THỜI GIAN LÀM VIỆC 24/24
 

HOTLINE : (028) 6270 0119 - (028) 2215 4274
0982 120 908 - 090 371 5529 - 0933 161 985
Cơ sở 1: 245 Bình Quới (1051 Xô Viết Nghệ Tỉnh - số cũ) - P.28 - Q.Bình Thạnh - Tp.HCM
Cơ sở 2: 978 Nguyễn Duy Trinh - P. Phú Hữu - Q.9 - Tp.HCM

TRUNG TÂM ĐIỀU DƯỠNG VÀ CAI NGHIỆN MA TÚY THANH ĐA 
Địa chỉ : 1051 Bình Quới (Xô Viết Nghệ Tĩnh) - P.28 - Q.Bình Thạnh - Tp.HCM
Điện thoại: (028).38986513 - 38986515(Ext:12) - (028).22154274 - MST: 0301910027

NẠN ĐÓI NĂM 1945 - HỒI ỨC KINH HOÀNG

Giai đoạn 1944-1945, chịu hậu quả cuộc những chính sách khai thác thuộc địa và vơ vét của cải của thực dân Pháp, cùng với việc mất mùa triền miên, người dân Việt Nam đã phải hứng chịu một nạn đói lịch sử, mà sau này đã trở thành những kí ức ám ảnh, không bao giờ quên. 

 

Nạn đói ấy bắt đầu từ khoảng tháng 3 năm 1944, tàn khốc nhất là thời điểm bắt đầu bước vào vụ mùa (tháng 7, 8) của năm ấy. Nạn đói kéo dài sang nửa đầu năm 1945 và chỉ thực sự chấm dứt khi mà phong trào cách mạng giải phóng dân tộc do Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo lên đến đỉnh cao và giành được thắng lợi vào tháng Tám năm 1945. 

 

Theo thống kê từ các địa phương, chỉ trong thời gian ngắn nạn đói đã cướp đi sinh mạng của 2 triệu người, bằng một phần mười dân số Việt Nam lúc bấy giờ. Các tỉnh có số người chết nhiều là: Nam Định, Thái Bình, Ninh Bình... có nơi chết cả làng. 

 

Có làng 400 dân, ruộng không có người làm, bán không ai mua, mỗi mẫu đáng 1.000đ, bán không nổi 30đ. Nhiều người mong được chóng chết. Trẻ con 7 - 8 tháng đến 1 - 2 tuổi bị cha mẹ bỏ hoặc cha mẹ đã chết, ngồi nheo nhóc khắp nơi, đi đường nào cũng thấy. 

 

 

Dân phủ Nghĩa Hưng (Nam Định) có 15 vạn người, số chết mỗi ngày khoảng 500. Thóc phải nộp nhà nước là 1.250 tấn, nhưng chức dịch chỉ thu được 986 tấn. Dân đói phải ăn củ chuối và ăn cả thịt người...  

 

 

" Người chết đói nhiều đến nỗi không thể chôn kịp, vì người đi chôn cũng đã ốm đói rồi..." (Báo Cứu quốc)

 

 

 

Những xác người chết chưa kịp chôn cất. Ruộng mùa có 22.000 mẫu, gặt được 6.362 mẫu. Mỗi mẫu độ 3 tạ. Số thóc đã thu nộp là 2.664 tấn. Ruộng chiêm 22.283 mẫu, chỉ cấy có 10.093 mẫu. Dân số phủ Kim Sơn (Ninh Bình) ngót 11 vạn, một vạn đã bỏ đi. 

 

Người dân phải ăn thịt chuột, thịt người đã chết để duy trì sự sống 

 

 

Những người chết đói ở trại Giáp Bát được cải táng về nghĩa trang Hợp Thiện (Hà Nội). 

 

Hội nghị Ban Thường vụ Trung ương tháng 3 năm 1945 đề ra khẩu hiệu: "Phá kho thóc giải quyết nạn đói". Khẩu hiệu này được đưa ra đồng thời với khởi nghĩa từng phần, và Đảng coi đây là trọng tâm công tác, là khâu chính để biến lòng căm thù của nhân dân thành hành động cứu nước. 

