THỜI GIAN LÀM VIỆC 24/24
 

HOTLINE : (028) 6270 0119 - (028) 2215 4274
0982 120 908 - 090 371 5529 - 0933 161 985
Cơ sở 1: 245 Bình Quới (1051 Xô Viết Nghệ Tỉnh - số cũ) - P.28 - Q.Bình Thạnh - Tp.HCM
Cơ sở 2: 978 Nguyễn Duy Trinh - P. Phú Hữu - Q.9 - Tp.HCM

TRUNG TÂM ĐIỀU DƯỠNG VÀ CAI NGHIỆN MA TÚY THANH ĐA 
Địa chỉ : 1051 Bình Quới (Xô Viết Nghệ Tĩnh) - P.28 - Q.Bình Thạnh - Tp.HCM
Điện thoại: (08).38986513 - 38986515(Ext:12) - (08).22154274 - MST: 0301910027

Nguồn Gốc Quân Đội Tay Sai Việt Nam Cộng Hòa - Tay Sai Thực Dân Pháp Và Đế Quốc Mỹ

Tất cả Sĩ quan cấp Tướng và nhiều Sĩ quan cấp Tá đều được Thực dân Pháp và Đế quốc Mỹ đào tạo để đàn áp nhân dân và cách mạng Việt Nam

 

Quân lực Việt Nam Cộng hòa

 

Quân lực Việt Nam Cộng hòa

ARVN Cap Badge for Captains & Colonels.svg
Phù hiệu.

Hoạt động

1955 – 1975

Quốc gia

 Việt Nam Cộng hòa

Phân loại

Lực lượng vũ trang

Tên khác

Quân đội Việt Nam Cộng hòa

Khẩu hiệu

Tổ quốc - Danh Dự - Trách nhiệm

Màu sắc

Vàng, đỏ

Tham chiến

Chiến tranh đặc biệt
Chiến dịch Mậu Thân
Mùa hè đỏ lửa
Hải chiến Hoàng Sa

Các tư lệnh

Chỉ huy
nổi tiếng

Dư Quốc Đống
Linh Quang Viên
Lê Văn Tỵ
Nguyễn Văn Thiệu
Dương Văn Minh
Trần Văn Đôn
Cao Văn Viên
Lê Văn Hưng
Trần Thiện Khiêm
Trần Văn Hai
Lê Văn Nghiêm
Phạm Văn Phú
Đỗ Mậu
Nguyễn Khoa Nam
Nguyễn Chánh Thi
Đỗ Cao Trí
Nguyễn Cao Kỳ
Nguyễn Khánh
Dương Văn Đức
Nguyễn Hữu Có
Lâm Ngươn Tánh
Lê Nguyên Vỹ
Lê Minh Đảo
Ngô Quang Trưởng
Nguyễn Văn Hinh

Huy hiệu

Quân kỳ 1

Flag of RVNMF.svg

Quân kỳ 2

Flag of the Republic of Vietnam Military Forces.svg

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Quân lực Việt Nam Cộng hòa (chính tả cũ: Quân-lực Việt-nam Cộng-hòa; tiếng Anh: Republic of Vietnam Military ForcesRVNMF) là LỰC LƯỢNG QUÂN ĐỘI CỦA CHÍNH QUYỀN VIỆT NAM CỘNG HÒA, THÀNH LẬP TỪ NĂM 1955, VỚI NÒNG CỐT LÀ LỰC LƯỢNG QUÂN ĐỘI QUỐC GIA VIỆT NAM TRONG LIÊN HIỆP PHÁP, CHỦ YẾU LÀ BẢO AN ĐOÀN,BẢO CHÍNH ĐOÀN. Ngày truyền thống (còn gọi là ngày Quân lực) là ngày 19 tháng 6. Trong các tài liệu của phía VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA VÀ MẶT TRẬN DÂN TỘC GIẢI PHÓNG MIỀN NAM VIỆT NAM, QUÂN LỰC CỘNG HÒA BỊ ĐỐI PHƯƠNG GÁN CHO BIỆT DANH "QUÂN ĐỘI SÀI GÒN" HOẶC "NGỤY QUÂN". TRONG QUÁ TRÌNH TỒN TẠI CỦA MÌNH, QUÂN LỰC CỘNG HÒA NHIỀU LẦN THAM GIA CÁC BIẾN CỐ CHÍNH TRỊ, MÀ CAO ĐIỂM LÀ CUỘC ĐẢO CHÍNH 1963 LẬT ĐỔ TỔNG THỐNG NGÔ ĐÌNH DIỆM, VÀ SAU ĐÓ THAM CHÍNH TRONG CHÍNH QUYỀN CHO ĐẾN NGÀY VIỆT NAM CỘNG HÒA SỤP ĐỔ.

Quân lực Cộng hòa được trang bị hùng hậu với sức cơ động cao và hỏa lực mạnh, được sự hỗ trợ tích cực của Mỹ và các đồng minh, để chống lại Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam, lực lượng vũ trang của Mặt trận Dân tộc là một bộ phận của Quân đội Nhân dân Việt Nam, được sự viện trợ từ Liên Xô, Trung Quốc, và các đồng minh. Tuy vậy, khác với đối phương được tổ chức đơn giản, gọn nhẹhiệu quả cao, Quân lực Cộng hòa là một quân đội trang bị hiện đại, mô phỏng hoàn toàn theo Hoa Kỳ nên rất tốn kém, đòi hỏi kinh phí hoạt động gần 3 tỷ đô la Mỹ mỗi năm (giá và thời điểm bấy giờ) (gấp 10 lần đối phương). Nền Kinh tế Việt Nam Cộng hòa, vốn quá lệ thuộc vào Mỹ đã không thể cáng đáng được kinh phí này, nên Việt Nam Cộng hòa đã gần như phải dựa hoàn toàn vào viện trợ kinh tế của Mỹ để có thể thực hiện phòng thủ trước đối phương có sức mạnh phù hợp với hình thái chiến tranh thực địa hơn.

Khi Mỹ giảm viện trợ xuống còn 1,1 tỷ đô la vào năm 1974, nền kinh tế Việt Nam Cộng hòa lâm vào cuộc khủng hoảng với lạm phát ở mức 200%Quân lực Cộng hòa vốn không được tổ chức thích hợp, lại cộng thêm nạn tham nhũng nên đã rơi vào tình trạng thiếu kinh phí để duy trì mức hoạt động như trước. Dù có không ít những đơn vị được trang bị tốt nhưng những đơn vị này rơi vào tình trạng thiếu đạn dược, bảo trì, xăng dầu dẫn đến giảm hỏa lực và tính cơ động. Cùng với những điểm yếu khác về chỉ huytinh thần chiến đấu, chỉ sau 55 ngày đêm chiến dịch Mùa Xuân 1975 của Quân đội Nhân dân, Lực lượng quân đội với hơn 1 triệu quân này đã tan rã.

