tích cực, có tiến bộ trong quá tŕnh điều trị tại trung tâm để xây dựng một (hoặc nhiều) nhóm đồng đẳng, dùng sự tương tác nhóm, năng động nhóm để gây ảnh hưởng lên trên hành vi, nhận thức của từng cá nhân thành viên. Trọng tâm của sinh hoạt nhóm là phát triển kỹ năng quan hệ xă hội, kỹ năng làm việc tập thể, kỹ năng tự quản, bộc lộ, chia sẻgiúp đỡ lẫn nhau.

+       Nguyên tắc : Tất cả thành viên trong nhóm đều b́nh đẳng với nhau, phải hiểu biết hoàn cảnh của nhau, xem vấn đề của từng thành viên như vấn đề chung mà nhóm cần phải giải quyết.

+       Nhóm đồng đẳng khi hoạt động tốt sẽ giúp h́nh thành một tập thể các hạt nhân tích cực góp phần thúc đẩy các học viên khác trong Trung tâm tham gia các hoạt động giáo dục và trị liệu.

+       Trong giáo dục các đối tượng nghiện ma túy, tư vấn nhóm rất quan trọng để thay đổi thái độ, hành vi và tạo điều kiện thay đổi lối sống. Thông qua sinh hoạt nhóm giúp các cá nhân tương tác lẫn nhau, chia sẻ kinh nghiệm để tạo sự thay đổi hành vi và thái độ tăng cường khả năng giải quyết vấn đề quyết tâm cai nghiện.

2.1 Mục đích của hoạt động nhóm.

+    Tăng cường sự gắn bó giữa các nhóm viên. Giúp các thành viên chia sẻ thông tin, nhu cầu giao tiếp, chia sẻ tâm tư t́nh cảm, tạo ảnh hưởng của ḿnh đối với nhóm.

+    Giúp các cá nhân tăng cường khả năng xă hội hoá tạo sự thay đổi hành vi, thái độ thông qua các hoạt động của nhóm, tăng tính tự trọng trong giao tiếp, khả năng hợp tác, thực hành tương tác trong nhóm tăng cường khả năng ứng phó với khủng hoảng.

+    Tạo sự thay đổi hành vi thái độ thông qua hoạt động nhóm, các quy định trong nhóm để tạo sự thay đổi hành vi, thay đổi của mỗi cá nhân riêng lẻ.

2.2 Ảnh hưởng của các hoạt động nhóm đối với người nghiện ma túy.

§   Thông qua sinh hoạt nhóm giúp các thành viên nâng cao hiểu biết về các kiến thức tự nhiên và xă hội, cách giao tiếpứng xử với bạn bè cùng có chung hoàn cảnh. Từ đó giúp các đối tượng cải thiện các quan hệ, tăng cường tính tự tin.

§   Giúp các đối tượng giải tỏa tâm lư tự ti, tiêu cực, tăng cường tính tự tin, xây dựng niềm tin chấp nhận cuộc sống mới.

§   Tạo ảnh hưởng kiểm soát nhóm tới hành vi cá nhân : qua quan sát thái độ, hành vi của các thành viên khác trong nhóm, kỷ luật do nhóm đặt ra, mỗi cá nhân sẽ phải tuân theo và rèn luyện tính kỷ luật.

§   Nhóm đem lại những t́nh huống đời thường, những t́nh cảm giữa những người có chung cảnh ngộ, thay thế những t́nh cảm đă bị mất mát do nghiện ngập gây nên.

§   Thông qua sinh hoạt nhóm các đối tượng sẽ được chia sẻ những kinh nghiệm cai nghiện hoặc cách đối phó với những vấn đề khó khăn thường gặp trong cuộc sống.