 

Đáp ứng đúng nguyện vọng của toàn dân, giải quyết từng mâu thuẫn đang diễn ra gay gắt trong xã hội nước ta, chủ trương của Đảng đã lôi cuốn hàng triệu quần chúng vào phong trào phá kho thóc, chống đói với nhiều hình thức từ thấp đến cao, phong phú và sáng tạo. 

 

Cùng với khởi nghĩa từng phần, phong trào phá kho thóc của Nhật để cứu đói có ý nghĩa kinh tế, chính trị rất sâu sắc và to lớn. Phong trào đã nhanh chóng giải quyết được nạn đói ở nhiều tỉnh, uy tín của Việt Minh lên rất cao.

 

Phong trào thổi bùng lên ngọn lửa đấu tranh và khởi nghĩa trong nhân dân, tập dượt quần chúng đi từ hình thức đấu tranh thấp đến những hình thức đấu tranh cao, kết hợp đấu tranh kinh tế, chính trị, vũ trang chuẩn bị cho tổng khởi nghĩa".

 

 

Cách mạng tháng Tám thành công đã không chỉ giành được chính quyền về tay nhân dân, lập ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, mà còn chấm dứt được nạn đói 1944 – 1945.  

 

T.U (Depplus.vn/Tổng hợp) 

 

BÁO TUỔI TRẺ & NXB TRẺ - NỖI ĐAU LỊCH SỬ NẠN ĐÓI 1945​

Báo Tuổi Trẻ & NXB Trẻ - Nỗi đau lịch sử nạn đói 1945

GDVN - 19 bức ảnh về nạn đói năm 1945 của cố nghệ sĩ Võ An Ninh

Những người chết đói ở trại Giáp Bát được cải táng về nghĩa trang Hợp Thiện (Hà Nội). Ảnh Võ An Ninh.


VNEXPRESS

NẠN ĐÓI LỊCH SỬ NĂM ẤT DẬU

Trong ký ức người Việt Nam, "nạn đói năm Ất Dậu" vẫn là một cơn ác mộng, nỗi nhức nhối khó quên. Thảm họa ấy bắt đầu từ tháng 10/1944 kéo dài đến giữa năm 1945.

Công trình nghiên cứu về nạn đói năm 1945 của GS Văn Tạo, nguyên Viện trưởng Viện Sử học Việt Nam và GS Furuta Moto (người Nhật) chỉ rõ:chính sách vơ vét thóc gạo của phát xít Nhật và thực dân Pháp lúc bấy giờ cùng với thiên tai, mất mùa ở nhiều tỉnh đồng bằng Bắc Bộ là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến thảm cảnh trên.

12-9406-1420769930.jpg

Sống ngắc ngoải trong nạn đói 1945. Ảnh tư liệu

Tháng 10/1940, khi đặt chân đến Đông Dương, Nhật thi hành hàng loạt chính sách đánh vào nền kinh tế: buộc thực dân Pháp phải ký kết nhiều hiệp ước yêu cầu cung cấp lương thực, giao nộp lúa, gạo cho Nhật hàng năm; cấm vận chuyển lương thực từ Nam ra Bắc, hạn chế chuyên chở tự do, chỉ cho chở dưới 50 cân gạo trong một tỉnh; bắt người dân nhổ lúa trồng đay, dành ruộng trồng lạc.

Trong khi Nhật vơ vét cho chiến tranh thì Pháp dự trữ lương thực phòng khi quân Đồng minh chưa tới,phải đánh Nhật hoặc dùng cho cuộc tái xâm lược Việt Nam. Thuế đinh, thuế điền, tô tức trở thành những chiếc thòng lọng buộc vào cổ nông dân.

Năm 1944, Việt Nam bị mất mùa nhưng Pháp và chính quyền phong kiến vẫn phải cung cấp cho Nhật hơn 900.000 tấn gạo để nuôi chiến tranh phát xít và làm nguyên liệu để người Pháp nấu rượu, cùng thóc dùng đốt lò thay cho than đá. Hàng chục nghìn mẫu ngô bị phá, hàng triệu tấn thóc bị thu nộp. Theo thống kê, năm 1940, diện tích trồng đay là 5.000 ha nhưng đến năm 1944 đã tăng lên 45.000 ha.