 

Quá trình phát triển

Thời kỳ trước khi Quốc gia Việt Nam thành lập

Trong suốt thời gian chiếm đóng Đông Dương, quân đội Pháp có những người Việt phục vụ trong Quân đội để đáp ứng nhu cầu chiến trường. Các quân nhân này được đào tạo theo quy chế Pháp và đại đa số là binh lính, hạ sĩ quan với một số rất ít sĩ quan.

Khi chiến tranh lan rộng, để huy động thêm nhân lực, người Pháp đã thành lập các Lực lượng phụ thuộc (Forces suppletives) bao gồm lính được tuyển mộ tại địa phương DO SĨ QUAN PHÁP CHỈ HUY.

Ngày 1 tháng 10năm 1946, Vệ binh Cộng hòa Nam Kỳ được thành lập, là Lực lượng quân sự đầu tiên của Chính phủ Cộng hòa Tự trị Nam Kỳ.

Ngày 9 tháng 6 năm 1948, Lực lượng này được đổi tên thành Vệ binh Nam Việt. Ngày 12 tháng 4 năm 1947, Lực lượng Bảo vệ quân ra đời tại Huế, năm 1948 cải danh thành VIỆT BINH ĐOÀN.

Tháng 7 năm 1948, Lực lượng quân sự người Việt tại Bắc Kỳ ra đời mang tên Bảo chính đoàn.

Thực chất, đây là những Lực lượng quân sự Địa phương, tổ chức để hỗ trợ cho Quân đội Pháp, về NGUYÊN TẮC TRỰC THUỘC CHÍNH QUYỀN NGƯỜI VIỆT, TRÊN THỰC TẾ VẪN DO CÁC SĨ QUAN PHÁP CHỈ HUY.

Thời kỳ Quốc gia Việt Nam

Theo Hiệp ước Elysée ngày 8 tháng 3 năm 1949, Quốc gia Việt Nam được thành lập, có Quân đội và Chính sách ngoại giao riêng. Theo Nghị định Quốc phòng ngày 13 tháng 4 năm 1949, một Lực lượng Quân đội Quốc gia được thành lập, lấy tên là Vệ binh Quốc giaCác lực lượng Vệ binh Nam Việt, Việt binh đoàn, Bảo chính đoàn và Vệ binh sơn cước được chuyển sang Vệ binh Quốc gia.

Trong nỗ lực thành lập Quân đội Quốc gia, vấn đề cơ bản là đào tạo sĩ quan và hạ sĩ quan. Quốc gia Việt Nam thừa nhận tình trạng thiếu những người được huấn luyện quân sự nhưng tuyên bố vì lý do chính trị, việc sử dụng sĩ quan Pháp là trở ngại. Trong khi đó Pháp lại không chấp nhận trang bị vũ khí cho những đơn vị Quân đội Quốc gia mới thành lập trừ khi Việt Nam chấp nhận một tỷ lệ nhất định sĩ quan nước ngoài trong Quân đội Quốc gia trong thời gian sĩ quan Việt Nam đang được đào tạo tại những cơ sở huấn luyện mới thành lập. Pháp có trách nhiệm hỗ trợ Việt Nam trong công tác huấn luyện sĩ quan.

Ngày 11 tháng 5 năm 1950, Thủ tướng Trần Văn Hữu tuyên bố chính thức thành lập Vệ binh Quốc gia Việt Nam với quân số lúc đó là 60.000 người.

Ngày 8 tháng 12, 1950, Quốc gia Việt Nam và Pháp ký Hiệp định quân sự thành lập Quân đội Quốc gia bằng cách đặt một số đơn vị Quân đội Pháp tại Việt Nam dưới quyền chỉ huy của Quốc gia Việt Nam. Dự kiến quân đội này sẽ bao gồm 120.000 quân và 4.000 sĩ quan. Tất cả sĩ quan đều phải là người Việt. Quốc trưởng Bảo Đại là Tổng chỉ huy của Quân đội Quốc gia Việt Nam từ năm 1950 đến 1955.

Sau hai lần thay đổi nội các, Quốc trưởng Bảo Đại ký Dụ số 43 ngày 23 tháng 5 năm 1952 thành lập Bộ Tổng tham mưu Quân đội Quốc gia Việt Nam từ ngày 1 tháng 5 năm 1952. Quân đội Quốc gia có Tổng chỉ huy là Quốc trưởng Bảo Đại và được đặt dưới quyền quản trị của Bộ Tổng tham mưu. Tổng tham mưu trưởng đầu tiên là một sĩ quan người Việt quốc tịch Pháp, nguyên Đại tá Chánh Võ phòng của Quốc trưởng, tân Thiếu tướng Nguyễn Văn Hinh. Trụ sở Bộ Tổng tham mưu đặt tại số 1 đường Galiéni, tức thành Ô Ma (Camp Aux Mares), Sài Gòn. Toàn Việt Nam được phân thành 4 quân khu đầu tiên và một số sĩ quan cấp tá người Việt đã được bổ nhiệm vào chức vụ Tư lệnh Quân khu. Cùng năm đó, Binh chủng Hải quân và Binh chủng Nhảy dù được thành lập. Tuy vậy, các Tư lệnh chiến trường của Pháp lại có quyền yêu cầu các đơn vị của Quốc gia Việt Nam hỗ trợ trong các cuộc hành quân.

