THỜI GIAN LÀM VIỆC 24/24
 

HOTLINE : (028) 6270 0119 - (028) 2215 4274
0982 120 908 - 090 371 5529 - 0933 161 985
Cơ sở 1: 1051 Bình Quới (XVNT) - P.28 - Q.Bình Thạnh - Tp.HCM
Cơ sở 2: 978 Nguyễn Duy Trinh - P. Phú Hữu - Q9 - Tp.HCM

TRUNG TÂM ĐIỀU DƯỠNG VÀ CAI NGHIỆN MA TÚY THANH ĐA 
Địa chỉ : 1051 Bình Quới (Xô Viết Nghệ Tĩnh) - P.28 - Q.Bình Thạnh - Tp.HCM
Điện thoại: (08).38986513 - 38986515(Ext:12) - (08).22154274 - MST: 0301910027

BÁO CÁO TẠI HỘI THẢO X

ĐỐI TƯỢNG LÀ VỊ THÀNH NIÊN TRONG CHỮA BỆNH CỘNG ĐỒNG

Ngày 21 – 8 – 2002

 

Chủ toạ:                    

  • BS. Smith Vatanatunyakum              (Thái Lan)

Báo cáo viên:                        

  • Bà Gouw Aij Lien                           (Indonesia)   
  • Ông Yeung Yuk                             (Hong Kong)
  • Cha Ronald Drahozal                      (Bangladesh)
  • Ông Faisal Afdhal                           (Indonesia)

Công tác chuẩn bị:   

  • Ông Eddie L. Castillo                      (Philippines)

Số người tham dự:    28 người

TÓM TẮT VỀ TRÌNH BÀY CỦA CÁC BÁO CÁO VIÊN:

Báo cáo viên đầu tiên đề cập đến cuộc sống của những trẻ em có hoàn cảnh gia đình (thiếu cha hoặc mẹ) đang gặp rắc rối về tình cảm và tâm lý phức tạp ở Indonesia. Nữ tác giả tập trung vào vai trò của CBCĐ trong việc đem lại thay đổi toàn diện cho đối tượng thông qua một phương pháp tích hợp từ hành động đến những cảm xúc, giá trị và thái độ hướng tới một lối sống lành mạnh không ma tuý.

Báo cáo viên thứ 2 tập trung đề cập đến hiệu quả của CBCĐ trong việc cải tạo, thay đổi hành vi xấu của đối tượng là thanh thiếu niên. Đông thời CBCĐ cũng giúp trang bị cho những đối tượng đó những giá trị cuộc sống tốt đẹp, đẩy lùi những hành vi gây rối. Việc gia đình cũng tham gia vào nhóm phòng chống tái nghiện để được trang bị những kiến thức phòng chống ma tuý cơ bản, đồng thời là những hiểu biết về tâm lý, cuộc sống gia đình, vv.

Nhận thấy sự quan trong của công tác trợ giúp trong điều trị nhằm giúp người cai nghiện tái hoà nhập xã hội, cần phải xem xét củng cố sự phối hợp, hợp tác giữa các cơ sở điều trị và các cơ sở dạy nghề. Cần thành lập một mạng lưới liên kết với nhà tuyển dụng để tạo cơ hội việc làm ổn định cho người đã cai nghiện.

Ngoài ra cần khuyến khích mọi người kể cả người cai nghiện và người nghiện tình nguyện tham gia các hoạt động giúp người đang cai nghiện ở các cơ sở CBCĐ. Bằng sự quan tâm và giúp đỡ đó, người đang cai nghiện sẽ mở rộng được cuộc sống xã hội và tự tin hơn để đến với cuộc sống bình thường.

Báo cáo viên thứ 3 nói về chương trình gồm 12 bước với sự trợ giúp từ 2 trung tâm khác trong khu vực. Phương pháp NA/TC đang được áp dụng với các đối tượng là thanh thiếu niên. Ông cảm thấy rằng cần phải đào tạo thêm về chữa bệnh cộng đồng, đặc biệt là ở Làng Daytop, New York. Hầu hết các đối tượng thanh thiếu niên này đều là nam giới và có hoàn cảnh gia đình (không đầy đủ cha hoặc mẹ).

Báo cáo viên thứ 4 bắt đầu bằng việc chia xẻ kinh nghiệm của bản thân, bị ảnh hưởng từ việc nghiện ngập của 2 đứa con trai của mình, chúng đang được điều trị trong nước. Điều này đã thôi thúc và ông đã tự nguyện tham gia, làm việc chính thức điều trị và phục hồi cho người nghiện ma tuý.

Ông tin tưởng rằng chương trình CBCĐ rất hiệu quả trong điều trị cai nghiện cho đối tượng thanh thiếu niên. Các bậc cha mẹ cũng cần quan tâm, hiểu biết về những vấn đề của tuổi thanh thiếu niên. Báo cáo viên cũng cho hay là ông rất vui mừng về sự tiến bộ của các con – CBCĐ như là một món quà của sự hy vọng.

