THỜI GIAN LÀM VIỆC 24/24
 

HOTLINE : (028) 6270 0119 - (028) 2215 4274
0982 120 908 - 090 371 5529 - 0933 161 985
Cơ sở 1: 245 Bình Quới (1051 Xô Viết Nghệ Tỉnh - số cũ) - P.28 - Q.Bình Thạnh - Tp.HCM
Cơ sở 2: 978 Nguyễn Duy Trinh - P. Phú Hữu - Q.9 - Tp.HCM

TRUNG TÂM ĐIỀU DƯỠNG VÀ CAI NGHIỆN MA TÚY THANH ĐA 
Địa chỉ : 1051 Bình Quới (Xô Viết Nghệ Tĩnh) - P.28 - Q.Bình Thạnh - Tp.HCM
Điện thoại: (028).38986513 - 38986515(Ext:12) - (028).22154274 - MST: 0301910027

thieulongtexas.blogspot.com

Toàn cảnh cuộc đối đầu lịch sử Việt - Mỹ 1954-1975 - Kỳ 2

Mục lục:

Tóm lược quan hệ Việt - Mỹ trước khi cuộc chiến giữa hai nước xảy ra

Giai đoạn 1954-1961

1. Mỹ từng bước thay thế Pháp

2. Tố Cộng - Diệt Cộng

3. Chương trình bình định nông thôn

3A. Khu trù mật - Ấp chiến lược

4. Đường Trường Sơn - Đường mòn Hồ Chí Minh

5. Hệ thống địa đạo

6. Khởi nghĩa Trà Bồng

7. Phong trào Đồng khởi

8. Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam được thành lập

Chiến lược chiến tranh đặc biệt của Mỹ ở miền Nam Việt Nam (1961-1965)

1. "Thay ngựa giữa dòng"

Chiến lược chiến tranh cục bộ của Mỹ ở miền Nam Việt Nam (1965-1968)

1. Tổng tấn công và nổi dậy xuân Mậu Thân

1A. Mặt trận Sài Gòn

1B. Mặt trận Huế

1C. Tấn công và nổi dậy đợt 2

1D. Tấn công và nổi dậy đợt 3

Các chiến dịch chiến tranh phá hoại của Mỹ ở miền Bắc Việt Nam (1965-1972)

1. Chiến dịch Rolling Thunder (Sấm Rền)

2. Chiến dịch Linebacker

3. Chiến dịch Linebacker II - Điện Biên Phủ trên không

Chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh của Mỹ ở miền Nam Việt Nam (1968-1973-1975)

Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam được thành lập

1. Cuộc nổi dậy xuân Kỷ Dậu 1969

2. Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào

3. Chiến dịch Xuân - Hè

Mỹ rút đại quân và phá hoại hiệp định Paris 1973 về chấm dứt chiến tranh, tổ chức bầu cử thành lập chính phủ mới ở miền Nam Việt Nam

Những cố gắng cuối cùng của Mỹ ở miền Nam Việt Nam (1973-1975)


-----------------------------------------------------------------------

Trong lịch sử hàng ngàn năm chống ngoại xâm, trước khi có cuộc đụng độ lịch sử với Hoa Kỳ, dân tộc Việt Nam đã từng đứng trước 3 kẻ khổng lồ có sức mạnh vô địch, áp đảo và vô cùng tàn bạo, tưởng chừng không thể chống đỡ nổi: 10 nămchống quân đội Tần Thủy Hoàng (218 TCN-208 TCN), ba lần chống quân Mông Cổ (1257-1258, 1284-1285, 1287-1288), 96 năm chống thực dân Pháp (1858-1954).


Quân Tần cực kỳ tinh nhuệ, được xem là đội quân vô địch trong thời điểm đó. Họ gồm thâu 6 nước, thống nhất Trung Hoa, sau đó đem quân Nam tiến, lần lượt chinh phạt thành công các tộc Bách Việt, sau đó tiến đến lãnh thổ Âu Việt. Người Âu Việt dưới sự lãnh đạo của Thục Phán và Dịch Hu Tống, lui vào rừng núi tiến hành chiến tranh du kích và chống trả kiên cường. Sau 10 năm chinh chiến, tình trạng quân Tần lúc này theo sách cổ Sử Ký của Tư Mã Thiên mô tả là: "Đóng binh ở đất vô dụng. Tiến không được, thoái không xong. Đàn ông mặc áo giáp, đàn bà phải chuyên chở, khổ không sống nổi. Người ta phải thắt cổ trên cây dọc đường. Người chết trông nhau." Quân Tần bị tổn thất nặng nề, sách cổ Hoài Nam Tử của Lưu An mô tả: "Thây phơi máu chảy hàng chục vạn người". Tại Trung Nguyên, Tần Thủy Hoàng qua đời, Tần Nhị Thế kế vị và ra lệnh bãi binh vào năm 208 TCN.


Thành Cát Tư Hãn từng gọi đội binh mã thiện chiến của mình là: "Vó ngựa Mông Cổ lướt tới đâu, cỏ ở đó không mọc nổi." Đây là đội quân xâm lược bành trướng thế giới tàn bạo nhất trong thế kỷ 13. Quân đội này đã diệt các nước lớn như Hạ, Kim, Tống, thôn tính Trung Hoa, khuất phục Triều Tiên. Kéo quân gieo rắc ác mộng khắp thế giới, kể cả Trung Đông, châu Âu và Nga, khiến cho những nước phương Tây phải kinh hoàng. Đội quân kỵ xạ và kỹ thuật cưỡi ngựa bắn tên của kỵ binh Mông Cổ là vô địch và hầu như bất khả chiến bại. Tuy nhiên, khi hơn 70 vạn quân Mông Cổ (Lần thứ nhất: 3 vạn quân. Lần thứ hai: 20 vạn quân. Lần thứ ba: 50 vạn quân) kéo vào Đại Việt dưới sự chỉ huy của thái tử Thoát Hoan (Toghan) và các danh tướng từng gieo rắc sợ hãi cho 1/3 thế giới như Ô Mã Nhi (Omar) và Toa Đô (Suodu).... thì họ đã bị thua to dưới tay thiên tài quân sự Trần Hưng Đạo và quân dân Đại Việt.


Năm 1858, liên quân Pháp - Tây Ban Nha chính thức xâm lược Đại Nam. Với khoảng cách quá xa về trình độ dân trí, phương thức sản xuất và tiềm lực kinh tế quân sự, quân Pháp hầu như dễ dàng đánh đâu thắng đó. Năm 1886, sau khi hoàn toàn đánh bại quân chủ chiến triều Nguyễn, quân nhà Thanh và quân Cờ Đen, Pháp chính thức thiết lập ách thống trị thực dân kiểu cổ điển trên toàn cõi Việt Nam. Bắc Kỳ và Trung Kỳ được xem là xứ "bảo hộ" với triều đình Huế bù nhìn. Nam Kỳ bị xem là xứ thuộc địa chính thức thuộc chủ quyền của Pháp. Năm 1945, quân đội Nhật đảo chính Pháp. Năm 1946, Pháp quay lại tái chiếm Đông Dương. Cuộc kháng chiến chống Pháp nổ ra và kết thúc sau chiến dịch Điện Biên Phủ và sự ký kết của Hiệp định Genève 1954, gần 20 vạn quân Pháp và gần 30 vạn quân ngụy đã bị thất bại trước chủ tịch Hồ Chí Minh, đại tướng Võ Nguyên Giáp, và quân dân Việt Nam, Pháp chính thức công nhận sự độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của 3 nước Đông Dương. Chiến dịch Điện Biên Phủ là chiến thắng quân sự lớn nhất trong cuộc trường kỳ kháng chiến chống thực dân suốt 96 năm của Việt Nam. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử thế giới, một thuộc địa phương Đông thắng cuộc trước một đế quốc phương Tây. Sau sự kiện này, các thuộc địa khác trên thế giới, nhất là ở Á - Phi cũng noi gương đồng loạt nổi dậy.


 

oOo



Thế kỷ 20 nổi lên một thế lực hùng mạnh bậc nhất: Hoa Kỳ, với một thế lực chính trị, quân sự, kinh tế và văn hóa có ảnh hưởng lớn nhất thế giới. Theo tư tưởng Vận mệnh hiển nhiên, Hoa Kỳ đã bắt đầu cuộc bành trướng lãnh thổ mạnh mẽ trên khắp Bắc Mỹ trong thế kỷ 19, bao gồm các hành động xâm lược, diệt chủng, thiết lập chế độ thuộc địa trên các đất đai mới, đến khi thuộc địa đó hội đủ điều kiện thì nhập vào liên bang Hoa Kỳ (như Hawaii, Alaska).

Đến cuối thế kỷ 19, biên giới Hoa Kỳ đã kéo dài đến Thái Bình Dương, và trở thành nền kinh tế lớn nhất thế giới. Chiến tranh Tây Ban Nha-Hoa Kỳ và Thế chiến I đã xác định vị thế cường quốc quân sự toàn cầu của Mỹ. Thế chiến II đã xác định vị thế siêu cường toàn cầu của Hoa Kỳ, là quốc gia đầu tiên phát triển vũ khí hạt nhân, và là thành viên thường trực của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc.

Từ thời lập quốc đến năm 1924, quân đội Mỹ đã trải qua hơn 100 cuộc chiến tranh xâm lược, bình định, và hàng vạn trận chiến lớn nhỏ trong quá trình chinh phục, xâm chiếm, diệt tộc, cướp đất đai của các lực lượng bản địa. Các chủng tộc, dân tộc bản xứ trước đó có hàng chục triệu người, sau hơn 100 cuộc chiến chỉ còn lại chừng mấy trăm ngàn người.

Từ năm 1776 đến năm 1973, quân đội Mỹ đã bình định và dẹp tan khoảng 30 cuộc khởi nghĩa chống chế độ nô lệ, sưu cao thuế nặng và bất công giai cấp.

Từ năm 1835 đến năm 1932, quân đội Mỹ đã tham chiến trong gần 10 cuộc chiến tranh xâm lấn, cướp đất, xung đột quân sự biên giới.

Từ năm 1798 đến 1953, quân đội Mỹ đã chiến đấu trong hơn 10 cuộc chiến tranh ở hải ngoại, đánh đến châu Âu, châu Mỹ Latinh, châu Phi, châu Á và các quần đảo ngoài biển. Bao gồm hai cuộc Chiến tranh Thế giới.

Trong số khoảng 150 cuộc chiến lớn nhỏ đó, quân đội Hoa Kỳ chưa 1 lần thua cuộc.

Cuộc đọ sức lịch sử giữa một trong những dân tộc đánh bại nhiều kẻ thù xâm lược nhất với một quân đội đánh bại nhiều đối thủ nhất, bắt đầu.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong bài tham luận "Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, thắng lợi vĩ đại, bài học lịch sử" trong hội thảo khoa học "Đại thắng mùa Xuân 1975 - Bản lĩnh và trí tuệ Việt Nam" do Bộ Quốc phòng, Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh và Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương tổ chức trong hai ngày 14 và 15 tháng 4 năm 2005 đã gợi nhớ và nhấn mạnh lại thời khắc dầu sôi lửa bỏng này:"Dân tộc Việt Nam đứng trước một khó khăn, thử thách chưa từng thấy trong lịch sử".... và.... "Cuộc kháng chiến chống Mỹ là thử thách lớn nhất, ác liệt nhất đối với dân tộc ta. Chúng ta đã phải đương đầu với đế quốc hùng mạnh nhất, giàu có nhất, tàn bạo, nham hiểm và hiếu chiến nhất. Cuộc chiến tranh kéo dài qua năm đời tổng thống Mỹ với một tương quan lực lượng chênh lệch nhất trong lịch sử chống ngoại xâm của dân ta về phương thức sản xuất và tiềm lực kinh tế quân sự."

Tóm lược quan hệ Việt - Mỹ trước khi cuộc chiến giữa hai nước xảy ra

Năm 1787, hoàng tử Nguyễn Phúc Cảnh, sau này là thái tử của vua Gia Long, theo Giám mục Bá Đa Lộc (Pigneau de Béhaine) sang Pháp và đã gặp tổng thống thứ ba của Hoa Kỳ là Thomas Jefferson, khi ông đang là Công sứ Toàn quyền Hoa Kỳ tại nước Pháp. Cuộc gặp gỡ này được một số nhà nghiên cứu sử học xem là cuộc tiếp xúc "chính thức" giữa triều Nguyễn và liên bang Hoa Kỳ.

Công sứ Jefferson là một người đa tài, đam mê nghiên cứu về nông nghiệp đã chủ động đến gặp hoàng tử Cảnh với mong muốn tìm được giống lúa thích hợp cho vùng Carolina trên đất Mỹ. Tuy nhiên, mong muốn của Jefferson đã không thành hiện thực khi vị hoàng tử nhỏ tuổi hồi hương.

Trong chuyến hành trình đến vùng biển châu Á năm 1845, chiến thuyền Constitution (thường gọi là Old Ironsides) của Hoa Kỳ đã cập bến Đà Nẵng. Thuyền trưởng là John Percival liên lạc với các quan địa phương xin được tiếp xúc với triều Nguyễn để đặt mối giao hảo. Được tin, vua Thiệu Trị tại Huế cử viên ngoại lang Nguyễn Long đi hỏa tốc vào Đà Nẵng hiệp cùng Kinh lịch thuộc viên ở tỉnh là Nguyễn Dụng Giai đến thăm hỏi, làm việc với Percival.

Nhưng thay vì gây thêm cảm tình, Percival khi nhận được thư cầu cứu của giám mục Dominique Lefebvre đang bị giam cầm, thì lập tức chiếm đoạt lấy 3 chiến thuyền và một số người làm con tin, đòi nhà chức trách phải thả Lefebvre. Sự việc không giải quyết được, Percival sai nổ súng bắn lên bờ rồi nhổ neo ra khơi ngày 16 tháng 5, khiến tình hình thêm rắc rối.

Năm 1873, Bùi Viện được vua Tự Đức cử sang Mỹ như một "đại sứ đặc mệnh toàn quyền" để cầu viện chống Pháp. Bùi Viện sau đó đã đi qua Yokohama (Nhật) để đáp tàu sang Mỹ. Tổng thống Ulysses Grant (nhiệm kỳ 1868-1876) lúc này chưa có nhu cầu chống Pháp, thấy không có lợi lộc gì và có lẽ sợ ảnh hưởng quan hệ với Pháp, nên không muốn tiếp kiến. Bùi Viện tiếc công đi xa nên lưu lại Mỹ 1 năm kiên nhẫn chờ gặp. Đến khi Pháp và Mỹ đụng độ trong trận chiến ở Mexico thì Grant mới hỏi đến Bùi Viện. Nhưng sau đó Mỹ - Pháp xuống thang xung đột ở Mexico, Grant viện lý do Bùi Viện không mang theo quốc thư rồi từ chối giúp đỡ. Vì vậy, ông lại quay về Việt Nam trở lại kinh thành Huế.

Có được thư ủy nhiệm của vua Tự Đức, Bùi Viện lại xuất dương một lần nữa. Sau những chuyến hải hành khổ sở với các tàu thủy lạc hậu thời đó, năm 1875, Bùi Viện lại có mặt tại Hoa Kỳ. Có trong tay quốc thư nhưng lại gặp lúc Mỹ và Pháp đã giảng hòa nên Ulysses Grant lại "đuổi khéo" sứ giả.

Năm 1919, Nguyễn Ái Quốc đại diện hội Những người An Nam yêu nước gởi bản Yêu sách của nhân dân An Nam đến Hội nghị Hòa bình Versailles cho tổng thống Mỹ Woodrow Wilson nhưng không được trả lời.

Đầu những năm 1940, cơ quan OSS (tiền thân của CIA) của Mỹ đã giúp đỡ Việt Minh thuốc men và một số vũ khí để chống Nhật, đối tượng lúc ấy là kẻ địch của cả Mỹ và Việt Nam. Việt Minh giúp đỡ lực lượng Mỹ về tin tức tình báo và giúp cứu các lính Mỹ rồi chuyển giao cho người Mỹ.


Quân Pháp đi lại trên kinh rạch ở Cà Mau

Trong chiến tranh Pháp - Việt (1945-1954), Mỹ đã đứng sau ủng hộ Pháp chiếm lại thuộc địa. Năm 1950, Mỹ bắt đầu nhúng tay can thiệp sâu vào Việt Nam, họ viện trợ tiền bạc và vũ khí cho Pháp.

Cũng trong năm này, người dân Sài Gòn dưới sự lãnh đạo của Đảng và Mặt trận Việt Minh đã biểu tình chống hai tàu chiến Mỹ là Anderson và Stickon cập bến Sài Gòn để giúp chuyên chở lính Pháp. Một đơn vị Quân đội Nhân dân Việt Nam đã nã súng cối vào các tàu đang nêu đậu trên sông. Hai tàu chiến Mỹ rút neo rời khỏi Sài Gòn. Đây là cuộc biểu tình chống Mỹ đầu tiên của người dân Việt Nam.