I.     TÂM LƯ TRỊ LIỆU NHÓM (PSYCHOTHERAPIE DE GROUPE)

1.    CÁC LOẠI NHÓM VÀ MỤC ĐÍCH.

1.1 Nhóm gặp gỡ cơ bản ( Basic encounter group ).

Trong đời sống, người ta thường gặp nhau ở bề ngoài hời hợt, quan hệ xă giao. Nhóm này giúp các thành viên gặp gỡ nhau ở chiều sâu.

1.2 Nhóm luyện tập (Training group ).

Thường tư tưởng và ư kiến th́ dễ bộc lộ hay diễn đạt ra nhưng phần t́nh cảm th́ hay bị bế tắc (block) không bộc lộ ra được (nhất là ở xă hội VN) ; nó chỉ ngấm ngầm hoặc nghẹn lại nên nhóm này giúp ta phải cố gắng luyện tập (training) để bộc lộ ra, để truyền thông được (communication).

1.3 Năng động nhóm (Dynamic group ).

   Mục đích của sự thành nhân là mục đích của nhóm :

+       T́m được một nhân cách thuần nhất (không bị khe hở nội tâm).

+       Ư thức thực tại.

+       Dám liều lĩnh trước những mới lạ của cuộc đời. Dám nói dù biết rằng đă bị phán xét, dù sẽ có thể nói hớ …

+       Biết tự bộc lộ, thắng được kháng cự bên trong ta để khám phá và phát huy một sức mạnh trong chính ḿnh hầu biết tự lập, chủ động và đứng vững môt ḿnh.

+       Biết truyền thông.

2.    PHƯƠNG PHÁP.

2.1 Chú ư tại đây và bây giờ, chú ư trạng thái của những người đang có mặt.

2.2 Đối thoại tay đôi, không được nói đến kẻ thứ 3 (3è personme) như anh ấy, anh ta ..Phải là nói tới, không nói lui (có thể nói về một người đang có mặt trong nhóm).

2.3 Tập NGHE: quan tâm đến một thành viên đang bộc lộ bằng một khíacạnh ( thông điệp có lời, thông điệp không lời ) bằng cả giác quan của ḿnh ( tay nghe mắt nh́n ).

+     Nhắc lại mọi người nói chuyện với nhóm chứ không phải nói với người điều phối.

+     Nhắc thành viên diễn tả đúng tên, đúng sự việc

vd : tôi không ưa mấy …

          Chị muốn nói là chị ghét phải không ?

2.4Cần hiểu được và sử dụng những sự thinh lặng. Nó thường xảy ra :

-       Khi người ta khổ sở.

-       Sau mỗi lần nói thật …

2.5 Biết làm sáng tỏ những thông điệp:

-       Thông điệp không lời : nhún vai, quay mặt chỗ khác, nụ cười lúng túng, mắc cỡ hay mỉa mai, chế nhạo … ) Mời đương sự diễn tả : “anh cảm thấy thế nào”.

-  Thông điệp hàm hồ :

+   Không ai thương tôi, đi đâu cũng bị la

+   Ai không thương anh ? Anh đi đâu bị la ?

-       Thông điệp mâu thuẫn:

+  Tôi nghe được hai điều khác nhau ( giận khi về trễ, mặc kệ khi về trễ … ) vậy cái nào là ư chị ?

+   Chị nói không giận nhưng giọng nói chị cho biết là khác.

2.6 Người điều hoà cần nhắc nhở :

a.   3 quy tắc của nhóm :

1.   Tại đây lúc này.

2.   Phải tự bộc lộ.

3.   Mỗi người có trách nhiệm cho sự tiến triển của nhóm.

b.   Thời gian trong nhóm là quan trọng:

+     Đừng để trên đường về, hối tiếc v́ đă không nói điều ǵ, chưa thực hiện việc ǵ …

+     Dù sự thinh lặng là nơi trú ẩn an toàn nhưng nó làm cho ḿnh không sử dụng hết khả năng, không tăng trưởng, không quan hệ được với thân nhân, không sống …

*   Nên quan tâm đến thành viên tích cực muốn xây dựng nhóm – không mất th́ giờ với kẻ diễu cợt, bắt bẻ, chơi nổi … làm tŕ trệ nhịp tiến của nhóm.