NHỮNG VẤN ĐỀ ĐƯỢC THẢO LUẬN:

1.      Sự tham gia của cha mẹ trong chương trình là sự trợ giúp quan trọng đối với trẻ (đặc biệt là nhóm những gia đình thiếu vắng cha hoặc mẹ).

2.      Liên tục giáo dục cho đối tượng thanh thiếu niên.

3.      Phát triển đào tạo nhân viên.

4.      Nhóm độ tuổi thanh thiếu niên.

CÁC ĐỀ XUẤT VÀ GIỚI THIỆU:

1.      Khi mới vào nên có giáo dục cơ sở.

2.      Tuổi vị thành niên nên tính là từ 18 tuổi trở xuống.

3.      Đối tượng có hoàn cảnh gia đình không đầy đủ cần được động viên đến với chương trình.

4.      Phát triển đào tạo nhân viên tại Làng Daytop.

ĐỐI TƯỢNG LÀ VỊ THÀNH NIÊN TRONG CHƯƠNG TRÌNH

CHỮA BỆNH CỘNG ĐỒN

Gouw Aij Lien, S. Psi

Tổ chức Sekar Mawar

Toàn bộ các đối tượng tại Sekar Mawar đều trong độ tuổi từ 19 – 42. Một phần trong số đó là thanh niên và có một phần là vị thành niên. Hầu hết các phụ huynh của nhóm đối tượng đó đều tham gia Hội Gia đình Sekar Mawar.

Nói chung, lứa tuổi thanh thiếu niên được xác định là có độ tuổi trong khoảng 12 – 24 (Wendy Snyder, 1992). Nhóm đối tượng được xác định là thanh thiếu niên ở chỗ chúng tôi là 19 - 24 tuổi. Nhóm này thường là có gia đình (cha và mẹ) không đầy đủ, được nuôi dưỡng bởi người mẹ, có thể là do ly dị hoặc người cha đã chết.

Do nhóm đối tượng này hầu hết là sống và lớn lên trong những gia đình không đầy đủ cha mẹ nên chúng thiếu tình cảm và quan hệ với cha mẹ. Một số đứa trẻ có thể đã trải qua những khủng hoảng và gây nên những cú sốc về tinh thần/ tình cảm. Một số đứa có vấn đề về sức khoẻ tâm thần (lo lắng, sợ hãi, buồn chán, thiếu tự tin, chậm phát triển tính cách, chứng hoang tưởng, tư tưởng tự sát).

Lúc đầu chúng không có bất kỳ vi phạm nào song từ khi nghiện ma tuý chúng bắt đầu ăn cắp, thường chộm tiền, các vật gia dụng, thậm trí một số đứa còn buôn bán ma tuý. Chúng dùng mọi cách, kể cả ép cha mẹ cho tiền để mua ma tuý với bất kỳ lý do gì.

Về giáo dục, một phần trong đám trẻ đó là học sinh, sinh viên các trường từ trung học đến đại học. Chúng khó có thể đạt được kết quả trong học tập (dưới mức cho phép), có thể phải chuyển từ trường này sang trường khác. Rốt cuộc là bỏ học. Điều đó càng làm chúng cảm thấy vô dụng, kém cỏi. Một số thanh thiếu niên đang đi làm việc thì cũng khó có thể duy trì công việc bởi tâm trạng buồn chán, không hoàn thành việc được giao, thất vọng. Có những lần bỏ việc, nghỉ tự do không phép và kết cục là bị mất việc cùng cảm giác buồn chán, thất vọng.

Chữa bệnh Cộng đồng coi việc nghiện ma tuý là hành vi lầm đường lạc lối, do thiếu giáo dục và do hoàn cảnh. Nghiện ma tuý là một sự rối loạn của toàn bộ cơ thể. Nghiện chỉ là một triêu chứng, không phải là bản chất của sự rối loạn. Vấn đề không phải là ma tuý mà là ở con người đó. Mục tiêu của điều trị là một sự thay đổi toàn diện của con người đó thông qua việc phối kết hợp thực hiện, về cảm xúc, về các giá trị, và thái độ về một lối sống không ma tuý (George De Leon and David Deitch).

William B. O’Brien và D. Vincent Biase thì chỉ ra rằng mục tiêu cụ thể của chương trình chữa bệnh cộng đồng là (a) xoá đi hành vi sử dụng ma tuý của người nghiện, (b) phục hồi người nghiện, khơi dậy nhân cách để chống lại stress, và (c) giúp người nghiện điều chỉnh lại, quay ttở về làm một công dân đầy đủ. Môi trường chữa bệnh cộng đồng tạo ra một bầu không khí gia đình trong đó việc tự ý thức là mục tiêu chính. ở đó người nghiện có cơ hội để tự khám phá bản thân, gọt rũa lại những mục tiêu cuộc sống, có ý thức trách nhiệm, đạo đức, cùng các giá trị trong sáng.

