THỜI GIAN LÀM VIỆC 24/24
 

HOTLINE : (028) 6270 0119 - (028) 2215 4274
0982 120 908 - 090 371 5529 - 0933 161 985
Cơ sở 1: 245 Bình Quới (1051 Xô Viết Nghệ Tỉnh - số cũ) - P.28 - Q.Bình Thạnh - Tp.HCM
Cơ sở 2: 978 Nguyễn Duy Trinh - P. Phú Hữu - Q.9 - Tp.HCM

TRUNG TÂM ĐIỀU DƯỠNG VÀ CAI NGHIỆN MA TÚY THANH ĐA 
Địa chỉ : 1051 Bình Quới (Xô Viết Nghệ Tĩnh) - P.28 - Q.Bình Thạnh - Tp.HCM
Điện thoại: (028).38986513 - 38986515(Ext:12) - (028).22154274 - MST: 0301910027

hieulongtexas.blogspot.com

Toàn cảnh cuộc đối đầu lịch sử Việt - Mỹ 1954-1975 - Kỳ 4 - Tiếp theo và hết

Tình nghĩa giữa Việt Nam với nhân dân Mỹ và thế giới 

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, các phong trào phản đối chiến tranh Việt Nam và bày tỏ tinh thần ủng hộ Việt Nam của người nước ngoài đã diễn ra khắp thế giới, đặc biệt ở ngay tại chính quốc Hoa Kỳ, và đặc biệt dữ dội trong giai đoạn từ năm 1964 đến 1973 khi đại quân Hoa Kỳ trực tiếp chiến đấu ở Việt Nam.

Tại Mỹ, phong trào bao gồm hơn 200 tổ chức quần chúng, trong đó có nhiều tổ chức nằm dưới dưới sự lãnh đạo của Ủy ban Phối hợp Toàn quốc đấu tranh đòi chấm dứt chiến tranh xâm lược ở Việt Nam. Được hàng trăm thành phố, hàng chục vạn người tham gia đấu tranh bằng nhiều hình thức phong phú và quyết liệt (mít tinh, biểu tình, đốt thẻ quân dịch, bãi khóa, chống lính, tự thiêu....).

Một vài sự kiện tiêu biểu như: Cuộc biểu tình đồng loạt của khoảng 10 vạn người ở 60 thành phố trong ngày Quốc tế phản đối chiến tranh xâm lược của Mỹ ở Miền Nam Việt Nam (15-17/10/1965), do Ủy ban Ngày Việt Nam tổ chức; Tuần lễ chống chiến tranh xâm lược Việt Nam, tháng 10/1967 của khoảng 2 vạn người khắp nước Mỹ tập trung về Washington (có sự phối hợp đấu tranh của người dân các nước Canada, Anh, Đức, Pháp, Bỉ, Ý, Thụy Điển, Phần Lan, Na Uy, Đan Mạch, Úc....); có 16 vụ tự thiêu để phản đối cuộc chiến của Mỹ ở Việt Nam; năm 1968, gần 5 vạn thanh niên trốn lính trong phong trào chống đi lính; gần 1 ngàn trường cao đẳng và đại học tổng bãi khóa; gần 300 ngàn công nhân thuộc ngành hàng không, ngành điện.... đình công, làm tê liệt các ngành sản xuất này.

Xuất phát từ sự đàn áp bằng bạo lực và sự kỳ thị của cảnh sát da trắng tại nhiều nơi, ngày 7/8/1966 các cộng đồng người da đen đã phản ứng mạnh và gần như nổ ra nội chiến ở khoảng 100 thành phố, nhất là các thành phố ở California và New York, vùng Tây Nam và Đông Bắc Hoa Kỳ.

Khoảng 16 triệu trong số 27 triệu thanh niên Mỹ đến tuổi quân dịch đã chống lệnh cưỡng bách quân dịch, khoảng 2 triệu người Mỹ bị các chính quyền Mỹ cáo buộc "gây thiệt hại bất hợp pháp" vì phản đối chiến tranh Việt Nam. Trong phong trào chống bắt lính, có khoảng 75 ngàn người Mỹ đã phải bỏ ra nước ngoài vì không chịu nhập ngũ, và ở bên ngoài họ tiếp tục đấu tranh chống chiến tranh xâm lược, trong đó có người thanh niên Bill Clinton, người sau này là tổng thống Hoa Kỳ.

Trong những lần biểu tình phản đối chiến tranh xâm lược Việt Nam, người Mỹ giương cao các biểu ngữ: "Hey, hey LBJ, how many kids have you killed today?" (Lyndon B. Johnson, hôm nay ông đã giết bao nhiêu trẻ em rồi?), "Ho, Ho, Ho Chi Minh! The NLF is going to win!" (Hồ, Hồ, Hồ Chí Minh! Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam sẽ chiến thắng!).

Tóm tắt lại, cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân Việt Nam đã được bạn bè thế giới và Hoa Kỳ ủng hộ mạnh mẽ bằng nhiều hình thức phong phú. Trong đó, có:

 

  • Hơn 10 Ủy ban quốc tế đoàn kết với Việt Nam của các tổ chức dân chủ, tôn giáo và tổ chức xã hội trên toàn thế giới.
  • Hơn 200 tổ chức, ủy ban, phong trào đoàn kết ủng hộ Việt Nam ở hầu hết các nước trên thế giới.
  • Hơn 30 hội nghị quốc tế về Việt Nam và nhiều hội nghị quốc tế khác đã dành thời gian thảo luận bàn biện pháp để ủng hộ Việt Nam.
  • Hàng trăm nước có mít tinh, biểu tình, bãi công chống Mỹ xâm lược Việt Nam.
  • Hơn 50 nước có phong trào quyên góp ủng hộ Việt Nam.
  • 16 nước có phong trào hiến máu ủng hộ Việt Nam.
  • 48 người ở 4 nước ngoài tự thiêu (trong đó có 16 công dân Mỹ) để phản đối chiến tranh xâm lược của Mỹ ở Việt Nam.
  • 83 cơ quan đại diện Mỹ ở các nước bị người dân đập phá, cờ Mỹ bị nhân dân ở 73 nước đốt để phản đối chiến tranh xâm lược của Mỹ ở Việt Nam.


Sư đoàn Không Kỵ 1 của quân đội Mỹ tại khu vực cách Quảng Trị 8km về hướng nam (13/3/1968). Nơi đây từng là nơi đặt Bộ chỉ huy tiền phương của QĐNDVN, sau khi rút quân đã để lại một thông điệp trên tường bằng tiếng Anh. Tạm dịch: Không có sự hận thù giữa nhân dân Việt Nam và nhân dân Mỹ. Tại sao phải giết nhau? Hãy chung tay xây đắp tình bằng hữu của chúng ta". Ảnh: Bettmann/Corbris


Người dân Mỹ giương cao cờ Mặt Trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam và cờ Hoa Kỳ để nói lên tình hữu nghị Việt - Mỹ và bày tỏ nguyện vọng hòa bình, phản đối cuộc chiến của chủ nghĩa đế quốc ở Việt Nam.

1. Ngọn lửa Morrison

Ngày 2/11/1965, 8 tháng sau khi quân đội viễn chinh Mỹ bắt đầu đặt chân vào Đà Nẵng của Việt Nam, một người Mỹ là Norman Morrison đã tự thiêu ngay trước Lầu Năm Góc ở thủ đô Washington để phản đối Chiến tranh Việt Nam. Hành động này đã làm bùng lên phong trào phản đối Chiến tranh Việt Nam đã âm ỉ từ lâu ngay trong lòng nước Mỹ.

Ông Norman Morrison quê quán ở Erie thuộc bang Pensylvania, Hoa Kỳ. Năm 1959, ông nhận bằng Cử nhân Thần học tại Đại học Pittsburgh Seminary và gia nhập hội "Những người bạn", một tổ chức gồm những người hoạt động vì hòa bình thế giới. Năm 1961-1962, ông dạy Kinh Tân ước và Cựu ước tại một trường trung học. Ông là một trong những người hoạt động tích cực trong phong trào hoạt động phản đối cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam của chính quyền Lyndon B. Johnson.

Từ năm 1965, khi Mỹ ồ ạt đưa quân vào miền Nam và dùng không quân đánh phá tràn lan ra các tỉnh miền Bắc Việt Nam, Morrison đã nhiều lần xuống đường phản đối, nhưng cuộc chiến tranh ngày một khốc liệt hơn. Ông nghĩ rằng các khẩu hiệu, băng rôn và các cuộc tuần hành không làm những người cầm quyền chú ý thì anh phải dùng tới biện pháp cuối cùng: Ngọn lửa của thân thể mình! Thời điểm đó, Morrison đã có vợ và hai con gái, nhỏ tuổi nhất là cháu bé tên Emily, mới 18 tháng tuổi. Buổi chiều ngày 2/11/1965, Morrison bế bé Emily đến sát Lầu Năm Góc, trụ sở của Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ, bên dòng sông Potomac, sau khi đã viết lá thơ gởi lại cho vợ. Morrison đặt cháu Emily ra xa rồi tưới xăng, châm lửa tự thiêu, ánh lửa bùng lên như một thông điệp của người dân Mỹ đòi chấm dứt cuộc chiến tranh xâm lược và các tội ác của quân đội Hoa Kỳ tại Việt Nam.


Norman Morrison

Theo hồi tưởng của vợ Norman Morrison, bà Anne Morrison Welsh, vào buổi sáng hôm đó, Morrison bế con gái thứ hai của mình, bé Emily, đi đến trước Lầu Năm Góc. Sau đó, ông đặt Emily xuống, gởi cho một người trong đám đông bạn bè đồng chí hướng vây quanh, tự đổ dầu lên người và châm lửa.

Trong cuốn hồi ký của mình, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ (1961-1968) Robert McNamara đã thú nhận: "Cái chết của Morrison không chỉ là bi kịch cho gia đình anh ta mà còn cả cho tôi và nước Mỹ. Đó là một tiếng kêu gào chống lại những giết chóc đang hủy hoại cuộc đời của những người Mỹ và người Việt."

Trong phong bì để lại cho người vợ trước khi tự thiêu, Norman Morrison viết:

 

"Anne yêu quý, đừng chỉ trích anh. Đã nhiều tuần, thậm chí nhiều tháng, anh chỉ cầu nguyện được thấy điều anh phải làm. Sáng nay, thật tình cờ anh đã thấy nó, rõ ràng như điều anh biết vào đêm thứ sáu, tháng 8/1955 rằng em sẽ trở thành vợ anh.... Hãy hiểu rằng anh yêu các con, nhưng phải hành động vì những đứa trẻ trong ngôi làng của vị linh mục".



Vợ của Morrison và hai người con gái đã tới Việt Nam vào năm 1999 và họ đã gặp nhà thơ Tố Hữu, người đã sáng tác bài thơ "Emily, con ơi" nổi tiếng.

Ba tuần sau khi ông Morrison hy sinh, bạn bè của ông đã tổ chức một lễ tưởng niệm. John Roemer, một trong những bạn đồng hành của Morrison đã lý giải về hành động tự thiêu của bạn mình: "Trong một xã hội mà mọi thứ đều bình thường khi con người thả bom xuống mục tiêu chính là đồng loại của mình…. Đối với Morrison thì như thế là không bình thường và thông điệp của anh ấy là kêu gọi hãy dừng lại".

Ngay sau sự kiện lịch sử đó, nhà thơ Tố Hữu đã sáng tác bài thơ "Ê mi ly con ơi" nổi tiếng, để tưởng nhớ ông Morrison và tưởng niệm sự kiện này:

Ê mi ly con ơi!
Ê mi-ly, con đi cùng cha
Sau khôn lớn con thuộc đường, khỏi lạc...
- Đi đâu cha?
- Ra bờ sông Pô-tô-mác
- Xem gì cha?
Không con ơi, chỉ có Lầu ngũ giác.
Ôi con tôi, đôi mắt tròn xoe
Ôi con tôi, mái tóc vàng hoe
Đừng có hỏi cha nhiều con nhé!
Cha bế con đi, tối con về với mẹ...
Oa-sinh-tơn
Buổi hoàng hôn
Ôi những linh hồn
Còn, mất
Hãy cháy lên, cháy lên Sự thật!
Giôn-xơn!
Tội ác bay chồng chất
Cả nhân loại căm hờn
Con quỷ vàng trên mặt đất.
Mày không thể mượn nước son
Của Thiên Chúa, và màu vàng của Phật!
Mác Na-ma-ra
Mày trốn đâu? Giữa bãi tha ma
Của toà nhà năm góc
Mỗi góc, một châu.
Mày vẫn chui đầu
Trong lửa nóng
Như đà điểu rúc đầu trong cát bỏng.

Hãy nhìn đây!
Nhìn ta phút này!
Ôi không chỉ là ta với con gái nhỏ trong tay
Ta là Hôm nay
Và con ta, Ê-mi-ly ơi, con là mãi mãi!
Ta đứng dậy,
Với trái tim vĩ đại
Của trăm triệu con người
Nước Mỹ.
Để đốt sáng đến chân trời
Một ngọn đèn
Công lý.

Hỡi tất cả chúng bay, một bầy ma quỷ
Nhân danh ai?
Bay mang những B 52
Những na-pan, hơi độc
Từ toà Bạch Ốc
Từ đảo Guy-am
Đến Việt Nam
Để ám sát hoà bình và tự do dân tộc
Để đốt những nhà thương, trường học
Giết những con người chỉ biết yêu thương
Giết những trẻ em chỉ biết đi trường
Giết những đồng xanh bốn mùa hoa lá
Và giết cả những dòng sông của thơ ca nhạc hoạ!