Tàu chiến Mỹ cập cảng Sài Gòn

Đến cuối chiến tranh, Mỹ đã cáng đáng 78% chi phí chiến tranh, lên đến trên 1,5 tỷ USD. Đa phần các vũ khí mà quân đội Việt Nam tịch thu được cho đến thời điểm này chính là vũ khí của Mỹ. Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, Mỹ đã trực tiếp chở khoảng 16 ngàn quân Pháp vào Điện Biên Phủ và hỗ trợ không quân cho Pháp.

Nhưng cuối cùng, công thức viện trợ Mỹ - viễn chinh Pháp - quân bản xứ đã phá sản trong cuộc chiến tranh xâm lược Đông Dương của thực dân Pháp. Pháp đành phải ngồi vào bàn đàm phán tại hội nghị Genève về Đông Dương, công nhận nền độc lập của 3 xứ Đông Dương, rút quân trong 2 năm, ấn định tổ chức tổng tuyển cử thống nhất Việt Nam vào năm 1956.


Tướng Pháp Charles Chanson mở tiệc "gắn lon" cho các sĩ quan ngụy ở một con tàu trên sông Hậu.

Giai đoạn 1954-1961

1. Mỹ từng bước thay thế Pháp


Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm nhìn thấy ý đồ của Mỹ ngay từ cuối cuộc kháng chiến chống Pháp. Sau đại thắng Điện Biên Phủ, trong khi quân dân và cán bộ đảng viên ai nấy đều vui mừng phấn khởi thì Bác Hồ lại ưu tư và cẩn thận nhắc nhở đại ý: Thắng lợi tuy lớn nhưng mới là bắt đầu. Chúng ta còn phải đánh Mỹ!

Sau khi Pháp buộc phải ký hiệp định Genève 1954. Bác Hồ nói với các đồng chí đại ý: Hội nghị ký hiệp định Genève thành công, nhưng chắc chắn sẽ làm cho người Việt Nam chưa vừa ý. Người Pháp có câu "Ai trả tiền, kẻ đó là chủ". Mỹ sẽ thay thế Pháp, chúng ta phải có sự chuẩn bị để đối phó với Mỹ.

Như vậy, trong khi mọi người, kể cả các lãnh đạo cao nhất cho rằng đây là thời điểm kết thúc cuộc chiến, thì Bác Hồ lại trầm tư đề tỉnh mọi người rằng chiến tranh chỉ mới bắt đầu, đây là thời điểm bắt đầu cuộc chiến mới.

Đến tháng 7 năm 1954, tại Hội nghị Trung ương lần thứ 6 họp trước khi Hiệp định Genevè được ký kết mấy ngày, thì lúc đó Đảng và Bác Hồ đã đi tới kết luận: Đế quốc Mỹ đang trở thành kẻ thù chính trực tiếp của nhân dân Đông Dương.

Từ đó, Đảng và Bác Hồ đã xác định đường lối cách mạng trong giai đoạn này như sau: Tiến hành đồng thời hai chiến lược cách mạng ở hai miền nhằm mục tiêu chung là chống Mỹ cứu nước, giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, thống nhất đất nước.

Theo đó, mối quan hệ chiến lược giữa hai miền là: Xây dựng miền Bắc để tạo sức mạnh giải phóng miền Nam, miền Nam đẩy mạnh đấu tranh để giải phóng bản thân và cũng để bảo vệ miền Bắc. Miền Bắc có vai trò quyết định, miền Nam có vai trò trực tiếp.

Ngày 23 tháng 7 năm 1954, nội dung văn bản hiệp định được các Đảng bộ miền Nam phổ biến cho đồng bào: Việt Nam được hội nghị quốc tế long trọng công nhận độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ. Nhưng trước mắt đất nước phải tạm chia thành hai vùng tập kết quân sự. Miền Bắc đến vĩ tuyến 17 được hoàn toàn độc lập. Miền Nam còn thuộc quyền quản lý của Pháp. Quân đội mỗi bên phải tập kết về vùng của mình quản lý. Sau 2 năm Pháp sẽ rút đi hết và dân Việt sẽ tổ chức tổng tuyển cử trên cả nước để thực hiện thống nhất. Trong thời gian chờ tuyển cử, cấm mọi phân biệt đối xử, trả thù những người đã tham gia phía đối lập, mỗi bên phải bảo đảm thực hành tự do, dân chủ, cải thiện dân sinh.

Các công sở ngụy quyền và các sĩ quan, binh lính, tề, xã, ấp, nhân viên ngụy quyền của Pháp ở miền Nam thì vui mừng, vì họ thấy vẫn còn "giữ ghế" được, vẫn còn được an vị làm "phụ mẫu chi dân", vẫn còn các đặc quyền đặc lợi.

Trong niềm vui chung hòa bình được lập lại thì nhiều người dân miền Nam không tránh khỏi nỗi lo: Hiệp định quy định rõ ràng như vậy nhưng liệu quân giặc có chịu thực hiện không? Vì bản chất của thực dân là vẫn vậy không thay đổi, "giang sơn dễ đổi, bản tính khó thay".

Tại miền Nam, Mỹ nhận lấy chính quyền "Quốc gia Việt Nam" (État du Viêt Nam) của thực dân Pháp. Năm 1955, thay đổi người đứng đầu, đưa "thủ tướng" của "Quốc gia Việt Nam" là Ngô Đình Diệm lên thay Bảo Đại, đổi tên "Quốc gia Việt Nam" thành "Việt Nam Cộng hòa" (Republic of Vietnam), bắt đầu các chuỗi hành động hất cẳng quyền lực của Pháp ra khỏi miền Nam Việt Nam.

Đầu tiên là ngày 23/10/1955, Mỹ-Diệm dàn dựng cuộc "trưng cầu dân ý" gian lận. Cho cảnh sát gõ cửa từng nhà đe dọa và ép người dân đi bầu, bắt giam những người chống lại, cho dân Công giáo di cư 1954 (vốn nhiều người chống cộng và ủng hộ gia đình Diệm) đi đầu "bỏ phiếu" rồi quay phim chụp hình để quảng cáo hình ảnh Diệm với quốc tế.

Ngày 6 tháng 10, "thủ tướng Quốc gia Việt Nam" Ngô Đình Diệm tuyên bố quyết định mở cuộc "trưng cầu dân ý". Các cơ quan truyền thông do Mỹ cấp chi phí và điều khiển cũng bắt đầu những chiến dịch truyền truyền bôi bác Bảo Đại và ca ngợi "thủ tướng" Ngô Đình Diệm, với những khẩu hiệu phát đi phát lại như: "Phiếu đỏ ta bỏ vô bì - Phiếu xanh Bảo Đại ta thì vứt đi.

Đó là vì có 2 lá phiếu: Một xanh, một đỏ. Lá màu đỏ in hình Ngô Đình Diệm với câu:"Tôi bằng lòng truất phế Bảo Đại và nhìn nhận ông Ngô Đình Diệm làm Quốc trưởng Quốc gia Việt Nam với nhiệm vụ thiết lập một chế độ dân chủ". Lá xanh in hình Bảo Đại thì có câu: "Tôi không bằng lòng truất phế Bảo Đại và không nhìn nhận ông Ngô Đình Diệm làm Quốc trưởng Quốc gia Việt Nam với nhiệm vụ thiết lập một chế độ dân chủ".

Ngày 23 tháng 10 năm 1955, việc bỏ phiếu được diễn ra và trở thành trò hề vì ban tổ chức đã sắp xếp để Ngô Đình Diệm tuyệt đối thắng. Ngô Đình Diệm "đắc cử" với "98,2%" số phiếu. Đại tá CIA Edward Lansdale trước đó đã bảo Diệm rằng: "Trong lúc tôi đi vắng, tôi không muốn bỗng nhiên nhận được tin rằng ông thắng 99,99%. Vì nếu như thế thì biết đó là kế hoạch sắp đặt trước".

Đại tá Lục quân Hoa Kỳ, tiến sĩ Spencer C. Tucker trong sách Encyclopedia of the Vietnam War (Bách khoa thư Chiến tranh Việt Nam) do ABC-CLIO xuất bản năm 2000 và sử gia Stanley A. Karnow trong sách Vietnam: A history (Việt Nam: 1 lịch sử) do Penguin Books xuất bản năm 1997, đã ghi nhận cái gọi là "trưng cầu dân ý" này còn có những gian lận vụng về lộ liễu khác, như ở Sài Gòn, Diệm công bố được "605.025" phiếu trong khi khu vực này có chưa tới 450.000 cử tri ghi tên.

Sau khi hoàn thành vụ lừa đảo chính trị, Diệm công bố rằng có đến "98,2%" số phiếu ủng hộ ông ta, kết quả là Bảo Đại, tay sai trung thành của Pháp bị phế truất. Còn Ngô Đình Diệm, tay sai của Mỹ lên đứng đầu và tự xưng là "tổng thống". "Quốc gia Việt Nam" đổi tên thành "Việt Nam Cộng hòa".

Ngày 13/1/1955, Diệm công bố chính thức trên truyền thông rằng Hoa Kỳ từ nay có toàn quyền về vấn đề tổ chức và huấn luyện quân đội Sài Gòn. Ngày 12/2/1955, trong một cuộc họp báo, Ngô Đình Diệm công bố từ nay trở đi tướng John O'Daniel sẽ huấn luyện cho các lực lượng quân đội.

Trước mặt đại diện Hoa Kỳ, các sĩ quan người Việt tổ chức đốt tượng trưng quân hàm, quân hiệu của quân đội Pháp mà họ vẫn đeo tại sân Bộ Tổng tham mưu. Thay vào đó là những phù hiệu kiểu mới của quân đội Mỹ.

Cuối tháng 4/1956, người lính Pháp cuối cùng rút khỏi miền Nam Việt Nam. Mỹ gây sức ép bắt Pháp bàn giao lại phi cơ, tàu thủy, xe cơ giới, dụng cụ chiến tranh cho quân đội ngụy đang được Mỹ tổ chức và huấn luyện.

Phái bộ huấn luyện quân sự hỗn hợp của Pháp - Mỹ (TRIM) trước đây đã chuyển thành "Phái bộ huấn luyện tác chiến lục quân" (CATO - Combat army training organization) gồm toàn người Mỹ. Tháng 9/1955 Mỹ chỉ có 351 sĩ quan chỉ huy ở miền Nam, đến tháng 3/1956 đã lên 1.550 người. Cơ quan trung ương của CATO do tướng Samuel Williams quản lý, gồm 170 người: 3 cấp tướng, 49 đại tá, 68 trung tá, 50 thiếu tá phân ra nắm mọi ngành. Bên cạnh mỗi bộ tư lệnh quân khu có một đại tá và một số sĩ quan. Mỗi sư đoàn nặng có từ 6 đến 8 đại tá Mỹ, mỗi sư đoàn nhẹ có từ 3 đến 5 trung tá. "Cố vấn" Mỹ lúc này chỉ nắm cấp trung đoàn, chưa nắm cấp tiểu đoàn.

Tiếp tục lộ trình hất cẳng Pháp ra khỏi miền Nam Việt Nam, Mỹ bắt đầu từng bước gạt bỏ các lực lượng vũ trang thân Pháp, dùng "Quân lực Việt Nam Cộng hòa" diệt các lực lượng vũ trang giáo phái được Pháp mua chuộc, trả lương. Đồng thời cũng để làm sạch đi phần nào những vết nhơ, tai tiếng về quá khứ làm quan, làm "thủ tướng" cho thực dân Pháp của Diệm và gia đình.

Liên tỉnh ủy Khu Trung Nam Bộ đóng ở Rạch Tràm, thuộc xã An Lục Long, huyện Châu Thành, tỉnh Tân An và huyện Chợ Gạo, tỉnh Mỹ Tho đã họp và nhất trí như sau: Thời gian này, nội bộ giặc đang có những diễn biến phức tạp, bọn tay sai của Pháp và của Mỹ có khả năng sẽ xung đột với nhau. Bọn theo Mỹ đã mạnh lên, hơn hẳn bọn theo Pháp. Nhưng bọn theo Pháp cũng không dễ dàng đầu hàng, vì chúng có vũ trang khá mạnh, lại chiếm cứ những vùng đông dân. Chắc chắn bọn chúng sẽ đánh nhau và điều này có lợi cho cách mạng, ta cần phải lợi dụng tình hình.

Trong khi chờ chỉ đạo của Trung ương và Xứ ủy, Liên tỉnh ủy Khu Trung Nam Bộ chỉ thị cho các tỉnh theo dõi chặt chẽ tình hình và cử cán bộ đi sâu tuyên truyền, vận động đồng bào theo đạo Cao Đài, Hòa Hảo, vạch trần mục đích xâm lược của Mỹ và mục tiêu trừ tôn giáo, diệt đối lập của Diệm, đồng thời cho đồng bào thấy rõ chính sách tốt đẹp của cách mạng.

Ngày 29 và 30/3/1955, Mỹ-Diệm cho một đại đội lính dù chiếm trung tâm cảnh sát, đẩy lùi quân Bình Xuyên thân Pháp của Bảy Viễn về phía Chợ Lớn. Đồng thời mua chuộc cảnh sát trưởng Lại Hữu Sang từng làm việc cho phòng nhì Pháp, và chấm dứt quyền kiểm soát của Pháp và Bình Xuyên đối với trung tâm cảnh sát.

Đối với liên minh Cao Đài, Mỹ-Diệm dùng đô la Mỹ chiêu hàng được Trịnh Minh Thế, rồi dùng ngay Trịnh Minh Thế để đánh bại Bình Xuyên, Bảy Viễn trốn sang Pháp sống lưu vong. Sau đó Mỹ-Diệm giết Trịnh Minh Thế vì cho rằng ông này "khó bảo" và "có tham vọng".

Con trai Trịnh Minh Thế là ông Trịnh Minh Sơn ở Canada khi trả lời phóng viên Thời báo Asia là Sergei Blagov, tác giả của sách Honest Mistakes: The Life and Death of Trinh Minh The 1922-1955 (Sự sai lầm nhẹ dạ: Cuộc đời và cái chết của Trịnh Minh Thế 1922-1955) do Nova Science xuất bản năm 2001, trong bài "A tale of two assassinations: Vietnam's JFK" (1 giai thoại của 2 cuộc ám sát: John F. Kennedy của Việt Nam) đăng trên Thời báo Asia (số 22/11/2003), đã cho biết cha của ông bị bắn 2 phát súng, chứ không phải 1 phát như thông tin chính thức mà giới truyền thông Mỹ và Sài Gòn đưa ra lúc bấy giờ. Ông cho biết cha ông đã bị ám sát để ngăn chặn khả năng ông ta trở thành một nhân vật nổi bật đủ sức thách thức vai trò đứng đầu của Diệm.

Đối với lực lượng Cao Đài Tây Ninh, Mỹ cũng nhanh chóng gây chia rẽ và mua được Nguyễn Thành Phương, Lê Văn Tất. Giáo chủ Cao Đài Tây Ninh là Hộ pháp Phạm Công Tắc không chịu cộng tác với Mỹ, đã cùng bộ sậu chạy sang Campuchia lánh nạn.

Ngày 6/5/1955, Mỹ-Diệm đưa quân ngụy đi tảo thanh tàn quân Bình Xuyên ở cầu Chữ Y, cầu Nhị Thiên Đường, Xóm Củi (Chợ Lớn), quân Bình Xuyên thua chạy về Gò Công và rừng Sác. Đến ngày 24/10/1955 thì lực lượng Bình Xuyên hoàn toàn bị tiêu diệt. Riêng quân Bình Xuyên do ông Bảy Môn chỉ huy thì trước đó đã được lực lượng kháng chiến chống Mỹ thuyết phục và đã sớm rút sang Thị Vải để dựa vào cách mạng và đồng bào chống Mỹ-Diệm. Con trai của Bảy Viễn là tham mưu trưởng lực lượng Bình Xuyên cũng tử trận trong chiến dịch này.

Một tuần sau khi quân ngụy và tàn quân Bình Xuyên đánh nhau, Liên tỉnh ủy Khu Trung Nam Bộ được Bộ Chính trị Trung ương Đảng chỉ đạo: "Tìm cách duy trì lực lượng giáo phái ly khai để gây khó khăn cho Mỹ-Diệm". Ông Tư Long, Liên tỉnh ủy viên, được chỉ thị thôi làm Bí thư Tỉnh ủy Long Xuyên để về cơ quan liên tỉnh ủy, đặc trách công tác Hòa Hảo vận, ngụy vận, binh vận, chính trị vận.

Tháng 5/1955, Mỹ-Diệm bắt đầu thanh toán Hòa Hảo. Lực lượng vũ trang Hòa Hảo đến thời điểm này đã có 3 nhóm độc lập với nhau là Trần Văn Soái (Năm Lửa), Lê Quang Vinh (Ba Cụt) và Hai Ngoán. Ngày 20/5/1955, quân ngụy dưới sự chỉ huy của các "cố vấn" Mỹ tập trung lực lượng tổng tấn công vào cả ba nhóm Hòa Hảo.

