THỜI GIAN LÀM VIỆC 24/24
 

HOTLINE : (028) 6270 0119 - (028) 2215 4274
0982 120 908 - 090 371 5529 - 0933 161 985
Cơ sở 1: 1051 Bình Quới (XVNT) - P.28 - Q.Bình Thạnh - Tp.HCM
Cơ sở 2: 978 Nguyễn Duy Trinh - P. Phú Hữu - Q9 - Tp.HCM

TRUNG TÂM ĐIỀU DƯỠNG VÀ CAI NGHIỆN MA TÚY THANH ĐA 
Địa chỉ : 1051 Bình Quới (Xô Viết Nghệ Tĩnh) - P.28 - Q.Bình Thạnh - Tp.HCM
Điện thoại: (08).38986513 - 38986515(Ext:12) - (08).22154274 - MST: 0301910027

BÁO CÁO TẠI HỘI THẢO VII

QUẢN LÝ CÁC CA NHIỄM HIV VÀ VIÊM GAN C TRONG ĐIỀU TRỊ

Ngày 20 – 8 – 2002

 

Chủ toạ:                     Ông Li Mingqiang                            (Trung Quốc)

Đồng chủ toạ:           Cô Wang Jing                                    (Trung Quốc)           

Báo cáo viên:                        Ông Martin Infante                          (ấn Độ)

BS. Smith Vatanatunyakun             (Thái Lan)

Ông Jaafar Daud                               (Malaysia)

BS. Nguyen Tien Loc                       (Việt Nam)

Công tác chuẩn bị:   Ông Fadilan Abdul Kayong            (Indonesia)

Số người tham dự:    16 người

TÓM TẮT VỀ TRÌNH BÀY CỦA CÁC BÁO CÁO VIÊN:

Tất cả các báo cáo viên đều tập trung vào vấn đề chính sách đối với người đang sống cùng HIV/AIDS (PLWHA). Tuy nhiên do thiếu thông tin nên họ cũng vẫn chưa có chính sách để giải quyết với cả người nhiễm Viêm gan C.

Các tư vấn viên được đào tạo, tập huấn đặc biệt để làm việc với các bệnh nhân nhiễm HIV/AIDS. Các báo cáo viên cũng nhấn mạnh sự cần thiết phải tư vấn co bệnh nhân sau khi xét nghiệm HIV.

NHỮNG VẤN ĐỀ ĐƯỢC THẢO LUẬN:

1.      Hiện nay vẫn chưa có chính sách thực sự để giải quyết với đối tượng bị nhiễm HIV/AIDS.

2.      Công tác tư vấn cần chuyển chuyên nghiệp hơn do số lượng gia tăng các trường hợp bị nhiễm HIV.

3.      Các vấn đề về điều trị như việc người cai nghiện bị HIV dương tính, những cái đồng ý và chưa chấp nhận.

4.      Sự cần thiết phải có các Chương trình Phòng ngừa và Vươn lên

CÁC ĐỀ XUẤT VÀ GIỚI THIỆU:

1.      Cần thiết nên có một mạng lưới các Cơ sở CBCĐ có điều trị cho người bị nhiễm HIV dương tính.

2.      Xây dựng chương trình trao đổi thông tin giữa các cơ sở CBCĐ.

3.      Nhận trợ giúp và thông tin từ tổ chức UNAIDS và WHO về Giáo dục phòng ngừa HIV/AIDS.

4.      Đào tạo, tập huấn về tư vấn HIV đặc biệt là tư vấn trước và sau khi bị nhiễm.

5.      Tập huấn cho các bác sĩ, nhân viên điều trị bệnh nhân HIV về sử dụng mô hình CBCĐ trong điều trị bệnh nhân HIV dương tính.

QUẢN LÝ CÁC CA HIV/HCV TRONG ĐIỀU TRỊ

Eldred Tellis

Tổ chức Tin tưởng phục hồi Sankalp

GIỚI THIỆU:

ấn Độ là một nước từ lâu có chú trọng nhiều đến công tác vận động phòng ngừa nghiện ma tuý hơn là công tác điều trị. Với vấn đề AIDS cũng tương tự như vậy. Chính phủ tài trợ các chương trình về vấn đề ma tuý, cho phép các cơ quan, tổ chức điều trị nhiều nhất là 2 tháng, do vậy mà khá khó khăn để đưa phương pháp Chữa bệnh Cộng đồng vào các chương trình trên của chính phủ. Từ kinh nghiệm rộng lớn của mình mà chúng tôi nhận thấy rõ một điều là: CBCĐ là phương pháp phù hợp nhất, đem lại chất lượng điều trị cho bệnh nhân nhiễm HIV/AIDS.

CHÍNH SÁCH CHUNG:

 Vẫn chưa chính sách chung trong trong lĩnh vực này nên các trung tâm điều trị phải tự quyết định chính sách riêng. Chính vì vậy mà các chương trình điều trị nhiêu khi do chủ quan hoặc cố ý đã bỏ quên các trường hợp bị HIV/AIDS. Tại hầu hết các trung tâm điều trị không có sự tách biệt, phân biệt đối xử với người nhiễm HIV/AIDS song điều này vẫn có sự khác biệt, không đồng đều ở các vùng, khu vực trên đất nước. Tổ chức Kiểm soát AIDS Nhà nước đã có văn bản chính sách nhấn mạnh vai trò tư vấn sau kiểm tra HIV. Song đến nay vẫn chưa có thống kê đầy đủ về mức độ hiêu quả của công tác tư vấn này.