Để đẩy mạnh hơn nữa việc tuyển quân, từ năm 1953, chính quyền Quốc gia Việt Nam cho thực hiện cuộc Tổng động viên với lệnh tất cả thanh niên tuổi từ 18 đến 33 phải ghi danh. Quân đội Quốc gia Việt Nam phát triển nhanh chóng về số lượng. Khi hội nghị Geneve được ký kết đã có 82 "Tiểu đoàn Việt Nam", 81 "Tiểu đoàn khinh quân" và 5 Tiểu đoàn Nhảy dù, chưa kể 3 Trung đoàn cơ giới, 8 nhóm Pháo binh, 5 nhóm Vận tải và 5 Tiểu đoàn Công binh đó là chưa kể Tuần binh, Quân đội của các Giáo phái và Bình Xuyên, tổng cộng là 272.000 người (không kể số lính da vàng trong các đơn vị da trắng). Số tiền người Pháp bỏ ra để thành lập Quân đội này là: 524 tỉ francs năm 1952, 585 tỉ năm 1953, 575 tỉ năm 1954. (thực chất là lính đánh thuê cho Pháp - chú thích TTTĐ)

Sau chiến bại của Pháp tại trận Điện Biên Phủ, Quân đội Quốc gia Việt Nam lâm vào tình thế khó khăn. Sách của Quân lực Cộng hòa mô tả thời kỳ này như sau:

Người lính quốc gia đã không còn tinh thần để chiến đấu vì trước đà thắng thế của đối phương, phải liên miên chịu đựng áp lực nặng nề, vừa chiến đấu mệt mỏi, không được nghỉ ngơi, không được bổ sung, vừa bị khủng hoảng tinh thần bởi các sự tuyên truyền của đối phương" nên đã đào ngũ khá nhiều. Từ ngày 21-7 đến ngày 20-8-1954, chỉ trong 1 tháng, số đào ngũ ở miền Bắc lên tới 21.421 người, gồm 112 sĩ quan, 1.031 hạ sĩ quan và 20.278 binh sĩ. Số đào ngũ vẫn gia tăng vào những tháng chót

Quân đội Việt Nam Cộng hòa

QLVNCHQuân lực Việt Nam Cộng hòa

Binh chủng

Lục quân

Hải quân

Không quân

Dấu hiệu/Cấp bậc

Quân hàm

Phù hiệu các đơn vị

Hiệu kỳ các đơn vị

Lịch sử

Tiến trình phát triển

Các đại đơn vị

Các tướng lãnh

 

Việt Nam Cộng hòa và bốn vùng chiến thuật.

Năm 1955, sau khi Quốc trưởng Bảo Đại bị truất phế, Thủ tướng Ngô Đình Diệm tuyên bố thành lập Việt Nam Cộng hòa,  Quân đội Quốc gia từ đó cải danh là Quân đội Việt Nam Cộng hòa. Cùng năm 1955, Bộ Tổng tham mưu không còn tùy thuộc hệ thống chỉ huy Pháp.

Cũng trong năm này, khối bộ binh được tổ chức là 4 Sư đoàn dã chiến và 6 Sư đoàn khinh chiến.

Năm 1956, trụ sở Bộ Tổng tham mưu dời về trại Trần Hưng Đạo (tức Camp Chanson trước kia). Các Quân khu được tổ chức lại thành 6 quân khu. Cũng trong năm này, Hải quân Việt Nam Cộng hòa bắt đầu tiếp nhận tàu chiến từ Hải quân Hoa Kỳ, gồm 31 chiến hạm với 193 chiến đỉnh, đến 1963 mới chấm dứt.

Năm 1957, Quân đoàn I và Quân đoàn II được thành lập. Cùng năm, thành lập Binh chủng Lực lượng đặc biệt, huấn luyện sĩ quan và hạ sĩ quan tại trường Biệt động đội ở Đồng Đế, và đơn vị đầu tiên mang tên Liên đội Quan sát Số 1.

Đầu năm 1959, các Sư đoàn khinh chiến và dã chiến được tổ chức lại thành 7 Sư đoàn bộ binh[18]. Ngày 1 tháng 3 năm 1959, Quân đoàn III được thành lập, gồm Sư đoàn 5 và 7 bộ binh. Cùng năm, Lữ đoàn Thủy quân Lục chiến tách ra khỏi Hải quân và trở thành Lực lượng Tổng trừ bị.

Năm 1960, Binh chủng Biệt động quân được thành lập với 50 đại đội và bắt đầu hoạt động sâu trong vùng kiểm soát của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam. Đại đơn vị Cảnh sát Quân sự cũng được tái tổ chức ngày 1 tháng 10, tập hợp các đơn vị cũ từ năm 1948 dưới tên mới là Quân cảnh. Cũng trong năm này, Chính phủ Việt Nam Cộng hòa ban hành động viên từng phần. Theo đó thì tất cả những thanh niên trong lứa tuổi quân dịch (18-35) phải vào quân ngũ trong một thời gian.

Ngày 11 tháng 11 năm 1960, Đại tá Nguyễn Chánh Thi đã chỉ huy một số đơn vị thuộc Lữ đoàn Nhảy dù, Biệt động quân, Thiết giáp.... làm đảo chính quân sự. Tuy nhiên, cuộc đảo chính bị dập tắt nhanh chóng.

Ngày 13 tháng 4 năm 1961, Tổng thống Ngô Đình Diệm ra sắc lệnh số SL.98/QP chia lại lãnh thổ thành ba vùng chiến thuật và Biệt khu Thủ đô. Vùng 1 chiến thuật gồm các tỉnh từ Quảng Trị đến Quảng Ngãi, do Quân đoàn I trấn đóng. Vùng 2 chiến thuật gồm Cao nguyên Trung phần và các tỉnh duyên hải nam Trung phần từ Bình Định vào tới Bình Thuận, do Quân đoàn II trấn đóng. Vùng 3 chiến thuật gồm các tỉnh từ Bình Tuy vào Nam do Quân đoàn III trấn đóng. Biệt khu Thủ đô gồm Đô thành Sài Gòn và tỉnh Gia Định.

Năm 1962, Liên đoàn Nhảy dù gồm 7 tiểu đoàn nhảy dù 1, 3, 4, 5, 6, 7 và 8, tiền thân là các Tiểu đoàn nhảy dù thuộc địa của Pháp, được phát triển thành Lữ đoàn Nhảy dù. Liên đoàn 31 Lực lượng Đặc biệt cũng được thành lập. Các đơn vị Không quân tác chiến và yểm trợ tác chiến được tăng lên cấp Không đoàn tại mỗi Quân đoàn, gồm các Không đoàn 41 (Đà Nẵng), 62 (Pleiku), 23 (Biên Hòa), 33 (Tân Sơn Nhất), 74 (Cần Thơ). Sư đoàn 9 và 25 bộ binh cũng được thành lập trong năm này, nâng cấp số đơn vị bộ binh lên thành 9 Sư đoàn.

Ngày 1 tháng 1 năm 1963, Tổng thống Ngô Đình Diệm cho thành lập Quân đoàn IV và Vùng 4 chiến thuật. Theo đó, cơ cấu các vùng chiến thuật và các đơn vị cơ hữu quân đoàn được tổ chức lại như sau:

  • Vùng 1 chiến thuật (Bắc Trung phần) với Quân đoàn I, gồm các Sư đoàn 1 và Sư đoàn 2 bộ binh.

