THỜI GIAN LÀM VIỆC 24/24
 

HOTLINE : (028) 6270 0119 - (028) 2215 4274
0982 120 908 - 090 371 5529 - 0933 161 985
Cơ sở 1: 245 Bình Quới (1051 Xô Viết Nghệ Tỉnh - số cũ) - P.28 - Q.Bình Thạnh - Tp.HCM
Cơ sở 2: 978 Nguyễn Duy Trinh - P. Phú Hữu - Q.9 - Tp.HCM

TRUNG TÂM ĐIỀU DƯỠNG VÀ CAI NGHIỆN MA TÚY THANH ĐA 
Địa chỉ : 1051 Bình Quới (Xô Viết Nghệ Tĩnh) - P.28 - Q.Bình Thạnh - Tp.HCM
Điện thoại: (08).38986513 - 38986515(Ext:12) - (08).22154274 - MST: 0301910027

googletienlang2014.blogspot.com

ĐÙ ME "CÔNG TÍCH" - KỲ 1

Toàn quyền Đông dương Paul Doumer (1897 - 1902)

Lời dẫn: Cảm ơn Cụ Lý! Những vấn đề thuộc về lịch sử thế này, không phải ai cũng biết!

********************************

Mấy đời bánh đúc có xương? 

Thời Pháp thuộc, ba nước Việt, Miên và Lào nằm trong Liên bang Đông Dương  do người Pháp lập ra. Riêng nước ta bị chia thành ba kỳ với ba chế độ cai trị khác nhau, trong đó Nam kỳ là xứ trực trị, Trung kỳ và Bắc kỳ là xứ bảo hộ.

Đứng đầu Liên bang Đông Dương là một viên chức Pháp, được gọi là Toàn quyền Đông Dương (Gouverneur Général de l'Indochine). Tuy trên danh nghĩa ba nước còn có ba ông vua ngồi đó, nhưng quyền uy quan Toàn quyền còn lớn gấp ba lần ba vua cộng lại.

Trong số các Toàn quyền Đông dương thì Paul Doumer (giữ chức vụ từ 1897 đến 1902) để lại nhiều dấu ấn hơn cả. Dân ta gọi theo đúng giọng Parisiens là ông Đù me đại nhân.

 

Trước khi sang Đông Dương, Paul Doumer vốn là đương kim Bộ trưởng Bộ Tài chính của “nước mẹ” Đại Pháp. Lắm tài nhưng cũng nhiều tật, lại thuộc nhóm cấp tiến, Doumer hăng hái đòi chính phủ phải thu thuế lợi tức để bù vào ngân khố thâm thủng. Đề án lập ra, đám thượng viện, hạ viện và cả nội các đều soi ra “đối tượng” phải nộp thuế là chính mình nên hoảng hồn, bác đề án và mưu toan tống cục nợ đi cho khuất mắt. Đúng lúc viên Toàn quyền Đông Dương bấy giờ là Armand Rousseau vừa ngủm vì bịnh kiết, và Paul Doumer sau ít nhiều do dự cũng bằng lòng thế chỗ.

Được bổ nhiệm ngày 27-12-1896, ngày 13-2-1897, Paul Doumer đặt chân xuống Sài Gòn.

Sài Gòn bấy giờ đã là một đô thị sầm uất được quy hoạch theo kiểu Âu với một số công trình kiến trúc hoành tráng theo phong cách Pháp - Ý. Nhiều người Việt đến giờ vẫn còn ăn theo niềm tự hào “Hòn ngọc Viễn Đông” và muốn quên chuyện người Pháp đã mài xương máu dân Annam mà làm nên “ngọc”, duy kẻ thụ hưởng “hòn ngọc” thì khi ấy chỉ là các ông Tây. Xứ Nam kỳ là xứ trực trị, Sài Gòn được coi là một đơn vị hành chính thuộc Pháp (commune Francaise) mà người Việt dịch ra là “xã Tây”. Đứng đầu “xã Tây” là một Xã trưởng (maire) và dưới đó là một Hội đồng hơn 20 người, hầu hết là Tây (một vài người bản xứ có thể tham gia, nhưng phải là "dân có máu mặt", vì phải ký quỹ một khoản tiền lớn, như ông Trương Vĩnh Ký).

Dinh Xã Tây được thiết kế theo phong cách kiến trúc Pháp - Ý và bác culi xe có nên tự hào thái quá về "Hòn ngọc Viễn Đông" không nhỉ?

Cho đến khi đó, vì Sài Gòn là đất thuộc Pháp, là “con đẻ” nên được “ưu ái” tập trung “đầu tư” còn hai xứ bảo hộ Bắc kỳ và Trung kỳ, là “con nuôi, con ghẻ” thì dường như vẫn còn bị "ghẻ lạnh" trong sự thờ ơ của “nước mẹ”.

Thậm chí, khi biết Paul Doumer được bổ nhiệm chức vụ Toàn quyền Đông Dương, viên “xã trưởng” Sài Gòn và chủ tịch Hội đồng Thuộc địa là Paul Blanchy, (làm giàu nhờ việc thầu khoán các công trình công cộng tại thuộc địa) đã chạy đôn chạy đáo mở một cuộc vận động ngay tại chính quốc đòi ly khai xứ Nam kỳ ra khỏi Liên bang Đông Dương, đồng nghĩa là thoát ra khỏi ảnh hưởng của tân quan Toàn Quyền vốn có tiếng là độc tài. Doumer tuyên bố thẳng thừng, nếu Bộ Thuộc địa để cho điều đó xảy ra, ông sẽ từ nhiệm, còn với cương vị hiện có của mình thì ông, duy nhất là người đủ thẩm quyền quyết định về số phận của Sài Gòn. 