Ngày 29/5/1955 nhóm của Hai Ngoán sớm đầu hàng. Hai nhóm Năm Lửa và Ba Cụt thất thế liền trốn vào Đồng Tháp Mười lập căn cứ chống Mỹ-Diệm. Cả Năm Lửa và Ba Cụt đều cử người bắt liên lạc với cách mạng để tìm kiếm sự ủng hộ.

Đây là thời cơ để cách mạng duy trì mâu thuẫn giữa Mỹ - Pháp, giữa chính quyền Diệm với lực lượng Năm Lửa - Ba Cụt, kéo dài sự tranh giành đối kháng giữa hai phe thế lực này. Cách mạng đã cử cán bộ trực tiếp gặp Năm Lửa, Ba Cụt và một số viên chỉ huy khác để tranh thủ vận động họ cùng chống Mỹ, kẻ xâm lược mới.

Mùng 3 Tết Bính Thân năm 1956, do bị đánh quá ráo riết, Năm Lửa đem 4.000 quân đầu hàng Mỹ-Diệm. Lực lượng Ba Cụt ở Kiên Giang với nòng cốt là trung đoàn Lê Quang vẫn cố chống giữ.

Đảng Cộng sản Việt Nam vận động nhân dân vì lợi ích cách mạng mà đóng góp tiền bạc và lương thực nuôi mấy ngàn quân Hòa Hảo. Nhờ sự giúp đỡ này và được cán bộ quân sự của cách mạng vốn già dặn kinh nghiệm sau 9 năm đánh Tây làm cố vấn, lực lượng vũ trang Hòa Hảo đã tồn tại và thắng được một số trận: Xảo Xáu (Giồng Riềng), Vườn Cỏ (Long Mỹ), Cây Bàng (An Biên).

Ngày 13/4/1956, Ba Cụt bị "phó tổng thống" Nguyễn Ngọc Thơ dùng tình bạn cũ lừa ra Cần Thơ để nhận chức trung tướng và bị Nguyễn Ngọc Thơ cho quân lính bắt ở Chắc Cà Đao. Đến ngày 13/7/1956 Ba Cụt bị xử chặt đầu ở Cần Thơ. Dân gian lúc đó đã ví von sự kiện này như câu chuyện Hồ Tôn Hiến lừa Từ Hải trong Truyện Kiều. Lực lượng vũ trang Hòa Hảo của Ba Cụt một số ra hàng Mỹ, số lớn tan rã, số còn lại khá đông theo về với cách mạng, gia nhập các lực lượng vũ trang kháng chiến.

2. Tố Cộng - Diệt Cộng

Sau khi tận diệt Bình Xuyên và các giáo phái, Mỹ lúc này đã yên tâm và không còn phải lo người Pháp quay lại tranh giành với mình. Mỹ-Diệm chuyển sang bình định những vùng tạm chiếm, đàn áp những phong trào đấu tranh chính trị đòi thi hành hiệp định Genève về Đông Dương, hành quân càn quét khắp thôn làng, đánh phá cách mạng, củng cố sự chia đôi Việt Nam.


Công nhân và nhân dân Sài Gòn - Chợ Lớn biểu tình chống Mỹ-Diệm (1958), bất chấp mọi ngăn cấm, trấn áp.

Họ chia dân ra làm 3 loại: "Gia đình loại A" là những gia đình kháng chiến chống Pháp cũ, gia đình có người tập kết ra Bắc, những người yêu nước, muốn hòa bình, độc lập, thống nhất. Bọn ngụy gọi chung những người này là "Việt Cộng" thay cho danh từ "Việt Minh" vốn có tiếng thơm trong dân, không cần biết họ có phải là cộng sản thật hay không. Ngụy quyền bắt phải treo bảng đỏ (hoặc bảng đen, tùy địa phương) ghi chữ "cộng sản" ngay trước cửa nhà các "gia đình loại A" để đánh dấu. Những người trong gia đình loại này thường xuyên bị phân biệt đối xử, theo dõi và quản chế gắt gao, bị tra khảo đánh đập, đối xử vô nhân đạo.

"Gia đình loại B" là những gia đình có liên hệ bà con họ hàng thân thuộc với "loại A", hay có mối liên hệ nào đó với cách mạng, thì trước nhà phải treo bảng vàng "thân cộng". Những người trong gia đình loại này mỗi tháng phải làm tờ cam kết ly khai cộng sản, thường xuyên phải đi lao động khổ sai.

"Gia đình loại C" gồm những kẻ chống cộng, thù cộng sản, có những ân oán tư thù với Việt Minh, trung thành với Mỹ-Diệm, là vây cánh tay chân của Mỹ-ngụy, nên ngụy quyền có những chính sách ưu đãi đặc biệt đối với những gia đình loại này.

Phương châm của ngụy quyền là "dựa vào loại C, đánh vào loại A làm cho loại B khiếp sợ và khuất phục".

Ngụy quyền buộc những gia đình trước đây tham gia kháng chiến chống Pháp, hay có con cháu tham gia kháng chiến phải ra trình diện nhận giấy "cán bộ hồi chánh". Họ bắt mỗi gia đình phải chụp chung một tấm hình, khai rõ họ tên, tuổi, nghề nghiệp treo trước cửa nhà.

Họ lập ra tổ chức "ngũ gia liên bảo", cột 5 đến 7 gia đình lại với nhau và phải chịu trách nhiệm kiểm soát, theo dõi, đề phòng lẫn nhau, không cho "cộng sản" đến ăn ở trong các gia đình này. 

Khái niệm "cộng sản" cũng mơ hồ, không cần phải có thẻ Đảng, những ai ăn nói giống như cộng sản, hay thậm chí chỉ cần quan điểm giống Việt Minh, ai tán thành, đồng ý với các lập luận, quan điểm của cộng sản, thì có thể được "chụp nón cối" cộng sản. Từ đó chiếc "nón cối" cộng sản thường xuyên được tùy tiện gán cho bất kỳ ai mà những kẻ ăn trên ngồi trốc muốn hãm hại, thanh toán tư thù, cướp nhà cướp ruộng hay thậm chí là cướp vợ, cướp con gái.

Họ tổ chức những cuộc đấu tố cộng sản (tố cộng), bắt người này theo dõi và tố cáo người kia, kể cả các thành viên trong gia đình, bôi nhọ Bác Hồ, Đảng và Nhà nước. Trong nhiều buổi tố cộng, họ bắt nhiều người phải dẫm lên hoặc xé ảnh Bác, quốc kỳ Việt Nam, ai từ chối không làm thì bị bắn chết ngay tại chỗ để "làm gương" hoặc bắt bớ, tra tấn vô nhân đạo trong tù. Sự cực đoan, cuồng tín, quá khích đã lên đến mức cao nhất.

Tuy nhiên, giặc càng ra sức tố cộng, diệt cộng, thì đồng bào càng ra sức bảo vệ, nuôi giấu những chiến sĩ cách mạng mặc dù điều đó nguy đến tính mạng của họ và có thể liên lụy đến gia đình, người thân. "Tao có chết chỉ thiệt mình tao, mày mà chết thì thiệt cho đồng bào.", đó là lời nói thường hay nghe ở nhiều lão nông Nam Bộ.

Ngày 6/5/1959, ngụy quyền Sài Gòn mua chuộc một số báo chí tư nhân có xu hướng chống cộng cực đoan, và cho một số báo chí "tư nhân" trá hình ở Sài Gòn tuyên truyền vận động "sát cộng", và ban hành "Luật 10/59", một đạo luật quy định việc tổ chức các tòa án kiểu phát xít để xử "tội", bắt bớ, cầm tù và hành quyết (thường là chặt đầu kiểu phong kiến, nên dân gian có câu "lê máy chém khắp miền Nam" để nói về hiện tượng này) những người chống Mỹ, yêu nước, đòi thống nhất đất nước mà họ gọi là "cộng sản".


Người dân Long An biểu tình chống luật 10/59. Mỹ-Diệm càng đàn áp bắn giết thì người dân càng không sợ và càng biểu tình chống lại, bất chấp mọi nguy hiểm.

Trước đó, từ năm 1954 đến khi "luật" này có hiệu lực đến năm 1960, đã có khoảng 466 ngàn người cộng sản và cả những người không cộng sản bị bắt, trong đó có khoảng 400 ngàn người bị tù đày, và khoảng 65 ngàn người bị giết hại ở miền Nam Việt Nam.

Trong các nhân vật "hung thần" tàn ác của nhà họ Ngô thì Ngô Đình Cẩn, em trai của Diệm, là hung tàn nhất. Cẩn bị người dân miền Trung gọi là "bạo chúa miền Trung".

Các tội ác này của chính quyền họ Ngô chẳng những không răn đe được nhiều người, trái lại càng làm người dân căm phẫn và đẩy họ về phía kháng chiến. Đồng thời các tội ác đó càng làm sôi sục, nung nấu ý chí đấu tranh, tạo thêm động lực đấu tranh của các đảng viên cộng sản, thôi thúc đồng bào theo cách mạng để giải phóng miền Nam.

3. Chương trình bình định nông thôn

Nông thôn miền Nam Việt Nam ngay từ thời tiền chiến (trước chiến tranh chống Pháp) đã luôn là căn cứ vững chắc của cách mạng Việt Nam, vì vậy nông thôn luôn là trọng điểm đánh phá của giặc. Mỹ-ngụy đã tiến hành chương trình bình định nông thôn từ năm 1955.

Chương trình do tướng John O'Daniel, trưởng Phái đoàn đào tạo huấn luyện Mỹ (TRIM) ở Sài Gòn, khởi thảo từ tháng 12/1954, sau đó, được Robert Komer, phó đại sứ Mỹ ở miền Nam Việt Nam, tiếp tục hoàn chỉnh dần. Được Ngô Đình Diệm chính thức công bố năm 1955.

Chương trình gồm có các mục tiêu cơ bản:

 

  • Tiêu diệt các lực lượng cộng sản địa phương.
  • Dùng các chương trình lợi ích công cộng để tranh thủ, lôi kéo dân, tách dân ra khỏi cộng sản.
  • Ổn định và giữ vững vị trí của Hoa Kỳ ở miền Nam Việt Nam thông qua việc củng cố vị trí của Việt Nam Cộng hòa.



Để thực hiện chương trình này, trong từng thời kỳ khác nhau, Mỹ-ngụy đã đề ra nhiều kế hoạch với những mục tiêu cụ thể, bao gồm: Kế hoạch xây dựng Khu dinh điền, Khu trù mật (1959-1961); Kế hoạch bình định nông thôn 18 tháng (Kế hoạch Staley-Taylor, tháng 7/1961 - tháng 12/1962); Kế hoạch xây dựng trại tập trung (Ấp chiến lược), hạn chế quyền tự do đi lại của dân, tách dân ra khỏi quân để "tát nước bắt cá", Ấp tân sinh (1963-1968); Kế hoạch bình định cấp tốc (1969); Kế hoạch bình định và phát triển nông thôn (1969-1970); Kế hoạch bình định và phát triển đặc biệt (1970-1971); Kế hoạch cộng đồng tự vệ, cộng đồng phát triển (1972-1975); Kế hoạch cộng đồng tái thiết, cộng đồng phát triển (1973-1974); Kế hoạch cộng đồng an ninh, cộng đồng phát triển (1974-1975).


Truyền đơn của Ban quân sự tỉnh Rạch Giá được rải ở vùng Rạch Giá, Kiên Giang

Chính quyền Sài Gòn đã lập Bộ Bình định Nông thôn với hệ thống tổ chức từ trung ương đến các xã, ấp, nòng cốt là các đoàn bình định nông thôn (đoàn 59). Ở mỗi xã có một đoàn bình định nông thôn gồm 59 người, bọn họ do CIA huấn luyện để đưa về các xã, ấp mở các chiến dịch chiến tranh tâm lý.

Năm 1967, Mỹ thành lập Cơ quan Phát triển Nông thôn và Hoạt động Dân sự (CORDS), cử Komer trực tiếp làm giám đốc để thống nhất chỉ huy các hoạt động bình định của Mỹ-ngụy.

Năm 1971, các đoàn 30 người được rút gọn thành các đoàn phát triển nông thôn 10 người (Đoàn 10) để phù hợp với nhiệm vụ mới của kế hoạch bình định phát triển đặc biệt. Chức năng chủ yếu của các Đoàn 10 là làm công tác tình báo phục vụ mục đích tiêu diệt cơ sở cách mạng miền Nam của chương trình Phượng Hoàng (Phoenix Program), ban đầu do CIA trực tiếp tiến hành sau đó bàn giao lại cho ngụy quyền.

Các Đoàn 10 hoạt động đến năm 1972, sau khi chương trình Phượng Hoàng hoạt động không hiệu quả như ý và còn bị lên án gay gắt trong dư luận thế giới về các tai tiếng tội ác (khủng bố, lạm sát bừa bãi, bắt cóc, giam cầm bất hợp pháp, tra tấn vô nhân đạo, ám sát, thủ tiêu v.v.) phải chấm dứt hoạt động. Trong những năm 1972-1975, nhiệm vụ bình định nông thôn được giao cho các xã đoàn bình định nông thôn và các tổ chức cơ sở của Ủy ban Phượng Hoàng.


Người dân miền Nam biểu tình chống chính sách "Ấp chiến lược" (1960)

3A. Khu trù mật - Ấp chiến lược

Nằm trong chương trình chung "bình định nông thôn", Mỹ-ngụy có 4 chương trình gom dân, dồn dân với bản chất giống nhau và các hình thức, mức độ, cách làm khác nhau. Đó là các chương trình Khu dinh điền, Khu trù mật, Ấp chiến lược và Ấp tân sinh, trong đó Ấp chiến lược là mang tính chất trại tập trung kiểu phát xít và gây nhiều tai tiếng nhất. Khu trù mật có tính chất mị dân hơn nhưng cũng không kém phần tai tiếng.


Ấp chiến lược nhìn từ trên không


Ấp chiến lược với hàng rào bằng tre và hào cạn cắm chông bao quanh

Khu trù mật là một khu dồn dân, gom dân, có điều kiện sinh hoạt vật chất hơn hẳn nơi cư trú cũ của nông dân. Do người Mỹ cấp chi phí lập ra năm 1959 ở một số nơi thuộc vùng đồng bằng Nam Bộ, nhằm mục đích dụ dân, xoa dịu lòng dân, và nhất là tách dân ra khỏi quân đội kháng chiến và mọi ảnh hưởng của cách mạng.

Chưa biết Khu trù mật chiêu dụ được những ai nhưng trước mắt là thấy bao nhiêu đất của dân bị cướp không, 3.000 công ruộng lúa đang trổ bông của dân bị dập nát vì xây nhà. Nhóm chỉ huy xây dựng khu trù mật tập trung lực lượng cu li lấy trong 5 huyện: Càng Long, Trà Ôn, Vũng Liêm, Tiểu Cần và Cầu Kè, mỗi đợt 20.000 người làm trong 7 ngày, xong đổi sang đợt khác. Họ cưỡng bách lao động gần như là khổ sai, bắt dân lao động nặng nề mà ăn uống thì phải tự túc. Thời gian kéo dài 20 đợt thì khu mới hình thành.

Tài liệu "Cuộc đồng khởi kỳ diệu ở miền Nam Việt Nam 1959-1960" của đại tá Lê Hồng Lĩnh, do NXB Đà Nẵng xuất bản năm 2006 đã ước tính trong chương trình Khu trù mật người dân đã bị bóc lột khoảng 2.800.000 ngày làm không, 50 người dân chết vì lao động quá cực nhọc, ăn uống kham khổ, đau bệnh không thuốc men. Có 6 người chết rã thây tại chỗ. Ngoài ra bảo an dân vệ còn xuống càn quét, cướp của, giết người ở các ấp lân cận, quấy rối các "gia đình loại A".

Quân ngụy liên tục càn quét gom dân, bắt dân các ấp Lo Co A, Lo Co B, Trung Thiên, 9A, 9B của xã An Trường, các ấp lân cận của xã Mỹ Cẩm phải dỡ nhà vào khu trù mật. Đồng bào đã cố gắng chống lại. Nhưng với sức mạnh của gần một tiểu đoàn lính, ngụy quân đã gom được khoảng 1.500 gia đình vào đây.

Việc lập khu trù mật Lo Co tiến hành bằng cách bắt buộc người dân 5 huyện làm cu li cực nhọc không công và ngược đãi, giết người, và buộc dân phải bỏ nhà bỏ cửa đã gây sự bất mãn, oán hận của người dân.

Khi vào khu, lúc đầu giặc còn lừa mị, mua chuộc. Nhưng sau đó bản chất của chương trình này dần lộ nguyên hình khi bộ máy kìm kẹp của khu trù mật đã ráo riết hoạt động. Họ phân hóa, cô lập và quản lý từng nhà. Họ buộc người dân ai làm ruộng của địa chủ thì phải nộp tô cho địa chủ và còn phải truy nộp tô. Ai không đóng thì bị cầm tù cho đến khi nào có tiền mới thả.