  • Vùng 2 chiến thuật (Cao nguyên và duyên hải nam Trung phần) với Quân đoàn II, gồm các Sư đoàn 22 và Sư đoàn 23 bộ binh.

  • Vùng 3 chiến thuật (Miền đông Nam phần) với Quân đoàn III, gồm các Sư đoàn 5 và Sư đoàn 10 bộ binh.

  • Vùng 4 chiến thuật (Miền tây Nam phần) với Quân đoàn IV, gồm các Sư đoàn 7, Sư đoàn 9 và Sư đoàn 21 bộ binh.

Các tướng lĩnh

Hội đồng Quân lực tại lễ quốc khánh 1 tháng 11 năm 1966.

Trong lịch sử tồn tại của Quân đội Quốc gia sau là Quân lực VNCH, có 173 người được phong cấp tướng, trong đó có 1 Thống tướng. Còn lại là các cấp Đại tướng, Trung tướng, Thiếu tướng và Chuẩn tướng. Rất nhiều tướng lĩnh (chiếm 1/3) được phong hàm tướng trong giai đoạn 1963-1965, thời kỳ mà dân chúng gọi là "loạn tướng".

  • Thống tướng Lê Văn Tỵ (Được phong Thống tướng ngày 21-7-1964, 3 tháng trước ngày từ trần)
  • Đại tướng: 5
  • Trung tướng: 49
  • Thiếu tướng: 46
  • Chuẩn tướng: 72
- Các tướng lĩnh còn lại, xin xem danh sách:
  • Danh sách Đại tướng Việt Nam Cộng hòa
  • Danh sách Trung tướng Việt Nam Cộng hòa
  • Danh sách Thiếu tướng Việt Nam Cộng hòa
  • Danh sách Chuẩn tướng Việt Nam Cộng hòa
- Cấp tá Việt Nam Cộng hòa:
  • Danh sách Đại tá Việt Nam Cộng hòa
Từ khóa: ARVN Colonels (u) - General Hieu


Đào tạo và học viện quân sự (Hầu hết các tướng Việt Nam Cộng Hòa đều do Pháp đào tạo)

 
 

Việt Nam Cộng hòa có một số cơ sở Trung tâm Huấn luyện Quốc gia, đào tạo nhân sự cho ngành quân lực. Đứng đầu là Trường Võ bị Quốc gia Đà Lạt. Ngoài ra còn có Trường Bộ binh Thủ Đức, Trường Huấn luyện Không quân Nha Trang, Trường Sĩ quan Hải quân Nha Trang, Trường Hạ sĩ quan Quân lực Việt Nam Cộng hòa, Trung tâm Huấn luyện Quang Trung, Trung tâm Huấn luyện Biệt động quân Dục Mỹ...

Mỗi vùng chiến thuật có một trung tâm huấn luyện:[22]

  • Vùng 1 (Quân khu 1): Trung tâm Huấn luyện Quốc gia Đống Đa ở Huế.
  • Vùng 2 (Quân khu 2): Trung tâm Huấn luyện Quốc gia Lam Sơn ở Dục Mỹ, Ninh Hòa, Khánh Hòa
  • Vùng 3 (Quân khu 3): Trung tâm Huấn luyện Quốc gia Vạn Kiếp ở Bà Rịa, Phước Tuy.
  • Vùng 4 (Quân khu 4): Trung tâm Huấn luyện Quốc gia Chi Lăng ở Châu Đốc.

Quân số và vũ khí năm 1975

  • Đầu năm 1975, ngoài Bộ Tổng tham mưu với các cơ quan, binh chủng và binh sở trong hệ thống quản trị (hành chánh, nhân viên, huấn luyện, chiến tranh chính trị, tiếp vận), Quân lực Việt Nam Cộng hòa còn có các đơn vị yểm trợ tác chiến gồm 4 Bộ tư lệnh Quân đoàn và các đơn vị yểm trợ trực thuộc. Các đơn vị trực tiếp tác chiến gồm:
    • Lục quân: 11 Sư đoàn bộ binh, 1 Sư đoàn Nhảy dù, 1 Sư đoàn Thủy quân lục chiến, Liên đoàn 81 Biệt cách Dù, 17 Liên đoàn Biệt động quân, 4 Lữ đoàn Kỵ binh Thiết giáp, Lực lượng Lôi Hổ và Biệt Hải thuộc Nha Kỹ thuật, các đơn vị Pháo binh biệt lập và Lực lượng Địa phương quân gồm 400 Tiểu đoàn, Nghĩa quân hơn 50.000 quân.
    • Thiết giáp kỵ binh: Có 4 Lữ đoàn Kỵ binh, 18 Thiết đoàn (tương đương Trung đoàn) và 57 Chi đoàn (tương đương Tiểu đoàn) xe tăng Thiết giáp với 383 xe tăng (162 M48A3, 221 M41) và 1.691 Thiết giáp chở quân M-113.
    • Pháo binh: Có 66 Tiểu đoàn và trên 160 Trung đội Pháo binh độc lập với khoảng 1.500 khẩu pháo 105mm, 155mm và một số pháo tự hành 175mm.
    • Không quân. Quân số 60.000, gồm: 1 Bộ tư lệnh Quân chủng với đầy đủ các cơ quan và binh sở yểm trợ, 5 Sư đoàn Không quân tác chiến (20 phi đoàn khu trục cơ, trang bị khoảng 550 phi cơ A-1H, A-37và F-5, 23 Phi đoàn trực thăng, trang bị khoảng 1.000 phi cơ UH-1 và CH-47, 8 Phi đoàn quan sát, trang bị khoảng 200 phi cơ O1, O2 và U17), 1 Sư đoàn vận tải (9 Phi đoàn vận tải, trang bị khoảng 150 phi cơ C7, C-47, C-119 và C-130), 1 Không đoàn tân trang chế tạo, 4 Phi đoàn hỏa long, trang bị phi cơ AC-119, AC-130 Spectre Gunship. Ngoài ra còn có Phi đoàn Trắc giác (tình báo kỹ thuật), Phi đoàn Quan sát RC119L và Biệt đoàn Đặc vụ 314.
    • Hải quân. Quân số hơn 40.000, ngoài các đơn vị yểm trợ hành chánh, nhân viên, huấn luyện, tiếp vận (có Hải quân Công xưởng), gồm 3 Lực lượng tác chiến: (1) Hành quân lưu động sông, với 14 Giang đoàn trang bị khoảng 260 chiến đỉnh; (2) Hành quân lưu động biển với một hạm đội trang bị Tuần dương hạm, Hộ tống hạm, Khu trục hạm, Tuần duyên hạm, Giang pháo hạm, Trợ chiến hạm, Dương vận hạm, Hải vận hạm và Giang vận hạm; (3) các Lực lượng Đặc nhiệm 211 Thủy bộ với 6 Giang đoàn, 212 Tuần thám với 12 Giang đoàn, 214 Trung ương với 6 Giang đoàn, và Liên đoàn Người nhái. Tổng cộng được trang bị khoảng 1.500 tàu xuồng các loại, trong đó có khoảng 700 tàu chiến trên sông và trên biển.