Paul Doumer không che dấu quan điểm của mình là nước Pháp sẽ không tiếp tục “biệt đãi” riêng với Sài Gòn như cũ, thậm chí là phải xiết chặt hơn nữa các nguồn chi “đặc quyền đặc lợi” của cái Hội đồng thành phố này. Hà Nội, Hải Phòng cần được ưu tiên hơn để phát triển thành các trung tâm có vai trò xứng đáng trong xứ Bắc kỳ và rộng ra, là toàn cõi Đông Dương. Đó mới là nơi đặt bàn đạp để nước Pháp thần thánh bành trướng sang thị trường Trung Quốc. Chính Trung Quốc mới là “giấc mơ” của người Pháp từ hàng nhiều chục năm nay, khi họ nhầm tưởng có thể thông thương tới Vân Nam qua ngả sông Hồng (và cả sông Mekong) và đó chính là lý do "cao quý" mà người Pháp viện ra khi đánh chiếm Bắc kỳ. (Nói về điều này, cụ Vương Hồng Sển có khôi hài chua chát rằng than ôi, giá như thời đó các ông Tây thực dân kém dốt địa lý hơn một tý, thì nước tôi đã không phải đeo cái ách thực dân ngót trăm năm).

Để làm được điều đó cần phải có một hệ thống đường sắt xuyên Đông Dương và sẵn sàng kết nối với Vân Nam. Không trông đợi vào thuộc hạ, Doumer quyền to hơn vua không quản gian khó hiểm nguy, đích thân cưỡi ngựa đi “phượt” xuyên Việt, khảo sát tìm hiểu địa bàn trước khi xét đồ án thiết kế.

Cùng đi với Doumer duy nhất có viên Thiếu tá cận vệ Nicolas. Hai thầy trò ròng rã vượt qua chặng đường dài trên 800 km từ Hà Nội vào đến Đà Nẵng trong vòng một tuần, trung bình mỗi ngày đi hơn trăm cây số. Hành lý gọn nhẹ bỏ không đầy một cái túi da (serviette) đeo hông ngựa. Không nghi lễ đón tiếp, không võng lọng, cờ xí, trống kèn và tiệc tùng, ngài Toàn quyền chỉ yêu cầu các quan Nam triều sắp đặt tại mỗi trạm dịch có sẵn đôi ngựa khỏe thay cho ngựa mỏi, vài tên quân lính biết săn sóc ngựa và rành rẽ đường xá để chỉ dẫn nếu cần. (Chỗ này các quan ta nên học).

Câu chuyện về chuyến đi đội nắng, dầm mưa, vượt lũ và ăn bụi nằm bờ này được ông ghi lại trong cuốn hồi ký L’Indochine Française (Souvenirs) Nhà xuất bản Vuibert & Nony, Paris in năm 1903. (Cuối tháng 12-2015 mới có bản dịch tiếng Việt do Công ty cổ phần sách Alpha và Nhà xuất bản Thế Giới ấn hành)

Sau chuyến đi đó, trong suốt thời gian hơn 5 năm tại nhiệm, Paul Doumer xây dựng hoàn thành 1650km đường sắt xuyên Việt và từ Hà Nội vươn dài nối với Côn Minh - Trung Quốc, trong đó có những cây cầu đường sắt nổi tiếng đến nay là cầu Long Biên (Hà Nội), cầu Hàm Rồng (Thanh Hóa), cầu Tràng Tiền (Huế) và cầu Bình Lợi (Sài Gòn). Ngoài đường sắt ra, Doumer còn cho mở mang những con đường bộ từ Hà Nội đi Cao Bằng, Đà Nẵng – Huế, Phan Rang – Đà Lạt và từ Đông Hà sang Lào.

Riêng cây cầu thép vượt sông Hồng, được xây dựng trong hơn 3 năm (9/1898 – 2/1902) theo thiết kế của hãng Daydé et Pillé (không phải hãng G. Eiffel nổi tiếng như một số ít người vẫn lầm tưởng) là một trong số bốn cây cầu lớn nhất thế giới lúc bấy giờ. Cầu dài 1680m, gồm 19 nhịp sắt kiểu Cantilever, 20 trụ móng được đặt sâu dưới 30m nước với tổng chiều cao là 43,5m. Phía hữu ngạn còn thêm 800m cầu dẫn trên cao (cầu cạn) nằm vượt trên các mái nhà phố đường Phùng Hưng. Trước đó, từ 1893, chỉ có một đò máy chạy bằng hơi nước dành cho người Âu và người Annam giàu có qua sông.

Hãng Daydé et Pillé thiết kế và chế tạo, thợ Việt ráp và xây mố

 

Cầu Paul Doumer, giờ mang tên là cầu Long Biên

Ngày “tam nhị” 02-2-1902, cầu được chính thức khánh thành và mang tên Paul Doumer từ đó cho đến tháng 7-1945, Pháp bị Nhật đá đít, thị trưởng Hà Nội là bác sĩ Trần Văn Lai đổi tên thành cầu Long Biên như còn đến bây giờ. (Năm 1974, thầy Lạn, dạy tiếng Pháp tụi tôi giảng rằng, “Long” ở đây hoàn toàn không dính dáng gì đến con “rồng” xứ Việt, cái tên cầu tưởng là Việt hóa ra lại vẫn có xuất xứ từ chữ Tây, là “longe et bien”, nghĩa là “dài và tốt” được đọc Việt hóa thành “long biên”. Và nhắc đến cây cầu dài (longe) này, nay cũng xin ghi vào đây, là vào cái hồi còn bao cấp, thường vẫn thấy một đội công nhân duy tu bảo dưỡng cầu, quanh năm và hàng ngày chỉ làm mỗi việc cạo rỉ và sơn. Tốp cạo đi trước, tốp sơn nối đuôi, bắt đầu từ phía Hà Nội sang Gia Lâm và vừa khi các bác thợ sơn còn đang loay hoay bôi bôi nhịp cuối thì các chú thợ cạo đã trở về hì hục xóa xóa nhịp đầu. Cầu dài quá, nên sơn đầu kia còn chưa kịp khô thì đầu này đã kịp rỉ sét rồi).