Dựa trên các khái niệm của Chữa bệnh Cộng đồng, Trung tâm Sekar Mawar áp dụng các phương pháp chính thống của CBCĐ với đầy đủ các công cụ gồm: Quản lý/ Hình thành Hành vi, Tình cảm/ Tâm lý, Tinh thần-Tri thức, Giáo dục và Nghề nghiệp.

Xem xét đặc điểm của nhóm đối tượng là thanh thiếu niên, kết luận chuyên môn về sức khoẻ tâm thần cho rằng gia đình là nguồn động viên, chỗ dựa to lớn của hầu hết thanh thiếu niên (BS. Lee Combrink-Graham, 1992). Chương trình CBCĐ được áp dụng sẽ tập trung vào các biện pháp như Tư vấn, Liệu pháp Tâm lý theo nhu cầu cũng như  dùng Liệu pháp Gia đình và sử dụng các Hội gia đình trong điều trị ban đầu.

Do các đối tượng thanh thiếu niên này có hoàn cảnh gia đình nên việc tham gia của gia đình trong điều trị là cần thiết. Phổ biến kiến thức cho phụ huynh, liệu pháp gia đình hạt nhân và nhóm được coi là một phần trong chương trình điều trị. (BS. Kenneth Sconberg, 1993).

Trong giai đoạn tiền tái hoà nhập và tái hoà nhập, người cai nghiện được Tư vấn, Hướng nghiệp, trước đó được kiểm tra tâm lý, được đánh giá. Việc này do chuyên gia tâm lý thực hiện.

Tư vấn viên đóng vai trò cần thiết và quan trọng trong quá trình điều trị cai nghiện đối với đối tượng là thanh thiếu niên nên người tư vấn viên phải cần có đủ kiến thức và kỹ năng chuyên môn để việc tư vấn đạt hiệu quả.

·     Do CBCĐ là một chương trình, một phương pháp mà cũng cần phải học, đúc rút kinh nghiệm, tiến hành thực tế, người thực hiện cần nắm vững do vậy tư vấn viên phải tốt nghiệp chương trình điều trị nội trú về CBCĐ.

·        Để hiểu thấu đáo về mô hình CBCĐ, đảm bảo có kiến thức, nắm vững những kỹ năng, thì người tư vấn viên cũng phải hoàn thành chương trình đào tạo dành cho tư vấn viên trong CBCĐ.

·        Kỹ năng tư vấn cơ bản và kiến thức cơ bản về tâm lý, đặc biệt là tâm lý lâm sàng, tâm lý tuổi thanh thiếu niên, sự phát triển tâm lý, là những thứ hữu ích đối với tư vấn viên trong công tác.

·        Cuối cùng là tinh thần, lòng yêu nghề là những đức tính quan trọng đối với người cán bộ làm công tác điều trị cai nghiện để đạt được hiệu quả trong công tác điều trị này.

MỘT TRƯỜNG HỢP DO GIA ĐÌNH THIẾU TRÁCH NHIỆM

Gouw Aij Lien, S. Psi

Tổ chức Sekar Mawar

F (một người cha, 52 tuổi) là con thứ 3 trong một gia đình có 10 anh chị em. Được sinh ra và lớn lên trong một gia đình khiêm nhường, bố ông ta là một thương nhân và mẹ là giáo viên dạy may. Người cha của ông ta thường đánh đập bà vợ (lạm dụng về thể xác) khi họ cãi cọ. Khi F còn nhỏ, nhiều lần ông chứng kiến cảnh đánh đập đó, ông cảm thấy tức giận và chán ghét người cha nhưng không thể làm gì để giúp bà mẹ, cảm thấy bất lực tuyệt vọng.

M (một người mẹ, 46 tuổi) là con gái duy nhất trong một gia đình giàu có. Mẹ của bà ta cùng những anh em trai (một anh trai và 2 em trai) luôn chiều chuộng và bảo vệ bà. Cách mà gia đình đã đối xử với bà có ảnh hưởng lớn đến cách bà đối xử với con cái của bà sau này.

F và M là ngưòi Trung Quốc và lớn lên trong truyền thống và văn hoá Trung Quốc. Gia đình F có những tôn giáo tín ngưỡng, trong khi gia đình F theo Thiên chúa giáo La Mã.

Cha mẹ của F rất coi trọng vấn đề học vấn và luôn mong con cái họ học đại học mặc dù gia cảnh họ không giàu có gì.

Khi họ làm lễ cưới tại một nhà thờ Thiên chúa giáo La Mã (năm 1976), F lúc đó 26 tuổi đã bỏ đở năm thứ 4 của Khoa Kinh tế của một trường đại học danh tiếng ở Indonesia. Khi đó M là 20 tuổi và cũng bỏ dở khi đang học năm thứ 1 của một trường thiết kế thời trang ở Nhật Bản. Ngay sau khi cưới, F đến gia đình M chung sống và điều hành kinh doanh của gia đình.