preview

Lục quân​

preview

Thiết giáp kỵ kinh

preview

Pháo binh

preview

Công binh

preview

Không quân

preview

Hải quân

 

  • Năm 1975, theo số liệu từ hồi ký Đại thắng mùa xuân của Đại tướng Văn Tiến Dũng
  • [25], toàn bộ Quân lực Cộng Hòa gồm có 1.351.000 quân, trong đó có 495.000 quân chủ lực, 475.000 quân địa phương, 381.000 quân "Phòng vệ dân sự" có vũ trang, gồm 13 Sư đoàn chủ lực, 17 Liên đoàn biệt động quân.
  • Theo Walter J. Boyne[26], toàn bộ Quân lực Cộng hòa gồm có 750.000 người (chưa kể quân dân vệ), trong đó 229.000 là Lực lượng chiến đấu nòng cốt để chống lại gần 500.000 quân Giải phóng ở miền Nam,bao gồm cả các Lực lượng chính quy và du kích, trong đó có hơn 200.000 bộ đội chính quy mà hơn 80.000 quân đã ở lại miền Nam sau Hiệp định Paris.

Theo đánh giá về trang bị và quân số, Quân lực Cộng hòa có Lục quân và Không quân đứng thứ 4 thế giới, Hải quân đứng thứ 9 thế giới. So với đối thủ là Quân đội Nhân dân Việt Nam, họ có ưu thế 2 lần về quân số, 4 lần về xe tăng và đại bác, hơn tuyệt đối về Không quân và Hải quân.

Những điểm yếu về Lực lượng

Nữ quân nhân thuộc lực lượng Nhân dân Tự Vệ ở Kiến Điền, Bến Cát, Bình Dương tuần tra chống quân du kích Quân Giải phóng miền Nam thời kỳ chiến tranh.

Tuy trang bị hùng hậu, song thực tế tác chiến cho thấy khi không còn quân Mỹ hỗ trợ, quân đội này thường thất trận khi đối đầu với chủ lực của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Chỉ sau gần 2 tháng của Chiến dịch Mùa Xuân 1975, Quân lực Việt Nam Cộng Hòa với hơn 1,2 triệu quân hoàn toàn bị tiêu diệt hoặc tan rã. Các nhà nghiên cứu đã liệt kê một số nguyên nhân để lý giải cho sự sụp đổ to lớn và toàn diện này.

  • Theo nhà nghiên cứu quân sự Nguyễn Đức Phương trong bài viết "Việt Nam Cộng hòa 1975, nguyên nhân sụp đổ" thì một trong các nguyên nhân Quân lực Cộng hòa thất bại là vì được "tổ chức rập khuôn theo lối Mỹ, một lính tác chiến có năm người yểm trợ như tiếp liệu, quân nhu, quân y, hành chính… nên trên thực tế lính tác chiến chưa tới 200 ngàn người, thành phần không tác chiến (non combatant) chiếm khá nhiều, Địa phương quân và Nghĩa quân chỉ đủ sức cầm cự chờ lính bộ binh của Sư đoàn". Lối đánh này sử đụng tối đa hỏa lực nên vô cùng tốn kém, đòi hỏi phải cung cấp dồi dào về vũ khí đạn dược. Mỗi năm Quân lực Cộng hòa cần hơn 3 tỷ đôla viện trợ mới đủ để duy trì sức chiến đấu, trong khi Quân đội Nhân dân Việt Nam chỉ cần khoảng 300 triệu đôlađủ để củng cố lực lượng. Kết quả tất yếu là khi bị Mỹ giảm viện trợ, nhiều máy bay, xe tăng, tàu chiến… thiếu cơ phận thay thế đã trở thành bất khiển dụng. Hỏa lực Không quân giảm 60% so với năm 1972. Dự trữ đạn dược tuy còn tới gần 2 triệu tấn (gấp 15 lần đối phương), nhưng nếu tiêu tốn nhanh như chiến thuật mà Mỹ áp dụng thì chỉ đủ đánh cho tới tháng 6 năm 1975.
  • Tuy Quân lực Việt Nam Cộng hòa có ưu thế số lượng nhưng về mặt phẩm chất vũ khí không có ưu thế. Xe tăng chỉ có M48 Patton tương đương với T-54, pháo 155 và 105 ly tầm viễn xạ tối đa chỉ được 15 và 11 cây số, ngang với pháo 122 ly cấp Sư đoàn của Quân đội Nhân dân Việt Nam, pháo 175 ly thì không có nhiều. Hơn nữa do phải chiến đấu nhiều năm trong điều kiện bị áp đảo về hỏa lực nên Quân đội Nhân dân Việt Nam có kinh nghiệm hơn hẳn về ngụy trang và phản pháo, trong khi Quân lực Việt Nam Cộng hòa vì quen dựa dẫm vào yểm trợ hỏa lực của Mỹ nên thường bị lúng túng khi phải tự lực chiến đấu. Các tướng lĩnh Mỹ đã nhận xét: "Hiệu quả chiến đấu của Quân lực Việt Nam Cộng hòa không đều, họ đứng vững được bởi sự trợ giúp của các cố vấn Mỹ và hỏa lực yểm trợ mạnh mẽ của Mỹ từ trên không... Điểm yếu nội tại trong cấu trúc chỉ huy là họ tỏ ra quá phụ thuộc vào yểm trợ hỏa lực của Mỹ"[27][28].
  • Về chiến lược quân sự, Quân lực Việt Nam Cộng hòa thiếu sự ủng hộ của nhân dân (nhất là ở nông thôn)[29], trong khi đó Quân đội Nhân dân Việt Nam lại áp dụng hiệu quả chiến lược chiến tranh nhân dân, do đó Quân lực Việt Nam Cộng hòa bị dồn ép liên tục, phải trải quân khắp nơi để giữ đất. Toàn bộ 13 Sư đoàn và 17 Liên đoàn Biệt động quân (tương đương với hơn 6 sư đoàn) phải bảo vệ 44 tỉnh, tính trung bình một tỉnh chỉ được hơn một Trung đoàn bảo vệ. Trong khi đó Quân đội Nhân dân Việt Nam do nắm thế chủ động chiến lược có thể tập trung hơn 10 Trung đoàn để đánh một tỉnh như tại Ban Mê Thuột tháng 3-1975.
Một cố vấn Mỹ và binh lính Việt Nam Cộng hòa
  • Nạn tham nhũng làm hao mòn trang bị và sức chiến đấu của quân đội: như cả nửa triệu tấn gạo biến mất khỏi các kho lương thực trong năm 1967. Súng cũng được tuồn ra bán với giá 25-30 đôla một khẩu. Nếu ai muốn mua một xe bọc thép hoặc một máy bay lên thẳng thì việc đó cũng có thể dàn xếp được. Hồi ký Nguyễn Cao Kỳ nêu trường hợp Tư lệnh đồng bằng sông Cửu Long đã lấy cắp 8.000 đài vô tuyến và 24.000 vũ khí cá nhân do Hoa Kỳ trang bị và sớm tiêu thụ hết sạch sành sanh, tài liệu mật từ Tòa đại sứ Mỹ cho biết phần lớn số đó đã lọt vào tay quân Giải phóng[30]
  • vấn đề quan trọng nhất vẫn là tổ chức và con người. Tại một nước có truyền thống Nho giáo như Việt Nam, các nhà lãnh đạo phải thể hiện được lối sống đạo đức và tài năng của bản thân trong một tập thể chung. Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và các nhà lãnh đạo của họ thể hiện được lý tưởng hết sức quan trọng này. Ngược lại, Chính phủ Việt Nam Cộng hòa thì không ngừng tham gia vào các âm mưu chính trị, tham nhũng quá nhiều, và thiếu ổn định, do đó làm sụt giảm sự ủng hộ và làm xói mòn tinh thần của binh sĩ Quân lực Việt Nam Cộng hòa. Nạn đào ngũ là một vấn đề nghiêm trọng đối với Việt Nam Cộng hòa. Từ năm 1965 đến năm 1972, ước tính có khoảng 840.000 binh sĩ đã đào ngũ. Riêng từ tháng 4 tới tháng 12/1974, có 176.000 lính đào ngũ. Tại các lực lượng tinh nhuệ của Quân Lực Việt Nam Cộng hòa, Biệt động quân có tỷ lệ đào ngũ lớn nhất (55%), tiếp theo là các đơn vị dù (30%) và Thủy quân Lục chiến (15%). TRONG KHI ĐÓ, QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM ĐÃ DUY TRÌ MỘT LỢI THẾ TÂM LÝ MẠNH MẼ, VỚI NHỮNG NGƯỜI LÍNH TRÀN ĐẦY TINH THẦN SẴN SÀNG HY SINH MỤC ĐÍCH CÁ NHÂN ĐỂ CỐNG HIẾN CHO NỖ LỰC CHIẾN TRANH CỦA TẬP THỂ.[31]