Ban đêm họ cho người đi rình rập từng nhà, nghe lén nói chuyện, dò la tin tức, nghe ngóng từng người trong gia đình, xách nhiễu, bắt bớ những ai mà họ gọi là "ăn cơm Quốc gia thờ ma Cộng Sản". Những hành động đe dọa hàng ngày hàng giờ đó đã tạo ra một bầu không khí nặng nề khó thở và làm cho cuộc sống của người dân bị gom vào càng thêm ngột ngạt.

Để chống lại, Huyện ủy Càng Long đã bày cho nhân dân tránh né, kiếm cớ như giả đau bệnh, mắc kẹt việc nhà để từ chối lao động khổ sai. Khi bị bắt tới nơi thì có cách trốn tránh. Dân còn mang truyền đơn vào rải, vạch trần tội ác của giặc, viết khẩu hiệu phản đối sự hành hạ của giặc.

Ở bên ngoài thì người của cách mạng phát loa kêu gọi đồng bào không dỡ nhà vào khu, kể tội ác bắt dân đi làm khổ sai không cho ăn, không cấp thuốc của giặc. Một tội ác giặc gây hôm nay thì ngày mai loa phát thanh của cách mạng đã lên án tội ác đó.

Nói chung, chương trình được thực hiện thí điểm từ tháng 5/1959 ở Vị Thanh (Cần Thơ), Mỏ Cày (Bến Tre). Từ tháng 7/1959 được thực hiện rộng rãi ở miền Nam. Do cưỡng bức nông dân rời bỏ quê nhà, ruộng vườn, từ bỏ tập quán, lại đặt dưới sự kiểm soát ngặt nghèo của lực lượng quân đội, mật vụ, cảnh sát, nên chương trình này bị người dân phản đối quyết liệt. Đến năm 1962, chương trình Khu trù mật được thay thế bằng chương trình Ấp chiến lược.


Hồ sơ Ấp chiến lược của ngụy quyền

Tuy nhiên, các tai tiếng của chương trình Khu trù mật không thể nào sánh bằng chương trình Ấp chiến lược (Strategic Hamlet Program). Ấp chiến lược là một trại tập trung có công trình phòng thủ bao quanh (thường gồm 3 hào sâu, 2 thành cài chông mìn, dây thép gai), tổ chức thành các "liên gia", được kiểm soát cực kỳ chặt chẽ như một cỗ máy hoàn chỉnh, có lính ngụy canh gác, ban quản trị điều hành mọi hoạt động theo một quy chế nghiêm ngặt nhằm tách du kích ra khỏi nhân dân và tách nông dân ra khỏi phong trào cách mạng, "tát nước bắt cá".

Hai giáo sư sử học Randy Roberts và James Stuart Olson trong sách Where the Domino Fell - American and Vietnam 1945-1995 (Nơi Domino rơi - Người Mỹ và Việt Nam 1945-1995) do Brandywine Press xuất bản năm 1999 đã nhận xét: "Cái gọi là chương trình Ấp chiến lược thực chất là lùa nông dân Việt Nam ra khỏi làng quê tổ tiên của họ và nhốt họ trong những khu đất rào quanh chắc chắn giống như một nhà tù hơn là các cộng đồng thật sự".

Ấp được thiết kế theo mục tiêu cô lập dân, thường có hai vòng rào. Vòng ngoài bằng dây kẽm gai, tre hoặc bụi gai. Vòng trong đắp đất, trên gắn kẽm gai. Giữa vòng ngoài và vòng trong là hào sâu khoảng hơn một mét cắm chông nhọn. Mỗi ấp đều có một hoặc nhiều chòi canh có tầm nhìn xa; các cổng ra vào được canh gác cẩn mật.

Ban ngày, người lạ muốn vào ấp phải qua sự kiểm soát vô cùng chặt chẽ. Ban đêm, các cổng ra vào đều đóng lại. Mọi trường hợp xâm nhập từ bên ngoài vào đều bị phát hiện vì trong ấp có hệ thống báo động điện tử. Chung quanh ấp là một diện tích đồng trống để lính canh dễ theo dõi việc di chuyển phía ngoài. Tổng cộng có khoảng 6 vạn binh lính đảm nhiệm việc canh phòng và tuần tra các Ấp chiến lược.

Chương trình được Mỹ-Diệm thực hiện từ tháng 3 năm 1962 theo kinh nghiệm xâm lược Philippines của Mỹ và có tham khảo khuôn mẫu của thực dân Anh trong cuộc đàn áp phong trào du kích ở Malaysia. Giới chóp bu ngụy quyền gọi đó là "quốc sách". Nó là xương sống của chính sách bình định nông thôn với dự án xây dựng 17 ngàn ấp.

Ban đầu, chương trình thực hiện hiệu quả, hoạt động của quân Giải phóng bị ngưng trệ. Tuy nhiên, trong khi thi hành thì nhiều viên chức ngụy tham nhũng, ăn bớt tiền viện trợ của Mỹ rồi bắt dân phải gánh chịu thay như phải nộp tiền, công sức và tre để làm hàng rào cho ấp. Dân bị cưỡng bách lao động xây dựng Ấp chiến lược, trong khi đó việc đồng áng của họ bị bỏ phế. Dân chúng bị gom vào một chỗ, phải rời bỏ quê cha đất tổ và mảnh đất ông cha đã gắn bó nhiều năm, nhiều đời, làm xáo trộn nếp sống thường nhật, văn hóa dân tộc và địa phương, gây tâm lý bất bình của quần chúng nông thôn.

Riêng trong năm 1963, quân Giải phóng và người dân miền Nam đã phá hoàn toàn 2.895 Ấp chiến lược trong số 6.164 ấp được lập, số còn lại đã bị phá đi phá lại 5.950 lần ấp. Quân Giải phóng giành quyền làm chủ ở 12.000 thôn trong tổng số 17.000 thôn toàn miền Nam, gồm hơn 5 triệu dân trong tổng số 14 triệu dân toàn miền Nam. Hơn 1,5 triệu ha trên tổng số 3,5 triệu ha ruộng đất đã về tay nông dân; hơn 23.000 thanh niên miền Nam đã gia nhập quân Giải phóng. Hàng ngàn Ấp chiến lược đã biến thành làng chiến đấu.


Quân Giải phóng và người dân quan sát mô hình Ấp chiến lược và bàn cách phá trại.

Ấp chiến lược thất bại vì nó là một chính sách phản động của giặc xâm lược và là một hệ thống bất nhân, gây lầm than cho dân và oán than trong dư luận. Một số nguyên nhân khác về việc sụp đổ của chương trình Ấp chiến lược bao gồm: Tham nhũng, ăn bớt tiền tài trợ Mỹ dành cho chương trình; tổ chức kém; người Mỹ không trực tiếp làm, thiếu nhân sự chuyên môn; thi hành vội vã và theo cách áp đặt, cưỡng bách, gây nhiều tội ác. Bên cạnh đó quân Giải phóng thì phát động phong trào phá trại để trở về quê cũ.

Nói chung, hệ thống Ấp chiến lược dù có thành công phần nào trong mục tiêu "tát nước bắt cá", nhưng "tác dụng phụ" của nó là những tai tiếng ngày càng tăng trong dư luận Việt Nam và quốc tế, nó gây ra sự bất mãn, hờn oán tột cùng trong dân, và nó dần thất bại trong các phong trào phá Ấp chiến lược do cách mạng phát động với sự hưởng ứng gần như tuyệt đối của bà con nông thôn.

4. Đường Trường Sơn - Đường mòn Hồ Chí Minh

Năm 1955, chủ tịch Hồ Chí Minh và đại tướng Võ Nguyên Giáp đã bàn kế sách chi viện cho miền Nam, phác thảo các kế hoạch và phương pháp cụ thể. Đến năm 1959, Đường Trường Sơn bắt đầu được xây dựng bí mật, cùng với 4 con đường khác được triển khai mà mãi đến gần đây mới được hé lộ và giải mật.

Đường Trường Sơn được xem là con đường huyết mạch, đóng vai trò lớn trong chiến thắng của Việt Nam trước Hoa Kỳ, nó là một mạng lưới giao thông chiến lược quy mô lớn, chạy từ Bắc vào Nam, đi qua miền Trung, Lào và Campuchia.

Hệ thống giao thông này đã tiếp viện nhân lực và vật lực cho cuộc chiến chống Mỹ trong 15 năm (1960-1975). Binh đoàn Trường Sơn (đoàn 559) của quân đội Việt Nam là đơn vị triển khai các đơn vị công binh, hậu cần, y tế, bộ binh và phòng không để bảo đảm cho hoạt động của hệ thống đường này. Con đường này đi qua 20 tỉnh ở Việt Nam.

Hệ thống đường này được đặt tên giản dị là Đường Trường Sơn, lấy tên của dãy núi Trường Sơn hùng vĩ, nơi hệ thống này đi qua. Người Mỹ gọi hệ thống giao thông chiến lược này là "Ho Chi Minh Trail" (Đường mòn Hồ Chí Minh). Sau đó báo chí Việt Nam thấy hay nên đã dùng danh từ này để gọi xen kẽ bên cạnh danh từ "Đường Trường Sơn". Ngoài ra đường này còn một tên gọi khác ít sử dụng hơn: "Đường 559" (năm 1959).



Bộ đội Trường Sơn lái xe trên hai sợi dây để "Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước - Mà lòng phơi phới dậy tương lai". Tài lái xe tránh chướng ngại vật và máy bay Mỹ của họ trên con đường huyết mạch này, trong khi vẫn bảo đảm tốc độ di chuyển, đã được dư luận ghi nhận và gọi họ là các "phi công mặt đất".

Một phần của Đường Trường Sơn vốn đã tồn tại từ hàng thế kỷ dưới hình thức các con đường mòn sơ khai dành cho việc giao thông buôn bán trong vùng. Khu vực mà hệ thống đi qua là một trong những vùng đất có địa hình hiểm trở nhất thế giới: Núi cao, ít dân, rừng rậm nhiệt đới. 

Trong những năm đầu kháng chiến chống Pháp, Việt Minh đã sử dụng hệ thống đường mòn này làm đường nối liền Bắc - Nam, một trong các tuyến đường đưa cán bộ di chuyển giữa hai miền và tránh được tai mắt quân Pháp và cả Phòng nhì Pháp. Đến năm 1958, các lực lượng của Việt Nam và Pathet Lào đã chiếm giữ các nút giao thông tại Tchepone, trên đường 9 nằm trong địa phận Lào. Đường Trường Sơn chính thức được xây dựng phát triển thêm vào năm 1959, ra mắt chính thức vào đúng ngày sinh nhật chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1959), được đưa vào sử dụng từ năm 1960 đến năm 1975.

Một trong những mục tiêu chiến lược của Hoa Kỳ trong chiến tranh xâm lược Việt Nam là ngăn chặn sự tiếp viện từ hậu phương miền Bắc cho tiền tuyến miền Nam, là 1 trong các mục tiêu chính, cũng là mục tiêu lớn nhất của họ, chính là Đường Trường Sơn, và họ đã đẩy những nỗ lực chiến tranh lên cao nhất để đạt cho bằng được mục tiêu đó.

Nhằm đạt được mục tiêu chiến lược đó, Mỹ tiến hành nhiều loại hình chiến tranh công nghệ cao như: Chiến tranh điện tử (đặc biệt lừng danh với McNamara Line - Hàng rào điện tử McNamara, một phát kiến của bộ trưởng quốc phòng Mỹ Robert McNamara), chiến tranh hóa học (đặc biệt tai tiếng với Agent Orange - Chất độc da cam, và độc chất Dioxin bên trong nó, đã gây ra thảm họa sinh thái ở Seveso (Ý), Times Beach (Missouri, Mỹ), Love Canal (New York, Mỹ)), và chiến tranh khí tượngtrên toàn tuyến đường.

Lần đầu tiên Mỹ đã sử dụng nhiều vũ khí hiện đại nhất, với những công nghệ mới nhất, tập trung khối lượng lớn nhất bom, mìn thả xuống dọc dãy Trường Sơn. Các loại hình chiến tranh điện tử, chiến tranh hóa học và chiến tranh khí tượng của giặc Mỹ đã gây khó khăn và tổn thất nặng nề cho Binh đoàn Trường Sơn.


Đại tướng Võ Nguyên Giáp thị sát chiến trường trên đường Trường Sơn và đến thăm hỏi, khích lệ, động viên, căn dặn những cán bộ chiến sĩ Trung đoàn ô tô vận tải 13 đang làm nhiệm vụ vận tải chi viện chiến trường (13/3/1973).

Một trong những chương trình tiêu biểu của tác chiến điện tử trong cuộc chiến của Mỹ ở Việt Nam chính là Hàng rào điện tử McNamara (McNamara Line), là tên gọi cho hệ thống các phương tiện điện tử phát hiện thâm nhập được quân đội Mỹ sử dụng dọc theo khu phi quân sự ở vĩ tuyến 17 và Đường Trường Sơn như một biện pháp trinh sát mặt đất tự động nhằm phát hiện các hoạt động vận chuyển của Quân đội Nhân dân Việt Nam lưu thông qua khu vực này.

Hàng rào điện tử McNamara được xây dựng từ tháng 6 năm 1966 dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Bộ trưởng quốc phòng Mỹ Robert McNamara, bao gồm hệ thống 17 căn cứ quân sự, kết hợp với hệ thống vật cản (hàng rào dây thép gai, bãi mìn....), các thiết bị trinh sát điện tử mặt đất và trên không (rađa, máy cảm ứng âm thanh, cảm ứng địa chấn....), được bố trí liên hoàn trong khu vực có chiều rộng 10-20 km, dài khoảng 100 km từ cảng Cửa Việt lên đường 9, tới biên giới Việt Nam - Lào, sang Mường Phìn (Lào). Công trình này đã tiêu tốn hơn 2 tỷ USD.

Các máy phát hiện thâm nhập thường theo nguyên lý phát hiện địa chấn, vì vậy chúng có tên gọi kết thúc bằng 3 chữ SID (Seismic Intrusion Detector). Các máy này dùng để phát hiện thâm nhập bằng đường bộ. Loại máy được biết đến nhiều nhất, thường được gọi là "cây nhiệt đới" (ADSID - Air Delivered Seismic Intrusion Detector), được thả từ trên máy bay để đầu nhọn có cảm biến địa chấn cắm vào trong mặt đất. Phần thấy được còn lại trên mặt đất là ăng-ten. Có loại máy phát hiện địa chấn có kèm thêm bộ phận thu truyền âm thanh để trạm trinh sát kiểm tra đối tượng gây địa chấn là người hay xe vận tải (ACOUSID). Ngoài các máy phát hiện địa chấn thả từ máy bay còn có các máy có tính năng tương tự do binh lính triển khai, thường dùng trong các hoạt động chiến thuật phục vụ canh phòng hay phục kích (GSID hay Ground Seismic Intrusion Detector, PSID hay Patrol Seismic Intrusion Detector và HANDSID).


Theo hồ sơ biên bản buổi chất vấn trong Thượng viện Mỹ ngày 20/3/1974 trong kho lưu trữ tài liệu về Chiến tranh Việt Nam của trường Đại học Texas Tech thì Mỹ đã dùng chất độc để phá hoại khí hậu, thời tiết, địa chất ở miền Nam Việt Nam. Trong chiến dịch "Operation Popeye", Mỹ dùng công nghệ cao tạo ra mây để tăng lượng mưa khoảng 30% trong suốt hai năm 1967 và 1968 trên Đường Trường Sơn, hy vọng gây khó khăn và làm giảm nhuệ khí, ý chí của quân dân Việt Nam di chuyển trên những con đường đó. Mỹ cũng đã rải hóa chất quanh Khe Sanh để xua tan những sương mù gây khó khăn cho không quân của họ trong chiến dịch Khe Sanh năm 1968.

Đây là một loại hình chiến tranh mà Mỹ đã sử dụng những công nghệ tiên tiến nhất cùng những thiết bị hiện đại nhất với mục đích làm đảo lộn, phá hủy môi sinh, thiên nhiên, gây lụt lội, tắc ách ở trên những tuyến của đường mòn Hồ Chí Minh chi viện từ Bắc vào Nam, đặc biệt với con đường huyết mạch Trường Sơn. Chiến tranh khí tượng của Mỹ được che đậy dưới những danh từ thơ mộng, vô hại, thân thiện như "Người đồng bào trung gian" (Intermediary compatriot), "Chương trình mở mắt" (Popeye), "Công trình sông Nile xanh" (Blue Nile)....


Ngoài "Đường mòn Hồ Chí Minh trên bộ" kể trên, miền Bắc còn tiếp viện cho miền Nam qua 4 "Đường mòn Hồ Chí Minh" khác: Đường Hồ Chí Minh trên biển, đường nhiên liệu, đường hàng không và đường chuyển ngân.