THỦ TỤC VÀ HƯỚNG DẪN:

Một trong những mặt quan trọng nhất trong điều trị là công tác tư vấn. Cần phải đặc biệt chú trọng công tác tư vấn trước và sau khi xét nghiệm tại tất cả các trung tâm xét nghiệm tự nguyện. Công tác tư vấn cần chuyên nghiệp do tình trạng gia tăng nhiễm HIV. Các tư vấn viên phải được đào tạo, tập huấn đặc biệt để tư vấn cho bệnh nhân nhiễm HIV/HCV. Hiện nay thuốc điều trị cho cả HIV và Viêm gan C đều khá đắt, chưa phù hợp với người dân bình thường nói chung nên việc điều trị còn bị giới hạn bởi giá thuốc.

MỘT SỐ VẤN ĐỀ TRONG ĐIỀU TRỊ:

Thông thường người bệnh có kết quả dương tính rồi mới đến điều trị và họ cũng vẫn chưa hiểu thực sự về bệnh. Do vậy điều quan trọng là cần giúp họ nắm bắt được thông tin, thay đổi cách nghĩ và làm quen với những kỹ năng mới.

Một vấn đề khác là sự chấp nhận của người cai. Với những tiến bộ của phương pháp mới, nhiều người bệnh tỏ ra lạc quan hơn với cuộc sống song đồng thời cũng có nhiều trường hợp muốn che dấu sự thật của bản thân. Sự chấp nhận và che dấu là hai mặt đan chen trong đời sống người bệnh.

Một vấn đề nữa là việc nên bày tỏ với ai. Người bệnh được khuyến khích là nên bày tỏ, trao đổi với cả người bạn đời là người có khả năng bị ảnh hưởng xấu. Tư vấn viên cần có kỹ năng để giúp người cai nghiện ổn định, quyết tâm cai hoàn toàn hay nói hết sự thực. Cũng nên có thời gian cho họ, không đòi hỏi họ cởi mở ngay sau khi được giúp đỡ.

Người cai nghiện được khuyến khích nên cởi mở và tham gia tích cực trong khi điều trị. Điều đó gắn kết họ với việc điều trị hơn. Việc đòi hỏi mức độ là 95% hoặc sự gắn kết tốt hơn nữa trên thực tế là khó khăn đối với những người đã hoàn thành cai nghiện ở trung tâm điều trị.

Sau lần chẩn đoán đầu tiên thì thường có sự giảm ham muốn tình dục nhưng về sau thì ham muốn đó của họ lại trở về trạng thái bình thường. Đó chẳng qua là do những lo lắng, sợ sệt.

Tiếp tục duy trì niềm hy vọng trong khi bệnh tình vẫn đang diễn biến là một thách thức với người bệnh và cả người điều trị. Tâm lý lo lắng, buồn phiền là trạng thái chung của tất cả người bệnh vì vậy mà vai trò của nhóm trợ giúp tình cảm, tâm lý cho người bệnh là cực kỳ quan trọng, để giúp họ vượt qua.

CHƯƠNG TRÌNH PHÒNG NGỪA & VƯƠN LÊN:

Do có tỷ lệ tái nghiện cao trong hầu hết các chương trình điều trị nên vấn đề trao đổi ống kim tiêm là một phần quan trọng trong các công tác hoạt động. Do sự khó khăn, thiếu thốn ở các nước đang phát triển, việc điều trị chỉ có thể đáp ứng được cho số ít nên công tác phòng ngừa được đặt ưu tiên trên hết. Thực tế cũng cho thấy là người cai nghiện có phản ứng tích cực khi được trợ giúp cũng như xây dựng mối quan hệ tin tưởng với cán bộ điều trị. Điều đó giúp họ cùng nhau lựa chọn quyết định khi cần thiết.

 

CẬP NHẬT THÔNG TIN HIV/AIDS Ở THÁI LAN​

BS. Smith Vatanatunyakum

Bệnh viện Thanyarak

 GIỚI THIỆU:

Ca nhiễm AIDS đầu tiên ở Thái Lan được báo cáo là vào tháng 9/1984. Trong những năm tiếp theo, số lượng ca nhiễm AIDS cũng như số người nhiễm HIV vẫn đều đặn tăng. Những ca đầu tiên phần lớn là nằm trong nhóm nam giới đồng tính luyến ái từ nước ngoài trở về. Tiếp theo đó là sự bùng nổ nhiễm HIV trong nhóm người nghiện tiêm trích xảy ra vào năm 1987 và 1988. Vi rút gây bệnh tiếp tục lan sang đối tượng gái làm tiền và hệ quả là sự lây lan qua tình dục khác giới càng trở nên nghiêm trọng. Vào khoảng năm 1991 nhiều tỉnh ở Thái Lan bắt đầu ghi nhận những ca nhiễm bệnh đầu tiên. Năm 1985 Thái Lan bắt đầu công tác kiểm tra máu và kể từ năm 1989 mọi trường hợp hiến máu đều được xét nghiệm HIV. Đại dịch HIV/AIDS chủ yếu là ở phía bắc Thái Lan và số lượng lớn ca nhiễm AIDS cũng được ghi nhận ở đó (ngoại trừ Băng Kok). Rất có thể là tình dục khác giới vẫn sẽ là hình thức lây lan chủ yếu trong đại dịch HIV/AIDS ở Thái Lan.

Đã có nhiều nghiên cứu và điều tra về sự lây lan của đại dịch HIV/AIDS ở Thái Lan do một số cơ quan và tổ chức đã tiến hành và công bố. Có 2 nguồn thống kê chủ yếu về nhiễm HIV và AIDS là:

1.      Hệ thống Báo cáo Tự nguyện về AIDS, và

2.      Hệ thống Giám sát Huyết thanh định kỳ 6 tháng.

Hệ thống Báo cáo tự nguyện về AIDS cung cấp thông tin về số lượng người nhiễm AIDS và các trường hợp có triệu chứng nhiễm HIV. Thông tin này chủ yếu được dùng để lập kế hoạch tại cộng đồng và cho công tác điều trị của bệnh viện. Trong khi đó Hệ thống Giám sát Huyết thanh theo dõi xu hướng phát triển của đại dịch HIV/AIDS. Hệ thống này đánh giá tình trạng HiV trong dân chúng và để lập dự án đối phó với đại dịch HIV/AIDS trong tương lai.

