THỜI GIAN LÀM VIỆC 24/24
 

HOTLINE : (028) 6270 0119 - (028) 2215 4274
0982 120 908 - 090 371 5529 - 0933 161 985
Cơ sở 1: 245 Bình Quới (1051 Xô Viết Nghệ Tỉnh - số cũ) - P.28 - Q.Bình Thạnh - Tp.HCM
Cơ sở 2: 978 Nguyễn Duy Trinh - P. Phú Hữu - Q.9 - Tp.HCM

TRUNG TÂM ĐIỀU DƯỠNG VÀ CAI NGHIỆN MA TÚY THANH ĐA 
Địa chỉ : 1051 Bình Quới (Xô Viết Nghệ Tĩnh) - P.28 - Q.Bình Thạnh - Tp.HCM
Điện thoại: (028).38986513 - 38986515(Ext:12) - (028).22154274 - MST: 0301910027

http://googletienlang2014.blogspot.com

 

TRAO ĐỔI VỚI GS PHAN HUY LÊ VỀ LỊCH SỬ NHÀ NGUYỄN

 
Lời dẫn: Đa phần với công chúng VN mới chỉ biết đến Bộ sách đồ sộ lịch sử VN 15 tập (do ông Phan Huy Lê- Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử VN làm Tổng Chủ biên) từ hôm kia, 18/8/2017 qua Lễ ra mắt tưng bừng, hoành tráng trên báo chí. Thế nhưng với Tòa soạn Tuần báo Văn Nghệ TP Hồ Chí Minh thì họ lại có được “vinh hạnh” được biết từ thangs 5/2017 qua sự “khiển trách, nhắc nhở” bằng Văn bản của Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, rằng Tuần báo này không chịu “cập nhật” thông tin mới nên có những bài viết trái ý Hội KHLSVN! 
Google.tienlang xin giới thiệu bài viết của Luật gia – nhà báo Hoàng Phương đăng trên Tuần báo VN TPHCM ngày 01/6/2017, tức là ngay trong giai đoạn hoàn thiện Bộ sánh 15 tập để rồi ra mắt chính thức mới đây. Bài viết này, tác giả mới chỉ trao đổi với ông Phan Huy Lê cùng nhóm tác giả Bộ sách xoay quanh nội dung bộ sách về Nhà Nguyễn. Google.tienlang sẽ có bài phản biện riêng về nội dung Bộ sách nói tới giai đoạn lịch sử sau Cách mạng Tháng Tám.
***************************
Chỉnh sửa sách giáo khoa sử học và biên soạn bộ quốc sử như thế này sao?
01/06/2017
Mới đây, tôi nhận được văn bản số 51/HSH ngày 18-5-2017 của Hội Khoa học lịch sử (KHLS) do tuần báo Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh photocopy chuyển; văn bản có đoạn: “Trong thời gian qua, trên tuần báo Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh của Liên hiệp các Hội Văn học – Nghệ thuật Thành phố Hồ Chí Minh đã có một số bài viết đề cập đến một số vấn đề lịch sử. Sau khi đọc những bài viết đó, theo chúng tôi, có thể do chưa cập nhật được một cách đầy đủ các kết quả nghiên cứu mới nhất, các tác giả đã có những đánh giá chưa thật xác đáng về kết quả nghiên cứu, từ đó có những biểu hiện phê phán cá nhân, qui chụp chính trị không đáng có…”.
 