3     ĐIỀU TRỊ THEO NHÓM:

Điều trị nhóm h́nh thành một môi trường trong đó :

+     Hành vi của mỗi thành viên được cả nhóm cùng biết

+     Các thành viên giúp đỡ điều chỉnh hành vi lẫn cho nhau

+     Các thành viên biết được từ những người cùng nhóm

+     Các thành viên dần dần trở thành những thành viên tích cực có thể tự điều chỉnh hành vi và giúp đỡ lẫn nhau trong quá tŕnh cai nghiện.

ĐIỀU TRỊ THEO NHÓM TẠO THÀNH MÔI TRƯỜNG: trong đó    

-       Các thành viên biết thể hiện t́nh cảm của ḿnh bằng lời nói

-       Hành vithái độ của mỗi thành viên được phân tích để họ:

+ Hiểu được họ bị ảnh hưởng bởi những người khác nhau như thế nào.

+  Hiểu được ảnh hưởng của họ đối với những người khác

-       Nêu ra các thành viên những ví dụ thực về những hành vi b́nh thường và những hành vi không b́nh thường. Cách thành viên biết cách nh́n nhận đánh giá hành vi chính họ thông qua sự phản ảnhhoạt động của những người khác.

-       Các thành viên có được một môi trường an toàn ở đó hành vi của họ được người khác nhận xét gợi ư và họ có thể góp ư cho người khác. Môi trường ở đó những suy nghĩhành vi chưa đúng đắn sẽ được đề cập đến đúng mức để điều chỉnh, c̣n bản thân họ không phải là người xấu.

-       Môi trường mà các thành viên có điều kiện thể hiện t́nh cảm suy nghĩ phù hợp, đúng đắn của ḿnh.

4     TÓM TẮT PHƯƠNG THỨC ĐIỀU TRỊ THEO NHÓM:

   Các nhóm h́nh thành cho các thành viên những yếu tố thuận lợi sau:

-         Thông tin

-         Hy vọng

-         Hiểu biết những vấn đề chung

-         Ḷng vị tha

-         Học tập lẫn nhau

-         Kỹ thuật xă hội hoá

-         Đánh giá đúng những hoạt động đă qua

-         Sự phấn chấn

-         Sự gắn bó các thành viên trong nhóm

-         Tự tin vào cuộc sống

-         Bắt chước

-         Học tập lẫn nhau và sự phấn chấn là hai yếu tố có tác dụng mạnh mẽ nhất

5.  TÂM LƯ TRỊ LIỆU NHÓM

-         Các nhóm bạn bè đối tượng và các nhóm cha mẹ phải được hướng dẫn để hiểu biết nguyên nhânhậu quả các hành vi nghiện ma túy, các khó khăn về tâm lư và các vấn đề có liên quan giữa cá nhân với những người chung quanh việc nâng đỡ của nhóm làm giảm các thái độ thờ ơ, thiếu trách nhiệm của đối tượng.

-         Trị liệu nhóm nhằm giải quyết thích ứng bằng cách sử dụng các biện pháp đấu tranh trực tiếp chống các tư tưởng, các hành vi nghiện ngập, chống lại sự nài xin và sử dụng chất ma túy. Ngoài ra, c̣n giúp đỡ đối tượng nâng cao kỹ năng xă hội tạo quan hệ, sự giao tiếp giải quyết các vấn đề giữa con người với con người

5.1  KỸ THUẬT ĐIỀU TRỊ NHÓM:

                   Trưởng nhóm phải có tŕnh độhiểu rơ các phương pháp để điều hành nhóm, có khả năng xử lư những t́nh huống đặc biện như biết rơ về đối tượng của ḿnh.