Hôn nhân của họ đã không được tốt đẹp, họ thấy có nhiều bất đồng không thể giải quyết, vượt qua được. Họ bắt đầu cãi cọ thường xuyên, thậm trí ngay cả trước mặt con cái. Người con trai cả (S1, 23 tuổi) lúc đó đã lên 4 tuổi. Trong một lần cãi cọ lớn F đã không thể kiềm chế và đánh vợ trước mặt S1. Kể từ khi đó hôn nhân của họ càng tồi tệ hơn, đặc biệt khi họ lâm vào tình trạng khó khăn về tài chính. Nhiều lần F đánh M trước mặt con khi họ có cãi cọ lớn. F không bao giờ xin lỗi M. Anh ta coi đó chỉ là “chuyện nhỏ”. M cũng chưa bao giờ nói chuyện đó với gia đình bố mẹ đẻ hoặc bất kỳ ai bởi bà ta coi việc đó là một việc xấu hổ. Cũng kể từ lúc đó bà cũng hạn chế quan hệ với bạn bè và xã hội, nhưng mối quan hệ của bà với các con lại khăng khít hơn.

Tất cả bọn trẻ trong gia đình đều đã từng chứng kiến cảnh bạo hành của F với M và chúng dần trở nên chán ghét và tức giận đối với cha của chúng. Khi chúng đến tuổi vị thành niên chúng bắt đầu phản ứng, chống lại người cha khi ông ta có hành động bạo lực.

F và M có quan điểm trái ngược trong việc nuôi dạy con cái. F là người cha gia trưởng, nói chuyện với gia đình theo kiểu thông tin một chiều, luôn đòi hỏi gia đình phải theo ý của mình, đôi khi đánh bọn trẻ nếu chúng không tuân theo hay không nghe lời. Còn M lại luôn chiều theo và đáp ứng đòi hỏi của bọn trẻ do đó giữa bọn trẻ và người mẹ có quan hệ gần gũi, bọn trẻ đứng về phía mẹ chúng và tạo nên một “liên minh” chống lại người cha.

Mối quan hệ giữa người cha và các thành viên trong gia đình trở nên tồi tệ hơn kể từ 4 năm trước đây. Tức là từ khi F và M xảy ra các cuộc cãi vã, và rôi F đánh M trước mặt bọn trẻ trên xe hơi. Hiện nay người vợ và những đứa con chỉ nói chuyện với người cha trong gia đình khi họ cần tiền. Hai vợ chồng ngủ riêng phòng kể từ khi đứa con trai út ra đời.

Những đứa trẻ lớn lên trong những gia đình có bi kịch, căng thẳng như trên thì cũng đều bị những khủng hoảng tâm lý.

Người con trai cả (S1, 23 tuổi) có vấn đề trong biểu lộ cảm xúc, đặc biệt là sự tức giận, ở cả trường học và trong quan hệ với bạn bè ở lớp. Vào năm thứ 3 ở bậc Phổ thông cơ sở (15 tuổi), nó bắt đầu sử dụng ma tuý với nhóm bạn xấu với lý do là kiếm niềm vui, giải toả cảm giác không vui, căng thẳng ở gia đình và trường học. Khi người cha phát hiện thấy, đã đánh đập song không thể làm cho nó dừng nghiện được mà thậm trí nó còn trở nên tồi tệ hơn trong suốt 4 năm. Nó đã sử dụng ecstacy, Amphetamine và heroin. Kết quả học tập của nó ngày càng giảm sút và cuối cùng nó đã trượt kỳ thi tốt nghiệp Phổ thông trung học. Gia đình đã gửi nó đến một trung tâm điều trị CBCĐ ở Indonesia. Nó được điều trị cai được khoảng 5 tháng, sau đó bà mẹ đã đón về. Tiếp theo là gia đình đã gửi nó và đứa em trai (S2) sang Singapore học thiết kế đồ hoạ.

ở Singapore, cùng phòng với chúng có một đứa nghiện ma tuý và chỉ sau khoảng 6 tháng, đứa em trai phát hiện người anh đã bị tái nghiện và đã thông báo với bố mẹ. Gia đình lại phải đưa chúng trở về Indonesia. Để tách S1 với các bạn nghiện, cả gia đình đã chuyển đến sống ở một thành phố khác. Người cha giao việc kinh doanh của gia đình cho 2 đứa con trai lớn. Họ ở đó được khoảng 2 năm và trong thời gian đó S1 không hề dính líu đến ma tuý. Song việc kinh doanh ở đó không được thuận lợi nên người cha lại quyết định chuyển gia đình về thành phố cũ. Sau một thời gian chuyển về, S1 gặp lại bạn xấu cũ và lại tái nghiện. Khi người cha phát hiện đã bắt con đi cai nghiện, sau đó được chuyển đến một trung tâm điều trị không thuộc CBCĐ ở Indonesia. Đến nay nó đã ở trung tâm đó được 10 tháng. Hiện nó đang phàn nàn về sự buồn chán ở trung tâm và muốn sớm trở về nhà. Người cha chưa biết phải làm gì khi S1 trở về nhà, gia đình chưa sẵn sàng đón nhận.