Nhân danh ai?
Bay chôn tuổi thanh xuân của chúng ta trong những quan tài
Ôi những người con trai khoẻ đẹp
Có thể biến thiên nhiên thành điện, thép
Cho con người hạnh phúc hôm nay!

Nhân danh ai?
Bay đưa ta đến những rừng dày
Những hố chông, những đồng lầy kháng chiến
Những làng phố đã trở nên pháo đài ẩn hiện
Những ngày đêm đất chuyển trời rung...
Ôi Việt Nam, xứ sở lạ lùng
Đến em thơ cũng hoá thành những anh hùng
Đến ong dại cũng luyện thành chiến sĩ
Và hoa trái cũng biến thành vũ khí!

Hãy chết đi, chết đi
Tất cả chúng bay, một bầy ma quỷ!
Và xin nghe, nước Mỹ ta ơi!
Tiếng thương đau, tiếng căm giận đời đời
Của một người con. Của một con người thế kỷ

Ê-mi-ly, con ơi!
Trời sắp tối rồi...
Cha không bế con về được nữa!
Khi đã sáng bùng lên ngọn lửa
Đêm nay mẹ đến tìm con
Con sẽ ôm lấy mẹ mà hôn
Cho cha nhé
Và con sẽ nói giùm với mẹ:
Cha đi vui, xin mẹ đừng buồn!
Oa-sinh-tơn
Buổi hoàng hôn
Còn mất?
Đã đến phút lòng ta sáng nhất
Ta đốt thân ta
Cho ngọn lửa chói loà
Sự thật.


Tố Hữu


Bà Anna Morrison Welsh trong chuyến thăm Việt Nam nhân dịp lễ kỷ niệm ngày giải phóng miền Nam tháng 4 năm 1999.

Khi hay tin về vụ tự thiêu của ông Morrison, Bác Hồ đã gởi lời chia buồn tới bà Anna Morrison Welsh, vợ của Norman Morrison. Còn đối với Emily, mãi đến năm 15 tuổi, lần đầu tiên cô mới được đọc bài thơ của nhà thơ Tố Hữu. Trong bài thơ trả lời "Gửi ngài Tố Hữu", cô đã nói cảm giác của mình lần đầu tiên được tiếp xúc với bài thơ Tố Hữu viết về người cha:

“Khi tôi mười lăm tuổi
Một người bạn nói
Có một bài thơ
Về tôi.
Một tuần sau lá thư đến
Bằng đường bưu điện
Tôi những muốn mở nó ngay
Nhưng rồi kiềm chế mình
Tôi đã chạy ra ngoài
Ðến dưới gốc một cây thông lớn
Ngồi một mình trên cỏ
Và khi cảm thấy thật bình yên
Mới mở thư ra.
Ngay khi đọc những dòng chữ đầu tiên
Tôi đã khóc…”.


Cô bày tỏ lòng biết ơn nhà thơ Tố Hữu vì nhờ ông mà nhiều người Mỹ biết được ý nghĩa sự hy sinh của cha cô. Và trong buổi gặp mặt với nhà thơ Tố Hữu, chính Emily đã đọc bài thơ do mình sáng tác. Sau khi nghe Emily đọc bài thơ, nhà thơ Tố Hữu đã cảm động đứng dậy ôm cô vào lòng. Rồi nhà thơ Tố Hữu đọc tặng khách một bài thơ mà ông mới sáng tác nói về cái chết, sự hy sinh và dâng hiến, vừa là tâm sự riêng của tác giả (lúc này nhà thơ đã già yếu), đồng thời cũng gần gũi với câu chuyện về ngọn lửa Morrison:

"Xin tạm biệt bạn đời yêu quý nhất
Còn mấy vần thơ, một nắm tro
Thơ gửi bạn đường, tro gửi đất
Sống là cho và chết cũng là cho".


Mặc dù hơn ba năm sau khi tiếp gia đình bà Morrison thì nhà thơ Tố Hữu mới từ trần (tháng 12/2002), nhưng bài thơ ông đọc tặng khách cũng là tác phẩm cuối cùng trong sự nghiệp sáng tác thi ca của ông.


Tờ báo The Sun tại Baltimore, Maryland đưa tin sự kiện Morrison tự thiêu

Ngày 15/11/1969, bốn năm sau đó, một cuộc tuần hành khoảng 250 ngàn người nổ ra ở đại lộ số 5 trung tâm New York, chỉ cách Quảng trường Thời đại (Times Square) vài dãy phố. Cùng lúc là hàng loạt các cuộc xuống đường ở nhiều thành phố lớn tại cả bờ Đông và bờ Tây nước Mỹ.

Cuộc biểu tình này vượt tầm kiểm soát của chính quyền Mỹ. Các quan chức Mỹ hỏi nhau: chuyện gì đang xảy ra và tại sao? Trước đó, người Mỹ chỉ nghe về cuộc chiến tranh Việt Nam qua loa tuyên truyền của chính quyền Mỹ. Nhưng cho đến cuộc tấn công mùa xuân 1968, báo chí Mỹ, đặc biệt là truyền hình Mỹ đã truyền tải hình ảnh cuộc chiến Việt Nam đến tận từng gia đình người Mỹ. Người Mỹ nhìn thấy tận mắt binh lính họ châm lửa đốt nhà dân thường, bắn chết người vô tội, những em bé bị bom napalm bốc cháy, tòa đại sứ Mỹ bị đánh úp, binh lính Mỹ kéo lê xác đồng đội….


Người Mỹ châm biếm "con rối Sài Gòn" trong một cuộc xuống đường diễu hành phản chiến.

Phong trào phản chiến bước sang một bước ngoặt mới khi cuộc biểu tình ôn hòa của sinh viên Đại học Tiểu bang Kent (bang Ohio) ngày 4/5/1970 đã bị Vệ binh quốc gia Mỹ xả súng vào. Kết quả là 4 sinh viên bị bắn chết và 9 người khác bị thương.

Vụ xả súng Đại học Tiểu bang Kent đã gây sốc toàn nước Mỹ. Hàng trăm thành phố nổi dậy, có thể nói cả một thế hệ thanh niên và trung niên, đặc biệt cộng đồng người gốc Phi và người gốc Mỹ Latinh, đã tham gia phong trào phản chiến. Đó thật sự là cuộc nội chiến ngay trong lòng nước Mỹ. Có thể nói cuộc chiến đấu ngoan cường của dân tộc Việt Nam đã làm rung động lương tri của nhân dân thế giới và nhất là nhân dân Mỹ, do đó dư luận thế giới thời đó đã gọi Việt Nam là "lương tâm của thời đại".

2. Biểu tượng Martin Luther King

Ngày 4/4/1967, giữa lúc bom đạn và chất độc hóa học của Mỹ trút xuống Việt Nam, một người Mỹ gốc Phi tuyên bố trước công chúng ở New York: "Tôi nói với tư cách một người anh em của những người Việt Nam nghèo khổ" và kêu gọi: "Để chuộc lại những tội lỗi và sai lầm của chúng ta ở Việt Nam, chúng ta phải chủ động chấm dứt cuộc chiến tranh bi thảm này". Người đó là mục sư Martin Luther King, Jr., là một nhà tranh đấu cho dân quyền và nhân quyền ở Mỹ. Ông không những nổi danh ở Mỹ mà còn trên thế giới. Ông là một thủ lĩnh nổi tiếng của phong trào đấu tranh đòi quyền công dân, bình đẳng chủng tộc cho người da màu, da đen ở Mỹ.

Ngoài ra, ông còn là người kiên quyết phản đối cuộc chiến tại Việt Nam và hoạt động nhiệt tình cho nền hòa bình của Việt Nam. Các trường học công lập của Mỹ ngày nay chỉ chủ yếu dạy về nỗ lực đòi quyền bình đẳng cho người da màu, da đen của Martin Luther King, Jr., tránh né quan điểm của ông về Chiến tranh Việt Nam và các hoạt động phản chiến của ông, nhiều trường hoàn toàn lờ đi không nhắc đến những chuyện này.

Đúng một năm sau, ngày 4/4/1968, ông đã hy sinh trong cuộc đấu tranh đó. Ông bị ám sát ở Memphis, Tennessee và đến nay "vẫn chưa tìm ra được hung thủ chủ mưu", "chưa thể điều tra được". Hồ sơ FBI về vụ án này đã bị xếp xó từ rất lâu. Từ đó về sau Martin Luther King, Jr. đã trở nên một biểu tượng nổi tiếng trong lòng dân Mỹ, nhất là người Mỹ da màu, người Mỹ gốc Phi, đến độ sau này trong các ngày lễ chính thức hàng năm ở Mỹ có một "ngày Martin Luther King".


Từ giữa năm 1965, Martin Luther King, Jr. đã yêu cầu: "Cuộc chiến tranh ở Việt Nam phải được chấm dứt. Phải giải quyết nó bằng thương lượng". Ông phản đối Chiến tranh Việt Nam trước hết vì nó trực tiếp gây hại cho cuộc sống của những người Mỹ gốc Phi. Để có tiền cho chi phí chiến tranh, chính phủ Hoa Kỳ đã cắt giảm nhiều chương trình an sinh xã hội cho dân nghèo, đa số là người da màu. Ông và các cộng sự tính toán ra và cho biết chính phủ Mỹ đã tiêu tốn 322.000 USD để giết 1 người du kích ở Việt Nam, nhưng chỉ chi 53 USD cho 1 đầu người trong cuộc chiến chống nghèo đói ở Mỹ.

Nạn phân biệt chủng tộc, kỳ thị màu da còn thể hiện trong chiến tranh. Người da đen chỉ có 13% dân số Mỹ, nhưng chiếm đến 28% số lính Mỹ bị đẩy ra chiến trường. Chỉ có 2% sĩ quan là người da đen. Và tỷ lệ lính da đen chết trận tại Việt Nam luôn cao hơn người da trắng một cách bất bình thường.

Martin Luther King, Jr. đã vạch trần chiêu bài "bảo vệ tự do" giả hiệu mà chính phủ Mỹ thường dùng làm danh nghĩa khai chiến và cưỡng bách thanh niên sang Việt Nam. Ông nói: "Thanh niên da đen bị gửi đi xa 8.000 dặm để bảo vệ tự do cho Đông Nam Á, cái tự do mà họ không tìm thấy ở tây nam Georgia hay ở đông Harlem".

Còn một lý do khác, rộng lớn hơn và cao thượng hơn, thôi thúc ông phản đối cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam đã được ông trình bày trong bài nói chuyện tại New York ngày 4/4/1967. Ông rà soát lại chính sách của Mỹ đối với Việt Nam trong 2 thập niên của 4 đời tổng thống: Truman, Eisenhower, Kennedy và Johnson và ông nhận ra rằng trong khi chính phủ Mỹ luôn tự nhận là "lãnh đạo của thế giới tự do" thì chính Mỹ đã đứng về phía thực dân Pháp để chống lại khát vọng tự do của dân tộc Việt Nam. Sau đây là một vài trích đoạn phát biểu của ông trong bài nói chuyện ngày 4/4/1967:

 

Năm 1945, người dân Việt Nam tuyên bố nền độc lập của mình…. Họ được Hồ Chí Minh lãnh đạo. Dù họ đã trích dẫn bản Tuyên ngôn độc lập của Mỹ vào bản Tuyên ngôn độc lập của họ, chúng ta vẫn từ chối công nhận họ. Thay vào đó, chúng ta quyết định ủng hộ Pháp trong việc tái chiếm thuộc địa cũ…. Với quyết định bi thảm đó, chúng ta đã bác bỏ một chính phủ cách mạng đang đi tìm quyền tự quyết, một chính phủ được thành lập bởi chính những lực lượng bản xứ, trong đó bao gồm một số người cộng sản….

Trong 9 năm sau đó, chúng ta khước từ quyền độc lập của người dân Việt Nam. Trong suốt 9 năm đó, chúng ta ủng hộ mạnh mẽ Pháp trong nỗ lực đặt lại ách thực dân lên nước Việt Nam. Trước khi chiến tranh kết thúc, chúng ta trang trải 80% chi phí chiến tranh cho Pháp.

Ngay trước khi thua ở Điện Biên Phủ, Pháp đã bắt đầu tuyệt vọng về hành động liều lĩnh của họ, nhưng chúng ta thì không. Chúng ta khuyến khích họ bằng cách viện trợ một khối lượng khổng lồ tài chính và tiếp liệu quân sự để họ tiếp tục cuộc chiến ngay cả khi họ đã mất hết ý chí. Chẳng bao lâu, chúng ta hầu như trả toàn bộ chi phí cho ý đồ tái chiếm thuộc địa này.

Pháp bị người dân Việt Nam đánh bại, phải rút quân về nước. Nhưng Mỹ lại nhảy vào miền Nam, ngăn cản cuộc tổng tuyển cử mà chắc chắn sẽ đưa Hồ Chí Minh lên nắm quyền trong một nước Việt Nam thống nhất. Để giữ miền Nam trong quỹ đạo của Mỹ, chúng ta đã chọn thủ tướng Diệm, một trong những nhà độc tài xấu xa nhất thời hiện đại. Người dân miền Nam phải sống 9 năm dưới sự cai trị tàn bạo của Diệm. Khi Diệm bị lật đổ, lẽ ra họ có thể sống hạnh phúc, nhưng rồi một loạt chế độ độc tài quân phiệt dường như chẳng có gì thay đổi.