Theo William Colby, người từng đứng đầu tổ chức tình báo CIA tại Việt Nam Cộng hòa thì Quân lực VNCH "Được huấn luyện theo chiến thuật Hoa Kỳ, thì nay họ lại phải vận dụng chiến thuật ấy trong điều kiện thiếu thốn đạn dược, máy bay khác hẳn những gì họ đã học" và "giới quân sự Nam Việt Nam trước viễn cảnh của một trận chiến đấu cuối cùng đầy tuyệt vọng, đã bắt đầu quan tâm nhiều đến sự sống còn của gia đình mình hơn là quan tâm đến lợi ích chung"[32]. Ký giả Alan Dawson nhận xét: Đội quân này trang bị vũ khí tốt hơn bất kỳ nước châu Á nào khác, có nhiều máy bay chiến đấu, có nhiều đạn dược, xăng dầu, quân cụ, xe cộ và lương thực hơn hầu hết các quân đội trên thế giới. Nó chỉ thiếu mỗi một điều thôi. Một người Mỹ nói với một binh sĩ Sài Gòn rằng: Chúng tôi đã cho anh mọi thứ anh cần, trừ sự dũng cảm. Chỉ tại anh không có thứ ấy. [33]

Ngay sau thất bại trong chiến dịch Đường 14 - Phước Long (tháng 2/1975), cố vấn Mỹ John Pilger đã tiên liệu chính xác rằng sự sụp đổ của QLVNCH sẽ sớm diễn ra. Ông viết:

Sài Gòn đang sụp đổ trước mắt, một Sài Gòn được người Mỹ hậu thuẫn, một thành phố được coi là "thủ đô tiêu dùng" nhưng chẳng hề sản xuất được một mặt hàng nào ngoài chiến tranh. Trong hàng ngũ của quân đội lớn thứ tư thế giới vào thời điểm đó, binh lính đang đào ngũ với tốc độ cả nghìn người trong một ngày...[34]

Năm 2005, khi về Việt Nam và trả lời phỏng vấn của báo Thanh Niên, Tướng Nguyễn Cao Kỳ, nguyên Phó Tổng thống kiêm tư lệnh Không quân Việt Nam Cộng hòa nhận định rằng:

"Mỹ luôn luôn đứng ra trước sân khấu, làm "kép nhất". Vì vậy ai cũng cho rằng đây là cuộc chiến tranh của người Mỹ và chúng tôi là những kẻ đánh thuê.
Tôi biết rất rõ ràng về cái gọi là những người chỉ huy, những ông tướng lĩnh miền Nam khi ấy. Từ ông Thiệu đến những ông khác dưới trướng, xin lỗi, toàn là những vị ăn chơi phè phỡn, tài không có mà đức cũng không. Trước đây có "ông" Mỹ đứng sau thì không có chuyện gì, nhưng khi phải một mình trực tiếp đối diện với khó khăn thì bản chất cũng như tài năng lộ ra ngay.
Trong một cuộc chiến, nói gì thì nói, theo tôi quan trọng nhất vẫn là Lực lượng, là Quân đội. Quân đội miền Nam, không có ai đáng giá cả, kể từ ông Nguyễn Văn Thiệu - Tổng thống kiêm Tổng tư lệnh - trở xuống. Trong số những vị cùng vai với tôi, cứ mười ông thì đến mười một ông tham sống sợ chết! Trong khi đó, miền Bắc các chỉ huy lại có rất nhiều kinh nghiệm chiến trường, được cấp dưới tin cậy và kính trọng về nhân cách, đó là sự hơn hẳn.[35]