Nhật cấm vận chuyển lúa từ miền Nam ra, vơ vét thóc ở miền Bắc khiến giá thóc, gạo tăng vọt.Năm 1943, một tạ gạo giá chính thức là 31 đồng, giá chợ đen là 57 đồng; năm 1944 tăng lên 40 đồng, giá chợ đen là 350 đồng, nhưng đến đầu năm 1945 thì giá chính thức vọt lên 53 đồng còn giá chợ đen từ 700-800 đồng. Giá gạo "phi nước đại" khiến người dân không đủ sức mua, phải chịu cảnh chết đói.

Tháng 9/1944, lụt vỡ đê La Giang (Hà Tĩnh), đê sông Cả (Nghệ An) làm cho nạn đói diễn ra trầm trọng hơn.Theo những người dân trải qua nạn đói khủng khiếp ở Tây Lương (Tiền Hải, Thái Bình) thì vụ mùa năm 1944, lúa trên các cánh đồng rộng hàng trăm mẫu đều bị "rù" (rầy phá hoại), chết trắng, chết vàng. Cả mẫu ruộng không thu nổi vài chục cân thóc mẩy.

3-2745-1420769931.jpg

Trại Giáp Bát, Hà Nội, nơi tập trung những nạn nhân đói năm 1945. Ảnh tư liệu

Nạn đói đã diễn ra ở 32 tỉnh miền Bắc và Bắc Trung Bộ, từ Quảng Trị trở ra. Trọng điểm là các tỉnh đồng bằng, nơi dân số tập trung đông,có nhiều ruộng, như Thái Bình, Nam Định, Hải Phòng, Thanh Hóa. Cái đói không buông tha ai, trọng tâm là những người dân nghèo, người lao động, đặc biệt là nông dân không có ruộng đất chuyên đi làm thuê và nông dân ít ruộng đất.

Để chống lại cái đói, cái chết cận kề, người dân ăn từ rau dại, đến củ chuối, vỏ cây, giết cả trâu bò, chó mèo; dân chài thì ăn củ nâu, cá chết. Khi không còn gì ăn thì họ ngồi chờ chết, để người nhà mang đi chôn hoặc chết ở bờ bụi khi đi kiếm ăn. Cái chết đến từ từ, thảm khốc, dày vò cả thể xác lẫn tinh thần. Cái đói khiến cha bỏ con, chồng bỏ vợ, tình người đứt đoạn, đi xin ăn không được thì cướp giật. Ở các vùng quê, hàng nghìn hộ gia đình chết cả nhà, nhiều dòng họ chỉ một vài người sống sót.

Tháng 3/1945, nạn đói lên đến đỉnh điểm. Lũ lượt người ngược, kẻ xuôi chạy đói đến các thành phố lớn, họ bán cơ nghiệp để lấy tiền đi đường. Người dân Hà Nội khi ấy đã phát động Ngày cứu đói, lập trại tế bần phát cháo. Người sắp chết thì được đưa về trại Giáp Bát, còn người chết đói thì xác chất đầy xe bò đem đi "hất xuống hố như hất rác" tại nghĩa trang Hợp Thiện (Hai Bà Trưng).

Mục sư Lê Văn Thái, nguyên Hội trưởng Hội thánh Tin lành Việt Nam thời kỳ 1942-1960 viết lại: "Tôi thường nghe tiếng rên xiết của những người sắp chết, thấy những đống thịt quằn quại gần những xác chết, nơi này 5-3 xác chết, chỗ khác từng đống người sống nằm lẫn với người chết. Trên những đoàn xe bò đầy những xác chết, mỗi xe chỉ phủ một chiếc chiếu, trong những cái hầm mấy trăm xác chết mới lấp một lần. Một vài lá cải thối trong đống rác, một vài hột cơm đổ bên cạnh vò nước gạo thì họ kéo nhau từng lũ đến tranh cướp".