Trước phong trào nổi dậy của người dân miền Nam, chúng ta gửi thêm quân lính sang để ủng hộ những chính phủ thối nát một cách kinh dị, lạc lõng, không được dân chúng ủng hộ…. Người dân miền Nam chết dần chết mòn dưới bom đạn của chúng ta và xem chúng ta như kẻ thù đích thực của họ…. Chúng ta buộc họ phải rời khỏi xóm làng của cha ông họ để bị dồn vào những trại tập trung…. Chúng ta rải chất độc xuống các nguồn nước của họ, tàn phá cả triệu mẫu Anh mùa màng của họ…. Chúng ta thử nghiệm những vũ khí mới nhất của chúng ta lên trên họ, giống như bọn Đức Quốc Xã thử nghiệm những loại thuốc mới và những cách tra tấn mới trong các trại tập trung của chúng ở châu Âu…. Chúng ta tàn phá 2 định chế thiết thân nhất của họ là gia đình và xóm làng….

Ở miền Bắc, bom của chúng ta đang liên tục ném xuống đất đai, còn mìn của chúng ta đang gây nguy hiểm cho các đường sông, đường biển…. Cho đến nay, chúng ta có thể đã giết chết một triệu người Việt Nam, phần lớn là trẻ em....

Chúng ta phải thừa nhận rằng chúng ta đã sai lầm ngay từ đầu cuộc phiêu lưu của chúng ta ở Việt Nam, rằng chúng ta đã gây tổn hại cho cuộc sống của người dân Việt Nam....

Bằng cách này hay bằng cách khác, sự điên rồ này phải dừng lại. Chúng ta phải chấm dứt ngay bây giờ…. Chúng ta đã chủ động gây ra cuộc chiến tranh này, chúng ta phải chủ động chấm dứt nó…. Để chuộc lại những tội lỗi và sai lầm của chúng ta ở Việt Nam, chúng ta phải chủ động chấm dứt cuộc chiến tranh bi thảm này.

Sau khi chiến tranh kết thúc, chúng ta phải bồi thường cho những thiệt hại mà chúng ta đã gây ra. Đường lối của Mỹ ở Việt Nam là đáng thẹn và phi nghĩa nên chúng ta phải nói…. Chúng ta không thể im lặng…. Chúng ta phải tiếp tục lên tiếng nếu quốc gia của chúng ta cứ khăng khăng đi theo con đường sai lầm ở Việt Nam. Chúng ta phải sẵn sàng gắn hành động với lời nói bằng cách tìm ra mọi cách phản đối…. Chúng ta phải chuyển từ sự do dự trong quá khứ sang hành động. Chúng ta phải tìm ra những cách nói mới cho hoà bình ở Việt Nam cũng như cho công lý trong thế giới đang phát triển.... Phải làm cho thanh niên Mỹ thấy rõ vai trò của Hoa Kỳ trong việc gây ra chiến tranh ở Việt Nam và yêu cầu họ chọn cách từ chối nhập ngũ vì lý do tín ngưỡng (conscientious objection)."


Ông Martin Luther King, Jr. đưa ra các đề nghị cụ thể:
 

  • Chấm dứt mọi cuộc ném bom xuống miền Bắc và miền Nam Việt Nam.
  • Đơn phương tuyên bố ngưng bắn với hy vọng hành động đó sẽ tạo ra một bầu không khí thuận lợi cho thương thuyết.
  • Có ngay những bước đi ngay lập tức để tránh những cuộc chiến tranh khác ở Đông Nam Á bằng cách cắt bỏ việc xây dựng quân sự của chúng ta ở Thái Lan và sự can thiệp của chúng ta ở Lào.
  • Thừa nhận một cách thực tế rằng Mặt trận Dân tộc Giải phóng được sự ủng hộ to lớn ở miền Nam Việt Nam và vì vậy phải đóng một vai trò trong các cuộc thương thuyết và trong chính phủ tương lai ở Việt Nam.
  • Ấn định ngày đưa toàn bộ lính nước ngoài ra khỏi Việt Nam phù hợp với hiệp định Genève 1954.



Bài phát biểu của Martin Luther King, Jr. đã làm tỉnh ngộ rất nhiều người Mỹ, vốn lúc đó vẫn còn biết rất ít về quá trình xâm lược của Mỹ vào Việt Nam. Ông trở thành một trong những nhân vật đứng đầu sáng giá nhất của phong trào chống chiến tranh ở Hoa Kỳ. Uy tín của ông ngày càng tăng. Ông đã kêu gọi được hơn 10 vạn người xuống đường biểu tình ôn hòa phản đối chiến tranh ở New York ngày 15/4/1967, bất chấp bị những chiếc dùi cui giáng xuống, bị bắt giữ, hành hung, trấn áp.


Martin Luther King, Jr. tại trường đại học Minnesota, kêu gọi sinh viên Mỹ phản đối Chiến tranh Việt Nam, chống bắt lính, chống nhập ngũ.

Để tạo cớ đàn áp những người phản đối chiến tranh, chính phủ Mỹ cho CIA tạo dựng những hồ sơ giả và tung tin "phong trào đòi hòa bình được khởi động từ Hà Nội", những người chống đối chiến tranh, chống quân dịch là "những người cộng sản hành động theo lệnh của các chính phủ nước ngoài", với những ám chỉ rằng đó là Việt Nam và Liên Xô.

FBI cho người nghe lén điện thoại của ông, đặt máy ghi âm trong phòng khách sạn của ông. Cho tay sai khủng bố tinh thần ông bằng thư rác hay những cú điện thoại nặc danh chửi bới thô tục, quấy rối, dọa bắt cóc, thậm chí cả dọa giết. Nhà của ông ở Montgomery bị đặt bom. Cảnh sát địa phương "không điều tra ra là ai làm". Ông thừa biết những đòn bẩn nhưng vẫn không chùn bước và tiếp tục hoạt động hăng say trong phong trào phản chiến.

Ngày 28/3/1968, ông tổ chức một cuộc biểu tình đòi hoà bình, yêu cầu chính phủ Mỹ rút quân ở thành phố Memphis, bang Tennessee. Chính quyền phái hơn 4 ngàn Vệ binh quốc gia đến trấn áp, xua đuổi, đánh đập, bạo hành, bắt phải giải tán và bắt giữ 276 người. Ba ngày sau, 31/3/1968, quyết không khuất phục, ông có mặt ở thủ đô Washington tiếp tục nói chuyện tại Nhà thờ Quốc gia.

Vào cuối năm ấy sẽ có cuộc bầu cử tổng thống mới ở Mỹ. Chiến tranh Việt Nam đang là đề tài mang tính thời sự nóng bỏng trong suốt thời gian vận động tranh cử. Những ngôn luận, chính kiến, quan điểm phản đối chiến tranh, phản biện chính sách quân sự, đối ngoại của chính phủ Mỹ có thể khiến Johnson mất đi nhiều phiếu. Vì vậy Martin Luther King, Jr. càng nhận được nhiều thơ từ, cú phone nặc danh dọa giết, dọa ám sát. Trong bài phát biểu ngày 3/4/1968, ông nói trước đám đông: "Cũng như bất kỳ ai, tôi cũng muốn sống thọ. Sống thọ là điều quan trọng, nhưng hiện nay tôi không quan tâm đến điều đó nữa".

Ngay ngày hôm sau, 4/4/1968, buổi chiều, khi ông đang đứng ở lầu 2 của khách sạn Lorraine ở Memphis, ông bị bắn. Hơn một tiếng đồng hồ sau, ông trút hơi thở cuối cùng tại bệnh viện Saint Joseph.

Hay tin ông từ trần, nhân dân Hoa Kỳ và những người yêu hòa bình trên thế giới vô cùng thương tiếc. Ngày 9/4/1968, hơn 30 vạn người đau buồn tiễn đưa linh cữu của ông ra nghĩa trang. Kẻ chủ mưu cho đến nay chưa bao giờ được đưa ra ánh sáng. Sự kiện này trở thành một trong nhiều sự kiện ám sát gây tiếng vang ở Mỹ mà đến nay vẫn "không tìm ra chủ mưu".


Tổng thống Lyndon B. Johnson đã bất lực trong việc thuyết phục, ép buộc Martin Luther King, Jr. từ bỏ cuộc đấu tranh bất bạo động của ông.

Trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ và quân đội xâm lược Mỹ, nhân dân thế giới đã đứng về phía nhân dân Việt Nam, bao gồm cả nhân dân Mỹ, chống lại sự gây chiến của Mỹ và các tội ác họ gây ra ở Việt Nam, trong đó có mục sư Martin Luther King, Jr.. Ngày nay ở Việt Nam, có một con đường khang trang ở quận 7 TPHCM mang tên Martin Luther King, Jr..


 

oOo



Norman Morrison và Martin Luther King, Jr. đã trở thành một trong các biểu tượng cao đẹp nhất tiêu biểu cho sự ủng hộ to lớn của người dân Mỹ và bạn bè thế giới, đã góp phần làm nên thắng lợi cho công cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của Việt Nam.

Đó là một trong những nguyên nhân vì sao trong cuộc thảo luận tại phiên họp thứ 22 của Liên Hiệp Quốc năm 1967 chỉ có các đại diện của 7 quốc gia ủng hộ chính sách của Mỹ tại Việt Nam. Trong khi đại diện của 44 quốc gia đã phản đối gay gắt chính sách của Mỹ, trong đó có 5 đồng minh của Mỹ trong khối NATO.

Phong trào chống chiến tranh Việt Nam ở Mỹ đặc biệt bùng nổ lan rộng sau tác động to lớn của chiến dịch tổng tấn công và nổi dậy Mậu Thân 1968. Cuộc tổng tiến công và khởi nghĩa này đã biến hậu phương nước Mỹ trở thành một mớ hỗn loạn rối ren.

Phong trào phản chiến sau sự kiện Tết Mậu Thân đã bùng nổ thành một cao trào phản chiến lịch sử, gần như biến thành một cuộc nội chiến đẫm máu. Máu đã đổ khắp nơi trong lòng nước Mỹ. Dân Mỹ kéo xuống đường biểu tình để rồi bị đàn áp, bắt bớ, đánh đập, bắn giết.

Từ đó, quân đội Mỹ ngày càng rệu rã, xuống tinh thần, suy thoái đấu chí và bắt đầu gia tăng những hiện tượng nghiện ma túy, hút chích, sĩ quan bắn chết lính, lính bắn chết sĩ quan rồi đào ngũ bỏ trốn.

Sự kiện Mậu Thân 1968 đã lột trần sự thật tình hình chiến cuộc và tình trạng quân lính Mỹ ở miền Nam Việt Nam, làm cho tất cả người Mỹ, từ công chúng đến quan chức đến quân đội ở Mỹ đều nhìn nhận ra điều mà lâu nay họ không đủ dũng khí để chấp nhận: Trên 55 vạn quân Mỹ ở miền Nam Việt Nam, báo cáo bao nhiêu chiến thắng, tốn bao nhiêu nguồn lực, nhân mạng, tiền của đổ vào chiến trường miền Nam Việt Nam, rốt cuộc không giữ nổi cả Tòa đại sứ. Một cảm giác tuyệt vọng, chán chường, cảm thấy tất cả đều vô ích, công cốc hết. Người dân Mỹ thì cảm thấy bị phản bội bởi các tuyên truyền tâm lý chiến dối trá. Nhiều quan chức Mỹ cảm thấy bị lừa dối bởi những báo cáo lạc quan giả tạo.


Khoảng 50.000 người dân thủ đô Hoa Kỳ biểu tình phản chiến tại Washington DC.


Ngày 8/2/1965, người dân thủ đô Moskva (Liên Xô) hội họp ủng hộ nhân dân Việt Nam


Jane Fonda (có biệt danh Hanoi Jane ), nữ tài tử nổi tiếng của Hollywood, là một trong những người đi đầu trong giới văn nghệ sĩ Mỹ phản kháng Chiến tranh Việt Nam. Bà từng có mặt tại Hà Nội để chia sẻ nỗi đau với người dân thủ đô trong giai đoạn Không quân Hoa Kỳ đang ném bom dữ dội vào thành phố, vào nhà dân. Trong khi Hoa Kỳ đang ném bom, Jane Fonda đã một mình đến miền Bắc và lưu trú tại khách sạn Thống Nhất, Hà Nội (nay là khách sạn Sofitel Legend Metropole). Trong hai tuần ở VN, bà đã đi thăm bệnh viện Bạch Mai, khu Trương Định, nhà trẻ 20/10, thăm lính phòng không....