HỆ THỐNG BÁO CÁO TỰ NGUYỆN AIDS:

Kể từ năm 1991 Chính phủ Thái Lan đã tin tưởng vào Hệ thống Báo cáo Tự nguyện về AIDS. Các cán bộ và cơ sở y tế  được khuyến khích báo cáo về các ca AIDS gồm cả nghi vấn với cơ quan y tế. Cũng giống như hầu hết các nước khác, số lượng các ca nhiễm AIDS chưa được khai báo vẫn đang là một vấn đề.

ĐÁNH GIÁ SỐ LƯỢNG NGƯỜI NHIỄM HIV:

             Năm 1991, “Tổ công tác Thái Lan” gồm các đại diện từ Bộ Y tế, Bộ Đại học, một số tổ chức chính phủ và phi chính phủ, và WHO đã tiến hành đánh giá và lập dự án về vấn đề HIV/AIDS ở Thái Lan. Nhóm đã ước tính có khoảng từ 200.000 đến 400.000 người nhiễm HIV ở Thái Lan tại thời điểm tháng 9/1991. Cuối năm 1999, Nhóm công tác của Uỷ ban Phát triển Kinh tế Xã hội Nhà nước (NESDB - thành lập năm 1994) đã cập nhật số liệu này là từ 850.000 – 900.000 người.

            Dựa trên đánh giá về HIV, dự án cho rằng hàng năm có thể có từ 6.000 – 30.000 người nhiễm HIV chuyển sang giai đoạn AIDS trong khoảng từ năm 1993 – 1997.   Tổ Công tác Thái Lan cũng đã lập dự án dài hạn về dự kiến số lượng người nhiễm HIV/AIDS vào năm 2000. Giả thiết là nếu không có thay đổi, tác động quan trọng nào bắt đầu từ năm 1991, thì nhóm dự đoán là sẽ có khoảng từ 2 đến 4 triệu trường hợp nhiễm HIVvà từ 350.000 đến 650.000 ca nhiễm AIDS ở Thái Lan vào cuối thế kỷ này. Tuy nhiên vào năm 1993 nhóm công tác của NESDB đã xem lại và cho rằng số nhiễm HIV ở Thái Lan vào năm 2000 có thể là 1,3 triệu. Nếu đây là sự thực thì số ca nhiễm AIDS sẽ là 470.000 vào năm đó.

             Hiện nay, ngày càng có nhiều người bị AIDS và nhiễm HIV triệu chứng tìm đến bệnh viện và điều trị. Đến cuối thế kỷ này, AIDS có thể trở thành nguyên nhân gây tử vong hàng đầu ở Thái Lan. Đồng thời là số lượng trẻ em chết có liên quan đến AIDS cũng gia tăng, nó gây biến đổi xấu đối với những thành quả đã đạt được từ các chương trình y tế trẻ em của nhà nước, như là Chương trình Kiểm soát ỉa chảy, Chương trình Tiểm chủng Mở rộng. Ngoài ra số trẻ mồ côi do AIDS cũng ngày càng nhiều hơn.

QUẢN LÝ CHƯƠNG TRÌNH:

1. Về Tổ chức:

               Như đã trích dẫn ở trước, việc quản lý chương trình kiểm soát và phòng ngừa HIV/AIDS ở Thái Lan được thực hiện trên nhiều mặt. Uỷ ban Kiểm soát và Phòng ngừa AIDS Nhà nước (NAPCC) dưới sự điều hành trực tiếp của Thủ tướng là cơ quan cấp cao nhất trong lĩnh vực này và liên tục được củng cố.

NAPCC gồm một uỷ ban cấp nhà nước, một uỷ ban cấp vùng, 6 tiểu ban cấp nhà nước và tại mỗi tỉnh đều có một tiểu ban cấp tỉnh như sau:

(1)  Uỷ ban Kiểm soát và Phòng ngừa AIDS là uỷ ban được chỉ đạo trực tiếp của Bộ trưởng Y tế. Mục đích của uỷ ban là thực hiện kế hoạch kiểm soat và phòng ngừa AIDS theo chính sách là huy động các bộ liên quan vào công tác. Đây là một uỷ ban cấp nhà nước và còn có 3 tiểu ban về điều phối với các Tổ chức phi chính phủ.

(2)  Uỷ ban chống AIDS vùng Thượng Bắc: là uỷ ban cấp vùng được thành lập để giải quyết các vấn đề AIDS tại 6 tỉnh vùng thượng bắc nơi có tình trạng lây lan HIV/AIDS nghiêm trọng. Uỷ ban này dưới sự chỉ đạo của một Thứ trưởng Y tế và có trụ sở chính tại Chiang Mai.

(3)  6 tiểu ban trực tiếp của NAPCC bao gồm:

(3.1) Tiểu ban về Xã hội và Kiểm soát AIDS dưới sự điều hành của Thư ký thường trực của Văn phòng Thủ tướng

(3.2) Tiểu ban Trợ giúp Cộng đồng Kiểm soát AIDS do Thư ký thường trực Bộ Nội vụ điều hành.

(3.3) Tiểu ban về Giáo dục và Kiểm soát AIDS dưới sự chỉ đạo của Thư ký thường trực của Bộ Giáo dục.