"Họ đi thành rặng dài bất tuyệt gồm cả gia đình, già lão có, trẻ con có, đàn ông có, đàn bà có, người nào người nấy rúm người dưới sự nghèo khổ, toàn thân lõa lồ, gầy guộc, giơ xương ra và run rẩy. Ngay cả đến những thiếu nữ tuổi dậy thì, đáng lẽ hết sức e thẹn cũng thế. Thỉnh thoảng họ dừng lại để vuốt mắt cho một người trong bọn họ đã ngã và không bao giờ dậy được nữa, hay để lột miếng giẻ rách không biết gọi là gì cho đúng hãy còn che thân người đó", tác giả Vespy viết trong một bức thư vào tháng 4/1945.

Giữa lúc nạn đói lên đến đỉnh điểm thì ngày 9/3/1945, Nhật đảo chính Pháp. Mặt trận Việt Minh phát động nhân dân phá hàng trăm kho thóc của Nhật để cứu đói. Phong trào diễn ra sôi nổi khắp nơi khiến nạn đói phần nào được đẩy lui. Nông dân bắt đầu trở về quê tiếp tục sản xuất. Đến vụ chiêm (tháng 6) có gạo mới, mức sống thay đổi đột ngột lại khiến nhiều người chết vì ăn quá no. Môi trường bị ô nhiễm nặng bởi xác chết không được xử lý và trải qua cơn đói lâu dài kéo theo dịch tả và dịch sốt vàng da lại giết thêm nhiều người ở Bắc Giang, Cao Bằng.

Nhiều làng xã chết 50-80% dân số, nhiều gia đình, dòng họ chết không còn ai.. Làng Sơn Thọ, xã Thụy Anh (Thái Thụy, Thái Bình) có hơn 1.000 người thì chết đói mất 956 người. Chỉ trong 5 tháng, số người chết đói toàn tỉnh lên đến 280.000 người, chiếm 25% dân số Thái Bình khi đó. Lịch sử đảng bộ Hà Sơn Bình cũ ghi rõ: "Trong nạn đói năm 1945, khoảng 8 vạn người (gần 10% dân số trong tỉnh) chết đói, nhiều nơi xóm làng xơ xác tiêu điều, nhất là ở những nơi nghề thủ công bị đình đốn. Làng La Cả (Hoài Đức) số người chết đói hơn 2.000/4.800 dân, có 147 gia đình chết không còn một ai. Làng La Khê (Hoài Đức) có 2.100 người thì 1.200 người chết đói, bằng 57% số dân".

16-5855-1420769931.jpg

Một điểm chôn tập thể người bị chết đói, đổ xác đến đâu lấp đất đến đấy. Ảnh tư liệu

Tháng 5/1945, bảy tháng sau khi nạn đói bùng nổ tại miền Bắc, tòa khâm sai tại Hà Nội lệnh cho các tỉnh miền Bắc phúc trình về tổn thất. Có 20 tỉnh báo cáo số người chết vì đói và chết bệnh là 400.000, chỉ tính miền Bắc. Số liệu nghiên cứu trong cuốn Nạn đói năm 1945 ở Việt Nam - Những chứng tích lịch sử của GS Văn Tạo thống kê: "Riêng tỉnh Thái Bình, nơi nạn đói diễn ra trầm trọng nhất, đã được Ban lịch sử tỉnh điều tra, con số tương đối sát thực tế là cả tỉnh chết đói mất 280.000 người. Chỉ tính số người chết đói ở Thái Bình cùng với Nam Định hơn 210.000 người, Ninh Bình 38.000, Hà Nam chết 50.000 thì số người chết đói đã lên đến hơn 580.000. Như vậy, con số 2 triệu người Việt Nam chết đói trong 32 tỉnh cũ tính từ Quảng Trị trở ra và hai thành phố lớn Hà Nội, Hải Phòng là gần với sự thực".

So sánh nạn đói năm 1945 ở Việt Nam với tổn thất của các cuộc chiến tranh Pháp - Đức, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: "Nạn đói nguy hiểm hơn nạn chiến tranh. Thí dụ trong 6 năm chiến tranh, nước Pháp chết một triệu người, nước Đức chết chừng 3 triệu. Thế mà nạn đói nửa năm ở Bắc Bộ, ta đã chết hơn 2 triệu người".