Đứa con trai thứ 2 (S2, 20 tuổi) bắt đầu hút cần sa lúc đang học năm thứ nhất bậc Trung học phổ thông (16 tuổi). Nó hút cần sa 1 – 3 lần một tuần. Thỉnh thoảng có uống rượu (Vodka), đặc biệt là những lúc cảm thấy khó khăn hoặc lúc tụ tập với nhóm bạn xấu. Nó tin rằng là nó vẫn làm chủ khi sử dụng ma tuý. Vấn đề chính của nó là vấn đề gia đình, làm nó cảm thấy buồn và cáu giận. Nó thường tỏ thái độ cáu giận, đặc biệt là với người cha. Nó cũng nhận thấy là tốt nhất là mọi người hãy tha thứ cho người cha về tất cả những gì ông ta đã xử sự với mẹ nó, các anh em và với bản thân nó. Song điều đó không hề dễ dàng, phải mất một thời gian để có thể nguôi đi.

Trong 2 năm học sau đó kết quả của nó bị giảm sút dần và cuối cùng thì nó cũng bị trượt kỳ thi của năm thứ 2 lên năm thứ 3 bậc trung học phổ thông. Sau đó bà mẹ đã tìm mọi cách mua cho nó bằng tốt nghiệp trung học phổ thông và gửi nó sang Singapore học và ở cùng anh trai nó. ở Singapore nó theo học Kỹ thuật Âm thanh được khoảng 6 tháng. Cho đến khi người anh nó bị tái nghiện thì cả 2 đứa đã phải trở về Indonesia, bỏ dở khoá học (chương trình 1 năm). Bố mẹ chúng đã đề nghị người bác ruột cho nó làm việc ở một cửa hàng của ông ta. Nó đã làm việc ở đó được khoảng 6 tháng. Gần đây với sự giúp đỡ, động viên của người mẹ nó đã đi thi đại học ở một số trường. Nó đã thi đỗ và quyết định chọn học Kỹ thuật Công nghiệp ở một trường đại học ở thành phố đang ở. Nó quyết tâm phấn đấu đạt ước mơ (là một thương gia thành công).

Người con trai thứ 3 (S3, 14 tuổi) cũng có những khó khăn trong học tập từ bặc phổ thông cơ sở. Gia đình luôn phải động viên cũng như thúc ép nó học bài, làm bài tập ở nhà, nó nằm trong số nhóm 10 đứa có học lực thấp nhất trong lớp. Gần đây nó đã trượt kỳ thi lên bậc 3 của bậc học Trung học cơ sở. Bà mẹ cũng dã cố gắng chuyển trường cho nó và hiện nó đang học bậc học 3 của trung học cơ sở. Với đứa con này, người cha luôn đưa đón nó hàng ngày kể từ bậc mầm non, mặc dù đến giờ đứa con không thích lắm. Mặc dù gần gũi đưa đón hàng ngày như vậy song tình cảm cha con vẫn không được tốt lắm. Còn quan hệ của nó với bà mẹ, người luôn chiều chuộng và bảo vệ nó, thì vẫn gần gũi.

KẾ HOẠCH ĐIỀU TRỊ CỦA GIA ĐÌNH

XÁC ĐỊNH MỘT SỐ VẤN ĐỀ TÁC ĐỘNG: Xung đột trong gia đình

1.      Việc sử dụng các chất ma tuý do có tâm trạng buồn chán, tức giận mà có nguyên nhân từ những xung đột xảy ra trong gia đình.

2.      Những bất đồng, rồi cãi nhau, tức giận, gây gổ dẫn đến không hạnh phúc, buồn chán trong gia đình.

3.      Những hành vi làm tổn thương đến thành viên trong gia đình, từ hành động đến những câu nói gây xúc phạm.

4.      Trải qua thời gian dài mà các thành viên trong gia đình không nói chuyện với nhau vì những xung đột không được giải quyết.

MỤC TIÊU DÀI HẠN:

-   Học và thể hiện được lối sống có văn hoá, biết cách giải quyết các bất đồng dẫn tới sự hài hoà trong cuộc sống gia đình, không rơi vào việc sử dụng ma tuý.

-   Rộng lượng, tha thứ cho nhau những gì đã xảy ra, bắt đầu một cuộc sống cởi mở, vui vẻ với các thành viên trong gia đình, tự xây dựng chương trình phục hồi.

-   Duy trì gia đình không ma tuý, không cãi cọ xung đột.

MỤC TIÊU NGẮN HẠN:

1.      Trao đổi, trò chuyện để cùng nhau hiểu là từ xung đột gia đình dẫn tới việc nghiện ngập, và ngiện ngập cũng dẫn đến những xung đột gia đình.