(3.4) Tiểu ban về Phát triển các dịch vụ kinh tế xã hội để kiểm soát AIDS dưới sự điều hành của Thư ký thường trực Bộ Lao động và Phúc lợi Xã hội.

(3.5) Tiểu ban Xúc tiến Dịch vụ Y tế với Người nhiễm HIV/AIDS do Thư ký thường trực Bộ Y tế điều hành.

(3.6) Tiểu ban Tuyên truyền và Nghiên cứu AIDS do Thư ký thường trực Bộ Đại học chỉ đạo.

(4)  Tiểu ban Phòng ngừa và Giảm thiểu AIDS cấp tỉnh do Tỉnh trưởng tỉnh đó điều hành.

2.   Kế hoạch Nhà nước về Phòng ngừa và Kiểm soát HIV/AIDS:

Bản kế hoạch chiến lược của Nhà nước (1997 – 2001) được xây dựng dựa trên tinh thần là chú trọng phát triển con người và tăng cường sự tham gia của cộng đồng, được coi như những chính thể khác trên các phương diện kinh tế, văn hoá. Kế hoạch cũng xác định sự tham gia cần thiết của các thành phần trong việc giải quyết các vấn đề HIV/AIDS, nó bao gồm 8 chiến lược phát triển như sau:

(1)  Chiến lược phát triển tiềm năng của con người, gia đình và cộng đồng trong việc phòng ngừa và giảm thiểu AIDS:

                Trọng tâm là phát triển khả năng cao nhất của cá nhân, gia đình và cộng đồng trong việc phòng ngừa HIV/AIDS, giảm thiểu tác động của nó. Việc này sẽ bao gồm tăng cường nhận thức của cộng đồng với HIV/AIDS, nâng cao tinh thần giúp đỡ nhau, bảo tồn văn hoá cộng đồng, duy trì những giá trị của cuộc sống giúp con người tránh được các nguy cơ như việc có dính líu đến công nghiệp sex, thờ ơ với tình dục trẻ em, buôn bán trẻ em, mồi chài giới trẻ vào các nhà thổ, và các tệ nạn xã hội như nghiện rượu.

(2)  Chiến lược xây dựng môi trường xã hội có lợi cho việc phòng ngừa và giảm thiểu AIDS:

             Trọng tâm là phát triển môi trường kinh tế xã hội phù hợp hơn thông qua việc thúc đẩy và tăng cường hoạt động kinh doanh, sản xuất không gây hại đến văn hoá, truyền thống và lối sống tốt đẹp của người Thái. Các cơ hội được tạo ra để mọi thành viên trong xã hội, đặc biệt là người nghèo có được cuộc sống ấm no mà không phải di cư đến các khu đô thị. Đồng thời cũng chú trọng tới nâng cao nhận thức của giới chủ doanh nghiệp, nâng cao ý thức phòng tránh HIV của người lao động cũng như hiểu biết của họ. Cần làm cho giới chủ thấy rõ trách nhiệm trong việc hỗ trợ người bị HIV/AIDS và gia đình cũng như có các biện pháp giúp đỡ những người này đảm bảo về kinh tế, duy trì một cuộc sống có chất lượng trong chừng mực có thể.

             Những vấn đề khác bao gồm việc tuyên truyền qua các phương tiện thông tin đại chúng để mọi người dân trong vùng có thể tiếp cận được với thông tin kể cả người ở vùng sâu vùng xa.

             Để hướng giới trẻ đến những hoạt động lành mạnh, tránh xa các hoạt động có nguy cơ lây nhiễm như nhà hàng, vũ trường, karaoke, mát-xa, những trung tâm vui chơi giải trí lành mạnh như trung tâm thể thao, công viên giải trí... đểu được tăng cường.

(3)  Chiến lược phát triển tâm lý xã hội giúp người bị HIV/AIDS có cuộc sống bình thường trong xã hội:

           Trọng tâm là việc dùng các phương pháp tư vấn tâm lý xã hội để tăng cường hiểu biết về HIV/AIDS, sống chung cùng người bị HIV/AIDS. Đảm bảo tiếp cận đầy đủ với các cơ hội giáo dục, việc làm, nhà ở, không biệt đối xử.

(4)  Chiến lược củng cố hệ thống kinh tế xã hội để giải quyết vấn đề AIDS hiệu quả hơn:

             Trọng tâm là phát triển các dịch vụ xã hội cơ bản, cụ thể là giáo dục, tăng cường hiểu biết có hành vi lành mạnh. Trọng tâm cũng được đặt vào các đối tượng bị ảnh hưởng là trẻ mồ côi và người cao tuổi. Công tác tư vấn ở cả công và tư sẽ được củng cố cả về số lượng và chất lượng.

(5)  Chiến lược tăng cường sức khoẻ và các dịch vụ y tế:

             Trọng tâm là áp dụng các biện pháp phòng ngừa trên tất cả các lĩnh vực, giúp người bệnh HIV/AIDS có khả năng tự chăm sóc ở mức cao nhất và duy trì sức khoẻ tốt. Công tác này bao gồm việc cung cấp các dịch vụ y tế thích hợp, đồng thời là chú trọng tới việc tham gia của gia đình và cộng đồng trong việc quan tâm và giúp đỡ người bị AIDS.