70 năm trôi qua, những chứng tích lịch sử về nạn đói năm xưa không còn nhiều, ngoài những nấm mồ tập thể sâu dưới lòng đất lạnh. Những nhân chứng từng đi qua tai họa lịch sử ấy thì ghi nhớ nỗi đau thương sâu trong tâm, mỗi lần nhắc đến chỉ biết rưng rưng nước mắt.

Hoàng Phương

 

HÀNG CHỤC NGHÌN NGƯỜI ĐÓI KÉO VỀ HÀ NỘI NĂM 1945

Nạn đói lên tới đỉnh điểm, người dân các vùng Thanh - Nghệ, Thái Bình, Nam Định, Vĩnh Phúc… lũ lượt kéo về Hà Nội mong kiếm được miếng ăn duy trì sự sống. Phố xá tràn ngập người ăn xin và xác người chết đói.

Khi cây cỏ, vật nuôi không còn, tháng 3/1945, cậu bé 10 tuổi Tô Minh Thuyết ở xã Tây Lương, huyện Tiền Hải theo bố mẹ nhập vào đoàn người từ Thái Bình kéo lên chốn Hà thành.

Năm nay đã 80 tuổi, ông Thuyết vẫn nhớ ngày đó mấy mẹ con ông dắt díu nhau đi. Dọc đường, ông thấy dân Tiền Hải, Kiến Xương đói rách, lũ lượt tụ tập ở đoạn cây số 3, trên đường từ Thái Bình đi Hà Nội. Nhiều người bước đi xiêu vẹo, cứ lả dần rồi gục chết. Lên đến Hà Nội, cả nhà ông ở gầm cầu Long Biên. Bố ông khi ấy làm phu xe nhưng không có khách, bữa đói bữa no.

"Tôi nghe bố mẹ bàn nhau về quê bán khung nhà bằng gỗ xoan, hy vọng có thêm đồng tiền bát gạo. Trước khi về quê, mẹ dúi cho bố nắm cơm nhỏ như nắm tay đứa trẻ. Chị em tôi cứ ở trên này chờ bố nhưng cuối cùng có người nhắn rằng ông cụ chết đói khi chờ bán nhà mà không ai mua", ông Thuyết kể và cho hay nhờ chị cả đi làm vú em cho nhà giàu, có chút cơm thừa canh thải chị tiếp tế mà mấy mẹ con ông sống qua nạn đói.

nandoi26.jpg

Nông dân lũ lượt kéo nhau ra thành phố xin ăn. Trong ảnh là một đoạn đường phố Sinh Từ, nay là phố Nguyễn Khuyến, Hà Nội, năm 1945. Ảnh tư liệu.

Cũng vì đói, ông Nguyễn Văn Ngô (102 tuổi, làng Trung Tiến, Tây Lương) đã bỏ làng, bỏ cả vợ mới cưới được mấy tháng lên Hà Nội, đi kiếm củi ở bãi sông Hồng đem ra chợ Đồng Xuân bán đổi lấy nắm cơm. Ông Ngô còn nhớ khi ấy người đói ở các nơi lũ lượt kéo về Hà Nội. Ban ngày, họ lê lết khắp các phố ngửa tay xin ăn, chờ chực ở thùng rác trước cửa hàng quán để kiếm chút gì bỏ vào miệng, ban đêm thì chui rúc ở gầm cầu tìm chỗ ngủ.

Báo Bình Minh ngày 29/3/1945 miêu tả: “Ở Hà Nội suốt mấy dãy phố từ đầu tỉnh đến cuối tỉnh, hàng mấy trăm ăn mày, thất tha thất thểu lũ lượt kéo nhau đi xin. Trên bờ hè, trên đám cỏ, đâu đâu chúng ta cũng thấy những bó chiếu, bó lá ở trong văng vẳng ra những tiếng rên kêu đói rét não nùng”.