Trong những chuyến đầu từ năm 1961 trở đi trên Đường Hồ Chí Minh trên biển, CIA của Mỹ, Phủ Đặc ủy Trung ương Tình báo (CIO - Central Intelligence Office) và Nha Kỹ thuật (STD - Strategic Technical Directorate) của ngụy quyền đã biết con đường này ngay từ những chuyến đầu, nhưng họ chưa biết là tàu nào vì có quá nhiều tàu đánh cá, và biển cả mênh mông không biết tàu miền Bắc sẽ đi đường nào để tiếp viện vào Nam.

Do đó, họ đã tăng cường rải quân quan sát, ngăn cản, đón bắt, trong đó có các căn cứ ở Hoàng Sa và Trường Sa. Sở dĩ như vậy là vì sau năm 1968, hải quân Việt Nam phải đi đường xa, đường vòng, và đi ngang qua Hoàng Sa - Trường Sa chứ khó thể đi gần đất liền được nữa vì Mỹ-ngụy đã biết nên canh phòng kỹ, giăng ra "thiên la địa võng" để truy lùng, đón đánh cho bằng được những đoàn tàu không số, nhằm ngăn chặn con đường quan trọng "Hồ Chí Minh trên biển", 1 trong 5 "đường mòn Hồ Chí Minh", là tuyến đường vận tải bí mật trên Biển Đông được thành lập để vận chuyển vũ khí và cả nhân lực từ miền Bắc vào tiếp viện cho miền Nam.

Đường nhiên liệu trên những đường ống với tổng chiều dài tới 5.000 km, để vận chuyển xăng dầu suốt từ biên giới Việt - Trung và các cảng biển miền Bắc vào đến tận Nam Bộ, có chỗ vượt qua cả những độ cao tới gần ngàn mét. Con đường này CIA mơ hồ nhận thức là có tồn tại qua các tin tức tình báo chung chung, nhưng họ không có chứng cứ gì chi tiết cụ thể, vì vậy mọi nỗ triệt phá của Mỹ-ngụy trên con đường này đều rất kém hiệu quả.

Đường hàng không vừa bí mật vừa công khai, hay nói chính xác hơn là bí mật trong công khai, bí mật về nhiệm vụ và công khai về đi lại. Người chiến sĩ bắt đầu thường là lặn lội đến Nam Vang (Campuchia), rồi từ đây bay trở lại miền Nam Việt Nam, thậm chí bay ngang qua chính Sài Gòn, ghé Hồng Kông hoặc Quảng Châu (Trung Quốc) rồi về Hà Nội. Con đường này đã từng vận chuyển hàng ngàn lượt tướng tá từ Bắc vào Nam và từ Nam ra Bắc, vận chuyển tiền bạc cho cơ quan Kinh tài của miền Nam, vận chuyển rất nhiều thứ máy móc, thuốc men quan trọng, vận chuyển thương binh, vận chuyển vợ con những chiến sĩ và cán bộ của miền Nam ra Bắc để học tập và điều dưỡng.

Đường chuyển ngân thì vô cùng bí ẩn, vì đó con đường vô hình vô ảnh, không có đường trên đất liền, trên biển, trên không, trên những đường ống, mà là đi theo hệ thống ngân hàng của chính các nước phương Tây và hệ thống ngân hàng ở ngay Sài Gòn để chuyển tiền một cách "công khai" từ Bắc vào Nam, từ các nguồn tài trợ của các nước vào Sài Gòn, rồi từ Sài Gòn rút ra tiền bản địa để chi tiêu cho Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam và Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam.

Không có xe, không có máy bay, không có tàu thủy, không có gùi thồ, chỉ những mật mã, những cú điện là tiền từ Paris, London, Hồng Kông, Bangkok, Moskva, Bắc Kinh.... được chuyển qua Sài Gòn rồi lên các căn cứ địa ở khắp miền Nam, được thanh toán cho những địa chỉ cần thiết ở bất kỳ nơi nào trên thế giới. Con đường đó suốt 20 năm "ai làm thì biết", CIA không biết, chính quyền Sài Gòn càng không biết, nên không một ai bị bắt, không một vụ chuyển ngân nào bị phát hiện.

5. Hệ thống địa đạo

Đường Trường Sơn và 4 đường mòn Hồ Chí Minh là một trong số nhiều công trình xây dựng kỳ vĩ và rất đặc thù Việt Nam trong lịch sử chống ngoại xâm thời hiện đại, bên cạnh hệ thống địa đạo của Việt Nam được xây dựng và sử dụng trong hai cuộc kháng chiến, tiêu biểu như địa đạo Củ Chi (250 km, dài nhất châu Á) địa đạo Vịnh Mốc, địa đạo Kỳ Anh, địa đạo Nam Hồng, địa đạo Gò Thì Thùng, địa đạo Nhơn Trạch, địa đạo của chiến khu Đ và hàng trăm địa đạo lớn nhỏ khác ở cả hai miền Việt Nam.

Đặc biệt địa đạo Củ Chi nổi tiếng đã trở thành một biểu tượng chống xâm lược của Việt Nam, mỗi năm thu hút hơn 1 triệu lượt du khách quốc tế. Địa đạo này được xây dựng từ năm 1948 trong kháng chiến chống Pháp, ban đầu địa đạo chỉ có chiều dài khoảng 48 km, sau đó được mở rộng dần lên. Đến năm 1975 kết thúc kháng chiến chống Mỹ thì địa đạo đã có tổng chiều dài trên 250 km, dài nhất trong số các địa đạo ở châu Á.


Địa đạo Củ Chi rộng lớn, được coi là một "thành phố đường hầm.

Đất thép Củ Chi là một kỳ quan, và điều đáng khâm phục là "thành phố đường hầm" này là một kỳ quan nhân tạo, được xây dựng trong hoàn cảnh khó khăn với một công nghệ lạc hậu, chứ không phải kỳ quan thiên nhiên hay các kỳ quan nhân tạo khác mà các dân tộc khác thảnh thơi xây dựng trong thời bình.

Năm Đường mòn Hồ Chí Minh và hệ thống địa đạo của Việt Nam đã thể hiện ý chí sắt đá, lòng kiên trung và kiên nhẫn đáng khâm phục, tài tổ chức đáng kinh ngạc, nói lên đỉnh cao trí tuệ thời chiến của người Việt Nam. Năm con đường, hàng trăm công trình xây dựng và tất cả những phẩm chất Việt Nam đó đã đóng vai trò to lớn trong chiến thắng của dân tộc Việt Nam.


Cửa hầm bí mật. Những cửa hầm ngầm này chỉ có người Việt thể hình nhỏ mới có thể vào.


Nhưng ở các cửa hầm khác. Lực lượng đặc biệt Tunnel rat (Lính chuột cống) của quân đội Mỹ vẫn có thể đem chất nổ tiến vào phá hầm. Những người "lính chuột cống" này hành quân xen kẽ cùng các lực lượng chủ lực. Họ được tuyển chọn từ những người thể hình nhỏ, phần lớn lực lượng này là lính đánh thuê từ Puerto Rico (đất phụ thuộc chưa thành tiểu bang của Hoa Kỳ).

6. Khởi nghĩa Trà Bồng

Với chủ trương đánh tan những vở tuồng "bầu cử" "quốc hội" nghị gật và bất hợp pháp của Mỹ-Diệm, đưa phong trào cách mạng tiến lên một bước cao hơn, ngày 13/3/1959, theo sự lãnh đạo của các Đảng bộ ở Quảng Ngãi, trên 400 đồng bào 2 xã Trà Giang, Trà Thủy kéo xuống quận lỵ, biểu tình đấu tranh chính trị vạch trần, lên án những màn kịch "bầu cử" "quốc hội" bù nhìn và phi pháp của Mỹ-Diệm.

Lính ngụy đàn áp, giải tán cuộc biểu tình, rồi mấy ngày sau đi càn quét trả thù, trả đũa. Trước tình hình đó, Thường vụ cơ quan lãnh đạo tỉnh và Ban cán sự miền Tây đã lãnh đạo người dân đấu tranh. Ngày 25/8/1959, Ban cán sự miền Tây, theo thực tế tình hình, đã tạm gác lại chủ trương đấu tranh chính trị thuần túy của Trung ương và đã chỉ thị cho phép tự vệ chống trả lại giặc bằng vũ trang; sử dụng đơn vị 339 đưa về các địa phương để hỗ trợ cho nhân dân và các lực lượng bán vũ trang.

Sáng ngày 28/8/1959, cuộc khởi nghĩa đã diễn ra khá thành công ở vùng cao Trà Bồng. Người dân xã Trà Sơn kéo ra rẫy, ra rừng cương quyết không chịu bị cưỡng bách đi "bầu cử", khi các đơn vị lính ngụy vác súng đến định đẩy bà con đi "bầu cử" thì bà con dùng lý lẽ đấu tranh, thuyết phục, tranh thủ lính ngụy.

Dân chúng các xã Trà Phong, Trà Thanh, Trà Nham cũng nổi dậy, dùng vũ khí thô sơ chống giặc. Đến trưa thì cuộc khởi nghĩa đã lan rộng ra 16 xã vùng cao. Ngụy quân phải rút bỏ quận lỵ chạy về tỉnh. Các ủy ban tự quản của nhân dân lần lượt được thành lập. Ngày 3/9/1959, nhân dân xã Trà Phong mở Đại hội bầu ra Ủy ban nhân dân tự quản. Sau đó, lần lượt 16 xã vùng cao đã bầu ra Ủy ban nhân dân tự quản. Các Ủy ban nhân dân tự quản ở Nam Việt Nam là một trong những tiền đề chính đưa đến quyết định thành lập Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam sau này.

Liên tục 8 ngày đêm chiến đấu, quân dân, du kích Trà Bồng đã đánh tan bộ máy ngụy quyền trong thị xã, phá vỡ các đồn bốt, diệt 161 lính giặc và loại khỏi vòng chiến hàng trăm kẻ khác. Hơn 40 xã thuộc các huyện miền Tây Quảng Ngãi đã thành công giành chính quyền, tạo ra một thế đứng vững chắc của lực lượng kháng chiến, trên một địa bàn hiểm yếu nối liền với căn cứ kháng chiến ở Tây Nguyên.

Thắng lợi của cuộc khởi nghĩa Trà Bồng và các cuộc nổi dậy ở miền Tây Quảng Ngãi đã mở đầu thời kỳ đấu tranh chính trị kết hợp đấu tranh vũ trang, góp phần đẩy mạnh phong trào khởi nghĩa từng phần của quân dân miền Nam trong những năm 1959-1960. Cuộc khởi nghĩa còn làm tăng thanh thế cho cuộc kháng chiến và góp phần khích lệ, cổ vũ cho cao trào Đồng khởi bùng lên sau đó.

7. Phong trào Đồng khởi

Trong giai đoạn 1957-1959, cách mạng miền Nam gặp nhiều khó khăn, nhất là từ khi Ngô Đình Diệm ban hành đạo luật 10/59 công khai tàn sát, làm nhiều cán bộ, đảng viên và người dân bị giết hại, tù đày. Trong khi chủ trương và đường lối của cách mạng lúc đó là thuần túy đấu tranh chính trị, đấu tranh vũ trang về cơ bản là chưa được phép. Tình hình lúc đó là trên chưa cho đánh, trong khi quân giặc ngày càng tăng cường tàn sát.

Hiện tượng đó làm nhiều cán bộ, đảng viên và người dân miền Nam bất mãn và bớt niềm tin vào Đảng và Trung ương ở Hà Nội về chủ trương chỉ đấu tranh chính trị - không đấu tranh vũ trang. Bất mãn nhưng vẫn làm theo. Tuy nhiên vẫn có một số người mất hết lòng tin, nản lòng rồi ra hàng giặc.

Vào tháng 8/1956, ông Lê Duẩn, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Xứ ủy Nam Bộ đi quan sát và lấy ý kiến Đảng bộ và nhân dân Cà Mau, Bến Tre và khu vực Sài Gòn - Gia Định - Chợ Lớn để hoàn thành dự thảo "Đường lối cách mạng miền Nam". Hội nghị lần thứ hai của Xứ ủy đã đã thông qua "Đường lối cách mạng miền Nam" và báo cáo Bộ Chính trị và chủ tịch Hồ Chí Minh.

"Đường lối cách mạng miền Nam" trở thành văn kiện chính trị "Đề cương cách mạng miền Nam", trong đó có những kết luận quan trọng sau đây:

"Trên cơ sở nhận rõ mục đích yêu cầu, vị trí và đối tượng của cách mạng miền Nam, cần định ra đường lối phương pháp đấu tranh thích hợp để phát triển lực lượng, đẩy mạnh phong trào, đưa sự nghiệp cách mạng đến thành công.... Muốn chống Mỹ-Diệm nhân dân miền Nam chỉ có con đường cách mạng, không có con đường nào khác".


 

"Trong hai năm nay, ở khắp nông thôn miền Nam không lúc nào ngớt tiếng súng đạn đàn áp của Mỹ-Diệm, không ngày nào những người yêu nước không bị tàn sát, nhưng tinh thần cách mạng của nhân dân vẫn vững vàng, quyết tâm của quần chúng bảo vệ cách mạng vẫn không lay chuyển".


 

"Có nhiều hình thức khác nhau để đánh đổ một chính quyền phản động, nhưng mọi chính quyền thù địch với nhân dân sụp đổ đều theo một quy luật chung: một chính quyền phản động nhất định sẽ sụp đổ khi mà đa số nhân dân không thể sống một cách bình thường dưới chính quyền ấy được nữa, khi mà đội quân tiên phong và đông đảo quần chúng cách mạng biểu thị quyết tâm vùng lên đánh đổ nó, khi mà bản thân bọn cầm quyền cũng không cai trị một cách bình thường được nữa. Tức là khi chính quyền của chúng bị suy yếu đến mức trở nên bất lực do sự xung đột giữa nhân dân với chúng ngày càng gay gắt, do sự khủng hoảng của chúng ngày càng nghiêm trọng, nhất là về chính trị, do mâu thuẫn nội bộ bọn cầm quyền ngày càng sâu sắc và do tình hình thế giới phát triển không có lợi cho chúng".



Như vậy là tiếp theo Nghị quyết Bộ Chính trị Trung ương Đảng (tháng 6/1956), Đề cương cách mạng miền Nam và nghị quyết Xứ ủy Nam Bộ đã xác định con đường phát triển của cách mạng miền Nam. Trước mắt trong tình hình hòa bình phát triển đã qua nhưng toàn dân khởi nghĩa chưa tới, Xứ ủy Nam Bộ đã tổ chức vũ trang tuyên truyền theo kinh nghiệm của chủ tịch Hồ Chí Minh khi Bác thành lập đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân.

Thực tiễn tổ chức và hoạt động vũ trang tuyên truyền còn do sự sáng tạo của từng địa phương và diễn ra phong phú nhưng đều nhằm tiến tới khởi nghĩa lật đổ chính quyền Mỹ-Diệm. Tại Liên khu V, do sự tấn công càn quét có hiệu quả của Mỹ-ngụy và do các Đảng bộ địa phương nhận định không rõ đặc điểm khác nhau của từng vùng trong khu để vận dụng phương pháp đấu tranh thích hợp, nên phong trào đấu tranh ở đồng bằng bị sa sút nặng.

Tháng 9/1956, vì là nhân vật lãnh đạo đầu não quan trọng và muốn được an toàn, ông Lê Duẩn ra Bắc theo đường Hồ Chí Minh trên biển và đường hàng không, 2 trong 5 "đường mòn Hồ Chí Minh". Ông đi tàu biển từ Campuchia ra Hồng Kông, bay sang Quảng Châu (Trung Quốc) đến 4/6/1957 mới tới Hà Nội.

Ra Hà Nội, ông Lê Duẩn trình lên Hồ chủ tịch và Bộ Chính trị bản Đề cương cách mạng miền Nam với kết luận: "Ban đầu thì miền Nam nổi dậy nhưng cuối cùng phải dùng sức mạnh của cả nước mới cản được đế quốc Mỹ". Đồng thời báo cáo cụ thể với Bộ Chính trị về tình hình địch - ta và ý kiến, nguyện vọng của đảng viên, quần chúng trong Nam đề nghị phát động đấu tranh vũ trang. Tuy nhiên quan điểm của Lê Duẩn chưa tìm được nhiều sự đồng thuận. Tuy nhiên, sau khi đọc đề cương và nghe Lê Duẩn báo cáo, sau khi suy nghĩ cặn kẽ, chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn giao cho ông Lê Duẩn làm công việc của Tổng bí thư Đảng và trực tiếp chỉ đạo cách mạng miền Nam.