Việc xuất thân là con trai của một bác cai đường sắt bên "mẫu quốc" cộng với sự quá nhiệt thành trong công cuộc xây dựng hệ thống đường sắt Đông Dương khiến cho báo chí Pháp thời đó mỉa mai gọi Doumer và thuộc cấp là “bọn theo chủ nghĩa đường sắt”.

Hà Nội cũng được Doumer quan tâm đặc biệt khi ông cho thành lập ở đây  trường Viễn Đông Bác cổ (École francaise d’ Extrême – Orioent, (EFEO), thành lập 15-12-1898) sau đó được nâng cấp thành cơ sở khoa học trực thuộc quan Toàn quyền. Trường trở nên nổi tiếng khi có nhiều công trình nghiên cứu xuất sắc và góp phần không nhỏ trong việc phục hồi và bảo tồn các các cổ vật bản địa (đặc biệt là Khmer và Cham) khỏi chính sự cướp phá của những người Pháp thực dân.

Doumer cũng không ngần ngại khi ông chọn địa điểm xây dựng các trường cao đẳng đầu tiên trên xứ Đông Dương tại Hà Nội là trường Y và trường Công chánh (lần lượt vào tháng 1 và tháng 2 năm 1902). Đối tượng hướng tới là con cái các ông đồ ông bảng xứ Bắc vốn thừa chữ nhưng quá thiếu tiền, không đủ sở phí học xa như con các ông điền chủ Nam kỳ. Hơn thế, thấy xa hơn những người tiền nhiệm, Doumer biết rằng duy Hà nội mới là vị trí “đắc địa” cho việc “câu kéo” đám thanh niên bên Tàu qua học:

"Bắc Kỳ không chỉ cho phép nghiên cứu các bệnh của vùng nhiệt đới Viễn Đông mà còn cả các bệnh riêng cho mùa lạnh. Hơn nữa, Bắc Kỳ tiếp giáp với Trung Hoa là nơi mà ảnh hưởng của nền Y học chúng ta đang ngày càng tăng cường. Đó là sự xâm nhập hữu hiệu nhất và cũng vinh dự nhất” (Trích biên bản phiên họp Hội đồng Tư vấn Tối cao Đông Dương -1898, mà Doumer là chủ tịch).

Cùng với Hà Nội, Doumer còn mở mang cảng Hải Phòng và đích thân khảo sát cao nguyên Langbiang. Và theo đề nghị của bác sĩ Yersin, ông lập ra thành phố Đà Lạt, nơi nghỉ dưỡng cho người Âu để họ khỏi tiêu tốn ngân sách khi trở về nước Pháp hưởng chế độ nghỉ mát hàng năm.

Một cây cầu khác ở phố Cầu Đất - Hải Phòng từng mang tên Paul Doumer, bị tháo dỡ vào năm 1925 và đã bị quên lãng

Paul Doumer sang cai trị xứ Đông Dương năm ấy mới tuổi 38. Nghị lực lớn, quyết đoán, tầm nhìn xa và sức làm việc phải nói là phi thường, lại có tiếng là liêm khiết và không vụ lợi, hơn hẳn đám tiền nhiệm chỉ biết hùng hục hút máu dân bản xứ và tha của về chính quốc.

Cho dù với động cơ gì phía sau, khách quan mà xét, những cấu trúc hạ tầng hữu ích mà Paul Doumer để lại đã góp phần mở mang nước Việt về kinh tế, xã hội, văn hóa, chúng ta kế thừa và ghi nhận điều đó.

Nhưng đừng có ngủ mơ mà cho rằng Paul Doumer là một người bảo vệ một thứ “dân chủ” nào đó, vì cái thứ xa xỉ đó chưa bao giờ có mặt ở thuộc địa và cũng chẳng phải là Đù me Đại nhân quan tâm lo lắng cho những người dân bị bóc lột bởi chính nền bảo hộ mà ông là đại diện tối cao. Ông chỉ phụng sự cho quyền lợi tối thượng của nước Pháp của ông mà thôi.

-------

Tài liệu:

Người Pháp và người Annam – Bạn hay thù? - Philippe Devillers, Nhà Denoel xuất bản tiếng Pháp năm 1998, Ngô Văn Quỹ dịch, NXB tổng hợp Tp. HCM in và xuất bản năm 2006.

 

Dỡ mắm (Di cảo) – Vương Hồng Sển, NXB Trẻ in và xuất bản 2014.

Nguồn: Cụ Lý 

 

ĐÙ ME "CÔNG TÍCH" - KỲ 2

Những người đàn bà Ninh Bình bị bắt do liên quan đến cuộc Khởi nghĩa Ba Đình

 

Lời dẫn: Tại Kỳ 1 mà Google.tienlang xin phép Cụ Lý đưa về đây, thú thật là có nhiều thông tin về ông Quan Toàn quyền Đông Dương Pau Doumer mà chúng tôi- chủ blog Google.tienlang trước đây chưa biết. Với tôn chỉ blog MANG SỰ THẬT ĐẾN CÔNG CHÚNG, chúng tôi tiếp tục xin phép Cụ Lý đưa phần 2 về đây chia sẻ cùng bạn đọc…

******************************************


 

 Mấy đời bánh đúc có xương?

------

Tem in hình Đông Dương Tổng thống toàn quyền Đại thần Pau Doumer do họa sĩ Bùi Trang Chước vẽ

Entry trước kể chuyện trong 5 năm, từ 1897 đến 1902, quan thực dân Paul Doumer (Pôn Đù me), với vai trò Toàn quyền cai trị xứ Đông Dương đã để lại những “công tích” nhất định, đó là những cơ sở hạ tầng về kinh tế, xã hội, văn hóa, mà phần lớn trong số đó, cho đến nay vẫn hữu ích với người Việt.