Tôi đã từng viết bài được đăng trên tuần báo Văn nghệ và báo Cựu chiến binh Thành phố Hồ Chí Minh: “sau ngày 30-4-1975, khi miền Nam hoàn toàn được giải phóng, giang sơn thu về một mối, các tên đường, tên trường do chế độ cũ đặt như: Gia Long, Minh Mệnh, Tự Đức, Khải Định, Đồng Khánh, Thiệu Trị… đến các cộng sự đắc lực của các triều đại ấy như: Lê Văn Duyệt, Võ Tánh, Phan Thanh Giản, Trương Vĩnh Ký… đều được thay thế bằng những tên mới như Lý Tự Trọng, Ngô Gia Tự, Trần Hưng Đạo, Cách Mạng Tháng Tám, Điện Biên Phủ, Hoàng Văn Thụ… Các trường học: Gia Long nay là Nguyễn Thị Minh Khai; Petrus Ký nay là Lê Hồng Phong… Ngay cả sử sách ca ngợi Gia Long, Minh Mệnh, Thiệu Trị, Tự Đức, Đồng Khánh, Khải Định… đến các cộng sự đắc lực của họ đều bị tiêu hủy. Phải chăng Ủy ban Khoa học Xã hội Việt Nam đã biên soạn lịch sử sai, không mở được khâu “đột phá nhận thức về chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn” như một số người trong Hội KHLS mà đứng đầu là hai ông Phan Huy Lê và Dương Trung Quốc đã làm và tự rêu rao? Tôi không tin điều đó. Sự thật lịch sử do Ủy ban Khoa học Xã hội Việt Nam biên soạn được tham khảo từ hàng trăm tài liệu của nước ngoài như: Pháp, Anh, Trung Quốc với các tác giả như Alexandre De Rhodes, Barrow… và nhiều tài liệu trong nước của những bậc thầy như: Lê Quý Đôn, Lê Quang Định, Trịnh Hoài Đức, Hoàng Xuân Hãn, Đào Duy Anh, Nguyễn Khánh Toàn, Trần Huy Liệu, Trần Văn Giàu…
 
Tôi sinh ra và lớn lên thời Mỹ – Ngụy tạm chiếm miền Nam, tôi thấy sách báo ở miền Nam đều ghi chép theo Quốc sử quán triều Nguyễn luôn bênh vực vua quan nhà Nguyễn đứng đầu là vua Gia Long – vị vua khai sáng triều Nguyễn – song sự bênh vực của họ, theo tôi là họ còn có chút liêm sỉ và lòng tự trọng “… Về việc chính trị, Gia Long đã khéo giao hữu với các nước Xiêm La, Cao Miên và Lào để họ đem quân lực giúp mình diệt trừ Tây Sơn (!). Lại cho con trưởng theo Giám mục Bá Đa Lộc sang cầu viện với Pháp. Hành động này tuy không được tán thưởng là đem người ngoài cuộc để tranh giành ảnh hưởng với người nhà, nhưng sau khi thâu hồi được sự nghiệp, vua Gia Long đã biết cách kiềm chế để cho người ngoại quốc không thể chen vào nội bộ, tránh cảnh “rước voi giày mả tổ” (!?). Có những ưu điểm như trên, vua Gia Long cũng không tránh được những khuyết điểm. Đối với những người bề tôi có công trận lớn, vì quá nghe lời sàm tấu, vua Gia Long đã đối xử với họ rất tàn nhẫn và bạc bẽo. Đỗ Thành Nhân, Lê Văn Câu, Nguyễn Văn Thành, Đặng Trần Thường đều bị chết một cách oan uổng. Lại việc chủ trương bế quan tỏa cảng làm cho nền kinh tế không thể phát triển, và do đó đưa đến cái họa mất nước sau này. Bắc Hà là cội rễ của dân tộc ta gần 20 thế kỷ, ruộng đất phì nhiêu, anh tài sẵn có, dù ở thời nào, thế mà nhà vua lại dời về Phú Xuân, lấy mảnh đất gầy, dân thưa để làm kế lâu dài. Hơn thế nữa về phương diện quân sự, đất Phú Xuân đều không thuận lợi cho cả hai vị trí đóng quân về thủy cũng như về bộ. Vua Gia Long lại cố chấp đào mả của vua Thái Đức nhà Tây Sơn là Nguyễn Nhạc và vua Thái Tổ nhà Tây Sơn là Nguyễn Huệ, thây thì vứt đi, còn đầu bỏ vào chum giam vào ngục tối. Những văn thần của Tây Sơn cũng bị trả thù, bằng cách căng nọc ra đánh trước nhà Văn Miếu ở Bắc thành để làm nhục, đó là trường hợp của Ngô Thời Nhiệm và Phan Huy Ích. Các phạm nhân của Gia Long đều bị mang về làm lễ hiến phù ở Thái Miếu vào tháng 7 năm Nhâm Tuất (1802) rồi bị xử lăng trì (nghĩa là tội nhân bị xẻo từng miếng thịt, một hình phạt hết sức dã man). Hành động tàn ác này đã khiến cho nhân sĩ Bắc Hà vô cùng phẫn nộ và oán ghét Gia Long.
 