Tan rã

Trực thăng UH-1 của Việt Nam Cộng Hòa bị ném xuống biển sau khi di tản ra tàu sân bay Mỹ
  • Tháng 3 năm 1975, sau khi Phước Long và Ban Mê Thuột thất thủ, Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh tái phối trí, rút bỏ Quân khu 1 và 2, dồn toàn quân về Quân khu 3 và 4 chống giữ. Cuộc rút quân tái phối trí hoàn toàn thất bại. Cuối tháng 4, ông Thiệu từ chức, các tướng tá tháo chạy, và trong vòng 55 ngày, toàn bộ Quân lực Việt Nam Cộng hòa đã tan rã, chủ yếu vì suy sụp tinh thần và thiếu lãnh đạo.
  •  
  • Trận giao tranh cuối cùng của Quân lực Việt Nam Cộng hòa ngoài vòng đai Sài Gòn xảy ra tại Xuân Lộc, do Sư đoàn 18 bộ binh, dưới sự chỉ huy của tướng Lê Minh Đảo, và Lữ đoàn 1 Nhảy dù, dưới sự chỉ huy của Trung tá Nguyễn Văn Đỉnh. Sau trận này Lê Minh Đảo bị đối phương bắt và phải đi cải tạo.
  • Trận giao tranh cuối cùng của Quân lực Việt Nam Cộng hòa trong thành phố Sài Gòn xảy ra tại bản doanh Bộ Tổng tham mưu Quân lực Việt Nam Cộng Hòa, do Liên đoàn 81 Biệt kích dù, dưới sự chỉ huy của chỉ huy trương Biệt đội 3 Chiến thuật, Thiếu tá Phạm Châu Tài.
  • Lực lượng tan rã và đầu hàng sau cùng của Quân lực Việt Nam Cộng hòa là Liên đoàn 81 Biệt cách Dù, dưới sự chỉ huy của chỉ huy trưởng Liên đoàn 81 Biệt cách Dù, Đại táPhan Văn Huấn.

Sau năm 1975, hơn 200.000 quân nhân và nhân viên chính phủ Việt Nam Cộng hòa bị bắt và phải đi các trại cải tạo của chính quyền mới[36]. Con số 200.000 cũng được Jean Louis Margolin nói đến theo xác nhận của Phạm Văn Đồng. Cũng có một quân số tương đương như vậy chạy trốn ra nước ngoài bằng tàu hoặc trực thăng. Một số quân nhân khác thì lại được gọi nhập ngũ và phục vụ trong Quân đội Nhân dân Việt Nam, với nhiệm vụ sửa chữa, bảo trì các loại vũ khí của Mỹ mà Quân đội Nhân dân Việt Nam thu được để tái sử dụng trong Chiến tranh biên giới Tây Nam.

 

googletienlang2014.blogspot.com

CỜ VÀNG VÀ BỐN PHIÊN BẢN TRONG LỊCH SỬ

 

Lời dẫn: Lá cờ vàng đã bị ném vào sọt rác theo cả nghĩa bóng lẫn nghĩa đen. Thế nhưng, ở bài  Video clip: Nguyễn Quang A và Giấc mơ phục dựng cờ ba que khi tự ứng cử ĐBQH bị người dân khu phố phản đối vần còn một vài bạn đọc cố ra sức ca tụng cờ vàng ba sọc là "Long linh kì của dân tộc"! Vì lý do đó, có một số bạn đọc khác đề nghị  Google.tienlang chép lại ý kiến về lịch sử lá cờ vàng ba sọc của chị Lê Hương Lan- Trưởng Nhóm Biên tập khi tranh luận với một cụ cờ vàng chính hiệu trên fb tại stt Thư giãn: CHUYỆN CỜ VÀNG BỊ VỨT VÀO SỌT RÁCthành một bài độc lập trên Google.tienlang. Xin nói thêm, đây là 1 stt của anh Bao Bất Đồng.

Dưới đây, Google.tienlang sẽ thực hiện yêu cầu này của bạn đọc.

**********************

Nam nhi đại trượng phu đầu đội trời chân đạp đất , ai chí lớn ôm mộng bá vương thì xưng hùng xưng bá , ai không muốn làm rồng làm cọp thì chọn minh chủ mà thờ. Nam nhi có được tôn trọng hay không là ở chỗ chọn và thờ minh chủ. Có thề lựa chọn minh chủ sai lầm nhưng gã nam nhi ấy vẫn đáng nể trọng nếu trung dũng. Thời loạn lạc , nam nhi có thể chọn sai minh chủ một lần cũng không ai trách , còn cái hạng đổi chủ như thay quần kiểu Lã Bố thì coi như thua toàn tập . Lã Bố là tay phản trắc nhưng ít ra cũng có tài oánh trận còn loại phản trắc mà bất tài thì ….


I. Bèo dạt mây trôi.

Dưới thời Pháp thuộc , tổ tiên cờ Vàng gọi nước Pháp là “mẫu quốc”.. Lá cờ vàng phiên bản 1.0 được đẻ ra bởi vua Thành Thái vào 1890.

Tới khi “mẫu quốc” chán dùng cờ vàng (1916) thì nó được xếp xó thay vào đó là cờ Long Tinh.

Cờ quạt nào đi nữa nó cũng phải nằm dưới đít cờ Tam Tài , và cũng chẳng ảnh hưởng gì đến tinh thần phụng sự mẫu quốc của các nhà “ái cuốc” Ngô Đình Khả , Nguyễn Hữu Bài ,Ngô ĐÌnh Diệm….

Ngày 11/3/1945 ông vua Bù nhìn Bảo Đại được Đại Sứ Nhật Yokohama đến báo cho biết Việt Nam đã được độc lập. Ông vua hào hoa phóng đãng bỡ ngỡ vì cục “độc lập” trên trời rơi xuống. Ngày 17/4/1945, ông Trần Trọng Kim thành lập chính phủ “ĐẾ QUỐC VIỆT NAM” phục vụ cho quyền lợi của người Nhật. Và một lần nữa Cờ Vàng được sử dụng, đây là phiên bản 2.0 (Ngày hôm nay , các anh cờ vàng một mực khăng khăng chính phủ Trần Trọng Kim là độc lập rồi , quần chúng và Đảng Cộng sản mần cách mạng tháng 8 là cướp quyền ông Trần Trọng Kim mà thôi ).Cờ vàng nhận chủ mới được vỏn vẹn hơn trăm ngày thì khai tử vì Bảo Đại thoái vị (30//8/1945) trao quyền hành lại cho Việt Minh .