a)    Sự bất ổn của học viên : Khi đối tượng lo âu, bất ổn là lúc họ có vấn đề. Người trưởng nhóm phải biết được vấn đề đó, giúp đỡ họ vượt qua. Mọi xử lư vội vàng như đuổi học viên ra khỏi nhóm làm giảm kết quả điều trị.

b)    Cố gắng thúc đẩy tính tự giác đối tượng, phải biết nhận lỗi ḿnh trước nhóm. Tính tự giác sẽ gây một không khí phấn chấn trong nhóm, rất lợi cho việc điều trị.

c)     Nêu ra những người tốt để làm gương và thúc đẩy cả tập thể.

d)    Sự thiếu hoà hợp với tập thể và sinh hoạt do bị áp lực tâm lưnhững vấn đề nghiêm trọng sẽ đưa đến những rối loạn về thái độ và hành vi của đối tượng. Những trường hợp này cần tư vấn cá nhân để kịp thời giải quyết.

e)    Phải hướng dẫn toàn nhóm biết lắng nghe ư kiến của người khác về bản thân ḿnh.

f)      Phân công từng học viên nhập vai tṛ lănh đạo. Kỹ thuật này giúp đối tượng học được tính tự tin khả năng phân tích, phán đoán hành vi.

g)    Toàn nhóm phải dân chủ b́nh đẳng.

5.2  SO SÁNH TƯ VẤN NHÓM VÀ TRỊ LIỆU TÂM LƯ NHÓM:

 

TƯ VẤN NHÓM

LIỆU PHÁP TÂM LƯ NHÓM

- Tính trực tiếp

- Không trực tiếp

- Tính giáo dục

- Gợi mở tư duy

- Hỗ trợ

- Tính cấu trúc lại – T́m kiếm sự lặp lại các hành vi

- T́nh h́nh và sự phát triển

- Tác động mạnh về tâm lư

- Giải quyết các vấn đề

- Phân tích

- Nêu ra các vấn đề về mặt nhận thức

- Suy ngẫm về những hành vi đă qua

- Nhấn mạnh vào cái ǵ được coi là hành vi tốt chưa tốt

- Hướng vào vấn đề tồn tại về mặt t́nh cảm

 

5.3  MỘT SỐ VẤN ĐỀ CẦN LƯU Ư TRONG ĐIỀU TRỊ NHÓM:

LO ÂU: Khi ta quá lo âu sẽ dẫn đến những thay đổi. Cần cho đối tượng cảm giác an toàn nơi họ đang ở. Sự quá lo âu c̣n dẫn đến họ sẽ từ bỏ nhóm.

PHẤN CHẤN: Đề cập đến việc thành viên “ nhận lỗi trước nhóm “ điều này tạo ra cảm giác phấn chấn bởi sự thành thật của người có lỗi trước tất cả các thành viên trong nhóm.

PHẢN CHIẾU: Đưa ra một ví dụ cho hành vi đúng đắn để noi gương và thực hiện.

SỰ KHÔNG HOÀ HỢP VÀ BỊ ÉP BUỘC: Các thành viên trong nhóm cai nghiện bị điều chỉnh dưới áp lực những người khác trong nhóm ( điều chỉnh tác động từ bên ngoài ) để thay đổi thái độ và hành vi. Hành vi mới dẫn đến thái độ mới.

HỒI ÂM: Các thành viên trong nhóm được biết những hậu quả do những suy nghĩ và hành vi của họ.

+    Phát hiện khuyến khích những điểm mạnh của họ.

+    Làm mẫu đóng vai tṛ lănh đạo.

+    Phát huy quyền dân chủb́nh đẳng trong nhóm.

5.4 CÁC BƯỚC TIẾN HÀNH TRONG CAI NGHIỆN NHÓM:

+     Định hướng, tham gia, phụ thuộc: Các thành viên được xác định các định hướng, biết cách tham gia vào chương tŕnh và biết cách gắn bó các thành viên trong nhóm khác nhau.