Paul Doumer cũng là một trong số hiếm hoi người Pháp thực dân có nhận xét tốt đẹp về người Việt. Ông đánh giá người Annam thông minh, cần mẫn và can đảm, hơn hẳn các dân tộc lân bang như Lào, Miên và Thái, kể cả Ấn Độ. Và ông cho rằng chỉ có người Nhật mới có thể có những đức tính tương đương với người Annam.

Tuy vậy, thật ngu xuẩn nếu cho rằng Paul Doumer thực hiện những điều đó hoàn toàn vì một tấm lòng nhân ái đối với những “người cùng khổ” tại xứ Annam thuộc địa. Chí ít thì những dòng hồi ức của chính ông cũng hé lộ “động cơ” thực sự thúc đẩy lòng nhiệt thành của quan Toàn quyền trong việc xây dựng hệ thống đường sắt xuyên Việt:

“Chúng ta được ưu đãi hơn nhờ vào những thuận lợi mà vùng châu thổ sông Hồng đem lại cho chúng ta để đến được Vân Nam. Chúng ta phải biết lợi dụng tình thế này để gắn kết việc xây dựng mạng đường sắt ở Đông Dương thuộc địa với nỗ lực của chính quốc, tạo cơ sở cho hành động xâm nhập của chúng ta vào Trung Quốc. Vì vậy, trước tiên Toàn quyền Đông Dương phải tìm cách tạo ra các nguồn tài chính cần thiết cho việc xây dựng mạng đường sắt bằng cách tăng thêm các khoản thu ở những xứ thành viên của Đông Dương có ngân sách thu ít nhất. Như thế mới gây được niềm tin cho giới tư bản ở Pháp. Chính họ mới là chỗ dựa của chúng ta, chúng ta phải kêu gọi họ tới đầu tư ở Đông Dương dưới dạng này hay một dạng khác”.

(Hồi ký L’Indochine Française (Souvenirs) Nhà xuất bản Vuibert & Nony, Paris 1903, Nguyễn Văn Trường trích dịch)

Những “công tích lớn lao” đã được “ca tụng” trong entry trước, và cả những “công tích” còn dang dở, như dự định về tuyến đường sắt Sài Gòn – Phnompenh, được chính Paul Doumer ghi lại đầy đủ trong cuốn hồi ký Xứ Đông Dương thuộc Pháp (Hoài niệm) nói trên. (Các ông Nguyễn Văn Trường, cựu nhân viên Viễn Đông Bác cổ đã dịch một số đoạn đăng báo, cụ Vương Hồng Sển dịch một phần trong di cảo Dỡ mắm, riêng Công ty cổ phần sách Alpha và Nhà xuất bản Thế Giới đã huy động vốn (bán trước khi in) đạt 104% để dịch và sẽ in vào tháng 12-2015 – Vinh dự thay, ông Nguyễn Cảnh Bình Chủ tịch HĐQT Alpha books bày tỏ lòng tri ân quan toàn quyền trước khi bán sách).

Nhưng cũng còn có những “công tích” khác đối với người Annam khốn khổ mà Paul Doumer không hề muốn ghi lại trong hồi ký và chắc chắn, chẳng người Việt lương thiện nào muốn “tri ân”.

Chẳng hạn,

Vào tháng 3-1897, theo các hiệp ước và thỏa thuận đã ký từ những năm 1885-1886 được viên Toàn quyền Đông Dương thời 1894 là Lanessan xác nhận, thì Bắc kỳ là phần đất vẫn thuộc về nhà vua Annam và được cai quản bởi chức Phó vương, hay còn gọi là quan Kinh lược sứ của người Việt, lúc bấy giờ là Hoàng Cao Khải. Doumer đã nhẫn tâm tước nốt chút quyền lực cuối cùng và ít ỏi của triều đình Huế trên đất Bắc, bằng cách bãi bỏ chức vụ này thông qua một đạo dụ của nhà vua vào ngày 26-7-1897. Quyền hạn của Hoàng Cao Khải được chuyển giao cho viên Thống sứ người Pháp Augustin Fourès. Chức vụ Thống sứ Bắc kỳ này vốn đã được bãi bỏ vào năm 1895 nay lại được phục hồi.

Thế là xứ Bắc kỳ nay đã do người Pháp trực tiếp cai trị. Ít lâu sau, đến lượt chính quyền trung ương Annam tại Trung kỳ cũng bị Doumer "mần thịt":

Nắm lấy cơ hội kết thúc thời kỳ vị thành niên của vua Thành Thái, đồng nghĩa là dịp kết thúc chế độ “phụ chính” (vốn do Phụ chính đại thần, thượng thư Nguyễn Trọng Hiệp (Hợp) đảm nhiệm), từ tháng 9-1987, Toàn quyền Doumer trực tiếp chi phối vương triều Annam thông qua một Hội đồng mới, gọi là Viện Cơ mật, mà chức vụ chủ tịch Hội đồng sẽ là một người Pháp (đầu tiên là Brière rồi đến Auvergne và Boulloche), những người Annam còn lại sẽ do nhà vua bổ nhiệm theo đề xuất của Pháp.

Vua là tượng gỗ

Tờ báo Pháp Illustration số ra ngày 10-1-1903 bình luận: “Hội đồng được thu nhỏ thành một sân khấu múa rối đáng yêu với những con rối xinh đẹp mạ vàng mà tất cả các dây nhợ từ nay phải được buộc vào những ngón tay của viên Thống sứ”.

Với Doumer, toàn cõi Annam phải tiến đến một nền cai trị trực tiếp và từ nay chấm dứt việc đặt ra vấn đề trả lại quyền hành thực sự cho người Annam.