2.      Gặp gỡ các thành viên trong gia đình để cùng nhau thảo luận và đề ra bản kế hoạch để giải quyết từng vấn đề.

3.      Thảo luận về những ảnh hưởng xấu của hành động nóng nảy, liệt kê ra ra những tích cực của các biện pháp kỹ năng.

4.      Thực hành theo “Đắc Nhân Tâm”.

5.      Mọi người trong gia đình cùng nhất trí sử dụng các nguồn lực tinh thần như là việc cầu nguyện (hình thức cá nhân và gia đình), đi nghe giảng đạo nhằm hướng thiện, bao dung, độ lượng.

6.      Tiếp tục cuộc sống và tạm thời chấp nhận xung đột hay sự nghiện ngập để từng bước giải quyết, sử dụng các liệu pháp gia đình, tham gia các nhóm, hội gia đình.

LIỆU PHÁP CAN THIỆP:

1.      Giúp đỡ người nghiện hiểu, nhận thức được về những tác hại xấu kết quả từ những xung đột trong gia đình và sự nghiện ngập.

2.      Trong gia đình cần mạnh dạn nói ra những xung đột để từ đó đề ra kế hoạch cụ thể để giải quyết.

3.      Giảng giải cho người nghiện về sự khác biệt giữa hành vi tích cực và tính nóng nảy và từ đó giúp họ giải pháp.

4.      Giảng dạy cho cho họ về một số điều trong Đắc Nhân Tâm, động viên họ thực hành trong cuộc sống.

5.      Khuyến khích người nghiện sử dụng các nguồn lực tinh thần như là việc cầu nguyện (hình thức cá nhân và gia đình), đi nghe giảng đạo nhằm hướng thiện, bao dung, độ lượng. Động viên các ông chồng có thể bày tỏ xin lỗi với vợ và các con.

6.      Giúp đỡ người nghiện xây dựng chương trình trong đó có việc tham gia đều đặn sinh hoạt nhóm, liệu pháp gia đình và Hội gia đình là những cái cần thiết để họ giải quyết các xung đột gia đình và duy trì tình trạng không ma tuý.

TRÁCH NHIỆM CHUYÊN MÔN:

Liệu pháp can thiệp:  1, 2, 3, 4, 6 → Tư vấn viên hoặc cán bộ tâm lý

                                      5 → Tư vấn tinh thần (Linh mục, thầy tu)

ĐỐI TƯỢNG LÀ VỊ THÀNH NIÊN TRONG CHƯƠNG TRÌNH

CHỮA BỆNH CỘNG ĐỒNG

 

Ronald Drahozal

Tổ chức APON

BỐI CẢNH CHUNG, TÌNH TRẠNG Ở BANGLADESH:

ở một góc độ thì tôi là một người khá mới đối với lĩnh vực Chữa bệnh Cộng đồng song đồng thời tôi cũng khá quen biết với những nguyên tắc và phương pháp của CBCĐ đang giúp đỡ cai nghiện tại Tổ chức APON (Điều trị cai nghiện nội trú).

Năm 1988 tôi được bổ nhiệm làm Giám đốc của Trung tâm Cai nghiện đầu tiên ở Bangladesh. Với tôi đây là một cú nhảy sang một lĩnh vực mới mẻ, theo ý Chúa, để giải quyết tình trạng nghiện ma tuý gia tăng ở Dhaka. Thực sự vào lúc đó tôi không biết mấy về nghiện ma tuý nhưng có một số năm kinh nghiệm đi giảng dạy một số chương trình đào tạo ở Bangladesh. ơn Chúa cùng với sự giúp đỡ của nhiều người có kinh nghiệm và nghiên cứu, một chương trình điều trị và phục hồi đã được xây dựng dựa trên nguyên tắc 12 bước của Narcotics Anonymous (NA) và sau đó tôi cũng được học thêm một số điểm và phương pháp mà cũng là những nguyên tắc cơ bản của Chữa bệnh Cộng đồng.

Chúng tôi có nhiều thứ phải học tập và để củng cố tại Tổ chức APON (Trung tâm Phục hồi thứ 2 ở Bangladesh, năm 1994), chương trình chung được xây dựng từ năm 1988 sử dụng những nguyên tắc cơ bản của NA và CBCĐ, thì hiện nay là một mô hình cho rất nhiều cơ sở điều trị tại tuyến cơ sở, trong đó có nhiều cơ sở là do những người đã cai nghiện gây dựng và không hoàn toàn giốc với chương trình cơ bản. Đã có khá nhiều người Bangladesh đến với CBCĐ. Tôi không thể biết họ đã thực hiện được bao nhiêu trong số những thứ đã được học. Song bất kể có sự thờ ơ của nhiều người dân nói chung với phương pháp Chữa bệnh Cộng đồng thì cũng đã có những cơ sở cai nghiện chú ý đến những nguyên tắc trong chữa bệnh cộng đồng. Phương pháp Chữa bệnh Cộng đồng sẽ được phát triển và củng cố nếu được đào tạo và hướng dẫn đầy đủ đối với mọi người đặc biệt là những người đang công tác trong lĩnh vực cai nghiện này, những người thực sự quan tâm, có mong muốn tham gia giúp đỡ người khác, và quan trọng hơn là sẵn sàng thực hiện những gì đã được học về CBCĐ.