(6)  Chiến lược sử dụng những tinh hoa văn hoá và những hiểu biết sẵn có, đẩy mạnh nghiên cứu có liên quan:

             Văn hoá Thái Lan có nhiều nét có tác dụng giúp đỡ người bệnh HIV/AIDS. Có một tri thức lớn có nguồn gốc trong nước và du nhập từ nước ngoài mà liên quan đến việc phòng ngừa và quản lý AIDS. Nguồn tinh hoa và tri thức này được xem xét và tổng hợp lại. Trọng tâm được đặt vào việc lập kế hoạch thực hiện các nghiên cứu liên quan ở mức độ chất lượng cao, với mục tiêu là không ngừng áp dụng các kết quả nghiên cứu vào quá trình lập kế hoạch. Trọng tâm cụ thể cũng được đặt vào việc trao đổi kinh nghiệm giữa các nhà nghiên cứu. Trên cấp độ trong nước và quốc tế, cần phát triển công nghiệp, sản xuất, tạo ra công nghệ, là những cần thiết trong công tác kiểm soát và phòng ngừa AIDS.

(7)  Chiến lược tăng cường hợp tác quốc tế:

Hợp tác trong khu vực về phòng ngừa và giảm thiểu AIDS bao gồm việc hợp tác quốc tế về đánh giá và trao đổi các kỹ thuật và công nghệ liên quan nhằm phòng ngừa và giảm thiểu AIDS. Công tác này bao gồm việc hợp tác có hiệu quả và quản lý các nguồn lực được tạo ra từ công tác hợp tác quốc tế, phù hợp với kế hoạch của nhà nước.

(8)  Chiến lược tổng kết và tăng cường củng cố công tác quản lý và cơ chế liên quan:

             Các lựa chọn được xây dựng cho một chính thể hoá đối với việc quản lý chương trình từ cấp nhà nước đến cấp khu vực/vùng. Các dự án về HIV/AIDS được phối hợp hiệu quả theo một cách thống nhất.

------------------------------------------

             Phiên họp đặc biệt của Đại hội đồng về vấn đề ma tuý trên thế giới đã được tổ chức. Tuyên bố chính trị được đưa ra rằng ma tuý:

-   Phá huỷ cuộc sống trong cộng đồng

-   Nhấn chìm các thành quả của nhân loại

-   Gây ra tội ác

-   Tác động xấu đến mọi mặt của xã hội và mọi quốc gia

-   ảnh hưởng đến sự tự do và phát triển của thế hệ trẻ là những người dễ bị tổn hại nhất.

             Việc sử dụng ma tuý tạo ra nhiều vấn đề nghiêm trọng ở địa phương, trong nước và quốc tế. Công tác quản lý cũng như sử dụng thuốc không an toàn có liên quan đến việc lây truyền các bệnh qua đường máu, đó cũng là nhức nhối chung về sử dụng ma tuý bất hợp pháp ở nhiều quốc gia. Chính sách xã hội cần phải trợ giúp, tạo ra những chuyển biến để phục vụ công tác bảo vệ và nâng cao sức khoẻ. Vai trò của nhà trường và công tác tuyên truyền giáo dục về ma tuý trong cộng đồng có tác dụng phòng ngừa và giải quyết có hiệu quả vấn đề ma tuý.

                Giảm rủi ro HIV/AIDS trong nhóm sử dụng ma tuý là mục tiêu có thể đạt được. Những chương trình phòng ngừa được xây dựng phù hợp sẽ giảm thiểu truyền nhiễm không chỉ HIV mà cả các bệnh lây qua đường máu khác như Viêm gan B, C, vv...

                Các trung tâm điều trị phải có các chương trình phòng ngừa HIV/AIDS nhằm giới hạn sự lây lan HIV/AIDS. Chương trình phòng ngừa hiệu quả đòi hỏi sự phối hợp tham gia của nhiều ngành, chỉ đơn lẻ một chiến dịch thì không thể thực hiện tốt được. Công tác phối hợp cần tiến hành cẩn thận trong cộng đồng. Chương trình phải có điều chỉnh phù hợp với đặc điểm và nhu cầu của địa phương.

               Chương trình phòng ngừa tập chung không chỉ vào mỗi cá nhân mà còn cả với lứa đôi, mạng lưới xã hội, rộng lớn hơn là toàn bộ người nghiện và bạn đời của họ. Chương trình phòng ngừa phải nêu ra những nguy cơ lây truyền HIV và những  truyền nhiễm khác như qua tiêm trích và qua đường tình dục.

                Bệnh viện Thanyarak có giáo dục sức khoẻ cho mọi người đến điều trị cai nghiện và coi đây là một việc quan trọng. Chúng tôi nhận thấy rằng người bệnh sẽ học hỏi được qua sinh hoạt nhóm và rồi áp dụng trong thực tiễn. Công tác đào tạo huấn luyện tư vấn cho nhân viên y tế như là y tá, cán bộ xã hội và nhân viên tâm lý cũng là việc quan trọng.

                Phát triển điều trị hiệu quả cho người cai nghiện ma tuý. Có chương trình cho dùng Methadone đối với nhóm nghiện lâu năm heroin. Chương trình điều trị nội trú theo mô hình chữa bệnh cộng đồng cũng có trong giai đoạn phục hồi.

          Phát triển chiến lược cho chương trình phòng ngừa HIV/AIDS bao gồm:

-   Đào tạo, tập huấn cho nhân viên y tế và bệnh nhân ở bệnh viện.

-   Phối hợp cùng các tổ chức liên quan trong đó có Vụ các bệnh lây lan nhằm giải quyết, nâng cao hiểu biết về phòng ngừa và điều trị HIV/AIDS.

-   Tăng cường chương trình hỗ trợ sau điều trị cho người bệnh nhằm ngăn ngừa họ tái nghiện và lây truyền HIV.