Ít bị chết đói, song người Hà Nội khi đó cũng chẳng khá khẩm hơn là bao.Dù vậy, với tình thương đồng loại, nhiều người đã giúp đỡ người bị đói từ các tỉnh về. Những sinh viên ở Hà Nội lúc bấy giờ tham gia các hội từ thiện, quyên góp gạo nấu cháo loãng (vì không đủ gạo); có người tổ chức thăm và khám bệnh cho người ốm, như bác sĩ Tôn Thất Tùng, Phạm Biểu Tâm, Hoàng Đình Cầu…

Gia đình bà Lâm Thị Bốn (85 tuổi) lúc đó ở gần ga Yên Viên, bán cơm cho khách đi tàu. “Cũng chẳng dư giả gì, nhà bốn chị em gái, bố mẹ lúc nào cũng dặn các con phải tiết kiệm, bớt chút cơm gạo để cứu những người đói. Mỗi ngày nhà tôi nấu một nồi cháo loãng đem chia cho những người ốm yếu, mong họ sống được qua ngày. Hồi đấy nhiều nhà tham gia từ thiện lắm, họ góp từ manh chiếu, cái áo, đến cái dây buộc ủng hộ cho hội tế bần. Có người nhờ những húp cháo loãng ấy mà sống sót”, bà kể.

Người đói thì đông mà người có khả năng giúp đỡ thì có hạn nên theo bà Bốn, cảnh cướp bóc, tranh giành nhau miếng ăn thường xuyên diễn ra. Các gia đình ở gần đường đến bữa phải đóng cửa lại, nếu không người đói xông vào tận nhà cướp miếng ăn ngay trên miệng. 

nandoi18_1421030038.jpg

Xác người chết đói đầy đường phố Hà Nội, xe bò chở đi chôn không xuể, phải dùng xe tải. Ảnh tư liệu

"Ngày nào mở mắt ra cũng thấy người chết đói nằm ở vệ đường, góc phố. Sáng sớm, những chiếc xe bò lại đi khắp đường phố lượm xác người chết đói. Xác cứ chất đầy trên những xe. Có người bị quẳng lên xe rồi còn thều thào Tôi chưa chết", ông Nguyễn Văn Ngô nhớ lại. Đám trẻ con bị bỏ rơi, hoặc bố mẹ chết thì lê lết nhặt lá bánh, vỏ cây, rác rưởi nhét vào miệng.

Hồi ký Lê Văn Ngọ miêu tả nạn đói ở Hà Nội: “Người chết hẳn, người sắp chết rải rác trong chợ, trong các ngõ, nằm gối đầu lên manh chiếu hay cái bị rách, nhặng xanh bâu đầy mặt. Tử khí nặng nề u uất… Mấy con chó đói tha về trong xóm những khúc chân, tay trẻ con chết đói. Rùng rợn, thê thảm”.

Người chết đói trong phố quá nhiều, các nhóm hội đã tình nguyện đi thu gom xác chết. Ông Đặng Văn Việt (96 tuổi, ngõ 125 Minh Khai, quận Hai Bà Trưng) là một trong số đó. Vốn quê gốc Nghệ An, ra Hà Nội học ĐH Y từ năm 1942. Khi Nhật đảo chính Pháp trên toàn cõi Đông Dương vào đầu tháng 3/1945, trường học đóng cửa, ông không về quê mà ở lại tham gia làm từ thiện.

Bằng những đồng tiền của chị gái cho, ông đã cùng các bạn trong đội hướng đạo sinh đi thuê xe kéo, mua sắm những vật dụng bảo hộ chuẩn bị cho việc thu gom xác người chết đói ở Hà Nội mang đi chôn. Ông kể, cả đoàn lúc đấy thuê được 10 xe ở khu vực cuối đường Đại Cồ Việt bây giờ, mỗi xe do 4 người phụ trách, ông là tổ trưởng phụ trách một xe.

Công việc bắt đầu từ 6h sáng, mọi người tập trung ở hồ Hale (nay là hồ Thiền Quang), xe kéo đã được xích sẵn ở đó. Đoàn của ông chia nhau đi các phố như Quang Trung, Nguyễn Du, Nguyễn Gia Thiều, Trần Quốc Toản, ga Hàng Cỏ, hồ Hale, hồ Hoàn Kiếm…, ở đâu có người chết là nhặt cho lên xe. Vì bị đói lâu ngày, xác chết cứ khô đét, chỉ còn xương, da nhăn nheo, xám ngoét.