Tác giả Philippe Devillers viết về những "công tích" này, trong cuốn Người Pháp và người Annam – Bạn hay thù?: “Như vậy, những quyết định đầu tiên về chính trị của Paul Doumer đối với Annam, là hoàn thành việc người Pháp nắm lấy chính phủ vương triều bằng việc đặt một viên chức Pháp lên đầu chính phủ này, nô lệ hóa hoàn toàn Nhà vua và các Thượng thư, thu nhỏ họ lại, (như Ủy ban Bremier đã khuyến cáo năm 1857), trong vai trò của những người thừa hành, thậm chí những bù nhìn, để tiêu diệt những vết tích cuối cùng ảnh hưởng của vương triều Huế lên Tonkin”.

Đặc biệt không thể không nhắc đến một “công tích” rất “ấn tượng” khác mà Paul Doumer để lại trong những năm cầm quyền, đó là đánh thuế, đánh thuế và... đánh thuế. Thật ra đây mới đích thực là “nghề của chàng” - vốn là Bộ trưởng Bộ Tài chính trước khi trở thành Toàn quyền Đông Dương.

Một người Pháp cùng thời từng tốt nghiệp trường Bách Khoa Paris (École Polytechnique) là Đại úy Fernand Bernard, nhân vật dưới quyền được Doumer giao “tiền trạm” con đường từ Sài Gòn đến Lang Biang vào tháng 9-1898, ghi lại “công tích” này của Doumer trong cuốn Đông Dương - Những sai lầm và nguy hiểm (L’ Indo-Chine. Erreurs et dangers, NXB Charpentier, 1902):

“Vào năm 1897, chỉ trong vài tuần lễ, một cơn mưa đá thực sự đổ xuống. Tăng thuế thân và thuế địa ốc, thuế của những người không đăng ký, thuế đăng ký sắc phong của các quan, thuế diêm, thuế quế, thuế giấy có đóng dấu, thuế muối, rượu, thuyền trên sông, giấy phép đốn gỗ, thuế thuốc lào, thuế cau, thuế củi, thậm chí cả thuế rơm thuế rạ để lợp những cái lều thảm hại nhất...”

Doumer chủ trương khai thác cùng kiệt các tài nguyên của các nước trong Đông Dương. Theo nhà báo Phan Quang, trong triều đại Doumer các sắc thuế được đẩy mạnh hết mức để đạt mục tiêu cải tổ tài chính, đặc biệt là thuế thuốc phiện, thuế muối và thuế rượu. Các sắc thuế bòn rút từ người dân đóng vào ngân sách thuộc địa tăng từ 20 triệu đồng Đông Dương năm 1899 lên 33 triệu đồng năm 1902. Ở Trung Kỳ, thuế thân và thuế ruộng đất tăng từ 83.000 đồng năm 1897 vọt lên 2.000.000 đồng vào năm 1899. Ở Bắc Kỳ, 2 sắc thuế ấy đến 1907 đạt gần 5 triệu đồng. Trong khi đó, mọi loại thuế má người Pháp làm việc tại Đông Dương phải đóng góp vào ngân sách vỏn vẹn có 9.000 đồng/năm.

Trên thực tế, trong 5 năm cầm quyền của Paul Doumer, gánh nặng thuế má đè nặng lên dân chúng Annam tăng gần gấp đôi. Và để tận thu, Doumer còn thiết lập các chế độ quản lý và độc quyền gây thêm những hậu quả về kinh tế: Nhiểu hộ dân sản xuất rượu buộc phải phá sản và việc chăn nuôi heo cũng giảm theo do người dân vốn quen “vỗ” béo heo bằng bã rượu. Tương tự, thuế muối và độc quyền sản xuất muối làm thiệt hại đến việc đánh bắt cá và sản xuất nước mắm. Trong khi đó, bộ máy quản lý của người Pháp ngày càng phình to, và F. Bernard nhận xét ở Bắc kỳ:“Lương của các quan (Annam) là từ 8-10 lần kém lương của các công chức Pháp, và tổng cộng lại toàn bộ dân sự Annam của bộ máy hành chính, các tỉnh hàng năm tốn ít tiền kém 5 lần so với vài trăm nhân sự người Âu.”

Dân là thân trâu

Vậy thì có thể nói một trong những “công tích vĩ đại” nhất của Doumer trong 5 năm cầm quyền tại Đông Dương là điên cuồng bổ thuế vào đầu dân chúng Annam.

 

Người Pháp tự giao cho họ cái trách nhiệm đến Đông Dương để “khai hóa văn minh”. Nhưng văn minh đâu chỉ là những “công tích” được tóm lược trong việc xây dựng những con đường sắt, vài tòa bưu điện, vài tòa án, vài nha khí tượng hay thậm chí là cả những nhà thương. Thế còn điều này thì sao: “ở Bắc kỳ, cuộc “điều tra dân số” vào năm 1875 có 10.200.000 người và 25 năm sau, con số này vẫn thế, mặc dù có một tỷ lệ sinh đẻ như ngựa phi. Đó đơn giản là vì có một tỷ lệ tử vong lớn chưa từng có trước khi họ được “khai hóa””?