QUẢN LÝ CÁC CA NHIỄM HIV/AIDS VÀ VIÊM GAN C

TRONG ĐIỀU TRỊ

BS. Nguyen Tien Loc

Viện phát triển Quốc tế

            Nghiện ma tuý, đặc biệt là lại có nhiễm HIV/AIDS thì là một tai hoạ, đó cũng là một tệ nạn xã hội bức xúc ở Việt Nam. Số lượng người nghiện ma tuý là rất lớn và đang tăng nhanh ở lứa tuổi vị thành niên. Có khoảng 100.000 – 130.000 có bệnh án được quản lý vào cuối năm 2001. Người nghiện ma tuý là thanh niên chiếm tỷ lệ cao, số lượng người nghiện được lực lượng công an nắm bắt và theo dõi trên toàn quốc. Trong số người nghiện cũng có nhiều trường hợp có HIV/AIDS, trường hợp đâu tiên được phát hiện nhiễm HIV/AIDS là ở thành phố Hồ Chí Minh năm 1990. Trong số39.845 người nhiễm HIV trên cả nước thì đã có 5.955 người chuyển sang giai đoạn AIDS và 3.247 người đã chết. Song trên thực tế số lượng người nghiện và đã nhiễm HIV/AIDS còn cao hơn nhiều. Họ thuộc nhiều thành phần xã hội, nghề nghiệp, và độ tuổi... song phần lớn đều là còn trẻ. Năm 1993, có 2,3% người bệnh HIV ở độ tuổi 13-19, năm 2001 con số này đã lên là 5%. Với độ tuổi 20-29 năm 1993 là 14,5% thì con số này đã tăng lên 35% vào năm 2001.

             Các loại ma tuý từ thuốc phiện đến heroin, canabis, amphetamine, ecstasy, ATS... đều có mặt ở Việt Nam.  Nghiện ma tuý là nguyên nhân của trên 70% các ca nhiễm HIV. Hiện đang có xu hướng sử dụng ma tuý tổng hợp.

             ở Việt Nam nghiện ma tuý tiêu tốn khoảng 2.000 tỷ đồng mỗi năm, phá huỷ cuộc sống bình yên của nhiều gia đình, gây ra nhiều vụ phạm tội, vi phạm luật pháp, huỷ hoại thuần phong mỹ tục và đe doạ sự phát triển của thế hệ trẻ bởi người nghiện chiếm phần lớn ở độ tuổi 18-30.

             Theo luật pháp của Việt Nam, nghiện ma tuý là căn bệnh có vi phạm luật pháp. Sử dụng ma tuý, ngoài việc dẫn đến nghiện – một bệnh lý, thì còn bị coi là hành vi vi phạm pháp luật và bị phạt theo như Điều 1 Nghị định 49 ra ngày 15/8/2000 của Chính phủ hoặc bị truy tố (như là tội phạm) theo Điều 199 của Bộ luật Hình sự năm 1999.

             Chính sách chung đối với người nghiện hoặc bị nhiễm HIV/AIDS là kiểm soát chặt chẽ, khám bệnh, xét nghiệm và phân loại họ theo mức độ nghiêm trọng. Người ở mức độ nhẹ, mới chớm nghiện được phép điều trị tại nhà có sự theo dõi của công an khu vực. Những người bị nặng thị bị bắt buộc (thông qua quyết định của chính quyền địa phương) đưa đến các trung tâm cai nghiện của nhà nước. Hiện nay hầu hết các tỉnh thành đều có Trung tâm Cai nghiện Ma tuý dưới sự quản lý của tỉnh đó và với qui mô là 200-1500 giường/trung tâm. Bệnh nhân HIV/AIDS chiếm 20% - 80% trong số người nghiện tuỳ thuộc từng khu vực. ở những thành phố lớn tỷ lệ người nghiện nhiễm HIV/AIDS là trên 85% và mắc các bệnh nguy hại đến tính mạng là từ 25% đến 50% hàng năm.

             Thực ra Trung tâm cai nghiện có điều trị HIV/AIDS đã được thành lập từ 10 năm trước đây. Tiếp sau đó là sự có mặt của các cơ sở điều trị HIV/AIDS ở qui mô nhỏ được thành lập ở thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội. Mỗi cơ sở có khoảng 80 giường bệnh.

             Trước tính nghiêm trọng của nghiện ma tuý và HIV/âIDS, ảnh hưởng xấu tới nhiều mặt của đất nước nên ngày 29/1/1993 Chính phủ Việt Nam đã ra Nghị định 06/CP về việc tăng cường công tác kiểm soát và phòng chống ma tuý. Sau đó là ngày 31/1/1998 Thủ tướng đã đề ra Chương trình “Hành động chống Ma tuý – giai đoạn 1998-2000”. Tiếp theo là ngày 28/11/1998, Chỉ thị số 1411 được đề ra nhằm đẩy mạnh phong trào phòng chống ma tuý từ 30/11/1998 đến hết năm 1999 và ban bố chương trình “Phòng chống ma tuý” giai đoạn 2001 – 2005. Công tác cai nghiện được coi là mục tiêu quan trọng trong chương trình này.

Bệnh nhân HIV/AIDS được điều trị, chăm sóc ở các cơ sở riêng, họ được chuyển đến từ các Trung tâm Cai nghiện Ma tuý sau khi đã được phân loại qua việc khám bệnh và xét nghiệm. Họ được khám bệnh, phân loại theo tuổi, giới tính và tình trạng bệnh tật để đảm bảo điều trị và chăm sóc phù hợp. Bệnh nhân có sức khoẻ tốt hơn được giao làm những công việc giản đơn, được đối xử bình thường. Đầu tiên là bác sĩ phải điều trị, chữa cho họ bệnh lao, viêm gan C, bệnh về tiêu hoá và củng cố sức khoẻ của họ. Hiện nay Việt Nam vẫn chưa có thuốc chữa HIV/AIDS. Có một số bài thuốc cổ truyền được áp dụng chính thức hoặc chưa hợp pháp để điều trị nghiện ma tuý hoặc HIV/AIDS song hiệu quả không cao, ngoài ra còn chưa kể đến những độc tố trong thuốc và những trò lừa bịp về chuyên môn bị Bộ y tế nghiêm cấm.