Ông Việt ám ảnh nhất là trong một lần đi gom xác chết bắt gặp cảnh bà mẹ bị chết đói ở bãi cỏ, gần hồ Hale, nhưng đứa con chưa đầy một tuổi vẫn mải miết bú bầu vú chỉ còn lại nhúm da. Ông phải tách đứa bé ra khỏi mẹ, đưa về trại tế bần ở khu vực hàng Trống bây giờ.

ongviet.jpg

Ông Đặng Văn Việt: "Những ngày cùng các bạn tráng sinh đi nhặt xác về chôn cắt đã để lại trong tâm trí tôi vết đau mãi không phai mờ". Ảnh: Phương Hạnh.

Mỗi chuyến xe các ông chở được 10 đến 15 xác, mỗi ngày 5-6 chuyến kéo theo đường Giải Phóng bây giờ, xuôi về khu Giáp Bát, làng Tám để chôn. Những người trong hội tế bần đào sẵn hố, mỗi hố rộng chừng 10-15 m2, sâu chừng 1,5 m. Xác được xếp vào hố, hết lớp này đến lớp khác, đủ 100-200 người thì lấp đất, nén chặt rồi thắp một bó hương khấn cầu cho hồn phách những người xấu số được siêu thoát lên miền cực lạc.

"Buổi trưa mọi người trong hội tế bần lót dạ bằng cái bánh mì 5 xu mua dọc đường và kết thúc công việc lúc 18-19h tối. Công việc hàng ngày cứ đều đặn suốt gần 2 tháng trời, khi xác chết ở Hà Nội gần như vãn hết", ông Việt kể và chia sẻ thêm, sau mỗi ngày làm việc dù mặc đồ bảo hộ, tắm rửa, nhưng cái mùi hôi hám, tử khí vẫn không mất.

70 năm đã trôi qua, giờ Hà Nội đã mở rộng và thay đổi rất nhiều, 4 quận nội thành xưa không còn những dấu tích của người chết đói. “Tuy nhiên, những hình ảnh thảm thương về nạn chết đói của đồng bào năm 1945 và hình ảnh những ngày cùng các bạn tráng sinh đi nhặt xác chết về chôn cất đã để lại trong tâm trí tôi những vết đau mãi không phai mờ”, ông Việt chia sẻ. 

Phương Hạnh - Hoàng Phương 

 

  1. NHẬN ĐỊNH CỦA ÔNG TRẦN TRỌNG KIM - THỦ TƯỚNG ĐẾ QUỐC VIỆT NAM VỀ VAI TRÒ TIẾP QUẢN CỦA VIỆT MINH

  2. NỖI ĐAU LỊCH SỬ NẠN ĐÓI NĂM 1945

  3. VIDEO: NỖI ĐAU LỊCH SỬ NẠN ĐÓI NĂM 1945

  4. GDVN - 19 BỨC ẢNH VỀ NẠN ĐÓI NĂM 1945 CỦA CỐ NGHỆ SĨ VÕ AN NINH

  5. NẠN ĐÓI ẤT DẬU (NĂM 1945) - TỘI ÁC THỰC DÂN PHÁP - ĐẾ QUỐC MỸ - PHÁT XÍT NHẬT

  6. CHUYỆN CỨU ĐÓI NĂM ẤT DẬU 1945 - CÁC NHÀ GIÀU THAM GIA CỨU ĐÓI

  7. NẠN ĐÓI NĂM 1945 - HỒI ỨC KINH HOÀNG

  8. PHONG TRÀO “PHÁ KHO THÓC CỨU ĐÓI” DƯỚI GÓC NHÌN LỊCH SỬ

  9. NHÂN CHỨNG LỊCH SỬ KỂ CHUYỆN PHÁ KHO THÓC NHẬT

  10. TỔNG KHỞI NGHĨA HÀ NỘI