Đánh giá rất cao Đề cương cách mạng miền Nam, Hồ chủ tịch giao cho Lê Duẩn chuẩn bị một Nghị quyết về cách mạng miền Nam. Ông Lê Duẩn hỏi thêm ý kiến của Bác Hồ, trao đổi với các lãnh đạo như đại tướng Võ Nguyên Giáp, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng.... và đã cùng nhiều đồng chí lãnh đạo và cán bộ nghiêm túc chuẩn bị cho Nghị quyết mới. Chưa có một dự thảo nghị quyết nào của Trung ương được chuẩn bị công phu như nghị quyết này.

Lúc này, nhiều nhà lãnh đạo Liên Xô khuyên Việt Nam là "nên giữ hòa bình". Còn Trung Quốc thì vẫn lặp lại chủ trương từ đầu của họ là nên "trường kỳ mai phục". Nên "mai phục" 10 năm, 20 năm, thậm chí cả 100 năm, "đại nghiệp thống nhất là sự nghiệp lâu dài", "hiện tại các đồng chí chưa thống nhất được thì đời con cháu sẽ làm trong tương lai". Đây không hẳn là sự góp ý chân thật mà là một lời ngụy biện "khuyên đểu", một ngụy biện quanh co ý nói hãy thủ tiêu tranh đấu, ngưng chiến đấu chống Mỹ, vì các mục đích, mục tiêu và lợi ích chính trị của họ.

Trong tình hình đó, chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng, Nhà nước, Chính phủ đều phải ngày đêm suy nghĩ để vạch ra đường lối và biện pháp, bước đi phù hợp cho cách mạng miền Nam sao cho giành được thắng lợi mà ít tổn thất xương máu, lại thích hợp với tình hình trong và ngoài nước, bảo đảm được đoàn kết quốc tế và tranh thủ được sự giúp đỡ, viện trợ của các nước xã hội chủ nghĩa và phong trào hòa bình thế giới.

Vào cuối năm 1958, tình hình miền Nam đã quá căng thẳng. Các cuộc đánh phá đẫm máu của ngụy quyền họ Ngô đối với người dân đã đến đỉnh cao về mức độ khốc liệt và tính chất phi nhân. Những người cộng sản và cả những người yêu nước phi cộng sản bị truy lùng ráo riết. Cơ sở Đảng bị tổn thất nặng nề. Hàng ngày, khắp nơi đều có "đầu rơi máu chảy" đúng nghĩa đen.

Sự chịu đựng của dân đã đến giới hạn cuối cùng, họ đòi "nợ máu phải trả bằng máu". Tất cả nông dân xã Hòa Hội, tỉnh Tây Ninh đều ký tên vào bức tâm thư gởi lên Bác Hồ báo cáo: "Nhân dân bị khủng bố, cán bộ bị giết hại, xin cho bộ đội miền Nam tập kết ra Bắc trở về đánh giặc cứu dân".

Trong một cuộc mít tinh có cụ già nghẹn ngào, uất ức nói: "Bác Hồ ơi!, Mỹ-Diệm nó độc ác quá lắm rồi, Bác cho phép đồng bào băm nát đầu chúng nó". Tỉnh Thủ Dầu Một có 30 lão nông gởi thơ lên Xứ ủy, chất vấn gay gắt: "Tình hình như vậy không biết Xứ ủy có báo cáo lên Trung ương, lên Bác Hồ hay không?". Các cụ yêu cầu Xứ ủy đề nghị lên Bác Hồ cho đấu tranh vũ trang trở lại, nếu không thì không thể nào thắng Mỹ. Đây là nguyện vọng và cũng là nỗi bức xúc của bà con miền Nam.

Ý nguyện đó của người dân đã thôi thúc các cấp ủy Đảng ở miền Nam, khu V và những đảng viên, cán bộ hoạt động ở cơ sở mạnh dạn lãnh đạo quần chúng tìm kiếm / chế tạo vũ khí hoặc tước súng giặc đánh giặc, tăng cường vũ trang, chủ động nổi dậy ở những nơi có đủ điều kiện mặc dù chưa có ý kiến của Trung ương.

Nổi bật nhất trong thời kỳ này là các sự kiện quan trọng:

 

  • Tại Cà Mau, hàng chục vạn dân kéo vào rừng U Minh và Năm Căn lập nên hàng chục "làng rừng" công khai chống Mỹ-Diệm, lập vùng tự do, tự quản lý, xây dựng căn cứ địa, xây dựng lực lượng để chống giặc.
  • Tại Thủ Dầu Một, lực lượng vũ trang cách mạng đã tiến lên tiêu diệt được chi khu quận lị Dầu Tiếng tịch thu được rất nhiều súng đạn và tiền trong 10 két sắt.
  • Tại miền Tây Quảng Ngãi đã diễn ra Đại hội Gò Rô của đồng bào các dân tộc kêu gọi các dân tộc anh em đoàn kết xung quanh cụ Hồ, đồng lòng hợp sức đánh đổ Mỹ-Diệm. Mọi người không phân biệt dân tộc, già, trẻ, gái, trai…. phải sẵn sàng chuẩn bị nổi dậy giành chính quyền.



Bước vào năm 1959, cách mạng Việt Nam đứng trước một quyết định hệ trọng. Ngày 13/1/1959, Hội nghị lần thứ 15 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa II) mở rộng khai mạc tại thủ đô Hà Nội dưới sự chủ tọa của Hồ chủ tịch và ông Lê Duẩn.

Dự Hội nghị có nhiều nhà lãnh đạo các địa phương Khu V ở miền Nam. Các ông Phan Văn Đáng, Phạm Văn Xô đại biểu Xứ ủy Nam Bộ; các ông Trần Lương, Võ Chí Công đại biểu Khu V đã vượt qua hàng ngàn cây số và đồn bót, kịp tới Hà Nội dự hội nghị. Các đồng chí lãnh đạo địa phương đã đưa về đây các tin tức nóng hổi, các cập nhật tình hình mới nhất, và quan trọng là nguyện vọng, ý muốn của nhân dân và các đảng bộ miền Nam.

Hội nghị Trung ương đã nghiên cứu trao đổi phân tích kỹ về tình hình địch - ta, khảo sát khả năng và lực lượng cách mạng, tìm ra đường lối, phương pháp cách mạng thích hợp nhất cho miền Nam.

Vấn đề nhiệm vụ, mục tiêu của cách mạng, vấn đề kẻ thù đều nhanh chóng có được sự đồng thuận. Còn những vấn đề gay cấn mà mọi người tranh luận gay gắt nhất là:

 

  • Đánh giá đế quốc Mỹ.
  • Cách mạng miền Nam, chiến tranh cách mạng và vấn đề bảo vệ hòa bình chung.
  • Phương pháp cách mạng ở miền Nam.



Trong lịch sử Đảng tới thời điểm đó chưa có hội nghị nào của Trung ương mà được chuẩn bị công phu, trao đổi sôi nổi, kỹ càng như hội nghị này. Tranh luận ráo riết gần như cả ngày. Hội nghị lần thứ 15 của Trung ương tiến hành suốt cả tháng từ giữa tháng giêng đến giữa tháng tháng 2 năm 1959.

Nhiệm vụ cách mạng Việt Nam ở miền Nam cuối cùng được đề ra như sau:

 

  • Nhiệm vụ cơ bản là giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc và phong kiến, thực hiện độc lập dân tộc và người cày có ruộng, hoàn thành cách mạng dân chủ nhân dân ở miền Nam, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh.
  • Nhiệm vụ trước mắt là đoàn kết toàn dân, kiên quyết đấu tranh chống đế quốc Mỹ xâm lược và gây chiến, đánh đổ tập đoàn thống trị độc tài Ngô đình Diệm tay sai Mỹ, thành lập một chính quyền liên hiệp dân tộc, dân chủ ở miền Nam, thực hiện độc lập dân tộc và các quyền tự do dân chủ, cải thiện đời sống nhân dân, giữ vững hòa bình, thực hiện thống nhất nước nhà trên cơ sở độc lập, dân chủ, tích cực góp phần bảo vệ hòa bình ở Đông Nam Á và thế giới.



Về con đường tiến lên của cách mạng Việt Nam ở miền Nam, Trung ương Đảng nhận định không thể đi ra ngoài quy luật chung của cách mạng ở các nước thuộc địa và nửa thuộc địa là dùng bạo lực cách mạng.

Về chế độ thống trị của Mỹ-Diệm dựa vào bạo lực phản cách mạng để tồn tại, mà ta thì phải dựa vào lực lượng quần chúng, lấy lực lượng quần chúng để đánh đổ kẻ thù, cho nên muốn đạt được mục tiêu đó, cần phải có một quá trình đấu tranh lâu dài và gian khổ. "Phải tích cực xây dựng, củng cố và phát triển lực lượng cách mạng thì mới có điều kiện nắm lấy thời cơ thuận lợi và giành lấy thắng lợi cuối cùng".

Về khả năng hòa bình phát triển, Trung ương Đảng cho rằng khả năng này hầu như không có, vì Mỹ đã quyết tâm bám lấy miền Nam, sẽ không bao giờ có chuyện họ tự nguyện giải tán ngụy quyền, từ bỏ các hành động xâm lược và tội ác chiến tranh.

Quá trình cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam là quá trình xây dựng, củng cố phát triển phong trào quần chúng đấu tranh chính trị từ hình thức thấp đến hình thức cao, đẩy lùi địch từng bước tiến đến làm lay chuyển tận gốc chính quyền đó, "cuối cùng phát động quần chúng khởi nghĩa đánh đổ chế độ Mỹ-Diệm khi có thời cơ thuận lợi ở trong nước và trên thế giới".

Ông Hai Văn và Hai Xô hỏi chủ tịch Hồ Chí Minh về chủ trương đấu tranh vũ trang tại miền Nam, Người nói: "Dù sao cũng không thể để cách mạng chịu tổn thất hơn nữa. Xứ ủy các chú có là Đảng không? Trung ương ở xa, các chú phải tùy tình hình, cân nhắc kỹ lưỡng mà quyết định và chịu trách nhiệm". Các đồng chí miền Nam hỏi về khả năng phải tiến hành chiến tranh cách mạng, Bác Hồ nói đại ý: Mỹ Diệm quá tàn ác, không đánh không được. Đánh Pháp ta phải vừa đánh vừa học, đánh Mỹ cũng phải vừa đánh vừa học, lâu dài nhưng nhất định thắng lợi.

Nói chung, hội nghị này đã quyết định cho phép lực lượng miền Nam sử dụng võ lực để đánh đổ chế độ Mỹ-Diệm. Sau khi Nghị quyết 15 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam được thông qua, quân dân miền Nam từ các hình thức đấu tranh thuần túy chính trị đã chuyển sang hình thức đấu tranh chính trị kết hợp đấu tranh vũ trang, từ đó cách mạng miền Nam mới có chuyển cơ tích cực.

Tại Bến Tre, Nghị quyết 15 đã làm quân dân vỡ òa, cuối cùng cũng cho đánh rồi. Từ nay quân dân miền Nam không còn phải chịu đựng, phải giấu súng trốn tránh nữa, mà có thể công khai dùng võ lực tự vệ, bắn trả, chống càn, chống trả các đợt tấn công, càn quét của quân thù. Sau quyết định này, các xưởng quân giới mọc lên nhiều nơi ở nông thôn miền Nam.


Gỡ lựu đạn địch đánh địch, tận dụng, tiết kiệm từng vũ khí


Già trẻ gái trai Sóc Trăng tham gia chế tạo võ khí thô sơ để chống càn


Một góc công binh xưởng Sóc Trăng sản xuất mìn, đạp lôi


Công trường chế tạo vũ khí đánh Mỹ của tỉnh Bến Tre


Một công binh xưởng ở Bình Phước sản xuất vũ khí để đánh giặc

Riêng ở Bến Tre nhiều súng ngựa trời đã được chế tạo. Đây là loại súng tự chế có sức sát thương cao, để bù đắp sự thiếu thốn vũ khí của lực lượng vũ trang miền Nam trong giai đoạn miền Bắc chưa tiếp viện. Các vũ khí giả, súng giả, đại bác giả được làm từ.... cây dừa, chất liệu dừa của đồng bào xứ dừa Bến Tre đã thành công gây sợ hãi cho một số đồn giặc và thuyết phục được họ đầu hàng, sau đó quân dân Bến Tre lại lấy súng của họ đi đánh những đồn giặc không chịu đầu hàng. Lấy súng giả tước súng thật, rồi dùng súng giặc đánh giặc.

Đêm 2 tháng 1 năm 1960, ban lãnh đạo tỉnh Bến Tre họp tại xã Tân Trung, quyết định: "Phát động một tuần lễ toàn dân đồng khởi, diệt ác ôn, phá thế kìm kẹp, giải phóng nông thôn, làm chủ ruộng vườn". Đồng thời quyết định khởi nghĩa thống nhất từ ngày 17 tháng 1 đến ngày 25 tháng 1.


Người dân Bến Tre biểu tình chống Mỹ-Diệm.

Ngày 17/1/1960, theo kế hoạch đã định, cuộc Đồng khởi bùng nổ đúng như dự kiến tại 3 xã Định Thủy, Phước Hiệp, Bình Khánh (huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre). Chỉ sau hai ngày, 3 xã trên hoàn toàn giải phóng. Trung đội quân Giải phóng đầu tiên của Bến Tre được thành lập tại vườn Dừa, xã Bình Khánh. Sau đó, phong trào chuyển hướng sang Giồng Trôm, tập trung ở các xã trọng điểm Châu Hòa, Châu Bình và Phong Mỹ dưới sự lãnh đạo của nữ tướng Nguyễn Thị Định.

Từ thành công trên, trong vòng 1 tuần (17 đến 24 tháng 1), 47 xã ở Mỏ Cày, Giồng Trôm, Châu Thành, Ba Tri, Thạnh Phú nổi dậy. Lực lượng nổi dậy làm chủ nhiều ấp, trong đó hoàn toàn làm chủ 22 xã.


Người dân Giồng Trôm, Bến Tre cắm chông diệt giặc

Ngày 24 tháng 2, Mỹ-Diệm phản kích, huy động hơn 3.000 quân đánh vào 3 xã Định Thủy, Bình Khánh, Phước Hiệp. Các du kích xã đã dùng các vũ khí thô sơ phản công, điển hình là súng ngựa trời. Cuộc tấn công thất bại. Từ Bến Tre, phong trào Đồng khởi lan khắp miền Nam, làm lung lay các ngụy quyền địa phương.

Ngày 25/3/1960, hơn 10.000 quân hỗn hợp Thủy - Bộ - Biệt kích - Dù tiến vào vây đánh nhiều xã ở huyện Mỏ Cày. Trước tình hình trên, lãnh đạo Bến Tre quyết định dùng biện pháp chính trị, phát động quần chúng, đặc biệt là phụ nữ, trong đó có rất nhiều người chính là bà, mẹ, người nhà của các sĩ quan và binh lính ngụy. Hàng vạn phụ nữ này tràn ngập những vùng tạm chiếm làm náo loạn sự ổn định của địch, họ đặc biệt tụ tập ở những nơi có phóng viên chiến trường người nước ngoài để thu hút sự chú ý của dư luận bạn bè quốc tế, đồng thời làm cho Mỹ-ngụy sợ dư luận mà không dám khinh suất gây tội ác hay đàn áp quá mạnh bạo.

Các sĩ quan ngụy gọi họ là "đội quân đầu tóc", từ đó dần biến thành "đội quân tóc dài" và danh từ này trở thành danh từ thông dụng để gọi phong trào đấu tranh chính trị của phụ nữ miền Nam Việt Nam, đặc biệt là miền Tây Nam Bộ.


Đội quân tóc dài ở Bến Tre yêu cầu đế quốc Mỹ rút khỏi Việt Nam.

Tháng 3/1960, đội quân tóc dài bao gồm hơn 7.000 phụ nữ Giồng Trôm biểu tình đòi các đơn vị quân chủ lực ngụy đang càn quét phải rút về vị trí cũ. Tháng 6/1960, các chi bộ Đảng quyết định phát động Đồng khởi trên toàn Nam Bộ.

Ngày 24/9/1960, quân dân Bến Tre phát động cuộc Đồng khởi lần hai. Bấy giờ, phong trào không chỉ diễn ra ở những nơi họ nghĩ là có thể thắng thế mà còn dám phát động ngay cả ở những vùng trọng yếu khác.

Cùng thời gian với Bến Tre, tỉnh Kiến Phong cũng nổi dậy. Các đại đội 272, 274 đã có các trận đánh tiêu diệt và làm bị thương 25 lính giặc, chiếm trụ sở xã, thu súng và làm chủ xã Mỹ Hòa. Đến ngày 20/1/1960 thì quân dân Kiến Phong đã tiêu diệt, làm bị thương 165, chiêu hàng 40 lính ngụy.

Trong khi ngụy quyền địa phương đang lo đối phó với Mỹ Hòa thì huyện Hồng Ngự nổi dậy. Bắt đầu từ 3 xã Tân Thành, Thường Thới, Thường Phước. Đại đội 271 diệt đồn Cả Cái, giải phóng Tân Thành. Tại Cao Lãnh, lực lượng vũ trang xã Bình Thạnh bức rút đồn Bà Cò, làm chủ 1 ấp, thuộc xã Đốc binh Kiều.