                Bệnh viện Bình Triệu thành phố Hồ Chí Minh là nơi chuyên khoa điều trị bệnh nhân HIV/AIDS. Bệnh viện chỉ có 50 giường nhưng phải tiếp nhận 80 bệnh nhân trong đó có 5 nữ. Tỷ lệ bệnh nhân AIDS chiếm 15% - 20% trong số người nhiễm HIV. Những bệnh nặng khác chiếm khoảng 50%. Nguồn bệnh nhân chủ yếu đến từ Trung tâm Cai nghiện ma tuý Bình Triệu, bên cạnh đó là một lượng bệnh nhân AIDS giai đoạn cuối được gửi từ Sở y tế tp. HCM. Bệnh viện này chỉ có thể điều trị bệnh như; Lao (chiếm phần lớn với 32 người, là gần 50%), bệnh đường tiêu hoá, hô hấp, bệnh ngoài da, nấm (20%). Không có thuốc điều trị HIV/AIDS nên bác sĩ chỉ có thể làm ngưng quá trình phát triển bệnh, kéo dài tuổi thọ người bệnh tạm thời. Tỷ lệ chết hàng năm là 30 – 50 người (chiếm 30%-60%). Năm 2002 (đến tháng 6/2002) chứng kiến số lượng chết cao nhất. Bệnh viện có 19 bệnh nhân ngoại trú và hiện không có khả năng đáp ứng nhu cầu đang gia tăng của bệnh nhân điều trị HIV/AIDS.

Được xây dựng từ năm 1996, bệnh viện đã tiếp nhận 1.000 bệnh nhân trong điều kiện thiếu thốn nhân lực, tài chính, thuốc men và cơ sở hạ tầng cho việc điều trị HIV/AIDS.

Tại Trung tâm Cai nghiện ma tuý số 6 của tỉnh Thái Nguyên, trong số 500 bệnh nhân thì có đến 71 người nhiễm HIV/AIDS đang sống tuyệt vọng, bị cách ly.

Điều trị cho người nghiện ma tuý, đặc biệt là lại có nhiễm HIV/AIDS là việc làm cực kỳ khó, phức tạp và hiệu quả thấp. Thực tế đã có xảy ra việc bác sĩ, y tá bị lây nhiễm, hoặc bị ngưòi bệnh HIV/AIDS tấn công bằng những ống kim tiêm có dính máu, do vậy cần thiết phải có đầu tư trong công tác điều trị và xem xét tiền lương cho những bác sĩ, y tá đang làm việc trong lĩnh vực này. ở Việt Nam có một số vấn đề cần phải được xem xét tới trong công tác điều trị HIV/AIDS:

-   Tăng cường liệu pháp tâm lý và tư vấn liệu pháp bởi lẽ công tác tư vấn và liệu pháp đều có tính quyết định trong điều trị nhằm phục hồi và điều trị hiệu quả. Song trên thực tế hiện nay thì mọi người chủ yếu chỉ chú ý đến đến điều trị, ít quan tâm đến liệu pháp tư vấn và tâm lý.

-   Liệu pháp tâm lý và tư vấn là biện pháp phục hồi và duy trì công tác điều trị song người tư vấn lại chưa được đào tạo về tâm lý học, tâm thần học, khoa học xã hội và luật pháp nên điều đó khiến họ không thể hoàn thành đầy đủ nhiệm vụ tư vấn.

-   Sau khi hoà nhập xã hội, người bệnh vẫn còn bị tai tiếng trong xã hội; nếu họ gặp phải những xung đột khó khăn, họ rất dễ bị vấp ngã lần nữa. Do vậy gia đoạn phục hồi cần kéo dài hơn cùng với việc áp dụng tốt phương pháp lao động.

-   Trong quá trình điều trị, bắt buộc phải đảm bảo bệnh nhân có đủ sức khoẻ và tinh thần để vượt qua những thách thức trong cuộc sống.

-   Cha mẹ và người thân của bệnh nhân HIV/AIDS cần thể hiện sự quan tâm với người bệnh, gần 30% trong số họ chưa bao giờ thăm nom kể từ ngày người bệnh nhập viện cho đến khi họ qua đời. (tại bệnh viện Bình Triệu, tp. HCM).

-   Kinh phí cho người bệnh hiện nay quá thấp:  0,05 USD/người/năm. Trong thời gian tới sẽ nâng lên là 0,25 USD/người/năm.

-   ở Việt Nam chưa hề có ca HIV/AIDS nào được điều trị hoàn chỉnh từ lúc bị bệnh cho đến khi quay trở lại cuộc sống bình thường. Trợ giúp và can thiệp phổ biến đối với nhóm bệnh nhân này vẫn chủ yếu là mang tính nhân đạo trong quãng đời còn lại của họ. Tuy nhiên vẫn có vài trường hợp các cô gái không bị HIV cưới người bị HIV dù biết rõ là người bạn đời bị HIV. Quả đây là những mối tình phi thường.                                                     

               ở Việt Nam có nhiều chiến dịch chống HIV cùng với sự tham gia của nhiều tổ chức như: Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ, Hội Sinh viên, Hội Cựu chiến binh ở các cấp: trung ương, tỉnh, thành phố, quận huyện, và trên các phương tiện truyền thông.

               Bộ Lao động & TBXH được giao tổ chức, quản lý và phòng chống các tệ nạn xã hội trong đó có ma tuý, HIV/AIDS, mại dâm... Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Bộ Y tế, Bộ KHCN & Môi trường cùng phối hợp với Bộ Lao động & TBXH trên nhiều mặt để chặn đứng thảm hoạ này. Trong giai đoạn này Việt nam đã có Uỷ ban Nhà nước về phòng chống Ma tuý và Mại dâm do một Phó thủ tướng chịu trách nhiệm và chỉ đạo.