Qua nhiều năm, nạn nghiện ma tuý và những vấn đề liên quan đã lan tràn nhanh chóng ở Bangladesh, hầu hết ma tuý được chuyển từ các nước xung quanh, tuy rằng không phải tất cả. Ví dụ việc sử dụng heroin lúc đầu chỉ lan tràn ở một số khu ổ chuột, lao động nghèo vào giữa thập niên 1980, rồi tràn đến những vùng thành thị, có mặt ở cả tầng lớp giàu có, trung lưu, nghèo và bây giờ thì thậm trí ở cả làng quê nông thôn, xa xôi. Loại xi-rô ho Phensydyl (codeine) bắt đầu xuất hiện vào đầu thập niên 1990 và mức độ lan tràn cũng như heroin ở trên. Trong số những nhân tố có tác động ở Bangladesh, tôi xin đưa ra 4 cái có liên quan đến nghiện ma tuý. Bangladesh là một nước nhỏ (56.977 dặm vuông hay 147.576 km2) (i) dân số trên 130 triệu người trong đó khoảng một nửa có độ tuổi dưới 18 và vẫn đang tăng, (ii) đồng thời trong nhóm này, tỷ lệ có liên quan đến ma tuý cũng gia tăng nhanh chóng, (iii) ngoài ra trong những năm gần đây tình trạng vi phạm pháp luật vẫn tiếp diễn và (iv) mối đe doạ không ngừng gia tăng của đại dịch HIV/AIDS. Do vậy mà hiện nay đang tồn tại một số lượng lớn những người trẻ tuổi đang sống trong một môi trường cùng một lối sống rất dễ bị ảnh hưởng bởi ma tuý, tội phạm, mại dâm và HIV/AIDS. Điều đó, tất nhiên, có tác động đến lượng người đến Tổ chức APON điều trị. Phương pháp NA và CBCĐ kết hợp tạo ra một động lực mạnh mẽ giúp người nghiện thay đổi hành vi về tình dục và sử dụng ma tuý; khích lệ cá nhân phát triển và duy trì kết quả đã đạt được.

SỐ LIỆU THỐNG KÊ BÁO CÁO:

Theo số liệu thống kê từ hệ thống giám sát người bệnh của Tổ chức APON, năm 2001 có 40% người cai nghiện sử dụng ma tuý lần đầu là dưới 15 tuổi và có 46% sử dụng lần đầu trong khoảng 16 – 20 tuổi. Không may là có một số người đã không làm gì cả trong những năm nghiện, cũng có khá nhiều người đã lui tới những phòng mạch cai nghiện, không đến Tổ chức APON cho mãi đến khi khoảng 25 tuổi hoặc muộn hơn. Lý do một phần là bởi họ không biết về Tổ chức APON, và một phân là bởi họ muốn “giải quyết nhanh” ở các phòng mạch, dù là có biết đến việc điều trị bài bản của APON.

Tổ chức APON cho đến nay tôi được biết là trung tâm duy nhất ở Bangladesh là có chương trình điều trị cụ thể cho nhóm người nghiện trẻ tuổi. Nhóm đối tượng là vị thành niên hiện nay ở APON đều là nam giới, còn được gọi là “APON Bahini”. Chúng thường trong độ tuổi là 10 – 19, song hầu hết là từ 16 – 18 tuổi với lần sử dụng đầu tiên là tuổi 15, giống như hầu hết nhóm đối tượng người lớn ở chỗ chúng tôi. Hầu hết nhóm trẻ tuổi là sinh ra và lớn lên ở Dhaka, còn lại là ở các vùng khác ở đất nước, có một trường hợp là từ Luân Đôn. Về tầng lớp xã hội thì hầu hết là thuộc nhóm người nghèo và dưới mức trung bình (về tôn giáo thì có cả 4 tôn giáo là Hồi giáo, Thiên chúa giáo, Phật giáo và Hindu), Mục tiêu chính của Tổ chức APON là cai nghiện cho nhóm người nghèo và trẻ tuổi; do vậy APON chưa bao giờ từ chối một trường hợp nào đến cai với mong muốn thực sự và chấp hành tốt qui định của APON nhưng lại không có tiền nộp. Mặc dù các đối tượng là từ nhiều tầng lớp trong xã hội song chúng tôi luôn tôn trọng, trên quan điểm mọi người cùng sống, cùng chia xẻ, bình đẳng không phân biệt. Chúng tôi có hướng dẫn với tất cả mọi người quan điểm “Tôi bị nghiện và tôi mong muốn sửa đổi”.