Daniel Ellsberg ra tòa vì tiết lộ hồ sơ Lầu Năm Góc về Chiến tranh Việt Nam cho Thời báo New York, sau đó được tha bổng dưới áp lực của dư luận trong nước và quốc tế.... Năm 1971, ông đã gây chấn động nước Mỹ khi bạch hóa bản sao chụp 7 ngàn trang hồ sơ Lầu Năm Góc về kế hoạch leo thang chiến tranh Việt Nam, tạo ra một làn sóng phản đối chiến tranh mạnh mẽ chưa từng có trong lịch sử Hoa Kỳ. Năm 2002, ông hoàn thành quyển hồi ký Secrets: A Memoir of Vietnam and the Pentagon papers (Những bí mật về chiến tranh Việt Nam - Hồi ức về Việt Nam và hồ sơ Lầu Năm Góc), từng là best-seller năm 2002. Ngay từ khi phát hành, cuốn hồi ký của Ellsberg đã gây xôn xao dư luận. Cuốn sách kể lại cuộc hành trình đi tìm sự thật của chính tác giả và những âm mưu của tổng thống Nixon cùng Lầu Năm Góc đối với cuộc chiến tại Việt Nam. Trong tác phẩm, Ellsberg đã mô tả lại quá trình nhận thức của ông ta về Chiến tranh Việt Nam như sau: "Thoạt đầu tôi nghĩ đó chỉ là một vấn đề, tiếp đến là một sự bế tắc, nhưng rồi sau đó là một thảm họa về đạo đức và chính trị và cuối cùng trở thành một tội ác". Daniel Ellsberg từng nhận bằng tiến sĩ Kinh tế Đại học Harvard năm 1962. Sau đó, ông làm việc cho cố vấn đặc biệt của Bộ trưởng Bộ Quốc Phòng và Đại sứ Hoa Kỳ tại Sài Gòn. Năm 1967, Ellsberg trở về Mỹ và được phân công làm việc trong nhóm sĩ quan, chuyên viên Lầu Năm Góc chuyên nghiên cứu, phân tích chiến lược tối mật về hoạch định chính sách đối với Việt Nam của Bộ trưởng Quốc phòng Robert McNamara. Tháng 3/2006, Ellsberg trở lại thăm Việt Nam và được trao kỷ niệm chương "Vì hòa bình hữu nghị giữa các dân tộc", tôn vinh những cống hiến của ông dành cho Việt Nam.



Cảnh sát dùng dùi cui trấn áp nhiều cuộc biểu tình phản đối chiến tranh.

Nguyên nhân chiến thắng

Từ lúc Mỹ thất bại trước Việt Nam, hầu hết giới nghiên cứu, các nhà sử học, nhà quân sự, nhà chính trị học khắp Đông - Tây khi tìm hiểu về lịch sử Hoa Kỳ, về nước Mỹ, về quân đội Hoa Kỳ, và về cuộc chiến tranh của Mỹ tại Việt Nam đều đặt ra một nghi vấn, một câu hỏi: Tại sao Mỹ thua Việt Nam? Tại sao một xứ sở nhỏ bé và được cho là "nhược tiểu" như Việt Nam có thể thắng được đại cường quốc Hoa Kỳ?

Với 58 vạn quân tinh nhuệ, kỷ luật, có kinh nghiệm chiến trường khắp năm châu, với các tướng lĩnh, sĩ quan dày dặn kinh nghiệm khắp thế giới qua Thế chiến II và chiến trường Triều Tiên, từng chiến thắng hầu hết các thế lực quân sự hùng mạnh, thiện chiến từ Á sang Âu. Một quốc gia trong lịch sử gần 200 năm chưa bao giờ nếm mùi thua cuộc. Một lực lượng không quân vô địch, trăm trận trăm thắng, có sức mạnh áp đảo, với máy bay chiến lược B-52 tối tân nhất thế giới.

Họ dùng gần 60 vạn quân trong nội địa Việt Nam, và cả nhiều căn cứ quân sự bên ngoài và chung quanh Việt Nam, tổng cộng gần 1 triệu thực binh Mỹ, rồi cả quân ngụy và quân chư hầu. Với một trình độ phát triển cao hơn nhiều bậc. Với một trình độ khoa học kỹ thuật vượt trội, áp đảo, với một sức mạnh quân sự, ngân sách quốc phòng, khả năng chi tiêu vũ khí, công nghệ chiến tranh vượt trội. Với những vũ khí hiện đại, tối tân, kể cả vũ khí sinh học hủy diệt thiên nhiên, môi trường, mầm sống, sinh vật, cây cỏ, con người, hủy rụi những rừng già thiên nhiên tồn tại hàng ngàn năm để Việt Cộng không thể ẩn thân. Để lại di hại, di chứng tàn khốc đến ngày nay và có thể ngàn năm sau. Với một nền văn minh công nghệ và trình độ sản xuất vượt bậc và bỏ xa Việt Nam.

Họ huy động một lực lượng không quân đánh đâu thắng đó, chưa từng chiến bại, với đủ mọi loại bom, từ bom chùm, bom bi đến bom Napalm rải thảm lên mảnh đất nhỏ bé, với hơn 8 triệu tấn bom, gấp gần 3 lần tổng số bom mà các phe rải xuống trái đất trong Thế chiến II nói riêng và trong lịch sử chiến tranh của nhân loại nói chung.

Trong 10 năm (1961-1971), quân đội Mỹ đã rải khoảng 75 triệu lít chất độc hóa học, trong đó phần nhiều là chất độc da cam, xuống hơn 10% diện tích đất và gần nửa diện tích rừng ở Việt Nam. Tất cả số bom và chất độc hóa học đó đều dồn lại dội xuống một mảnh đất nhỏ bé, nghèo nàn, lạc hậu, một quốc gia có tổng diện tích thua nhiều tiểu bang của Mỹ.

Nhà nghiên cứu khoa học tự nhiên và hoạt động môi trường Sarah DeWeerdt, cộng tác viên thường trực của Worldwatch Institute (Viện quan sát thế giới về môi trường) ở Washington (Mỹ), trong bài viết "Modern warfare equals environmental damage" (Các loại hình chiến tranh mới chính là sự hủy hoại môi sinh), đăng trên báo USA Today số tháng 1 năm 2008, đã cho biết sự tàn phá môi trường rộng lớn của Mỹ trong chiến tranh Việt Nam là một trong những nguyên nhân chính mà tiếng Anh có thêm một thuật ngữ mới: "Ecocide" (diệt sinh thái, tương tự thuật ngữ "Genocide" là diệt chủng con người).

Họ bỏ ra hàng tỷ USD lập ra những quân trường rộng lớn, hoành tráng, quy mô, mô phỏng địa lý, khí hậu, thời tiết, phong thổ, rừng cây Việt Nam, nhằm đối phó với chiến tranh du kích của Việt Nam. Xây dựng những cơ quan nghiên cứu, những nhà máy sản xuất những vũ khí đặc thù phù hợp với chiến trường Việt Nam để chống lại con người Việt Nam. Họ làm đủ mọi cách có thể nghĩ ra, họ không bỏ qua một sơ hở nào, một yếu tố nào, một chi tiết nhỏ nào, họ tận dụng mọi lĩnh vực từ chính trị, quân sự, kinh tế, ngoại giao, văn hóa, tâm lý chiến v.v. đặc biệt là tận dụng ưu thế vượt trội về công nghệ và công nghiệp quân sự. Họ tận dụng mọi lợi thế về khoa học phục vụ chiến tranh. Với những lãnh đạo, tướng lĩnh, chuyên viên tài năng, chuyên nghiệp, làm việc một cách bài bản, khoa học, dưới tay là một đội quân nhà nghề không ai địch nổi.

Họ dùng chiến tranh điện tử với Hàng rào điện tử McNamara, "cây nhiệt đới". Dùngchiến tranh hóa học với những chất độc sinh học, chất độc diệt rừng, hủy diệt dần mòn con người, môi trường, thiên nhiên, nhằm đè bẹp sức kháng cự của người Việt Nam, và dùng chất độc khai quang hủy diệt các rừng già, cây cỏ, gây khó khăn cho du kích Việt Nam ẩn thân, mai phục.

Vẫn chưa hài lòng với 2 loại hình chiến tranh điện tử và hóa học, Hoa Kỳ còn tiến hành thêm một loại hình chiến tranh công nghệ cao là chiến tranh khí tượng. Đây là một loại hình chiến tranh mà họ đã sử dụng những công nghệ tiên tiến, tối tân nhất cùng những thiết bị hiện đại nhất với mục đích làm đảo lộn, hủy diệt sinh thái, thiên nhiên, gây lụt lội, tắc ách ở trên những tuyến của con đường huyết mạch Trường Sơn chi viện từ Bắc vào Nam.... Nhưng rồi họ vẫn thua Việt Nam.

Học viện quân sự West Point nổi tiếng của Mỹ những năm sau mốc thời gian 1975 đã mở nhiều hội thảo khoa học, nghiên cứu, phân tích, tranh luận từ các hiệu trưởng, cựu hiệu trưởng, giáo sư, giảng viên và cựu giảng viên từng phục vụ trong trường, và những người thỉnh giảng được mời từ bên ngoài, thậm chí từ ngoài nước Mỹ. Họ trình bày các nghiên cứu cá nhân, tham gia phát biểu, hội luận, xem xét, thẩm định, đánh giá từng chiến dịch một, từng thời điểm một, và từng góc độ, từng khía cạnh, để giải đáp câu hỏi hóc búa: Tại sao chúng ta thua Việt Nam? Sau đó họ đã phải chỉnh sửa, cập nhật, thậm chí viết mới lại hoàn toàn, in lại nhiều giáo trình quân sự của trường.

Theo trung tướng Lưu Á Châu, Chính ủy Không quân Quân khu Thành Đô, Trung Quốc, khi bình luận chuyên sâu về chiến tranh Iraq trên tạp chí Khoa Học Quân Sự Không Quân của Trung Quốc năm 2010, thì cách thắng một cuộc chiến tranh trong lịch sử quân sự Hoa Kỳ thường là:

 

  • Áp đảo ngay từ đầu về chiến tranh thông tin, chiến tranh tâm lý, chiến tranh chính trị, tạo ra một sức ép vô hình, một áp lực khổng lồ vô ảnh.
  • Dùng lực lượng không quân và hải quân chất lượng nhất thế giới về năng lực tác chiến và vũ khí tối tân để chiếm lĩnh vùng biển và vùng trời, gây thêm sức ép, tạo thêm áp lực nghẹt thở vây hãm địch.
  • Dùng chiến tranh công nghệ cao và các lực lượng đặc nhiệm, biệt kích có tính lưu động cao, tác chiến nhanh chóng nhằm tê liệt hóa về quân sự và nhanh chóng chiếm lĩnh đầu não, thủ đô của đối phương. Đồng thời áp dụng chiến tranh tâm lý, trong đó có những thủ đoạn khủng bố tinh thần gây khủng hoảng tâm lý để tê liệt hóa về chính trị, xã hội.


Những chiến lược, chiến thuật trên của Mỹ thì ngoài Việt Nam ra cho đến nay chưa gặp đối thủ. Sở dĩ Mỹ thất bại trước Việt Nam, dựa theo các tiêu chí trên thì có thể xét đến các vấn đề sau đây:
 

  • Việt Nam cũng giỏi về chính trị, tình báo, tuyên truyền, và có ưu thế về yếu tố "nhân hòa". Mỹ không thể áp đảo được.
  • Đúng là không quân và hải quân Mỹ đã hoành hành trên khắp vùng trời và vùng biển của Việt Nam và tận dụng ưu thế hỏa lực của họ. Nhưng ý chí của quân dân Việt Nam đã khiến hải quân Mỹ không thể gây sức ép tinh thần. Không quân vô địch của Mỹ thì gặp phải khắc tinh là hệ thống phòng không tinh nhuệ hàng đầu thế giới của Việt Nam mà Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã tiên liệu và chú trọng xây dựng ngay từ đầu. Không quân Việt Nam không chọi lại Mỹ nhưng các đơn vị phòng không của Việt Nam thì có thể hóa giải không quân của Mỹ.
  • Các biệt đội cơ động, lực lượng đặc biệt, biệt kích thiện chiến tinh nhuệ của họ đều bó tay trước địa hình hiểm trở của Việt Nam, vốn là một ưu thế lớn cho lực lượng du kích bản địa, và thực tế là du kích miền Nam còn cơ động và nhanh nhẹn hơn biệt kích Mỹ nhiều, nhờ trang bị nhẹ và thông thạo đường đi nước bước. Mỹ không có cách bình định được miền Nam, không tiêu diệt được quân Giải phóng, không chiếm được những vùng giải phóng, vì vậy họ không thể tập trung lực lượng lớn để mở một cuộc tổng tấn công ở miền Nam, và càng không thể "mơ giữa ban ngày" về chuyện Bắc tiến, hay hoang đường hơn: Tiến vào Hà Nội chiếm lấy thủ đô của Việt Nam ở tận ngoài Bắc. Họ nhiều lần đem các loại máy bay oanh tạc tối tân nhất ra tàn phá Hà Nội, muốn gây tê liệt hóa đầu não của Việt Nam, nhưng các phi vụ đó đều bị đánh bại phải rút lui về sau những tổn thất nặng nề. Và dân tộc Việt không như những dân tộc khác, Mỹ càng gây tội ác để khủng bố tinh thần thì dân Việt càng bất khuất và căm thù giặc hơn, chẳng những không sợ mà càng nuôi giấu lực lượng kháng chiến, hối thúc con em, con cháu ra bưng biền theo Mặt Trận đánh giặc.



Việt Nam không chỉ đánh bằng quân đội như những đối thủ khác của Mỹ. Việt Nam tiến hành chiến lược chiến tranh nhân dân và kết hợp nhuần nhuyễn khôn khéo với chiến thuật du kích. Đánh trên cả 3 mặt trận: Chính trị, quân sự, ngoại giao. Với phương châm tấn công "2 chân, 3 mũi, 3 vùng". Hai chân: Chính trị và quân sự. Ba mũi giáp công: Chính trị, quân sự, binh vận. Ba vùng chiến lược: Nông thôn, thành thị, miền núi.