Sau chiến tranh thế giới lần thứ hai thì “mẫu cuốc” tái chiếm Việt Nam. Ngày 7/12/1947 , “Quốc Gia Việt Nam” ra đời trên …..chiến hạm ở vịnh Hạ Long với Bảo Đại là quốc trưởng. Cờ Vàng lại trở về với chủ cũ, lần này là cờ vàng phiên bản 3.0. Túm cái váy lại là chỉ riêng ông Vua Bảo Đại đã làm vua tới 3 lần , phụng sự hai ông chủ , xài hai phiên bản cờ Vàng , một cờ Long Tinh.

Sau hiệp định Geneve , Mỹ hất cẳng Pháp khỏi Đông Dương, Ông Ngô ĐÌnh Diệm , tôi trung của Bảo Đại năm nào truất phế đại ca lên làm Tổng Thống , các anh lính khố xanh khố đỏ hoan hỉ đốt lon lá kiểu Pháp, thay bằng lon lá kiểu Mỹ .Cờ Vàng thêm lần nữa đổi chủ , gọi là cờ vàng phiên bản 4.0, là quốc kì VNCH. Ông Đại Thần Phản trắc Ngô ĐÌnh Diệm có lần nguyện dâng Miền Nam( VNCH) cho Chúa. May mà ông ta chết sớm , nếu không danh sách chủ của cờ vàng còn dài ra.

Như vậy Cờ Vàng ra đời dưới thời Pháp thuộc và nhiều phen được xài rồi cất , cất rồi xài, đổi chủ liên miên . Những con người đứng dưới lá cờ vàng cũng đổi chủ phà phà .cho nên lá cờ này cũng chẳng có lý tưởng gì sất, và nó cũng chẳng dính dáng gì đến nhân dân Việt Nam ,nó được đẻ ra bởi một ông vua 18 tuổi trong vòng kiềm chế của người Pháp và được xài đi xài lại theo ý muốn của ngoại bang.  

 

II. Nói Chiến tranh Việt Nam là nội chiến để giải quyết khâu oai.
Có lần trên forum của cờ vàng Cali, có người hỏi mấy ảnh một câu “Là người Việt Nam, các bạn có tự hào về hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ hay không ? Các bạn chỉ được trả lời có hay không”. Các anh ấy phán rằng “ Câu hỏi này không thể trả lời có hay không bởi vì chúng tôi chỉ tự hào về kháng chiến chống Pháp mà thôi,giai đoạn 54-075 là nội chiến , có gì mà tự hào ”.

Trong kháng chiến chống Pháp , dân Cờ Vàng đóng góp cái chi mà họ họ tự hào ? Hàng ngũ tướng lĩnh QLVNCH có ai từng cầm súng chống Pháp hay không? Trong khi cả dân tộc đổ máu chống Pháp giành lại độc lập thì cờ vàng lại gia nhập Quân Đội Quốc Gia Việt Nam , làm tay sai cho Pháp , bắn vào chính đồng bào của mình . Những nhân vật Cờ vàng nổi trội sau này làm lớn trong VNCH toàn xuất thân từ lính khố xanh khố đỏ cả. Thống Tướng Lê Văn Tỵ, Đại Tướng Dương Văn Minh, Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu, Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ, Đại Tướng Cao Văn Viên, Thiếu Tướng Phạm Văn Phú…. Danh sách này dài dằng dặc .Rặt những anh ăn lương Pháp, cầm súng Pháp bắn vào đồng bào . Với người Pháp hay người Mỹ thì nhân dân Việt Nam muốn họ cuốn xéo đi . Quân đội QGVN và QLVNCH một mực bám váy Pháp- Mỹ , chiến đấu đề người Pháp- Mỹ ở lại mảnh đất này . Vai trò của QĐ QGVN và QLVNCH không có gì khác nhau .Thậm chí cách bú mớm để sống cũng y chang nhau . Trong cả hai cuộc kháng chiến người Việt Nam xem ngoại bang là đối thủ trọng yếu , chỉ xem QĐ QGVN và QLVNCH là tay sai ăn theo ngoại bang . Thời kháng chiến có bao nhiêu là khẩu hiệu “chống Pháp- chống Mỹ” , chả ai đếm xỉa gì đến 2 quân đội này
Vậy tại sao cờ vàng không gọi Kháng Chiến Chống Pháp là nội chiến dù rằng Quốc Gia Việt NamVNCH khác chủ chứ không khác bản chất ? họ cứ khăng khăng Kháng chiến chống Mỹ‘NỘI CHIẾN” vì cái gì ? Nói toạc móng heo là để giải quyết khâu oai. Bởi vì gốc gác dân cờ vàng là tay sai chứ chưa một lần được tự quyết,có tư cách , có chính nghĩa, dân cờ vàng số phận long đong bèo dạt mây trôi y chang như lá cờ vàng vậy .Họ gọi Kháng Chiến chống Mỹ là Nội Chiến nghĩa là nâng tầm QLVNCH ngang với QĐND và Mặt trận DTGP Miền Nam, oai ra phết ấy chứ , sẽ chùi được cái nhãn tay sai in trên trán , sẵn tiện xóa luôn tội phản quốc .

III. Về đâu em hỡi?

Lịch sử Cờ Vàng tóm tắt ngắn gọn là có bốn phiên bản, qua vài lần make up chút đỉnh, được đổi chủ nhiều lầnluôn nằm dưới đít các quốc kỳ ngoại bang . Cho tới những ngày cuối cùng của năm con Ngựa thì đứa con tinh thần của vua Thành Thái vẫn tung bay ở Mỹ, được xếp ngang hàng cùng cờ của hội chim cảnh , hội chó cảnh Huê Kỳ. Mới đây thì Bộ Ngoại giao Mỹ tuyên bố không công nhận lá cờ này là cờ của cộng đồng người Việt Ở Mỹ, không biết rồi cờ vàng sẽ đi đâu về đâu. Sự thật , lá cớ đó đã chết vào trưa 30-4-1975 rồi , chỗ của nó là bảo tàng lịch sử chứ không phải là công cụ thẩm du tinh thần của một số người.

 


Bao Bất Đồng

Đang xem 670

Hôm nay 1,899

Tổng lượt xem 15,456,952