Về những công cuộc qui mô lập quốc, vua Gia Long cũng có làm nhiều việc chứng tỏ sự liêm cần của nhà vua, nhưng không có gì đặc biệt lắm so với các triều đại trước” (Theo “Thành-ngữ Điển-tích Danh-nhân Từ- điển” của GS Trịnh Văn Thanh, NXB Hồn Thiêng, Sài Gòn – 1966, trang 350, 351).

 
Khi Nguyễn Ánh cầu cứu vua Xiêm, vua Xiêm lợi dụng cơ hội để âm mưu chiếm đất Gia Định và thôn tính Chân Lạp, đã cử Chiêu Tăng và Chiêu Sương đem 5 vạn quân theo hai đường thủy bộ cùng với tàn quân của Nguyễn Ánh tiến đánh Gia Định. Đêm 19 rạng ngày 20-1-1785, Nguyễn Huệ đã lãnh đạo quân và dân ta đánh tan quân Xiêm ở Rạch Gầm – Xoài Mút (nay thuộc tỉnh Tiền Giang). Còn ở Đàng ngoài, cuối năm 1788 quân Thanh đã chiếm đóng thành Thăng Long. Nguyễn Huệ lãnh đạo nhân dân ta chuẩn bị tấn công quân Mãn Thanh thì Nguyễn Ánh cho người mang thư và chở 50 vạn cân gạo ra giúp quân xâm lược Mãn Thanh. Trời bất dung gian, cả đoàn thuyền bị một cơn bão nhấn chìm xuống biển Đông, nhưng hành động này nói lên bản chất cực kỳ phản động của y.
 
Giúp quân Thanh giày xéo đất nước ta ở phía Bắc, rước quân Xiêm xâm lược đất nước ta ở phía Nam, rồi lại cầu cứu rước tư bản phương Tây, đặc biệt là tư bản Pháp vào xâm lược nước ta, tròng vào cổ nhân dân ta xích xiềng nô lệ kéo dài suốt 80 năm. Còn vua Quang Trung đánh tan quân Xiêm ở phía Nam, đánh tan quân Thanh ở phía Bắc. Rõ ràng thời vua Quang Trung đất nước ta đã độc lập, thống nhất.
 
Từ những thập niên 20 của thế kỷ XX, cụ Ngô Đức Kế đã: “Hỏi Gia Long: Ai về địa phủ hỏi Gia Long/ Khải Định thằng này phải cháu ông?/ Một lễ tứ tuần vui lũ trẻ/ Trăm gia ba chục khổ nhà nông/ Mới rồi ngoài Bắc tai liền đến/ Năm ngoái qua Tây ỉa vãi cùng!/ Bảo hộ trau dồi nên tượng gỗ:/ Vua thời còn đó, nước thời không!/ Nước thời không có, có vua chi?/ Có cũng như không chả ích gì/ Người vét đinh điền còn bạch địa/ Ta khoe dụ chỉ tự đan trì/ Cấp tiền nguyệt bổng vinh nào đó/ Ăn của, quan trường tệ lắm ri!/ Thọ lắm lại càng thêm nhục lắm/ Nhỏ cu-li, lớn cũng cu-li!/ Cu-li đành phận chớ ra oai/ Chuyên chế ăn quen thói cũ hoài/ Quân chủ cờ bay vui trước mắt/ Dân quyền trống đánh chán bên tai/ Bài, Liêm giảo hiểm khoa tài trí/ Huề, Thụ thông minh gọi bất tài/ Cấm hết công môn tiền hối lộ/ Ngoài ra Tiềm-để mặc lòng ai/ Mặc lòng ai thảo với quân vương/ Lớp để xây lăng, lớp tậu vườn/ Mặc kệ dân gian chìm nước lụt/ Trối thây sĩ tử thiếu nhà trường/ Một mình mê mẩn nghề ca xướng/ Các nước lăng xăng nghiệp phú cường/ Một lệ tứ tuần thu nặng túi/ Ngọc ngà châu báu có trăm rương!”.
 