1. Nguyên nhân sâu xa

Quân đội Mỹ thắng khắp thế giới mà chỉ thua trên đất Việt chính là vì người Việt có một nền văn hóa căn bản vững chắc lâu đời, đặc biệt là văn hóa giữ nước. Văn hóa, tư tưởng này được hun đút từ lòng yêu nước truyền thống của dân Việt truyền lại từ ngàn xưa.

Quân Mỹ không hẳn thua vì không thiện chiến bằng, không dũng cảm bằng, không trung thành bằng. Cũng không thua vì du kích Việt Nam, hay thua vì các khu rừng nhiệt đới ở Đông Dương, hay vì ruồi muỗi côn trùng, vì khí hậu nhiệt đới khắc nghiệt dễ gây bệnh tật cho người ngoài.

Mỹ thua Việt Nam vì dân tộc Việt Nam có một căn bản gốc rễ, cội nguồn văn hóa vững bền và điều này đã tạo ra một ý chí sắt thép cho từng người lính và người dân chống quân xâm lược. Đây là những ý chí sắt đá mà không một chương trình tâm lý chiến nào có thể hạ gục nổi.

Một số học giả, nhà nghiên cứu lâu nay tin rằng người Việt thắng Mỹ là vì khí hậu, phong thổ, vì du kích tài ba, vì các chiến sĩ biệt động liều lĩnh không sợ chết, vì tướng giỏi, vì lãnh đạo tài đức, vì thiên tài lãnh đạo chính trị của chủ tịch Hồ Chí Minh, vì thiên tài chỉ đạo quân sự của đại tướng Võ Nguyên Giáp.... đều không đúng hoàn toàn.

Việt Nam thắng Mỹ vì biết vận dụng lòng yêu nước của đại khối dân tộc, sử dụng vũ khí yêu nước đó chống lại quân xâm lược Mỹ. Vũ khí yêu nước đó có được chính là từ văn hóa giữ nước giữ làng sâu xa từ ngàn xưa, sau ngàn năm dựng nước và giữ nước, từ một chủ đạo dân tộc sâu sắc từ cội nguồn gốc rễ ăn sâu vào tim óc từng người con đất Việt. Đó là bản sắc dân tộc Việt Nam, một nền văn hóa chủ đạo cơ bản gốc rễ vốn đã mạnh mẽ, vững chắc từ ngàn xưa.

Bác Hồ đã đúc kết văn hóa đó thành câu danh ngôn: "Các vua Hùng đã có công dựng nước, bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước!"

Trong Đại Hội Đảng lần thứ 2, chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói kỹ hơn: "Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước".

Ý nghĩa chiến thắng

Từ một đất nước bị các quân đội thực dân xâm chiếm, từ một dân tộc bị nô lệ, Việt Nam đã giành lại hoàn toàn nền độc lập dân tộc một cách trọn vẹn sau gần bao nhiêu thế kỷ chiến tranh, mất nước, chia cắt, bị mất gần nửa lãnh thổ, và trở thành một quốc gia hoàn toàn độc lập, thống nhất, có đầy đủ chủ quyền được quốc tế thừa nhận, trong một vận hội hòa bình yên ổn và phát triển lâu dài.

Với mùa xuân toàn thắng năm 1975, đất nước Việt Nam về cơ bản đã sạch bóng quân xâm lược, dân tộc Việt Nam hoàn toàn thoát khỏi ách đô hộ thực dân cũ và mới, lành lại nỗi đau chia cắt, giải phóng hoàn toàn miền Nam Việt Nam.

Sự kiện này vừa đánh dấu một mốc son sáng chói trong lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước của người Việt Nam, vừa có ý nghĩa quốc tế quan trọng. Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ của Việt Nam đã góp phần chặn đứng làn sóng chiến tranh xâm lược và vào công cuộc giữ gìn hòa bình thế giới.

Mỹ đã xâm lược Việt Nam, gây xáo trộn hòa bình thế giới. Với thất bại ở Việt Nam, chủ nghĩa đế quốc ở Mỹ phải lùi một bước lớn về chiến lược, phải thay đổi phương thức bành trướng quốc tế và bá chủ thế giới để tránh một Việt Nam thứ hai. Do thất bại của Mỹ ở Việt Nam, hòa bình chung trên thế giới được bảo đảm. Sau cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam, thế giới này không còn chứng kiến những cuộc chiến tranh lớn nữa, và các cuộc chiến tranh nhỏ thì không còn xảy ra thường xuyên như trước.

Đối với thời đại, dân tộc Việt Nam là dân tộc thuộc địa đầu tiên đã đánh bại ách đô hộ và cuộc chiến tranh tái chiếm thuộc địa của Pháp, góp phần quan trọng cùng với phong trào cách mạng vô sản và giải phóng dân tộc trên thế giới gây thoái trào cho chủ nghĩa thực dân cũ, đánh sập hệ thống thuộc địa kiểu cũ, đặc biệt với biểu tượng Điện Biên Phủ lừng danh.

Với chiến công thắng Mỹ, Việt Nam đã hoàn toàn kết liễu mọi hình thức xâm lược của chủ nghĩa thực dân cũ (trực tiếp kéo quân vào xâm lược, chỉ huy, quản lý), mở đầu việc đánh bại chủ nghĩa thực dân mới. Với chiến tích này, nhân dân Việt Nam cũng góp phần làm chuyển biến tương quan lực lượng giữa phe diều hâu hiếu chiến và phía yêu chuộng hòa bình ở Hoa Kỳ nói riêng và trên thế giới nói chung.

Sáng 30/4/1975, những người lính Mỹ cuối cùng phải rời khỏi Việt Nam. Lần đầu tiên sau hơn 100 năm, Việt Nam có không còn bóng dáng quân giặc xâm lược trên lãnh thổ mình. Hơn 3 tiếng sau là sự sụp đổ đương nhiên của ngụy quyền. Thắng lợi này là kết quả của đại khối dân tộc trong cuộc đấu trí, đấu lực quyết liệt và lâu dài giữa dân tộc Việt Nam và đế quốc Mỹ. Quân đội Mỹ đã ghi thêm tên mình vào danh sách những bại binh bị Việt Nam đánh bại trong lịch sử.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã nhận định: Điện Biên Phủ và Mùa xuân toàn thắng 1975 là những điểm hẹn lịch sử dành cho những cuộc chiến tranh xâm lược!

1. Giải phóng hoàn toàn miền Nam

Một thuộc địa kiểu mới, một xã hội thực dân mới thì đương nhiên cần phải giải phóng khỏi tay giặc xâm lược. Nhưng bản thân xã hội trong vùng tạm chiếm ở miền Nam Việt Nam còn có những căn bệnh trầm kha, đưa đến nhu cầu cần phải được giải phóng, không thể không giải phóng.

Xã hội trong những vùng tạm chiếm, về văn hóa thì méo mó, thác loạn, Tây hóa, Mỹ hóa. Đời sống tinh thần lệch lạc, đạo đức băng hoại, những phụ nữ ăn mặc hở hang đứng đường chào mời lính Mỹ là những hình ảnh thường thấy trên đường phố Sài Gòn, nhất là về đêm. Thường xuyên có những cô gái trẻ nhảy sông tự tử vì tình và vì nhiều nguyên nhân khác nhau. Báo chí tư nhân rẻ tiền trần trụi và công khai xúc phạm phẩm giá những nhân vật công chúng để câu khách. Truyện khiêu dâm được xuất bản bán công khai đầy ở các nhà sách.

Văn kiện của Bộ Ngoại giao Việt Nam được giải mật "Sự thật về quan hệ Việt Nam - Trung Quốc 30 năm qua", do nhà xuất bản Sự Thật phát hành năm 1979, đã ước tính: Ngoài các nạn nhân bị thương vong, dị tật, di chứng từ cuộc chiến, nạn nhân chất độc hóa học, người Mỹ còn để lại một nền kinh tế tê liệt, trên 3 triệu người thất nghiệp, gần 1 triệu trẻ mồ côi, khoảng 600 ngàn gái mại dâm, trên 1 triệu bệnh nhân nghiện ma túy.

Đó là hậu quả của một thời kỳ ngoại thuộc lâu dài và buôn lậu ma túy gần 20 năm từ Diệm - Nhu và Trần Lệ Xuân cho đến Thiệu - Kỳ và Nguyễn Thị Lý, cũng như gia đình của họ. Ma túy được bày bán công khai ngoài chợ giữa ban ngày, nhất là ở Chợ Lớn.

Tiến sĩ ngành sử học Đông Nam Á Alfred W. McCoy là một sử gia có tên tuổi, ông viết cùng tác giả Cathleen B. Read trong sách The Politics of Heroin in Southeast Asia (Nền chính trị ma túy ở Đông Nam Á), do Harper & Row xuất bản năm 1972, về tình trạng buôn lậu ma túy và sự giao dịch giữa bọn tội phạm hình sự, bọn mafia quốc tế ở Đông Nam Á, đã tóm lược như sau:

Ngô Đình Nhu đã quyết định tái lập việc buôn bán ma túy để lấy tiền. Dù đa phần các tiệm hút ở Sài Gòn đã đóng cửa 3 năm rồi, hàng ngàn con nghiện người Trung Hoa và người Việt Nam vẫn còn thèm muốn được hút trở lại. Ông Nhu cho người tiếp xúc với những người cầm đầu của các tổ chức có thế lực của người Hoa ở Chợ Lớn để mở lại các tiệm hút và thiết lập một hệ thống phân phối ma túy nhập cảng lậu cho họ sử dụng. Chỉ trong vòng có mấy tháng, hàng trăm tiệm hút ma túy này đã hoạt động trở lại, và 5 năm sau, một phóng viên của tuần báo Time đã ước lượng ở Chợ Lớn có đến khoảng 2.500 cơ sở hút ma túy hoạt động công khai.

Để có thể cung ứng thuốc phiện đầy đủ cho khách hàng tiêu thụ, Ngô Đình Nhu thiết lập hai hệ thống đường bay khứ hồi từ vùng sản xuất thuốc phiện sống ở Lào về miền Nam Việt Nam. Hệ thống đường bay chính là thuê các phi cơ nhỏ của Hàng không Lào, giao cho trùm tội phạm quốc tế Bonaventure "Rock" Francisci phụ trách. Francisci trực tiếp nói chuyện và thương lượng với Ngô Đình Nhu. Theo trung tá Lucien Conein, một cựu viên chức cao cấp CIA ở Sài Gòn, mối quan hệ mờ ám giữa Ngô Đình Nhu và Francisci về dịch vụ bất hợp pháp này khởi đầu vào năm 1958. Sau khi Nhu bảo đảm an toàn cho việc đem thuốc phiện về Sài Gòn, Francisci dùng đoàn máy bay Beechtcrafts hai động cơ vận chuyển món hàng này về miền Nam Việt Nam hàng ngày. 

Ngoài ra, Ngô Đình Nhu còn phái nhân viên tình báo dưới quyền bác sĩ Trần Kim Tuyến đến Lào với nhiệm vụ là vận chuyển thuốc phiện sống về Sài Gòn bằng phi cơ quân sự của không quân Sài Gòn. Tuy nhiên, nhiều người trong nội bộ cho rằng bác sĩ Trần Kim Tuyến, người đứng đầu tổ chức mật vụ có danh xưng trá hình "Sở Nghiên cứu Chính trị - Xã hội", do CIA tài trợ, mới thật sự là nhân vật chủ chốt của kế hoạch làm ăn bất chính này.

CIA cũng là một ông "trùm ma túy". CIA từng giao dịch ma túy với Trung Hoa Quốc Dân Đảng ở Trung Quốc, và giúp máy bay cho Tưởng Giới Thạch vận chuyển và giao dịch thuốc phiện ở Myanma và Thái Lan. Trong chiến tranh Afghanistan (1979-1989), CIA đã giúp lãnh tụ Hồi giáo Gulbuddin Hekmatyar, một người chống Liên Xô, vận chuyển và giao dịch ma túy.

Ngày 13/4/1989, bản báo cáo của Hội đồng Kerry, do Thượng nghị sĩ John Kerry (từng là ứng cử viên Tổng thống, hiện là Bộ trưởng ngoại giao), đã kết luận rằng CIA đã dùng nguồn thu nhập từ ma túy để chi tiêu cho lực lượng đặc nhiệm Contra.

Nhà ngoại giao người Canada, Gs. Peter Dale Scott cho biết Guadalajara Cartel là đường dây buôn lậu ma túy mạnh nhất đầu thập niên 1980, chúng hoạt động thoải mái phần lớn nhờ sự bảo kê của cơ quan DFS, là một cơ quan ngoại vi của CIA do Miguel Nazar Haro phụ trách.

Vicente Zambada Niebla, con trai của Ismael Zambada García, là một trong những tay trùm ma túy lớn nhất ở Mexico, sau khi bị bắt đã khai với các luật sư của hắn rằng hắn và các cộng sự được các nhân viên người Mỹ cung cấp "giấy phép" đặc biệt để vận chuyển ma túy qua lại biên giới hai nước, để đổi lấy các tin tức tình báo nội bộ về cuộc chiến ma túy quy mô lớn đang diễn ra ở Mexico.