+     Mâu thuẫn, chống đối: các thành viên biết thể hiện sự quan tâm có tính trách nhiệm, tôn trọng nhau và bắt đầu sửa chữa điều chỉnh hành vi của chính ḿnh và cho những người khác.

+     Sự gắn bó: Các thành viên có khả năng nhận biết vấn đề, quan tâm giúp đỡ lẫn nhau và cam kết thực hiện các mục tiêu của chương tŕnh điều trị.

E.     XỬ LƯ CA (GIẢI QUYẾT TRƯỜNG HỢP) (CASE MANAGEMENT)

        Xử lư ca là tổ chức hoặc điều phối các dịch vụ nhằm giúp đỡ đối tượng giải quyết trường hợp khó khăn của họmột cách hiệu quả. Họat động này bao gồm:

-         Đánh giá hoàn cảnh đối tượng.

-         Hỗ trợ đối tượng giải quyết vấn đề.

-         Lập hồ sơ cá nhân.

-         Ghi lại những thông tin cần thiết để tiện theo dơi.

-         Cung cấp tư vấn.

-         Chuyển giao đối tượng đến các nhà chuyên môn và tổ chức khác để có sự trợ giúp cần thiết mà bản thân cán bộ điều trị không làm được.

-         Biện hộ cho đối tượng trước tổ chức khác….

       Trong quá tŕnh này, cán bộ điều trị làm nhiệm vụ điều phối các dịch vụ tâm lư xă hội để chăm sóc, giúp đỡ đối tượng vượt qua những khó khăn về thể chất tâm thần, tâm lư xă hội, và giúp họ phục hồi, pḥng chống các vấn đề khó khăn có thể xảy ra. Cán bộ điều trị hoạt động như người điều hành để đảm bảo việc chuyển giao các dịch vụ cần thiết tới đối tượng một cách kịp thời. Vai tṛ của người xử lư ca rất quan trọng, đặc biệt là với nhóm người dễ bị tổn thương trong đó có đối tượng nghiện ma túy. Các đối tượng này thường gặp khó khăn trong việc t́m đến các dịch vụ tâm lư xă hội bởi v́:

+     Do giới hạn chức năng của thể chất hoặc tâm thần, có sự đau đớn cực độ và những khó chịu khác.

+     Thiếu thông tin về các nguồn hỗ trợ hoặc không có đủ điều kiện để t́m đến nguồn hỗ trợ.

+     Chưa hiểu được tầm quan trọng trong công tác xử lư ca.

·          Nhu cầu người nghiện thông thường bao gồm:

-            Hiểu biết về tác hại của ma túy và phương pháp điều trị.

-            Hỗ trợ tâm lư về gia đ́nh, bạn bè, cộng đồng.

-            Nâng cao ḷng tự trọng, giá trị của bản thân và những suy nghĩ tích cực.

-            Có tính tự giác và tinh thần trách nhiệm đối với những hậu quả về hành động của bản thân.

-            Được tin cậy và tôn trọng.

-            Độc lập về kinh tế.

-            Hồi phục chức năng.

-            Sự hiểu biết về tâm lư và sức khỏe.

 

 

I)      CÁC KỸ NĂNG TƯ VẤN ĐỂ GIẢI QUYẾT CA:

1.  BẮT ĐẦU TỪ ĐỐI TƯỢNG:

             Để xây dựng các mối quan hệ tương trợ cán bộ điều trị.

·           Nhận định các nhu cầu, cảm xúc và mong muốn đặc biệt của đối tượng.

·           Lắng nghe đối tượng giải thích về vấn đề của họ.

·           Khai thác các ư kiến cho việc giải quyết vấn đề.

·           Khai thác các mong muốn của đối tượng về sự hỗ trợ mà họ cần tới.

·           Nhận thức về các vấn đề khi mà đối tượng quan tâm.