Sử sách còn ghi chép: Ngày 28/11/1787, Bá Đa Lộc thay mặt Nguyễn Anh kí kết với chính phủ Pháp hiệp định Véc-xây nhượng hẳn đảo Côn Lôn, cửa biển Hội An và cam kết để cho Pháp độc quyền buôn bán trên cả nước, cung cấp binh lính và lương thực cho Pháp khi có tranh chấp giữa Pháp với một nước ở phương Đông. Chính phủ Pháp nhận giúp đỡ Nguyễn Anh 4 tàu chiến và một đội quân gồm 1.650 người. Đây là một trong những bản hiệp ước bán nước. Gần 75 năm sau – ngày 5/6/1862, Phan Thanh Giản, Lâm Duy Hiệp có Trương Vĩnh Ký làm thông ngôn đã ký với Bonard và Palanca một hiệp ước gọi là hòa ước năm Nhâm Tuất cắt đứt 3 tỉnh miền Đông cho Pháp, bồi thường chiến phí trong 10 năm, mỗi năm 400 ngàn quan cho đại diện của Pháp ở Sài Gòn. Tự Đức thấy “thành quả” của hiệp ước đã trách Phan – Lâm: “ Ôi con dân mấy triệu, tội gì mà khổ thế? Thật là đau lòng. Hai người không những chỉ là tội nhân của triều đình mà còn là tội nhân muôn đời của hậu thế”.
 
Không chỉ bán nước, vương triều Nguyễn còn trở thành tay sai đắc lực của Pháp trong việc chống lại nhân dân, hãm hại những người yêu nước. Hãy xem mật thơ của “Tổng đốc Vĩnh Long” Phan Thanh Giản gởi Trung tướng Hải quân Bonard Thống đốc kiêm Tư lệnh”: “Vĩnh Long ngày 7/2/1863. “Tên Trương Định đã đóng quân vi pháp trên đất Tân Hòa (Gò Công). Tại đây, y đã tự đặt vào vị thế chống lại chính phủ An Nam, tuyển mộ binh lính; vì đã từ lâu y không có liên lạc nào với tôi nên tôi không thể đoán trước rằng ngày 18 tháng này (5/2/1863) có tên Quang do y sai đem tới một văn thơ và yêu cầu tôi tường lãm… Đọc bản tuyên ngôn đính theo đây, tôi đã nhận thấy sự kiêu hãnh và ngạo mạn cao độ của con người dám phủ nhận cả đương triều. Quân đội thuộc quyền các hạ mà còn chưa diệt trừ được tên ấy thì lòng kiêu hãnh của y cứ gia tăng. Tôi đã cho bắt giữ tên Quang do Trương Định sai tới và giam giữ ngặt để đưa ra xét xử… Tôi xin đính theo mật văn này bản tuyên ngôn đã nhận được để các hạ tri tường. Đây là mật văn của tôi. Năm thứ 15 triều vua Tự Đức, ngày 20 tháng 12” (Chân dung Phan Thanh Giản của Nguyễn Duy Oanh – tủ sách sử học do Bộ Văn hóa Giáo dục và Thanh niên của chế độ cũ ấn hành năm 1974 (Sđd., trang 155, 156, 157).
 