Doumer, trong cuốn hồi ký của mình hẳn đã không giấu niềm tự hào khi vào tháng 11-1897 đã lập nên một “công tích” có lẽ còn "vĩ đại" hơn cả việc đánh thuế, đó là ông khẳng định đã“hoàn thành việc bình định Tonkin” qua việc mở những cuộc tấn công vào nghĩa quân Yên Thế làm Đề Thám bị thương và buộc phải tạm hàng tại Phồn Xương. Nhưng hồi ký của ông không nhắc đến những sự kiện diễn ra sau đó chưa đầy một tháng (12-1897). Đó là sự kiện những người nông dân đi theo Kỳ Đồng, “một đứa trẻ kỳ lạ” đã được “gửi sang” Algérie rồi sang Pháp khi mới chỉ 12 tuổi nay vừa trở về nước sau tám năm “tẩy não”. Những người nông dân ấy, trong cùng một đêm, cầm gậy, cầm mác tiến vào Hải Phòng, Hải Dương, Phủ Ninh Giang và Thái BìnhDù rằng cuộc nổi loạn này gây bất ngờ với người Pháp, nhưng hậu quả là chỉ có hai người Âu ở Hải Phòng, một bị giết và người kia bị thương. Vàchính Doumer Đại nhân đã ra lệnh một cuộc đàn áp để làm gương. Đại úy F. Bernard, trong một bức thư viết ngày 1-1-1898, gửi về Pháp cho người anh trai, kể lại: “Tất cả những người Pháp hèn nhát chỉ hết sợ khi đòi hỏi chúng ta phải chặt đi vài ngàn cái đầu...Viên Công sứ Hải Dương Robineau, vào hôm sau ngày xảy ra vụ manh động cho chặt và bêu 54 cái đầu. Trong vài ngày tiếp theo, người ta đã hành hình 200 người Annam, trong số đó có cả những đứa nhóc 14 tuổi, với cái tội là đã làm rối giấc ngủ của những vị quan cai trị của chúng ta. Tất cả những điều này thật đáng nôn mửa”.

Những người đàn bà Ninh Bình bị bắt do liên quan đến cuộc Khởi nghĩa Ba Đình

Nhìn lại những “công tích” của Doumer, có thể khẳng định rằng: “những cơ cấu mà ông đặt thành nền tảng cho cho nền cai trị của nước Pháp thực dân tại Đông Dương và Annam nói riêng là bền vững, quá bền vững nữa là khác, và được làm ra để tồn tại lâu dài. Nhưng đối với những người Việt Nam yêu nước, đã hiểu được cơ cấu ấy thì không thể có một sự “thỏa hiệp” nào với nó được nữa. Chỉ có đánh đổ nó bằng vũ lực thì mới có thể vãn hồi được nền độc lập của Việt Nam, của cái nước Việt Nam mà vào thời đó chưa thấy có tên trong bất cứ một văn bản nào.

Phải mất nửa thế kỷ nữa mới có được điều đó”.

Và những người Việt Nam đã làm điều đó. Buổi chiều ngày 9-10-54, những tên lính thực dân Pháp cuối cùng cuốn gói lầm lũi rời Hà Nội qua chính chiếc cầu vĩ đại bắc qua sông Hồng. Chiếc cầu từng mang tên Paul Doumer, ngài Đông Dương Tổng thống Toàn quyền đại thần lắm “công” nhiều “tích”.

-------

Những đoạn in nghiêng được dẫn theo:


Người Pháp và người Annam – Bạn hay thù? - Philippe Devillers, Nhà Denoel xuất bản tiếng Pháp năm 1998, Ngô Văn Quỹ dịch, NXB tổng hợp Tp. HCM in và xuất bản năm 2006. 
Nguồn: Cụ Lý

 

ĐÙ ME "CÔNG TÍCH" - KỲ 3

 

Paul Doumer trở thành tổng thống thứ 14 của Cộng hòa Pháp 

Đời nào bánh đúc có xương?

Kết thúc nhiệm kỳ 5 năm đảm nhiệm chức vụ Toàn quyền tại Đông Dương, Doumer tự đánh giá là đã thành công và có thể trở về Pháp để tiếp tục sự nghiệp chính trị gián đoạn trong một thời gian. Ngày 13-3-1902, ông dời khỏi Đông Dương và vừa kịp ứng cử chức vụ Nghị viên trong cuộc bầu cử sẽ diễn ra tại nước Pháp vào tháng Tư năm đó. Sau bầu cử, Doumer được bầu làm Thượng nghị sĩ, đại biểu của Laon rồi trở thành Chủ tịch thượng viện (1927-1931), và đạt đỉnh cao quyền lực - Tổng thống nước Cộng hòa Pháp vào năm 1931. Nhưng chỉ một năm sau đó, Doumer bị ám sát bởi tên cuồng tín Gorguloff, gốc gác là một bác sĩ Bạch vệ người Nga. Paul Doumer chết tại Paris ngày 6-5-1932, năm ấy ông 75 tuổi.
 

Những kỷ niệm "đáng nhớ" trong 5 năm "kinh bang tế thế" tại Đông Dương được Paul Doumer kể lại kỹ càng trong cuốn hồi ký L’Indo- Chine Française (Souvenirs)được ông viết ngay sau khi trở về nước Pháp và do Nhà xuất bản Vuibert & Nony, Paris, phát hành năm 1903.

Tranh vẽ về vụ ám sát và ảnh khẩu súng của Gorguloff

Một vài người đã trích dịch từng phần cuốn hồi ký này ra Việt ngữ, trong đó có cụ Vương Hồng Sển. Bài viết này xin tiếp tục kể ra một vài "công tích" nhỏ nhoi nhưng thú vị của Dume Đại nhân với vài nhân vật Annam, dẫn theo cuốn Dỡ mắm (Di cảo - Vương Hồng Sển) do NXB Trẻ in và xuất bản 2014. Còn các "công tích lớn lao và vĩ đại" của ông đã được nhắc trong Đù me "công tích" 1 và Đù me "công tích" 2.
 

Bìa cuốn L’Indo- Chine Française (Souvenirs) - Đông dương thuộc Pháp (Hoài niệm) của Doumer

Nhắc lại, Paul Doumer là một trong số rất ít người Pháp thực dân nhìn ra những phẩm chất tốt đẹp của người dân Annam mà không phải ông Tây nào cũng thấy. Trong cuốn hồi ký nói trên, Doumer viết: "Điều không thể chối cãi được là những người này hơn hẳn tất cả các dân tộc xung quanh. Người Miên, Lào, Xiêm không chống được họ. Không một dân tộc nào ở đế quốc Ấn Độ có những đức tính của họ, phải tới Nhật mới thấy có một giống người tương đương. Người Việt và người Nhật chắc chắn thủa xưa có bà con với nhau. Cả hai đều thông minh, cần mẫn và can đảm". 