Ngoài ra CIA còn nhúng tay vào việc giúp đỡ giao dịch hoặc trực tiếp giao dịch ma túy ở Panama sau khi gần 3 vạn quân Mỹ tấn công nước này vào năm 1989. CIA còn từng có một thời gian dài dùng ma túy chiêu dụ lực lượng Vệ binh Quốc gia Venezuela để đổi lấy các thông tin tình báo. Việc này đến năm 1996 mới được đưa ra công luận.

Hai tác giả Bradley S. O’ Leary và Edward Lee trong sách The Deaths of the Cold War Kings: The Assassinations of Diem and JFK (Cái chết của những ông vua Chiến tranh lạnh: Vụ ám sát Diệm và John F. Kennedy), do Cemetery Dance xuất bản năm 1999, đã cho biết như sau:

Năm 1958, khi Diệm-Nhu tái lập hệ thống lưu thông thuốc phiện về Sài Gòn, Bonaventure Francisci khó có thể hoan hỉ hơn vì nó đã làm sống lại nghề cũ của ông ta là vận chuyển thuốc phiện từ gốc sản xuất ở Lào đi thẳng về miền Nam Việt Nam bằng một phi đội máy may riêng.

Sau đó, Francisci dự tính sẽ kiếm được nhiều tiền hơn từ việc bán thuốc phiện trực tiếp cho hàng trăm ổ hút và hàng chục ngàn bệnh nhân nghiện ma túy ở Sài Gòn. Trong khi việc sản xuất thuốc phiện ở các nơi khác trên thế giới, đặc biệt là Mexico và Thổ Nhĩ Kỳ, ngày càng phức tạp và khó khăn. Tình hình này chỉ làm lợi thêm cho Guerini bởi vì nó gia tăng thị phần ma túy của ông ta.

Sau đó Francisci và Nhu đã thực hiện một hợp đồng phân phối cơ bản. Francisci sẽ vận chuyển thuốc phiện đến Sài Gòn cho các ổ hút của Nhu nhưng hắn còn chở nhiều thuốc phiện cho các điểm thả dù ở Sài Gòn. Tại đây, thuốc phiện sẽ được máy bay vận tải chở sang các xưởng chế biến ở Marseille. Tại Marseille, thuốc phiện sẽ được chế biến thành bạch phiến có chất lượng cao để bán cho các trùm ma túy ở Mỹ như Santos Trafficante, Carlos Marcello, và Sam Giancana.

Về căn bản, các tập đoàn buôn lậu ma túy, mafia Mỹ, và ngụy quyền Ngô Đình Diệm đã biến thành các đối tác làm ăn của nhau trong mạng lưới ma túy toàn cầu. Tiền tỷ chảy vào túi các bên liên quan.

Trong bài phê bình "Một Bí Ẩn Cần Tiết Lộ Trong Chuyện Bức Tử Miền Nam Năm 1975" của tác giả Trần Viết Đại Hưng, một cựu sĩ quan ngụy, bạn thân của tướng ngụy Nguyễn Chánh Thi, đã phê phán gay gắt:

"Trong thời Chiến tranh Việt Nam, báo chí Mỹ phanh phui là Thiệu cùng với đàn em là Trung tướng Đặng văn Quang, đã buôn bán Bạch phiến làm giàu. Thứ trùm ma túy như Thiệu thì làm gì mà có chuyện yêu nước thương dân. Gặp thời loạn lạc, làm cai thầu chống Cộng, Thiệu chỉ có một việc duy nhất là vơ vét cho đầy túi tham mà thôi. Đến khi quốc gia hưng vong thì lòi ngay ra bản chất ti tiện hèn nhát, đúng là có ‘cháy nhà mới lòi mặt chuột’ Nguyễn văn Thiệu.

Phó tổng thống Nguyễn cao Kỳ cũng chẳng có gì khá hơn, trong cuốn hồi ký " Việt Nam máu lửa quê hương tôi", cựu thiếu tướng Đỗ Mậu đã chỉ ra rằng ông Kỳ và bà chị ruột là Nguyễn thị Lý đã buôn lậu thuốc phiện từ Lào về bán. Đúng là hai gương mặt cai thầu chống Cộng do Mỹ dựng lên là Nguyễn văn Thiệu và Nguyễn cao Kỳ chẵng có tay nào sáng sủa, toàn là thứ buôn lậu ma túy. Phải đợi tới những ngày cuối tháng 4/1975 mới thấy rõ tư cách hèn kém của hai tay này. Bỏ quân leo phi cơ mà chạy không một chút liêm sỉ và danh dự của người lãnh đạo."

Ngoài sự tê liệt vì tệ nạn buôn lậu ma túy, xã hội trong những vùng tạm chiếm còn bị tê liệt bởi lối sống sa đọa và đồi trụy. Khoảng 6 triệu người Mỹ và gần 60 vạn quân viễn chinh Mỹ ở trong vùng tạm chiếm, đã tạo ra các nhu cầu và văn hóa "tiêu dùng" mới. Để "giúp vui" cho quân Mỹ, Mỹ-Thiệu cho mở cửa hàng loạt phòng tắm hơi, hộp đêm, nhất là ổ mại dâm, nhan nhản khắp Sài Gòn, đặc biệt là xung quanh các cư xá của người Mỹ. Thị trường mại dâm ở Sài Gòn trước năm 1975 được người dân quen miệng gọi là "chợ heo", được Mỹ-Thiệu công khai hóa và hợp pháp hóa. Năm 1966, sau khi từ Sài Gòn về Mỹ, thượng nghị sĩ William Fulbright nhận xét: "Mỹ đã biến Sài Gòn thành một ổ mại dâm".

Lối sống đồi trụy, thác loạn, không chỉ là hậu quả của sự có mặt của hàng chục vạn lính viễn chinh nước ngoài trong túi nhiều đô la Mỹ, mà theo một số người, nó còn nằm trong chủ trương ngầm nhằm đồi trụy hóa thanh niên miền Nam, làm cho giới trẻ quên đi hoàn cảnh đất nước đang bị xâm lược, không màng tới nghĩa vụ đối với dân tộc.

Từ đó xuất hiện ở Sài Gòn một dòng văn học khiêu dâm trong đó các tác giả chuyên khai thác thị hiếu thấp hèn của người đọc, đề cao "phần con" hơn "phần người", công khai cổ vũ cho những lối sống bệnh hoạn, biến thái. Bên cạnh những "phim con heo" (các danh từ "chợ heo", "phim heo" này đều có nguồn gốc từ đây) bán công khai ngoài phố, báo chuyên in hình phụ nữ khỏa thân (Playboy, Penthouse, Nude....) bày bán công khai trên vỉa hè các đường Lê Lợi, Công Lý.... ở ngay trung tâm thành phố, là những tiểu thuyết "người lớn" của những "chuyên gia" viết truyện khiêu dâm như Chu Tử, Lê Xuyên, Mai Thảo, Dương Nghiễm Mậu, Thụy Vũ....

Những vấn đề nói trên đã gây ra những hậu quả nghiêm trọng trong đời sống văn hóa - tinh thần của người dân. Sự sa đọa, trụy lạc trong xã hội đã gây ra nhiều thảm cảnh gia đình và hạnh phúc đổ vỡ, nhiều câu chuyện bi đát thương tâm. Qua các báo hằng ngày, không ngày nào là không có những vụ án mạng vì tình, những vụ tự tử, nhảy lầu, nhảy sông, đâm chém, bắn giết lẫn nhau vì giành nhau một người đẹp, kể cả trong quân đội ở các chức vị cao nhất (một ví dụ là "phó tổng thống" Nguyễn Cao Kỳ thời đó, do "nổi tiếng" với thái độ ngang ngược chỉa súng cướp bồ nhí của đàn em nên bị mọi người gọi là "Kỳ Cao Bồi").

Tiến sĩ James Carter, giáo sư sử học tại Đại học Drew (Mỹ), trong sách Inventing Vietnam: The United States and State Building, 1954-1968 (dịch ý: Quá trình phát minh Nam Việt Nam: Hoa Kỳ và quá trình xây dựng Nhà nước VNCH, 1954-1968), do NXB Đại học Cambridge (Anh) phát hành năm 2008, đã cho biết: "Chiến tranh cũng làm 100.000 thường dân thương vong mỗi năm. Dịch bệnh tăng vọt; dịch tả tăng từ hàng trăm lên đến 20.000 vụ. Khoảng từ 30.000 đến 50.000 người cụt chân tay chờ được lắp chân giả. Và chính phủ Sài Gòn chỉ dành chưa đầy 1% ngân sách cho dịch vụ y tế."

Có lẽ từ những hiện thực trên mà sử gia Stanley I. Kutler trong Encyclopedia of The Vietnam War (Bách khoa thư Chiến tranh Việt Nam) do Simon & Schuster McMillan xuất bản năm 1996, đây là cuốn sách viết theo quan điểm và tuyên truyền chính thức, chính thống và công khai của chính phủ Mỹ, đã phải viết về xã hội dưới thời Mỹ-Thiệu như sau:

"Đối với hầu hết người dân trong các thành phố, đời sống càng ngày càng trở nên khó khăn. Vào năm 1972, có vào khoảng 800 ngàn trẻ em mồ côi lang thang trên các vỉa hè trong các đường phố ở Sài Gòn và một số thành phố khác, sống bằng nghề ăn mày, đánh giày, rửa xe, móc túi và dẫn khách làng chơi về cho chính chị gái và mẹ của chúng. Có vào khoảng 500 ngàn gái mại dâm và gái bán ba, trong đó có nhiều người là bà vợ của anh em quân nhân trong quân đội Nam Việt Nam. Họ phải làm cái việc ô nhục này để phụ cấp đồng lương chết đói của ông chồng không đủ nuôi cho một người. Ngoài ra, lại còn có khoảng 2 đến 3 triệu người, trong đó có những người già cả hay thương phế binh của quân đội Nam Việt Nam không thể nào tìm được công ăn việc làm. Vào năm 1974, tình trạng đói đã lan rộng ra nhiều nơi ở miền Nam. Theo cuộc thăm dò của anh em sinh viên Ca-tô thì ngay trong khu vực giàu có nhất trong thành phố Sàigòn, chỉ có 1/5 tổng số gia đình có đủ ăn, một nửa tổng số gia đình cho là có thể lo được mỗi ngày một bữa cơm và một bữa cháo bằng thứ gạo rẻ tiền nhất. Các gia đình còn lại đều đói. Đói và thất nghiệp đưa đến tội ác, tự tử và biểu tình trong khắp các vùng do chính quyền Nam Việt Nam quản lý."

Tóm lại, miền Nam đã được giải phóng khỏi những gì? Trước hết là khỏi sự chiếm đóng của quân đội Mỹ, sự thao túng, lũng đoạn, ảnh hưởng của giặc ngoại xâm, ách đô hộ thực dân mới, và các tội ác chiến tranh.

Miền Nam không còn bóng giặc, không còn tiếng bom đạn, không còn những ngày đêm vùng vẫy trong những nhà tù lớn được gọi là "Ấp chiến lược", không còn những ngày đêm bị càn bị quét, không còn những trận càn, ruồng bố, khủng bố trắng, tàn sát, hủy diệt hàng loạt và những tội ác chiến tranh to lớn mà nhiều người coi là những tội ác diệt chủng, chống nhân loại.

Không còn những thảm cảnh giết người đốt nhà, thảm sát, "ba sạch" (phá sạch, giết sạch, đốt sạch). Không còn những cảnh phụ nữ, trẻ con bị hiếp rồi giết. Không còn những cảnh những bà cụ, ông lão bị lùa xuống mương rồi xả súng. Không còn những tên giặc giơ thủ cấp của người Việt yêu nước khoe khoang trước ống kính. Không còn những đạo luật giết người, "lê máy chém" khắp nơi.

Không còn bọn mật vụ Phượng Hoàng hàng ngày hàng giờ lùng sục bắt cóc, thủ tiêu. Không còn những tên lính giặc không coi người Việt là loài người như sĩ quan Mỹ Celina Dunlop đã tự bạch trên kênh BBC Anh ngữ tháng 3 năm 2008: "Phần lớn trong nhóm chúng tôi không coi người Việt là loài người." Không còn những thảm kịch hành hạ, tra tấn, cắt bỏ các bộ phận cơ thể phụ nữ, trẻ em. Không còn ai bị đày ra Côn Đảo, Phú Quốc, bị nhốt trong những "chuồng bò", "chuồng cọp". Bom đạn và chất độc hóa học không còn rơi lên trên đất Việt, người Việt.

Không còn những bi kịch lính Mỹ đối đãi bất công, đánh đập, giết chóc, "dội bom nhầm" lên một bộ phận lính ngụy, sĩ quan ngụy, giết "tổng thống" ngụy. Không còn những lần người Mỹ thí nghiệm và lùa lính ngụy đi vào đất chết. Không còn cảnh tượng lính Mỹ hãm hiếp, bắt làm nô lệ tình dục vợ con và người thân của lính ngụy. Không còn cảnh những cô gái Sài Gòn phấn son kỹ lưỡng với những chiếc váy không thể ngắn hơn đứng đầy đường công khai giữa ban ngày chào mời lính Mỹ.

Không còn cảnh những căn cứ quân sự nước ngoài đầy kẽm gai mọc lên như nấm, gần 100 vạn quân viễn chinh tự tung tự tác, muốn làm gì thì làm, không coi ai ra gì, cướp - hiếp - giết khắp nơi, xâm hại chà đạp lên quyền con người.