Sau khi chiếm đóng 3 tỉnh miền Đông, quân Pháp tiếp tục đánh chiếm 3 tỉnh miền Tây, lúc đó Phan Thanh Giản với chức Kinh lược toàn quyền quân sự và dân sự 3 tỉnh miền Tây, song Phan Thanh Giản đã đầu hàng, theo lệnh của Lagrandiere Phan gởi công thơ cho quan Tổng đốc An Giang, Hà Tiên như sau: “Hỡi các quan và dân chúng!… Bản chức van vái trời, bản chức nghe theo lẽ phải và tự nhủ: “Mình còn ngốc khi mình đánh người Phú lang sa bằng võ khí, cũng như con nai con muốn bắt con cọp. Mình lại kéo về phe mình một cách vô ích những tai họa lớn, để tai hại ấy đè lên đầu dân mà trời đã giao cho mình chăn. Vậy bản chức viết công thơ cho các quan văn cũng như các tướng võ hãy bẻ gãy giáo và gươm giao thành trì khỏi chống lại…” (Sđd., trang 253).
 
Phan Thanh Giản yếu hèn như thế, vương triều nhà Nguyễn cũng chẳng kém gì hơn, ngay cả sử sách của chế độ cũ và nhiều tài liệu đang được lưu giữ ở Á châu (ASIE) – Văn khố Bộ Ngoại giao Paris, các Bảo tàng Lịch sử còn lưu truyền cũng không mở được khâu “đột phá nhận thức về chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn”, chưa cập nhật được một cách đầy đủ các kết quả nghiên cứu mới nhất, như một nhóm người của Hội KHLS đã làm. Sự thật lịch sử dù cho có các nghiên cứu mới nhất cũng không thể hô “biến” là kẻ bán nước trở thành người yêu nước. Theo GS Phan Huy Lê: “Nhà Nguyễn cũng là triều đại đã định hình xong lãnh thổ của Việt Nam và cơ bản giống lãnh thổ Việt Nam hiện nay, từ cực Bắc tới Cà Mau, từ Tây Nguyên ra tới biển và quan trọng hơn cả là đã bao gồm cả Hoàng Sa và Trường Sa… Bên cạnh đó, việc trình bày lịch sử chống ngoại xâm cũng mới chỉ trình bày một mặt là mặt phía ta, mặt thắng lợi còn phía địch thì chưa được nghiên cứu một cách sâu sắc. Trong khi đó, việc trình bày lịch sử xây dựng đất nước vẫn còn nặng về chính trị… Theo GS Phan Huy Lê, trong bộ Lịch sử Việt Nam đang được biên soạn, cần phải trình bày về lịch sử Việt Nam theo quan điểm đầy đủ, toàn diện… (Theo Vietnamnet, ngày 23/2/2017).
 
Sự thật, sau khi vua tôi nhà Nguyễn ký hàng ước hiến dâng nước ta cho thực dân Pháp. Theo sắc lệnh ngày 17-10-1887, thực dân Pháp thành lập Liên bang Đông Dương, năm đó mới bao gồm có Bắc kỳ, Trung kỳ, Nam kỳ và Kampuchia trực thuộc Bộ Hải quân và Thuộc địa. Ngày 19-4-1899, Tổng thống Pháp Emile Loubet ra sắc lệnh sáp nhập thêm Lào vào Liên bang Đông Dương, đất nước ta bị chia cắt làm 3 kỳ: Bắc kỳ, Trung kỳ và Nam kỳ với ba chế độ cai trị khác nhau. Bắc kỳ và Trung kỳ là hai xứ bảo hộ, chính quyền phong kiến vẫn còn được giữ lại về mặt hình thức. Nam kỳ là đất thuộc địa hoàn toàn do Pháp quản lý cùng với Lào và Kampuchia cũng là đất bảo hộ của Pháp. Bằng thủ đoạn này, thực dân Pháp đã xóa bỏ tên Việt Nam hoặc Đại Nam, Lào và Kampuchia trên bản đồ thế giới. Đứng đầu Liên bang Đông Dương có Toàn quyền Đông Dương là người thay mặt chính phủ Pháp cai trị Đông Dương về mọi mặt. Dưới Toàn quyền Đông Dương là Thống đốc Nam kỳ; Thống sứ Bắc kỳ; Khâm sứ ở Trung kỳ, Lào và Kampuchia (Theo Đề cương Lịch sử Việt Nam toàn tập của GS Trương Hữu Quýnh – GS Đinh Xuân Lâm – PGS Lê Mậu Hãn – NXB Giáo dục, trang 532, 566). Rõ ràng, thời Pháp thuộc nhân dân ta là vong quốc nô, làm gì có Tổ quốc, làm gì có Việt Nam hoặc Đại Nam, làm gì có “lãnh thổ của Việt Nam và cơ bản giống lãnh thổ Việt Nam hiện nay”.
 