Từ ngày 6/3/1960, phong trào càng lan rộng ra các tỉnh. Tại Cà Mau, tiểu đoàn Ngô Văn Sở phục kích đánh bại, tiêu diệt và bắt sống 150 lính, thu 133 súng, giải phóng nhiều xã. Tại Sóc Trăng, sáu tháng đầu năm 1960, những vùng nông thôn các huyện Vĩnh Châu, Mỹ Xuyên, Gia Rai, Hồng Dân, Vĩnh Lộc đều lần lượt trở thành vùng giải phóng.

Các sự kiện trên chủ yếu ở mặt trận Tây Nam Bộ. Nhưng mặt trận Đông Nam Bộ cũng không kém phần quyết liệt. Xứ ủy Nam Bộ sau khi kiến nghị với Trung ương Đảng nâng cao đấu tranh vũ trang đã quyết định mở một trận tiến công lớn. Mục tiêu là lấy thêm vũ khí để nhanh chóng phát triển lực lượng, mở rộng phong trào Đồng khởi, từ Tây Nam Bộ lan sang Đông Nam Bộ.

Địa điểm được chọn là bốt Tua Hai, tiền tiêu án ngữ biên giới Việt Nam - Campuchia, nằm trên đường 22, các thị xã Tây Ninh 5 km về phía bắc. Lực lượng ngụy có 2 trung đoàn, 1 chi đội thiết giáp, 1 đại đội pháo. Lực lượng khởi nghĩa gồm 1 tiểu đoàn và một bộ phận lực lượng tàn quân giáo phái trước đây ở trong các quân đội của đạo Cao Đài, bắt đầu tấn công từ ngày 26/1/1960. Lính ngụy thua to, khoảng 500 lính tử trận, gần 500 bị bắt sống. Lực lượng cách mạng thu được 1.500 súng các loại.

Trận Tua Hai mở đầu cho cuộc đồng khởi ở Đông Nam Bộ. Sau Tua Hai, quân dân Tây Ninh phá sập hơn 50% đồn bốt, giải phóng 24 xã và làm chủ nhiều phần tại 19 xã khác. Ngày 16/3/1961, tiểu đoàn 800 và quân dân miền Đông Nam Bộ tấn công Chi khu quân sự Hiếu Liêm, hôm sau tấn công bốt An Lạc, hỗ trợ quần chúng các nơi nổi dậy.

Tính đến cuối năm 1960, phong trào Đồng khởi về cơ bản đã làm tê liệt cơ cấu ngụy quyền cơ sở ở nông thôn trên gần như toàn miền Nam. Trong 2.627 xã toàn miền Nam, người dân địa phương đã lập chính quyền tự quản ở 1.383 xã (lúc này Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam chưa thành lập), đồng thời làm tê liệt ngụy quyền cơ sở ở hầu hết xã khác.

Dân số vùng giải phóng toàn miền Nam có khoảng 6,5 triệu người trong tổng số 14 triệu dân toàn miền Nam. Phong trào nổi dậy của người dân Đông - Tây Nam Bộ đã giáng một đòn mạnh vào kế hoạch lập Khu trù mật và chính sách "cải cách điền địa" của Mỹ-Diệm.

Trong một báo cáo gửi tổng thống Mỹ John F. Kennedy, CIA nhìn nhận: "Chỉ trong vòng 6 tháng cuối năm 1960 tình hình an ninh trong nước vẫn tiếp tục ngày càng xấu đi và nay đã lên tới mức nghiêm trọng. Toàn bộ vùng nông thôn ở phía nam và tây nam Sài Gòn cũng như một số vùng phía Bắc đã nằm trong quyền kiểm soát rất lớn của Việt Cộng."

Tham khảo thêm: Phim tài liệu Đồng khởi - Bến Tre

8. Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam được thành lập

Thiết kế chính trị của một chế độ cộng sản thường có Đảng và Mặt Trận. Đảng trên nguyên tắc là lực lượng tiền phong của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, lãnh đạo đất nước. Còn Mặt Trận trên nguyên tắc là một mặt trận đoàn kết dân tộc, đoàn kết các giai cấp để cùng nhau thực hiện mục tiêu chính trị hiện tại của Đảng.

Mặt Trận ở Việt Nam trong lịch sử hiện đại có nhiều tên gọi, trong đó có 3 tên gọi được nhiều người biết tới: Mặt trận Việt Minh, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Ngoài ra trước khi có Việt Minh còn có Mặt trận Phản đế Đông Dương, Mặt trận Dân chủ Đông Dương, Mặt trận Liên Việt, Mặt trận Dân tộc Thống nhất....

Đây là những Mặt trận khác nhau về tên gọi và mục tiêu trong từng thời kỳ, nhưng có cùng 1 bản chất, cùng 1 vai trò với các nhiệm vụ khác nhau. Nhiệm vụ của Mặt trận Việt Minh là đoàn kết dân tộc để chống Pháp trên toàn quốc. Nhiệm vụ của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam là đoàn kết dân tộc để chống Mỹ trên phạm vi miền Nam Việt Nam. Nhiệm vụ của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là đại đoàn kết dân tộc Việt Nam, bao gồm mọi thành phần, tầng lớp, trong và ngoài nước, để cùng nhau xây dựng đất nước.


Bất chấp nhiều vụ xả súng vào đoàn biểu tình và các tội ác chiến tranh, người dân miền Nam vẫn giương cao cờ Mặt Trận biểu tình chống Mỹ, đòi độc lập, thống nhất, hòa bình dân tộc.

Mặt Trận chính thức hoạt động ở miền Nam Việt Nam từ cuối năm 1960, lấy tên là Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, có nhiệm vụ đoàn kết các tầng lớp nhân dân, giai cấp, dân tộc, đảng phái, đoàn thể, tôn giáo và các nhân sĩ trí thức yêu nước không phân biệt xu hướng chính trị, để đấu tranh chống Mỹ, thực hiện độc lập, dân chủ, hòa bình, trung lập (nghĩa là không mang màu sắc ý thức hệ), tiến tới thống nhất nước nhà.

Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, cũng như các Mặt Trận trước đó và sau này, là các tổ chức chính trị - xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng, thực hiện các nhiệm vụ đoàn kết toàn dân để đạt mục tiêu chính trị do Đảng đề ra trong từng thời kỳ khác nhau. Các tên gọi của Mặt Trận tương xứng với các nhiệm vụ chính trị trong thời kỳ đó.


Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam chính thức thành lập vào ngày 20 tháng 12 năm 1960 tại xã Tân Lập, huyện Châu Thành (nay là Tân Biên), tỉnh Tây Ninh. Lãnh đạo ban đầu là Võ Chí Công, Phùng Văn Cung, Huỳnh Tấn Phát. Ông Huỳnh Tấn Phát giữ chức vụ Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Ủy ban Trung ương.

Theo ước tính của Mỹ, trong vòng vài tháng thành lập, các thành viên của nó tăng gấp đôi, gấp đôi một lần nữa vào mùa thu năm 1961, và sau đó tăng gấp đôi vào đầu năm 1962, ước tính khoảng 300.000 người. Tới năm 1973, thành phần Mặt Trận đã lên đến 32 tổ chức chính trị, xã hội, tôn giáo và hoạt động công khai. Mặt Trận đặt dưới sự lãnh đạo của Bộ Chính trị, Xứ ủy Nam Bộ và sau này là Trung ương Cục miền Nam.

Tại cấp trung ương, Ủy ban Trung ương của Mặt Trận bầu ra Đoàn chủ tịch, là cấp cao nhất, giúp việc có các Ban chuyên môn của Mặt Trận, hay các Hội đồng chuyên môn của Trung ương Mặt trận. Các cấp địa phương cũng có các ban thành lập theo quy định. Trong đó có cả Ban Quân sự, nhưng tương tự như Bộ Quốc phòng sau này nó chỉ làm nhiệm vụ hành chính. Quân Giải phóng miền Nam là lực lượng tham gia Mặt Trận công khai và do Bộ Tư lệnh các Lực lượng Vũ trang Giải phóng chỉ đạo quân sự, theo sự lãnh đạo chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Các tổ chức Mặt Trận tổ chức tại cấp dưới theo vùng: Tây Nam Bộ, Trung Nam Bộ, Đông Nam Bộ, Nam Trung Bộ, Sài Gòn - Gia Định, Trung Trung Bộ, Tây Nguyên, tỉnh Tây Ninh. Tổ chức Mặt trận cấp vùng chịu sự lãnh đạo của cấp Trung ương.

Ủy ban Mặt trận giải phóng địa phương được tổ chức ở 4 cấp: Cấp miền, cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã. Trong giai đoạn 1960-1967, Ủy ban Mặt trận giải phóng địa phương các cấp thực hiện chức năng của chính quyền cách mạng ở cấp mình. Đến năm 1968, một số địa phương như Thừa Thiên-Huế, Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định, Đà Nẵng v.v. thành lập Ủy ban nhân dân cách mạng, thì Ủy ban nhân dân cách mạng làm nhiệm vụ của chính quyền. Sau khi Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam ra đời thì chính phủ và Ủy ban nhân dân cách mạng các cấp làm nhiệm vụ chính quyền.




Giấy bạc Việt Nam được sử dụng trong vùng giải phóng ở miền Nam Việt Nam.

Chiến lược chiến tranh đặc biệt của Mỹ ở miền Nam Việt Nam (1961-1965)

Để tránh thất bại ở miền Nam Việt Nam sau cao trào Đồng khởi, trước tình trạng lung lay, rạn nứt và nguy cơ sụp đổ của hệ thống ngụy quyền, người Mỹ đã chuyển sang chiến lược chiến tranh đặc biệt (Staley-Taylor plan), tăng số quân từ 1.077 tướng lĩnh, sĩ quan chỉ huy lên 10.962 tướng tá, sĩ quan, nhân viên quân sự (1962). Bộ chỉ huy quân sự Mỹ (MACV) được thành lập tại Sài Gòn ngày 8/2/1962 để chỉ huy quân đội Sài Gòn.

Chiến tranh đặc biệt là một cuộc chiến "đặc biệt", không tuyên bố và không quy ước theo các thông lệ chiến tranh thông thường. Nó là một hình thức chiến tranh xâm lược thực dân mới của Hoa Kỳ, được tiến hành chủ yếu bằng quân lính bản xứ, dưới sự chỉ huy của hệ thống "cố vấn" từ đông đảo các cấp tướng lĩnh và các viên chỉ huy người Mỹ, và dựa vào vũ khí, trang bị kỹ thuật, phương tiện chiến tranh của Mỹ để đánh dẹp trong những vùng tạm chiếm và tấn công lấn chiếm những vùng giải phóng ở miền Nam Việt Nam.

Chiến lược chiến tranh đặc biệt được thực thi bằng kế hoạch Staley-Taylor, được công bố vào tháng 5/1961, mang tên hai người soạn thảo ra nó là nhà kinh tế học Eugene Staley của Viện nghiên cứu Stanford - Đại học Stanford và đại tướng Maxwell D. Taylor, theo tiến độ, kế hoạch được triển khai trong 4 năm (1961-1965). Nội dung của nó là bình định miền Nam trong vòng 18 tháng. Kế hoạch bao gồm 3 biện pháp chiến lược:

 

  • Tăng cường khả năng tác chiến cho Quân lực Việt Nam Cộng hòa, sử dụng nhiều máy bay, xe tăng để nhanh chóng tiêu diệt các lực lượng vũ trang Việt Cộng, sĩ quan Mỹ chỉ huy các đơn vị chiến đấu Việt Nam Cộng hòa, từ cấp đại đội trở lên.
  • Giữ vững thành thị, đồng thời dập tắt nổi dậy ở nông thôn bằng các chiến dịch tảo thanh, bình định và hệ thống Ấp chiến lược.
  • Ra sức ngăn chặn biên giới kiểm soát ven biển, ngăn chặn nguồn tiếp tế từ miền Bắc vào Nam, cô lập cộng sản miền Nam.



Tại miền Nam, Mỹ-Diệm ra sức bắt lính, tăng nhanh lực lượng ngụy quân. Lính ngụy được trang bị hiện đại, sử dụng phổ biến các chiến thuật mới, như Trực thăng vận, Thiết xa vận.

Theo sự chỉ huy của "cố vấn" Mỹ, quân ngụy liên tiếp mở nhiều cuộc hành quân càn quét nhằm tiêu diệt lực lượng miền Nam, tiến hành nhiều hoạt động gởi biệt kích, thám báo ra miền Bắc, hoạt động kiểm soát, phong tỏa biên giới và vùng biển, củng cố sự chia cách Bắc - Nam.

Thoạt tiên, Mỹ-Diệm dự định thực hiện chiến tranh đặc biệt, trọng tâm là mục tiêu bình định trong vòng 18 tháng, bắt đầu từ giữa năm 1961 bằng kế hoạch Staley-Taylor. Đến đầu năm 1964, khi 18 tháng đã qua, miền Nam vẫn chưa được bình định, Mỹ đặt lại yêu cầu khiêm tốn: Bình định miền Nam có trọng điểm trong thời hạn 2 năm bằng kế hoạch Johnson-McNamara (mang tên tổng thống Mỹ Lyndon B. Johnson và Bộ trưởng quốc phòng Robert McNamara).

Để đáp ứng yêu cầu khởi nghĩa từng phần phát triển lên chiến tranh cách mạng và chống chiến tranh đặc biệt của Mỹ, ngày 15/2/1961, các lực lượng võ trang miền Nam hợp nhất thành Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam. Đây là sự kiện quan trọng tiếp sau sự kiện Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam ra mắt đồng bào. Trung ương Cục miền Nam cũng được thành lập vào tháng 1/1961 thay cho Xứ ủy Nam Bộ cũ. Quân Giải phóng miền Nam cũng là một bộ phận của Quân đội Nhân dân Việt Nam, được xem là QĐNDVN của miền Nam Việt Nam.


Quân Giải phóng miền Nam giúp dân gặt lúa ở Kế Sách, Sóc Trăng

Quân giải phóng miền Nam đẩy mạnh đấu tranh chống Mỹ, kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh võ trang, kết hợp nổi dậy với tiến công, trên cả ba vùng chiến lược (thành thị, nông thôn, miền núi), và bằng ba mũi giáp công: Chính trị, quân sự, binh vận.

Trên mặt trận quân sự, quân Giải phóng giành thắng lợi mở đầu trong trận Ấp Bắc ở Mỹ Tho vào năm 1963. Tại đây, lần đầu tiên với số quân ít hơn địch 10 lần, quân Giải phóng đánh bại cuộc hành quân càn quét của trên 2 ngàn lính ngụy do "cố vấn" Mỹ chỉ huy, được pháo binh, trực thăng, xe tăng, xe bọc thép của Mỹ yểm trợ.

Trên mặt trận "chống bình định", giữa Việt - Mỹ, cũng như giữa quân dân địa phương và ngụy quyền cơ sở, đã diễn ra cuộc đấu tranh dai dẳng, giằng co quyết liệt giữa lập và phá Ấp chiến lược. Đến cuối năm 1964 đầu năm 1965, từng mảng lớn Ấp chiến lược đã bị quân dân địa phương phá và nhiều ấp sau đó trở thành làng chiến đấu.

Phong trào đấu tranh chính trị lên cao ở các đô thị và nhiều vùng nông thôn rộng lớn. Đặc biệt ở Sài Gòn, Huế, Đà Nẵng, phong trào đấu tranh đô thị tại những thành phố lớn này đã thu hút đông đảo quần chúng, nhất là giới Phật tử, các tầng lớp học sinh, sinh viên tham gia. Các phong trào này đã góp phần quyết định làm lung lay hệ thống ngụy quyền, buộc Mỹ phải đi đến quyết định "thay ngựa giữa dòng".


Đồng bào Sài Gòn biểu tình tại chợ Bến Thành phản đối chính sách đàn áp của chế độ Mỹ-Diệm

1. "Thay ngựa giữa dòng"

Trong một hệ thống thực dân mới, kẻ xâm lược không trực tiếp quản lý và tham chiến, mà là dựng lên, nuôi lớn, huấn luyện, trả lương, cung cấp trang bị, và ủy quyền cho các tay sai trực tiếp tham chiến và quản lý, còn người chủ kiểm soát từ bên ngoài, giám sát và đánh giá xem tay sai có làm việc hiệu quả không, tay sai có vai trò gần như một dạng CEO, giám đốc.

Và ông chủ Mỹ ngày càng chán những cách làm kém chính trị, độc đoán, quá khích, cuồng tín, những hành động trắng trợn, lộ liễu gây tai tiếng, đàn áp tôn giáo, tấn công Phật giáo và phân biệt đối xử với các tín hữu Cao Đài, Hòa Hảo (không phải lực lượng vũ trang), chủ yếu để bảo vệ lợi ích Công giáo và lợi ích gia tộc họ Ngô. Người Mỹ dần không còn kiên nhẫn với Diệm. Nhật ký Lầu Năm Góc viết: "Vô luận nó đã đóng góp như thế nào vào nền an ninh nội bộ của chính Việt Nam Cộng hòa, chiến dịch tố cộng đã làm kinh hoàng những người nông dân Việt Nam và làm cho dân chúng thêm thù ghét chế độ".