Chương trình phòng chống Ma tuý – HIV/AIDS mà tôi tham gia thuộc chương trình tuyên truyền của Cơ quan Phát triển Quốc tế. Chương trình tuyên truyền các tác hại của ma tuý với sinh viên các trường đại học, với các độc giả của các báo ở thủ đô và các tỉnh, giới thiệu cách đối phó với ma tuý, cách điều trị nghiện ma tuý – HIV/AIDS của các nước và giới thiệu cách áp dụng phưong pháp “Chữa bệnh Cộng đồng” của Daytop với các cơ sở và tổ chức gồm cả tổ chức phi chính phủ ở Hà Nội và các tỉnh châu thổ sông Hồng.

Để phòng ngừa tai hoạ HIV/AIDS, Chính phủ Việt Nam đã áp dụng nhiều biện pháp gồm: luật pháp, lao động cải tạo, biện pháp về kinh tế, xã hội và khuyến khích các tổ chức: Trung ương hội phụ nữ, Đoàn Thanh niên, Hội sinh viên... tham gia phong trào phòng chống ma tuý và HIV/AIDS.

Được Chính phủ giao phó, Bộ Lao động &TBXH đóng vai trò chính trong lĩnh vực điều trị, phòng chống ma tuý, HIV/AIDS có phối hợp cùng các cơ quan liên quan như: Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Cục Hải quan. Hiện nay Bộ đang xem xét các biện pháp hiệu quả khả thi dựa trên các kết quả điều tra nghiên cứu nhằm chặn đứng nghiện ma tuý, HIV/AIDS đặc biệt trong giới trẻ bởi tệ nạn hàng ngày gây thiệt hại đến nguồn lực, sức khoẻ và tiền của đồng thời là sự lan tràn, truyền nhiễm HIV và gây ra các tệ nạn xã hội. Trong 5 năm vừa qua, với mong muốn triệt phá các tệ nạn xã hội, hàng triệu thanh niên Việt Nam trên khắp cả nước đã tham gia tích cực đấu tranh chống ma tuý, mại dâm và HIV/AIDS. Họ đã tổ chức 140.000 đợt tuyên truyền nâng cao nhận thức về tệ nạn xã hội, ma tuý, các phương pháp phòng ngừa HIV, trên 9.100 khoá tập huấn được tổ chức cho trên 850.000 người từ năm 1997 – 2001.

Ngoài ra đã có 50.000 nhóm tình nguyện tham gia giúp đỡ cho hàng ngàn người nghiện ma tuý, giúp họ từ bỏ thói quen, kiểm soát HIV/AIDS và mại dâm trong giới trẻ địa phương, tăng cường vai trò của tổ chức Đoàn trong đấu tranh chống tệ nạn xã hội. Tạo ra hiệu quả bằng việc nâng cao chất lượng thông tin, giáo dục, xây dựng mở rộng các mô hình dựa trên cộng đồng. Phát động và xây dựng phong trào: “Mỗi tổ chức Đoàn giúp một người nghiện, một người hoàn lương hoặc một người nhiễm HIV”.

Thành phố HCM là thành phố lớn nhất cả nước đồng thời cũng là nơi có tình trạng tệ nạn xã hội, ma tuý, HIV/AIDS nặng nề nhất. Hiện thành phố có trên 17.000 người nghiện và khoảng 10.000-15.000 gái mại dâm. Khoảng 75% người nghiện là trẻ tuổi và có trên 21% trong số gái mại dâm là HIV dương tính. Ngoài ra trong nửa đầu năm nay đã có 4.240 vụ tội phạm trên thành phố. Vì lý do đó mà Chủ tịch nước Trần Đức Lương đã có quan tâm đặc biệt với Tp. HCM. Ông đã bày tỏ sự tin tưởng về tính hiệu quả trong cuộc chiến chống ma tuý, mại dâm, HIV và tệ nạn xã hội của Tp. HCM, hy vọng thành phố tiếp tục có các biện pháp sáng tạo và hiệu quả đáp ứng mong mỏi của người dân, khẳng định Tp. HCM được nhân dân cả nước đồng tình ủng hộ. Chủ tịch nước cũng bày tỏ lo ngại về những tệ nạn xã hội phức tạp trên thành phố. Đồng thời hiện nay Trung ương Đảng và Quốc hội cũng có quan tâm đặc biệt quyết tâm giảm ma tuý và tện nạn xã hội ở Việt Nam.

Sau khi ghi nhận những nỗ lực của thành phố trong việc thực hiện chương trình 5 năm giảm ma tuý, HIV/AIDS, mại dâm và tội phạm (gọi tắt là chương trình 3 giảm) trong giai đoạn 2001-2005, Chủ tịch nước Lương đã đề nghị Đảng bộ và người dân thành phố cần nhất trí và quyết tâm hơn nữa. Chúng tôi cũng hy vọng rằng với sự quan tâm, chỉ đạo sát sao của Trung ương Đảng, Quốc hội và Chính phủ, nạn ma tuý, HIV/AIDS sẽ được xoá bỏ vào năm 2005 như lời phát biểu của Thủ tướng Phan Văn Khải.

Kết thúc bài phát biểu này, tôi xin nhắc lại mấy lời của Tổng thư ký LHQ Cofi A. Annan với những bệnh nhân HIV/AIDS: “... chúng ta phải nuôi dưõng môi trường cảm thông và hiểu biết, không phân biệt đối xử hay sợ hãi”

Đang xem 324

Hôm nay 2,055

Tổng lượt xem 15,300,308