Không còn những phận đời trôi nổi của gần nửa triệu con lai và cô nhi của gần 6 triệu người Mỹ, khiến sau này hình thành một diện xuất cảnh chưa từng có trên thế giới là "diện con lai".


Nhiều trẻ em con lai Mỹ được lính Mỹ đưa về Hoa Kỳ trong những ngày cuối tháng 4 năm 1975

Nông thôn và đô thị miền Nam cũng không còn những lần biểu tình bị đàn áp dã man bằng dùi cui, lựu đạn cay, roi điện, súng đạn. Những sân trường miền Nam không còn đổ máu, không còn những người dân, thanh niên, sinh viên miền Nam ngã xuống trước quân đội Mỹ và cảnh sát ngụy.

Tóm lại là không còn hàng trăm cuộc thảm sát ở miền Nam Việt Nam, không còn hàng ngàn tội ác của quân xâm lược. Không còn những mảnh đời đau khổ, trong đó có cả lính ngụy và người thân của họ. Không còn cảnh người Mỹ hoành hành khắp miền Nam, muốn giết ai thì giết, từ phụ nữ trẻ em cụ già cho đến "tổng thống".

2. Thống nhất đất nước

Kể từ thời Nam - Bắc triều, rồi Trịnh - Nguyễn phân tranh, đất nước Việt Nam chưa bao giờ có được sự thống nhất thật sự và lâu dài. Trong thời Nguyễn sau này cũng xảy ra cuộc nổi dậy quy mô lớn của tướng Lê Văn Khôi đánh chiếm Nam Kỳ lục tỉnh ròng rã hai năm, biến Nam Kỳ lục tỉnh trở thành lãnh địa riêng của ông ta và ly khai với triều Nguyễn. Quanh đó là hàng loạt cuộc khởi nghĩa nông dân khác chống nhà Nguyễn, nhiều địa bàn trở thành nơi cát cứ ly khai của các thế lực thổ hào địa phương, xưng hùng một cõi.

Khi thực dân Pháp cướp nước ta, họ chia Đại Nam ra 3 kỳ, 3 xứ riêng lẻ (Nam Kỳ - Cochinchine, Trung Kỳ - Annam, Bắc Kỳ - Tonkin) với 3 chế độ cai trị khác biệt, phục vụ cho chính sách "chia để trị", "dùng người Việt trị người Việt".

Về danh nghĩa nhà nước, thì Nam Kỳ là nơi mà người Pháp coi là "xứ thuộc địa" của họ từ hiệp ước nhượng 3 tỉnh Nam Kỳ của Tự Đức, Phan Thanh Giản, Lâm Duy Hiệp, và sau đó họ hành quân chiếm thêm 3 tỉnh với "lý do" nhà Nguyễn không tôn trọng hiệp định hòa bình đã ký, dung túng nghĩa quân.... Còn Bắc Kỳ và Trung Kỳ, về danh nghĩa, được người Pháp gọi là "xứ bảo hộ" cho một vương triều "độc lập" của An Nam. Như vậy, dưới thời Pháp thuộc, nước Việt vừa bị chia 2, vừa bị chia 3. Chia 2 về danh nghĩa nhà nước. Chia 3 về chế độ cai trị.

Cách mạng tháng Tám thành công, nước Việt Nam phục hồi nền độc lập sau gần 100 năm Pháp thuộc và mấy năm bị quân Nhật xâm lược. Chính phủ Việt Nam tuyên bố độc lập và thống nhất, xóa bỏ chế độ Bắc-Trung-Nam của thực dân và phát xít.

Tuy nhiên, sau đó quân Tàu Tưởng kéo vào miền Bắc, liên quân Anh - Pháp kéo vào Nam, sau đó thực dân Pháp quay lại tái chiếm thuộc địa, đại nghiệp thống nhất đất nước bị các thế lực đầy tham vọng từ nước ngoài ngăn trở. Quân dân Việt Nam trên cả nước phải bước vào cuộc chiến tranh khốc liệt chống quân Pháp xâm lược.

Sau khi hiệp định Genève 1954 được ký kết, đại nghiệp thống nhất Tổ quốc lại phải chờ hai năm. Nhưng Mỹ, vốn trong chiến tranh Pháp - Việt chính là kẻ đứng sau yểm trợ thực dân Pháp, đã từ hậu trường nhảy ra phía trước sân khấu, từng bước hất cẳng Pháp ra khỏi võ đài chính trị ở miền Nam Việt Nam.



Cầu Hiền Lương bắc qua sông Bến Hải xưa và nay

Mỹ-ngụy đã phủ nhận hiệp định Genève về Đông Dương và dùng bạo lực ngăn cản việc thi hành hiệp định, với ý đồ chia cắt đất nước, canh giữ sông Bến Hải, ngăn cầu Hiền Lương ở vĩ tuyến 17, chia cắt không cho miền Nam và miền Bắc gặp nhau, gây khó khăn một cách có hệ thống cho việc giao lưu, qua lại, liên lạc Bắc-Nam.

Mỹ-ngụy chia cắt không cho nhân dân hai miền liên hệ. Họ chia cắt, gom dân, đàn áp, bỏ tù, bắn giết, không cho lãnh đạo miền Bắc vào miền Nam, không cho Đảng bộ miền Nam liên hệ ra Bắc. Họ xây dựng một loạt đồn bốt cảnh sát rải dọc bờ Nam sông Bến Hải, kéo dài từ Cửa Tùng đến Hói Cụ; với đội quân thám báo, mật vụ nhằm kìm kẹp, ngăn cản mọi sự quan hệ, qua lại của người dân đôi bờ.

Biết bao nhiêu nỗi khổ, nỗi nhớ nhung ray rứt người thân mà người dân đôi bờ Hiền Lương - Bến Hải quanh vĩ tuyến 17 phải chịu đựng. Nhiều gia đình ly tán, chồng Bắc, vợ Nam. Những nỗi nhớ, nỗi niềm này còn được phản ảnh qua nghệ thuật. Đã có nhiều thơ văn, thi ca nói lên nỗi đau chia cắt, như "Bên ven bờ Hiền Lương, chiều nay ra đứng trông về…. ôi mắt đượm tình quê…. mắt đượm tình quê…." (bài hát Câu hò bên bờ Hiền Lương - nhạc sĩ Hoàng Hiệp), "Cách nhau chỉ một mái chèo - Mà đi trăm núi vạn đèo đến đây." (nhà thơ Thanh Hải), hay "Cách một dòng sông mà đó thương đây nhớ - Cách một nhịp cầu mà duyên nợ cách xa." (dân gian).

Vào giai đoạn 1954-1964, ở đôi bờ Bến Hải đã được phát thanh lên một giọng ca ngọt ngào, ấm áp của NSND Châu Loan với những bài thơ, bài hò do bà thể hiện rất truyền cảm:

"Chim xa rừng còn thương cây nhớ cội
Thiếp xa chàng ngày đợi đêm trông
Trong đồn chàng có nhớ thiếp không?
Ngoài này thiếp vẫn chờ mong chàng về."

Bộ đội miền Nam rời bỏ quê hương, ruộng vườn, tạm biệt người thân để tập kết ra Bắc theo hiệp định Genève 1954. Có thể thấy gần như tất cả những người sắp tạm biệt nhau ở hình trên không có người nào buồn bã, ai nấy đều cho rằng chỉ tạm thời xa nhau trong 2 năm, tới năm 1956 đất nước thống nhất họ sẽ về nhà. Không ai ngờ cuộc chia ly 2 năm trở thành cuộc chia ly 21 năm.

Trong phong trào đấu tranh của Đảng bộ và người dân miền Nam đòi tổng tuyển cử thống nhất đất nước theo hiệp định Genève 1954, với ý đồ chia cắt lâu dài Việt Nam, Mỹ-ngụy đã gây ra một "cuộc chiến màu sắc": Giữa cầu Hiền Lương có một vạch trắng kẻ ngang, rộng 1cm được dùng làm ranh giới. Lính ngụy chủ động sơn một nửa cầu phía nam thành màu xanh, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa liền sơn tiếp màu xanh một nửa cầu còn lại. Sau lính ngụy lại chuyển sang màu nâu thì Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cũng sơn lại màu nâu. Cứ như thế, cầu Hiền Lương luôn thay đổi màu sắc, hễ lính ngụy sơn một màu khác đi để tạo ra hai màu khác biệt thì ngay lập tức Quân đội Nhân dân Việt Nam liền sơn lại cho giống. Hành động sơn màu cầu là một hình thức đấu tranh chính trị nhằm nói lên khát vọng thống nhất của dân tộc Việt Nam đối với người Mỹ và nhân dân thế giới.

Từ đó, với tinh thần "Các vua Hùng đã có công dựng nước, bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước." và "Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một, sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý ấy không bao giờ thay đổi." của Bác Hồ, những con cháu của Bác đã tiếp nối cuộc kháng chiến chống Pháp, cố gắng một lần nữa thực hiện cuộc trường chinh gian khổ, kéo dài hơn 20 năm, để đánh đuổi xâm lăng và thống nhất nước nhà. Cuối cùng vào năm 1975, cây cầu chung một màu xanh thống nhất.

Ngày nay, ở bờ Nam sông Bến Hải có một tượng đài với tên gọi: "Khát vọng thống nhất non sông". Tượng đài có hình dáng của một thiếu phụ đang đứng ở bờ Nam sông Bến Hải nhìn về phía Bắc để tưởng nhớ những ngày tháng đau thương khi họ không thể vượt sông để gặp chồng con và gia đình.

Trải qua bao nhiêu gian khổ, đại nghiệp thống nhất Tổ quốc của dân tộc Việt Nam cuối cùng cũng đã hoàn thành vào ngày 30 tháng 4 năm 1975. Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử đã dẫn đến kết quả chấm dứt sự chia cắt đất nước của ngoại bang, đưa đến việc hoàn toàn thống nhất Việt Nam về hành chính, xã hội, địa lý, dân cư.

Thống nhất đây là thống nhất tất cả: Thống nhất vùng giải phóng và vùng tạm chiếm ở miền Nam, xóa đi các "mảnh da báo", thống nhất Bắc Bộ và Nam Bộ, thống nhất ba miền Bắc-Trung-Nam, thống nhất toàn bộ lãnh thổ. Về phương diện pháp lý quốc tế, thì năm 1976 họp Quốc hội là thống nhất Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam thành 1 quốc gia: Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.

Thiếu Long

----------------------------------------------------------------

Tài liệu tham khảo

Việt Nam:

  • Hồ Chí Minh toàn tập - Chủ tịch Hồ Chí Minh - Nhà xuất bản Chính trị quốc gia (2000)
  • Hồi ức: Tổng hành dinh trong mùa xuân toàn thắng - Đại tướng Võ Nguyên Giáp - Nhà xuất bản Chính trị quốc gia (2000)
  • Chủ tịch Hồ Chí Minh nói về tội ác chiến tranh xâm lược - Nguyễn Quốc Hùng - Bảo tàng Chứng tích Chiến tranh & Nhà xuất bản Trẻ (2003)
  • Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp với sử học Việt Nam - Gíáo sư Phan Huy Lê, Nhà nghiên cứu sử học Dương Trung Quốc, Trần Xuân Thanh - Nhà xuất bản Chính trị quốc gia (2010)
  • Lịch sử Kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975 (tập 1-8) - Trung tướng Giáo sư Hoàng Phương, Thượng tá Nguyễn Văn Minh, Đại tá Hoàng Dũng, Đại tá Trần Bưởi, Đại tá Đỗ Xuân Huy, Đại tá Tiến sĩ Hồ Khang, Trung tá Nguyễn Huy Thục, Trung tá Nguyễn Xuân Năng, Trung tướng Nguyễn Đình Ước, Thượng tá Ngô Văn Bính, Thượng tá Trần Tiến Hoạt, Đại tá Tiến sĩ Trịnh Vương Hồng, Trung úy Lê Quang Lạng, Đại tá Nguyễn Như Minh, Đại úy Nguyễn Văn Quyền, Thiếu tướng Tiến sĩ Phạm Văn Thạch - Nhà xuất bản Chính trị quốc gia (1995-2008)
  • Quân và dân miền Nam đấu tranh phòng chống vũ khí hóa học của Mỹ trong những năm 1961-1972 - Tiến sĩ Nguyễn Đức Hòa - Bảo tàng Chứng tích Chiến tranh xuất bản (2009)
  • Cuộc Đồng khởi kỳ diệu ở miền Nam Việt Nam 1959-1960 - Nhà nghiên cứu lịch sử quân sự Đại tá Lê Hồng Lĩnh - Nhà xuất bản Đà Nẵng (2006)
  • Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân Bến Tre - Thiếu tá Vũ Bình, Đại úy Phạm Hoài Bão, Thượng úy Phạm Ngọc Tuấn - Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Bến Tre xuất bản (1985)
  • Mậu Thân 1968, cuộc đối chiến lịch sử - Nguyễn Phương Tân, Lê Ngọc Tú - Nhà xuất bản Lao Động (2008)
  • 5 Đường mòn Hồ Chí Minh - Đặng Phong - Nhà xuất bản Tri Thức & Phương Nam Books (2008)
  • Bộ Tham mưu Hải quân - Biên niên sự kiện (1959-2004) - Nguyễn Văn Đấu, Dương Thảo, Đặng Văn Tới - Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân (2004)
  • Lịch sử Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định kháng chiến (1945-1975) - Trần Hải Phụng, Lưu Phương Thanh, Hồ Sơn Đài, Trần Phấn Chấn - Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh (1994)
  • Khu VIII - Trung Nam Bộ kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975) - Nguyễn Minh Đường, Nguyễn Văn Triệu, Lê Minh Đức, Phạm Văn Kim, Cao Văn Sáu, Đặng Văn Tố, Nguyễn Xuân An - Nhà xuất bản Chính trị quốc gia (2001)
  • Khu VI kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975 - Đại tá Trần Dương, Đại tá Võ Đức Nhi, Thiếu tá Nguyễn Đức Tấn - Nhà xuất bản Chính trị quốc gia (2002)
  • Bài tham luận của Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong hội thảo khoa học "Đại thắng mùa Xuân 1975 - Bản lĩnh và trí tuệ Việt Nam" do Bộ Quốc phòng, Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh, Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương tổ chức ngày 14 và 15/4/2005, ghi lại trên Tạp chí Xưa & Nay số 234 (2005)
  • Phim tài liệu "Đồng khởi - Bến tre" - Đạo diễn Lê Phong Lan - Công ty TNHH Truyền thông Đồng đội sản xuất & Đài Truyền hình Việt Nam sản xuất và phát hành (2009)
  • Phim tài liệu "Lực lượng vũ trang Thành phố Hồ Chí Minh anh hùng" - Đạo diễn Hồ Minh Đức - Bộ tư lệnh Thành phố Hồ Chí Minh, Hãng phim Truyền Hình Thành phố Hồ Chí Minh & Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh sản xuất và phát hành (2011)
  • Phim tài liệu "Nơi huyền thoại bắt đầu" - Đạo diễn Thanh Lan - Trung tâm phim tài liệu phóng sự Đài truyền hình Việt Nam & Đài truyền hình Việt Nam sản xuất và phát hành (2012)
  • Phim tài liệu "Mậu Thân 1968" - Đạo diễn Lê Phong Lan - Hãng phim truyền hình Bản Sắc Việt & Đài Truyền hình Việt Nam sản xuất và phát hành (2012)