Rất nhiều đối tượng ở APON có hoàn cảnh gia đình thiếu bố hoặc mẹ, dù chúng có “gia đình” để sinh sống song cơ bản lại sống ở đường phố, đặc biệt ở những khu chợ. Người bảo trợ của chúng thường là mẹ của chúng nhưng họ không thể dạy bảo chúng đầy đủ (có thể do người cha đã chết, hoặc có thể đã lấy vợ khác, thậm trí là đã bỏ rơi gia đình). Trong cuộc đời chúng, không còn ai để bảo vệ chúng khỏi những tệ nạn xã hội.

Hầu hết đối tượng vị thành niên ở APON có trình độ phổ thông cơ sở, song vì lý do nào đó (có thể do xung đột với giáo viên) mà chúng đã chơi bời, tụ tập trên phố thay vì đến lớp, hoặc những lúc bỏ học. Lúc đầu, cũng tương tự như những đứa trẻ khác trong vùng, hành động của chúng chỉ là những trò chơi bột phát của trẻ em song dần dà chúng tụ tập thành những nhóm, gây rối, nghịch ngợm rồi dẫn đến các hành động như đánh nhau trên đường phố, cờ bạc, trộm cắp, mại dâm và sử dụng ma tuý. Tuy rằng bọn trẻ cũng có tự dừng được việc sử dụng ma utý, lúc đầu thường có thể bắt chiếc hình ảnh trên tivi, hút thuốc lá hoặc thuốc viên, đánh bạc, sau đó là dùng cần sa, rượu và cuối cùng là dùng heroin (ở Bangladesh phần lớn không tiêm chích) hoặc dùng loại xi-rô ho phensydyl.

Nhóm đối tượng trẻ tuổi thường không có suy nghĩ gì về hậu quả của những hành động của chúng. Nếu là những hành động vui chơi thì cũng không thành vấn đề. Nếu có người cản trở chúng, bọn trẻ có thể phản ứng lại một cách thô bạo, có thể bỏ nhà, sống lang thang cho đến khi gia đình đi tìm hoặc đến khi chúng hết nguồn sinh sống.

Bọn trẻ này cũng liên quan đến các hành vi tình dục đang có nguy cơ cao, gồm cả đối tượng nam và nữ; một số thú nhận là thích tình dục hơn là ma tuý, có biết song lại không sử dụng tình dục “an toàn” để phòng tránh HIV/AIDS. Do vậy việc điều trị phải thực hiện cả việcthay đổi hành vi liên quan, không chỉ vấn đề nghiện ma tuý mà cả ảnh hưởng của nó với hành vi tình dục.

Trong khi hầu hết những người trẻ tuổi này về cơ bản là tốt, dù còn trẻ song cũng có giáo dục, có những hiểu biết nhất định, song một số thì ngược lại, chúng đua đòi, muốn giống như những nhóm người lớn, chúng có thể cả tàng trữ vũ khí. Chúng dần dà vất vưởng và mất dần đi những phẩm chất, giá trị tốt đẹp đã có. Chúng tìm mọi cách để có tiền cho việc chơi game, xem băng hình đen, để đàn đúm chơi bời, mua ma tuý, vv. Có một số đứa có đi làm, một số lấy tiền của gia đình, một số thì ăn cắp của gia đình, người thân hoặc bằng bất kỳ hình thức khác như cướp giật trên đường phố, cửa hiệu, móc túi, vv. Hầu hết chúng đã phạm tội song mới chỉ một số bị phạt các án nhẹ, ít trường hợp bị phạt án nặng, nghiêm trọng.

MỘT SỐ HOẠT ĐỘNG ĐIỀU TRỊ VÀ KẾT QUẢ:

Xem xét đến quá trình của các đối tượng, thì với một số đối tượng khâu chuẩn bị ban đầu cũng cần thiết như hoặc nhiều hơn việc phục hồi. Sự trung thực là điều càn thiết cơ bản đối với người cai nghiện để từ bỏ ma tuý. Cũng khá nhiều người trẻ tuổi đó biết về sự trung thực và cũng cảm thấy xấu hổ khi người khác thấy họ không trung thực song họ vẫn chưa thể hình thành một thói quen trung thực. Trung thưc trong cuộc sống đường phố đôi khi lại là nguy hiểm nên vì vậy khả năng nói dối và tính trung thực là một thay đổi khó khăn nhất. Song vẫn có phép màu nhiệm hiện ra, khi đối tượng có tin tưởng vào nhóm bạn cùng cai và với nhân viên của trung tâm thì chúng bắt đầu châp nhận sự phản hồi và nhiều đứa bắt đầu hình thành thói quen trung thực hoặc chí ít thì cũng thừa nhận sự cần thiết của tính trung thực.

Sau khi đến APON và sống trong một môi trường lành mạnh, các đối tượng vị thành nhiên cai nghiện lại bắt đầu học phổ thông hoặc học nghề tại trung tâm hoặc ở bên ngoài, hầu hết đều đã đạt kết quả tốt. 

Đang xem 400

Hôm nay 1,794

Tổng lượt xem 15,302,674