Thậm chí ông còn có cả một thư ký (secrétaire) người Việt, là ông Phạm Văn Tươi mà đi đâu ông cũng dắt theo (Sách Người Pháp và người Annam – Bạn hay thùdịch nhầm là ông Thươi theo cách viết của bản tiếng Pháp là Pham Van Thươi). Trong lần vào kinh đô Huế để trực tiếp xem xét và giải quyết việc để hay giữ ngôi vua Thành Thái, ông Doumer đưa ông Tươi đi theo. Triều đình dĩ nhiên phải mở tiệc linh đình cho vua ta thù tiếp quan Toàn quyền Đông Dương. Các quan lớn đại triều được yêu cầu phải mời cả ông thư ký đồng bang là ông Tươi.

Các quan trong triều tức nổ đóm mắt vì ghen tị, bèn rằng thưa lễ nghi Annam định rằng: muốn được ngồi yến cùng vua buộc phải có phẩm hàm cỡ Thượng thư hay chí ít cũng phải hàng Tổng đốc mới được dự. Tưởng rằng mách vậy là đủ hất cẳng kẻ muốn vượt mặt quan ta, ai ngờ quan Toàn quyền tưng tửng buông một câu mà như hắt nước vào mặt vương triều Annam: “Eh bien! Faites le nécessaire. Nommez – le Tổng đốc! C’ est moi qui signhe! (Tốt thôi! Vậy hãy làm giấy phong y ta hàm Tổng đốc! Chính tao sẽ ký!).

Nhờ vậy mà xứ Nam kỳ có thêm một "của hiếm" là ông Tổng đốc hiền lành và mẫn cán Phạm Văn Tươi xứ Vĩnh Long. Trước đó xứ Nam kỳ chỉ có hai ông được phong hàm tổng đốc là Đỗ Hữu Phương và Trần Bá Lộc, cả hai đều theo đạo Chúa, làm chó săn cho Tây và thẳng tay đàn áp những người Việt yêu nước. Riêng Trần Bá Lộc thì thật quá sức tàn ác, giết hàng trăm, hàng ngàn người vô tội, bỏ trẻ con, người già vào cối đá cho lính dùng chày giã, bắt người thân nạn nhân chứng kiến cảnh hãi hùng ấy…

Trong Sài Gòn năm xưa, cụ Vương Hồng Sển tả về nhân vật này: “Ông (ám chỉ Lộc), người khô ráo dỏng dảy, môi mỏng, cặp mắt có sát khí. Ông ta bắt được địch thủ, nhứt quyết không cầm tù, chỉ chặt đầu y như quân lịnh: chém người như chém chuối, chém không chừa con đỏ. Chính Toàn quyền Paul Doumer còn phải hạ một câu xác đáng: "Nếu muốn (nhơn nghĩa)...thì thà đừng sai hắn (ám chỉ Lộc) cầm binh!”. 

"Ngày nay còn nghe nhắc đến những phương pháp quá bạo tàn:

Để đối phó với các địch binh không khứng ra quy thuận và thường ẩn mình nơi thâm sâu cùng cốc, có một cách tuyệt đối:

Sai bắt cha mẹ vợ con của người ấy, đóng gông cầm tù. Một mặt bố cáo trong ngoài kỳ hạn bao nhiêu ngày, phải ra nạp mạng.

Bằng không thì:

- Cha, mẹ, và vợ, bêu đầu làm lịnh;

- Trẻ con thì bỏ vào lòng cối giã gạo, sai lính dùng chày lớn quết như quết nem!

- Đối với phạm nhơn tội không đáng chết, có khi cũng cho thân nhơn lãnh về. Mà đây là một đau lòng khác nữa.

Trò chơi ác độc là bỏ người đàn ông vào nóp lá nóp bàng, mỗi người một nóp may bít đầu đuôi, chỉ chừa một lỗ để lọt "bộ đồ kín" ra ngoài, đàn bà nào nhìn được "của riêng" thì lãnh được chồng về!...

Dẹp xong giặc, được thăng Tổng Đốc và được ban Đệ Tam Đẳng Bắc Đẩu Bội Tinh (Commandeur de la Légion d'Honneur), nhưng chim dữ hết thì ná treo đầu tường, Pháp ngán nên không dùng nữa.

Năm 1899, toàn quyền Doumer thân hành từ Sài Gòn đỗ đường xuống nhà thăm, thì đã gần miền (gần chết), chỉ mấy tháng sau là nhắm mắt. Lạ kỳ là trối trăng dạy "chôn đứng". Ma chay linh đình mấy chục ngày dài, mỗi bữa ngả bò vật heo thết trên ngàn miệng ăn. Quan tài đặt xuống huyệt có lính tập bồng súng chào, đủ mặt quan Lang Sa dự đám (Paul Doumer. -Souvenirs, trương 59-62)".

Tuy có nhiều ưu ái với Lộc, như  cử Lộc tham gia Hội đồng cao cấp Đông Dương (tháng 8-1898) và cho theo tháp tùng trong chuyến Toàn quyền viếng Xiêm La (1899), nhưng trong hồi ký L’Indo- Chine Française (Souvenirs) nơi trang 71, khi đánh giá về Trần Bá Lộc, Doumer hạ chữ “un serviteur de la France”, vừa khen vừa khinh bỉ. Khen là khen Lộc trung thành với “mẫu quốc” và khinh ở chỗ coi y như loại tôi tớ (nghĩa sát của serviteur).