Phóng viên Thời báo New York Neil Sheehan, trong sách "Sự lừa dối hào nhoáng" do NXB Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh chuyển ngữ và xuất bản năm 1990, đã cho biết như sau: "Mặc dù có những niềm hy vọng của Mỹ và cố gắng viện trợ như vậy, cuộc nổi loạn ở nông thôn đã bắt đầu nổ ra lại vào năm 1957 và đặc biệt là năm 1958. Tình báo quốc gia Mỹ đoán trước: Sự bất mãn và phẫn nộ đối với chính phủ Sài Gòn có lẽ tiếp tục tăng lên và nếu những chiều hướng bất lợi này không bị ngăn chặn thì hầu như chắc chắn sẽ dẫn tới sự sụp đổ nhanh chóng của chế độ Diệm." và "Hoa Kỳ tìm cách tiêu diệt tổ chức Việt Minh cũ và đặt cho cái tên Việt Cộng. Nhưng trong quá trình đó, Hoa Kỳ lại tạo ra một Việt Minh mới còn lợi hại hơn rất nhiều cái tổ chức Việt Minh cũ mà người Pháp đã phải đương đầu ở Việt Nam.".

Theo Nhật ký Lầu Năm Góc mà nhân viên Bộ quốc phòng Mỹ Daniel Ellsberg giao lại cho nhà báo Neil Sheehan, bản đánh giá tình hình của sứ quán Mỹ tháng 1 năm 1960 đã nhận xét như sau: "Chúng ta có thể tóm tắt tình hình như thế này: Chính phủ đối xử với dân chúng với thái độ nghi ngờ và dọa nạt, và đã được đền đáp gằng một sự thờ ơ và lòng căm thù". Trong một đoạn khác Nhật ký Lầu Năm Góc lại ghi: "Ngô Đình Diệm cũng không kiểm soát được dân chúng ở thành phố hoặc giới trí thức.".

Chính nguyền Ngô Đình Diệm đã bất lực trong nhiệm vụ chống phong trào giải phóng dân tộc và thống nhất đất nước được Mỹ ủy nhiệm. Ông ta quản lý theo phong cách độc tài, độc đoán và bổ nhiệm toàn người nhà với nhau nắm các chức vụ và vai trò quản lý quan trọng, do đó gây mất lòng những tay sai khác của Mỹ, họ liên tục nói xấu Diệm với người Mỹ.

Ngoài tai tiếng "gia đình trị", chính quyền họ Ngô còn có tiếng "Công giáo trị", phân biệt, đối xử bất công, xua đuổi, trấn áp các giáo phái, tôn giáo khác. Và khi các Phật tử và giới Phật giáo đấu tranh đòi tự do bình đẳng tín ngưỡng thì chính quyền Diệm và quân đội Sài Gòn mạnh tay đàn áp, khủng bố, bắt bớ, bỏ tù, gây ra biến cố Phật giáo năm 1963 mà giới tăng ni Phật tử gọi là một pháp nạn, vụ xả súng Phật Đản Huế, vụ tấn công hóa học, rải chất độc hóa học lên đầu các nhà sư ở Huế, cuộc tấn công chùa Xá Lợi v.v.. Bồ tát Thích Quảng Đức và nhiều tăng ni khác đã tự thiêu để phản đối các cuộc đàn áp của ngụy quyền Ngô Đình Diệm.

Thượng tọa Thích Nhất Hạnh theo góc nhìn đạo pháp, đã nói về những biến cố đó như sau:

 

"Báo chí gọi đó là một hành động tự tử, nhưng thực chất không phải. Ngay cả đó không phải là một hành động phản đối. Điều mà những vị sư đã viết trong những bức thư để lại trước lúc tự thiêu là nhằm cảnh tỉnh, là để chuyển đổi tâm tư của những nhà cầm quyền, và để kêu gọi thế giới quan tâm đến những nỗi thống khổ triền miên của người dân Việt Nam. Người tự thiêu là để chứng tỏ rằng nguyện vọng mà ông đề cập là rất tối ư quan trọng.... Tu sĩ Việt Nam tự thiêu nói lên với tất cả sức mạnh và quyết chí rằng tôi có thể chịu đựng sự khổ đau cùng cực nhất để bảo vệ cho đồng bào của tôi.... Để bày tỏ ước vọng bằng cách tự thiêu của một người, vì thế, không phải là một hành động hủy diệt mà là một hành động tạo dựng, đó là, để đau khổ và để chết cho người khác. Như thế, tự thiêu không phải là một hành động tự tử."



Thầy Nhất Hạnh đi xa hơn để giải thích tại sao sự tự thiêu của Bồ tát Thích Quảng Đức không phải là một cuộc tự tử, tự tử là trái với lời dạy của Đức Phật:
 

"Tự tử là một hành động tự hủy do những nguyên nhân sau đây: 1) Thiếu ý chí để sống và gặp những khó khăn; 2) Thất bại trong cuộc sống và tuyệt vọng; 3) Không muốn sống...Vị tu sĩ tự thiêu (Thích Quảng Đức) không mất nghị lực, không thiếu hy vọng; cũng như không phải không muốn sống. Trái lại, ngài có đầy nghị lực, tràn hy vọng và mong ước một cái gì tốt cho tương lai. Ngài không có ý nghĩ tự hủy; nhưng tin vào những hoa trái tốt từ sự tự hy hiến đời mình cho kẻ khác... Tôi tin chắc rằng tất cả các vị sư tự thiêu không muốn những người cai trị chết, nhưng chỉ nhằm thay đổi chính sách của họ. Kẻ thù của chúng ta không phải là con người. Kẻ thù của chúng ta là sự thiếu khoan dung, cuồng tín, độc tài, tham đắm, hận thù và kỳ thị, chúng đang nằm sẵn trong tâm của con người."



Hòa thượng Thích Quảng Đức cùng sáu người khác là Thượng tọa Thích Tiêu Diêu, Đại đức Thích Thanh Tuệ, Đại đức Thích Thiện Mỹ, Đại đức Thích Nguyên Hương, sư cô Thích Nữ Diệu Quang và phật tử Đặng Thị Ngọc Tuyền.... đều đã tự thiêu để phản đối chiến tranh, phản đối tội ác, phản đối ngụy quyền và các chính sách, hành động đàn áp Phật giáo của họ.

Sau nhiều cuộc tự thiêu đó, ngụy quyền Ngô Đình Diệm bối rối vu khống "nhiếp ảnh gia Browne đã hối lộ các nhà sư Phật giáo để giết một nhà sư đồng nghiệp". Bà Trần Lệ Xuân (vợ Ngô Đình Nhu, em dâu Ngô Đình Diệm) nói thêm những câu vô cảm đổ dầu vào lửa mà các báo chí quốc tế đã ghi nhận:

"Tất cả những việc mà Phật giáo đóng góp cho đất nước từ trước đến nay không có gì ngoài việc thiêu sống một nhà sư...."

"Ông Thích Quảng Đức bị chích thuốc và bị cưỡng bức thiêu sống."

"Tôi sẽ vỗ tay khi thấy thêm một cuộc trình diễn thịt nướng, một người không thể chịu trách nhiệm cho sự khùng điên của những người khác."

"Cứ để họ bị đốt đi và chúng tôi sẽ vỗ tay."


Về sau bà Nhu đã tìm cách nói chữa, khỏa lấp hoặc biện minh các phát biểu vô trách nhiệm này. Ngày 15 tháng 8 một nhà sư khác tự thiêu ở Huế, ba ngày sau đó sư cô Diệu Quang tự thiêu ở Khánh Hòa. Sau bi kịch đó, bà Nhu lại nói: "Nếu Phật giáo muốn có một vụ nướng thịt khác thì tôi rất vui lòng cung cấp xăng."

Thời điểm đó nhân dân các quốc gia Á - Phi cùng nhau xuống đường liên tục biểu tình chống Chiến tranh Việt Nam với các biểu ngữ lớn: "Một tăng sĩ Phật giáo hy sinh thân mạng để chống chủ nghĩa đế quốc Mỹ-Diệm." Ngoài ra vụ thảm sát đầu độc giết hại hàng ngàn tù chính trị ở nhà tù Phú Lợi, tuy không liên quan đến vấn đề tôn giáo, nhưng cũng gây chấn động và làm nóng dư luận thêm hơn. Ngụy quyền nhà họ Ngô bị chống ở Việt Nam và khắp thế giới, họ bị chống bởi cả những tay sai khác của Mỹ.

Trước tình hình đó, Mỹ đành quyết định "thay ngựa giữa dòng" để vãn hồi sự ổn định chính trị trong vùng tạm chiếm ở miền Nam Việt Nam. Và cũng là để bảo vệ "uy tín", hình ảnh, "thương hiệu", danh dự nước lớn của họ. 

Hồ sơ Lầu Năm Góc (The Pentagon Papers - Tên gốc là United States - Vietnam Relations, 1945-1967: A Study Prepared by the Department of Defense, tạm dịch: Quan hệ Mỹ - Việt, 1945-1967: Một nghiên cứu được chuẩn bị bởi Bộ quốc phòng), do chuyên viên phân tích quân sự của Bộ quốc phòng Mỹ và Lầu Năm Góc, sĩ quan Daniel Ellsberg giao cho nhà báo Thời báo New York Neil Sheehan có những đoạn như sau:

"Sự bất mãn với chế độ Diệm đã trở thành cấp bách trong tháng 8 năm 1963. Nhà nước (Hoa Kỳ) ngày 8/21/1963 đã ghi nhận rõ vấn đề này là nghiêm trọng. Chính phủ của Diệm đã xông vào ngôi chùa Phật giáo vào ngày hôm đó. Các vấn đề chưa được giải quyết giữa chính phủ và các nhà sư Phật giáo đã tiếp tục kể từ mùa xuân năm 1963, khi một số tu sĩ, trong đó có Quảng Đức, tự thiêu. Bà Nhu, em dâu của tổng thống, đã nói một cách khinh miệt rằng các nhà sư là "thịt nướng của Phật giáo" và hứa cung cấp thêm xăng. Các hành động đàn áp trong tháng 8 đã cho thấy rằng 'Diệm phải đi'."

"Tổng thống Kennedy đã nhận được một cuộc họp báo về ngày 27 tháng 8 năm 1963. William Colby, một trong các chuyên gia CIA về Việt Nam, trong một cuộc báo cáo liên quan của 2 vị tướng Việt Nam Cộng hòa ngày hôm trước. Họ đã báo cáo: 'Tình hình cho một cuộc đảo chính là thuận lợi và dự báo nó sẽ kéo dài một tuần.'"

"Trong cuộc họp này, Đại sứ Nolting quan sát thấy rằng 'các tướng lãnh Việt Nam Cộng hòa không có lá gan của Diệm hay Nhu'."

"Hai ngày sau đó, tổng thống (John F. Kennedy) đã gởi một tin nhắn đến Henry Cabot Lodge, Jr, đại sứ Mỹ tại Nam Việt Nam. Tin nhắn đã cho thấy rõ ràng rằng John F. Kennedy đồng ý kế hoạch của các tướng Việt Nam Cộng hòa nhưng bảo lưu quyền, với thẩm quyền của một Tổng tư lệnh, để thay đổi quyết định vào phút cuối cùng."

"Một bản lưu của CIA cho biết đã cố vấn cho nhóm Trần Kim Tuyến cố gắng ám sát Nhu vào ngày 13/9/1963, nhưng đã "thất bại khi các ngòi nổ bị hỏng". Mặc dù vậy, nhóm đã tự tin "cuộc đảo chính cuối cùng sẽ thành công". Mục tiêu, trong số những người khác, là 'nhà Ngô'."
 

Theo bản báo cáo 1034 từ Sài Gòn gởi đến Washington vào ngày 19/9/1963, nằm trong các hồ sơ Lầu Năm Góc được giải mật và lưu trữ trong cơ quan NARA của chính phủ Hoa Kỳ, thì:

"Một báo cáo của CIA, chuẩn bị cho tổng thống (Hoa Kỳ) vào ngày 19/9/1963, chỉ ra rằng quân đội và tình báo người Mỹ ở miền Nam Việt Nam đã chia rẽ quan điểm về vấn đề có nên đảo chính hay không." Trang thứ hai của bản ghi còn cho biết:"Nhóm CIA ủng hộ cuộc đảo chính quan tâm nhất đến việc đưa lên một chính phủ mà họ có thể điều khiển, điều đó hợp lý hóa những khoản tiền khổng lồ mà họ đã bỏ ra."

Nữ phóng viên chiến trường Beverly Deepe Keever, trong hồi ký Death Zones and Darling Spies, seven years of Vietnam War reporting (Tử địa và các điệp viên đáng yêu, bảy năm làm phóng sự về Chiến tranh Việt Nam), Đại học Nebraska mới xuất bản năm 2013, đã cho biết: "Khi Lodge (Đại sứ Hoa Kỳ Henry Cabot Lodge, Jr) đến sân bay Tân Sơn Nhứt, tôi đã cảm nhận thấy ông ta đã quyết định rằng 'Diệm phải đi'."

Tuần báo Newsweek số ra ngày 24/12/2001, trong bài viết về ảnh hưởng của CIA đối với các nhà lãnh đạo trên thế giới, tác giả khi nhắc đến cái chết của Ngô Đình Diệm, đã viết một câu bên cạnh bức hình sau:



Có thể hiểu câu tiếng Anh nói trên như sau: Năm 1963, chính phủ Kennedy đã nhận thấy sự tồn tại của "tổng thống Nam Việt Nam" Ngô Đình Diệm là có lợi cho cộng sản và đã quyết định "Diệm phải đi". CIA đã thực hiện cuộc ám sát kết quả đưa đến cái chết của ông ta vào tháng 11 năm 1963.

Đại tá L. Fletcher Prouty trong sách The secret team: The CIA and its allies in control of the United States and the world (Đội ngũ bí mật: CIA và các đồng minh kiểm soát Hoa Kỳ và thế giới) do Prentice-Hall xuất bản năm 1973 đã cho biết điệp viên CIA, trung tá Lucien Conein đã gặp và trả công tận tay 40.000 USD cho binh lính Sài Gòn đảo chính lật đổ chính quyền Diệm.

Cựu quân nhân Chiến tranh Việt Nam, Bruce O. Solheim, giáo sư sử học ở Đại học Citrus, trong sách Vietnam War Era: A Personal Journey (Thời kỳ Chiến tranh Việt Nam: Một hành trình riêng), do Đại học Nebraska xuất bản năm 2008, đã cho biết:"Với tầm nhìn ngắn, chính phủ John F. Kennedy đã phê duyệt cuộc đảo chính và giết Diệm và Nhu, sự kiện này đưa đến một khoảng trống lãnh đạo ở Nam Việt Nam mà hầu như chưa bao giờ được bù đắp. Người Mỹ đã bước vào và tạo ra một chính quyền con rối lệ thuộc."

Sau khi Mỹ "thay ngựa giữa dòng" và thử nghiệm đưa lên một loạt các nhân tuyển khác nhau và dừng ở cặp bài trùng Nguyễn Văn Thiệu - Nguyễn Cao Kỳ, quân Giải phóng đã mở chiến dịch tiến công ở miền Đông Nam Bộ, đánh thắng trận Bình Giã, về cơ bản đã làm phá sản chiến lược chiến tranh đặc biệt của Mỹ.

Đến đây, kế hoạch Staley-Taylor đã không còn hiệu quả. Giới cầm quyền Mỹ bắt đầu đề ra và thực hiện một số quyết định chiến lược mới. Ngày 8 tháng 3 năm 1965, khi Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ đổ quân xuống Đà Nẵng, kế hoạch Staley-Taylor và chiến lược chiến tranh đặc biệt chính thức chấm dứt. Chiến tranh Mỹ - Việt bước sang giai đoạn mới, giai đoạn Mỹ kéo đại quân đến Việt Nam trực tiếp xâm lược, thực hiện chiến lược tác chiến Tìm và Diệt và chiến lược chiến tranh cục bộ.


"Cố vấn" Mỹ và lính ngụy đang dừng chân nghỉ giải lao. Trong chiến tranh xâm lược Việt Nam, các "cố vấn" Mỹ thực tế không có vai trò của một người cố vấn, tham vấn, tư vấn, mưu sĩ, mà là vai trò của một người chỉ huy về quân sự và cả chính trị (như chính trị viên của VN). "Cố vấn" Mỹ có mặt ở cấp tiểu đoàn ngụy, trong chiến tranh đặc biệt có mặt ở tận cấp đại đội, để chỉ huy, giám sát và kiểm soát.