Hoa Kỳ và quốc tế:
 

  • General Vo Nguyen Giap and the Mysterious Evolution of the Plan for the 1968 Tet Offensive (Tướng Võ Nguyên Giáp và tiến trình bí mật của kế hoạch Tết Mậu Thân 1968) - Nhà sử học, Việt Nam học Merle L. Pribbenow II - Vietnam study department Đại học California xuất bản (2008)
  • Cuộc chiến dài ngày giữa nước Mỹ và Việt Nam 1950-1975 - George C. Herring (Phạm Ngọc Thạch dịch) - Nhà xuất bản Công an Nhân dân (2004)
  • Lyndon Johnson's War: The Road to Stalemate (Cuộc chiến của Lyndon Johnson: Đường đi đến bế tắc) - Giáo sư Larry Berman - W. W. Norton & Company (1991)
  • The White House Years (Những năm tháng ở Nhà Trắng) - Cựu ngoại trưởng Henry Kissinger - Simon & Schuster (2011)
  • A Soldier Reports (Tường trình của một quân nhân) - Đại tướng William Westmoreland - Doubleday (1976)
  • Kill Anything That Moves: U.S. War Crimes And Atrocities In Vietnam, 1965-1973 (Giết bất cứ vật gì chuyển động: Tội ác chiến tranh hung bạo của Mỹ ở Việt Nam) - Nhà sử học kiêm nhà báo Nick Turse - Nhà xuất bản Đại học Columbia (2005)
  • The United States and Biological Warfare: Secrets from the Early Cold War and Korea (Hoa Kỳ và Chiến tranh hóa học: Bí mật từ đầu Chiến tranh lạnh và Triều Tiên) - Stephen Endicott, Edward Hagermann - Nhà xuất bản Đại học Indiana (1998)
  • The War Behind Me: Vietnam Veterans Confront the Truth About U.S. War Crimes (Cuộc chiến sau lưng tôi: Cựu binh Chiến tranh Việt Nam chất vấn sự thật về tội ác chiến tranh Hoa Kỳ) - Deborah Nelson - Basic Books (2008)
  • America in Vietnam: a documentary history (Hoa Kỳ ở Việt Nam: một tài liệu lịch sử) - William Appleman Williams, Lloyd C. Gardner, Walter LaFeber - W. W. Norton & Company (1989)
  • Dictionary of the Vietnam War (Tự điển thuật ngữ về Chiến tranh Việt Nam) - nhà sử học James Olson, Greenwood Press (1988)
  • Crimes of War: What the Public Should Know (Tội ác chiến tranh: Những gì công chúng nên biết) - Lewis M. Simmons - Roy Gutman xuất bản (1999)
  • "Guide to the Vietnam War" (Hướng dẫn kiến thức cơ bản Chiến tranh Việt Nam) - David L. Anderson - Nhà xuất bản Columbia (2004)
  • Những bí mật về Chiến tranh Việt Nam - Tiến sĩ Daniel Ellsberg (Tĩnh Hà, Kiều Oanh dịch) - Nhà xuất bản Công an Nhân dân (2006)
  • Sự lừa dối hào nhoáng - Nhà báo Neil Sheehan (Đoàn Doãn dịch) - Nhà xuất bản Công an Nhân dân (2003)
  • 40 ngày sống với đối phương - Richard Dudman (Trần Ngọc Châu, Dương Thủy dịch) - Nhà xuất bản Trẻ (2005)
  • Những gì tôi thấy ở Việt Nam - Alain Wasmes (Nguyễn Huy Cầu dịch) - Nhà xuất bản Công an Nhân dân (2004)
  • Nhìn lại quá khứ: Tấn thảm kịch và những bài học về Việt Nam - Cựu Bộ trưởng quốc phòng Hoa Kỳ Robert McNamara (Hồ Chính Hạnh, Huy Bình, Thu Thủy, Minh Nga dịch) - Nhà xuất bản Chính trị quốc gia (1995)
  • The Palace File (Hồ sơ mật Dinh Độc Lập) - Nguyễn Tiến Hưng - Harper & Row Publishers (1986)
  • The Vietnam War in American memory: veterans, memorials, and the politics of healing (Chiến tranh Việt Nam trong ký ức người Mỹ: cựu binh, tưởng niệm, và yếu tố chính trị của sự lành lại vết thương) - Patrick Hagopian - Nhà xuất bản Đại học Massachusetts (2009)
  • Vietnam and Other American Fantasies (Việt Nam và các ảo tưởng khác của người Mỹ) - Bruce Franklin - Nhà xuất bản Massachusetts (2001)
  • Inventing Vietnam: The United States and State Building, 1954-1968 (dịch ý: Quá trình phát minh Nam Việt Nam: Hoa Kỳ và quá trình xây dựng Nhà nước Việt Nam Cộng hòa, 1954-1968) - Tiến sĩ James Carter - Nhà xuất bản Đại học Cambridge (2008)
  • Secrets: A Memoir of Vietnam and the Pentagon Papers (Một tưởng nhớ về Việt Nam và Hồ sơ Lầu Năm Góc) - Tiến sĩ Daniel Ellsberg - Nhà xuất bản Viking (2002)
  • Understanding Power: The Indispensable Chomsky (Nhận diện quyền lực: Chomsky và những điều không thể bỏ qua) - Mitchell Schoeffel, Peter Schoeffel, John Schoeffel - Nhà xuất bản Vintage (2003)
  • The Vietnam War and American Culture (Chiến tranh Việt Nam và văn hóa Mỹ) - John Carlos Rowe, Rick Berg - Nhà xuất bản Đại học Columbia (1991)
  • Historical Dictionary of the 1970s (Tự điển lịch sử của thập niên 1970) - Giáo sư sử học James Stuart Olson - Nhà xuất bản Greenwood (1999)
  • Fire in the Lake: The Vietnamese and the Americans in Vietnam (Ngọn lửa trên sông: Người Việt và người Mỹ ở Việt Nam) - Nhà báo Frances FitzGerald - Nhà xuất bản Back Bay Books (2002)
  • Ngày tàn ngụy chúa - Marshal Brement (Bạch Phương dịch) - Nhà xuất bản Thanh Niên (2011)
  • Vietnam War Era: A Personal Journey (Thời kỳ Chiến tranh Việt Nam: Một hành trình riêng) - Giáo sư sử học Bruce Solheim - Nhà xuất bản Đại học Nebraska (2008)
  • Anything But the Truth: the Credibility Gap-How the News is Managed in Washington (Tất cả ngoài sự thật: Khoảng cách tin cậy về cách quản lý thông tin ở Washington) - Erwin Knoll, William McGaffin - G. P. Putnam's Sons (1968)
  • The United States in Vietnam: An analysis in depth of the history of America’s involvement in Vietnam (Hoa Kỳ ở Việt Nam: Một phân tích chuyên sâu về lịch sử can thiệp của Hoa Kỳ vào Việt Nam) - Nhà chính trị học George McTurnan Kahin, John W. Lewis - Delta Books (1967)
  • Vietnam, a History (Việt Nam, một Lịch sử) - Nhà sử học Stanley Karnow - Nhà xuất bản Edition King (1983)
  • The Politics of Heroin in Southeast Asia (Nền chính trị ma túy ở Đông Nam Á) - Tiến sĩ sử học Alfred W. McCoy, Cathleen B. Read - Harper & Row (1972)
  • The Deaths of the Cold War Kings: The Assassinations of Diem and JFK (Cái chết của những ông vua Chiến tranh lạnh: Vụ ám sát Diệm và John F. Kennedy) - Bradley S. O’ Leary, Edward Lee - Cemetery Dance (1999)
  • Encyclopedia of The Vietnam War (Bách khoa thư Chiến tranh Việt Nam) - Sử gia Stanley Kutler - Simon & Schuster McMillan xuất bản (1996)
  • Encyclopedia of the Vietnam War (Bách khoa thư Chiến tranh Việt Nam) - Đại tá Tiến sĩ Spencer C. Tucker - ABC-CLIO (2000)
  • The secret team: The CIA and its allies in control of the United States and the world (Đội ngũ bí mật: CIA và các đồng minh kiểm soát Hoa Kỳ và thế giới) - Đại tá Fletcher Prouty - Prentice-Hall (1973)
  • Anatomy of a War: Vietnam, the United States, and the Modern Historical Experience (Giải phẫu một cuộc chiến tranh: Việt Nam, Hoa Kỳ, và trải nghiệm lịch sử hiện đại) - Gabriel Kolko - Pantheon Books (1985)
  • Foreign Aid, War, and Economic Development: South Vietnam, 1955-1975 (Viện trợ nước ngoài, Chiến tranh, và Phát triển kinh tế: Nam Việt Nam, 1955-1975) - Nhà kinh tế học Douglas Dacy - Đại học Cambridge (2005)
  • Death Zones and Darling Spies, seven years of Vietnam War reporting (Tử địa và các điệp viên đáng yêu, bảy năm làm phóng sự về Chiến tranh Việt Nam) - Beverly Deepe Keever - Nhà xuất bản Đại học Nebraska (2013)
  • Kill Anything That Moves: The Real American War in Vietnam (Giết bất cứ thứ gì chuyển động: Cuộc chiến thật sự của Mỹ ở Việt Nam) - Nhà sử học kiêm nhà báo Nick Turse - Metropolitan Books (2013)
  • U.S. Marines in Vietnam: The Bitter End, 1973-1975 (Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ ở Việt Nam: Sự kết thúc cay đắng, 1973-1975) - George R. Dunham - Nhà xuất bản Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ (1990)
  • Hồ sơ SSN/0802 USMC, bản báo cáo After Action Report 17/4/1975 - 7/5/1975 - Thiếu tá James H. Kean
  • Cuộc phỏng vấn Trung tướng Lưu Á Châu, Chính ủy Không quân Quân khu Thành Đô, Trung Quốc trên tạp chí Khoa Học Quân Sự Không Quân (2010)
  • Thời báo New York, phát hành ngày 8/6/1963
  • Tuần báo Time, phát hành ngày 8/6/1964
  • Bưu báo Washington, phát hành ngày 8/6/1964
  • Phim tài liệu "Vietnam: The 10,000 Day War" (Việt Nam: Cuộc chiến 10.000 ngày) - Đạo diễn Michael Maclear - Tập đoàn Truyền thông Canada (CBC) sản xuất (1980)
  • Phim tài liệu "Vietnam: A Television History" (Việt Nam: Thiên lịch sử truyền hình) - Đài truyền hình PBS (Mỹ), WGBH Boston (Mỹ), CIT (Anh), Antenne–2 (Pháp) và LRE Production (Pháp) sản xuất và phát hành (1983)
  • Phim tài liệu "Việt Nam Thống Nhất" - Đạo diễn Yamamoto Satsuo, Toma Hiroichi, Yuki Yoshihiro, Suzuki Toshikazu - Hiệp hội Phát hình Nhật Bản Nippon Hōsō Kyōkai (NHK) sản xuất (1975)
  • Phim tài liệu "The Cu Chi Tunnels" (Địa đạo Củ Chi) - Đạo diễn Mickey Grant - Mickey Grant & Stan Cottrell sản xuất (1986)
  • Tài liệu Internet
  • Từ điển Bách khoa thư Việt Nam
  • Bách khoa toàn thư mở
  • Bách khoa thư Farlex
  • Đại tự điển Việt Nam
  • Bách khoa Tri thức Việt Nam
  • Những ý kiến, chỉ dẫn, giới thiệu thông tin của anh chị em trong blog