Đoạn này, khi trích dịch lại trong cuốn Dỡ mắm, Cụ Vương Hồng Sển viết:

“Nhớ lại khi nói về Trần Bá Lộc, Toàn quyền viết tít (titre) thật lớn: “Un serviteur de la France”, phải dịch sao đây? Dịch “công thần của Pháp quốc” là văn hoa và nịnh. Dịch sát và dễ hiểu: “một thằng mọi của Tây”, serviteur là đày tớ, chứ gì? Dịch như vậy, mới sướng, ai chê, xin dịch thử.

Công lao bỏ sông bỏ biển, khi chết Lộc làm ma vật bò vật trâu, thết tiệc rình rang, ăn dộng ngót tháng chưa dứt, trối xin xác để đứng. Lộc mình cao 1,80m, mồ mả Cái Bè còn đâu? Con trai của Lộc, là Trần-Bá-Thọ, học ở Pháp về, cũng đốc-phủ đường-quan, nhưng chết vì mũi súng lục tự bắn vào đầu. Cháu con làm đến bác-sĩ, trưởng ngân-khố, nhưng rồi đều chết yểu chết non, sút huyết.”  

Cũng trong cuốn này (hồi ký L’Indo-Chine Française (Souvenirs)) nơi trang 198 có đoạn kể chuyện Paul Doumer chơi khăm tên Việt gian đại ác Nguyễn Thân ra sao. Nguyễn Thân, khi ấy là nhân vật số ba trong triều đình (le troisième régent), vừa là thày vua (Phụ chính đại thần cùng ông Nguyễn Trọng Hiệp và Hoàng Cao Khải) lại thêm còn là bố vợ của vua Thành Thái. Cũng vì thế mà Nguyễn Thân được triều đình Huế giao cho “trọng trách” hộ giá quan Toàn quyền Đông Dương trong một chuyến đi của Doumer từ Huế ra Đà Nẵng. Cụ Vương Hồng Sển thuật lại câu chuyện trong cuốn Dỡ mắm (NXB Trẻ – 2014) như sau:

“Nguyễn Thân bày có tàn-quạt-lọng-nhạc như vua ta ngự giá tuần du nhưng Doumer đã không thích nhạc lại chê võng chậm, làm trễ thì giờ, như vậy làm sao kịp tàu biển thuận buồm xuôi gió, vì thế Doumer đã lén phi nước lớn, cùng cận-vệ thần, thiếu tá Nicolas, hai người hai ngựa, chạy bay tới trước, để lại Nguyễn Thân, kèn – nhạc – võng – hiệu, rình rang rước tên bộ-hạ lính hạng nhì, tên là Picard, thiếu tá đem theo làm tùy tùng, nay nó nghiễm nhiên đổ thừa không cưỡi ngựa được và một mình nằm võng cho quân lính ta khiêng nó đi, lên đèo xuống dốc, trống đánh lọng che suốt quãng đường dài. Mỗi lần bọn nhạc thổi kèn chạy theo chân ngựa, thì Doumer khoát tay ra dấu, nhạc bèn day qua bám sát Picard nghênh ngang võng lọng, mà cố nhiên trong khi ngôn ngữ bất đồng, ai đời chạy theo thằng cưỡi ngựa, và ông nằm võng kia há không phải thượng-quan trọng-thần nước Pháp mà mình có lịnh phải tiếp đón thật long trọng hay sao? Cố nhiên ông Nguyễn-Thân đại-thần trào-đình cũng lầm ngay, và hôm ấy nịnh Doumer mà che lọng cho thằng đánh giày lính Pháp”.

Vẫn cụ Vương tiếp: "(Viết đến đây, tôi không thể cười được, nhục ôi là nhục, và nhớ lại bắt sợ cái ông quyền uy sất-sá nầy (chỉ Doumer), nét chơi của ông mới độc-địa làm sao. Ai nói tánh ông dễ dãi vui vẻ, chớ riêng tôi, tôi thấy rờn-rợn nổi ra gà). (trương 198 Souvenirs dẫn thượng)".

Nhắc lại thời Đù me đại nhân làm toàn quyền Đông Dương, ba miền Nam, Trung, Bắc có ba “cụ” Annam khét tiếng thuộc loại đại chó săn trong việc tận sát người Việt yêu nước. Đó là Trần Bá Lộc ở Nam kỳ, Nguyễn Thân ở Trung kỳ và Hoàng Cao Khải ở Bắc kỳ.

“Thố tử, tẩu cẩu phanh" (hết thỏ bỏ chó vào nồi), Hoàng Cao Khải, người đại diện của chính quyền Huế tại Hà Nội đã bị Doumer đá đít ra khỏi chức vụ Phó vương (nhất vua, nhì Khải), ngay năm đầu tiên ông nhậm quyền (ngày 26-7-1897) và thay chức Kinh lược sứ của Khải bằng một ông Thống sứ Tây, là Augustin Fourès. Còn thân phận chó săn chim mồi của Trần Bá Lộc và Nguyễn Thân phần nào bộc lộ qua ngòi bút Paul Doumer cũng chẳng hơn gì, như những chuyện đã kể ở trên. 

Vậy mới biết cái giống “khuyển mã chí tình” mà từ bậc tiên sư là ba “cụ” dẫn trên cho chí mấy nhà “hoạt động rân trủ” thời nay đang thở than tiếc nuối “những nền văn minh bị bỏ lỡ” thế nào cũng có ngày bị chủ xích ra cột điện. À mà nói ra thì đụng chạm và nói nữa bằng thừa, vì số phận cái “cụ” “hồn nhiên” tuyên bố “biên giới nước Mỹ kéo dài đến vĩ tuyến 17” bị ông chủ Hoa kỳ “xử” ra sao thì ai cũng biết...

Nịnh chủ thế này mới "siêu", các ông "khuyển mã chí tình" ạ!

Nhưng đây là kết cục...

Nguồn Cụ Lý

Đang xem 744

Hôm nay 1,911

Tổng lượt xem 15,456,964