Thưa GS Phan Huy Lê!
 
Giáo sư cho rằng việc trình bày lịch sử xây dựng đất nước vẫn còn nặng về chính trị… trong bộ Lịch sử Việt Nam đang được biên soạn, cần phải trình bày về lịch sử Việt Nam theo quan điểm đầy đủ, toàn diện… Dư luận cho rằng, việc trình bày lịch sử xây dựng đất nước không thôi chưa đủ mà còn phải có lịch sử bảo vệ đất nước, có chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội… Khi còn sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Dân ta phải biết sử ta/ Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam”. Đã là người Việt Nam thì ở đâu cũng phải biết lịch sử của nước mình vì đó là đạo lý muôn đời của dân tộc “uống nước nhớ nguồn”, những người viết lịch sử không chỉ viết một vài sự kiện, một vài chiến công nói về tiến trình đi lên của dân tộc hoặc để ghi nhớ công lao của một số người đã làm nên những sự nghiệp to lớn mà còn phải biết tìm hiểu, tiếp nhận những nét đẹp của đạo đức, của đạo lý làm người Việt Nam. Không thể có trong bộ Lịch sử Việt Nam đang được biên soạn, cần phải trình bày về lịch sử Việt Nam theo quan điểm đầy đủ, toàn diện… Quan điểm đầy đủ, toàn diện… là quan điểm gì, thấy sao mơ hồ quá!
 
Hãy xem Chủ tịch Hồ Chí Minh nói về nhà Nguyễn: Trong thư gửi ông Utơlây, ngày 16-10-1919, Nguyễn Ái Quốc viết: “Ngay trong cái cung điện Huế cũ kỹ và tối tăm, mà cuộc sống tù hãm, trụy lạc đã nhấn chìm những người sống trong đó vào sự nhu nhược, đến nỗi họ dửng dưng trước mọi việc diễn ra bên ngoài…”.
 
- Trong “Báo cáo gửi Quốc tế Cộng sản” ngày 21-9-1923, Nguyễn Ái Quốc viết: “‘Triều đình và vua quan (nhà Nguyễn) lệ thuộc tuyệt đối vào chính quyền Pháp. Họ bị chủ Pháp khinh bỉ và nhân dân ghét”.
 
- Trong bài “Nên học sử ta” đăng trên báo Việt Nam độc lập, ngày 1-2-1942, Nguyễn Ái Quốc viết: “Trước khi vua Gia Long bán nước cho Tây, nước ta vẫn là nước độc lập”. “Vì muốn giành làm vua mà Gia Long đem nước ta bán cho Tây. Thế là giang san gấm vóc tan tác tiêu điều, con Lạc cháu Hồng hóa làm trâu ngựa”.
 
- Trong bài diễn ca “Lịch sử nước ta”, do Việt Minh Tuyên truyền Bộ xuất bản, tháng 2-1942, Nguyễn Ái Quốc đã viết về vua Gia Long như sau:
 
“Gia Long lại dấy can qua/ Bị Tây Sơn đuổi, chạy ra nước ngoài/ Tự mình đã chẳng có tài/ Nhờ Tây qua cứu, tính bài giải vây/ Nay ta mất nước thế này/ Cũng vì vua Nguyễn rước Tây vào nhà/ Khác gì cõng rắn cắn gà/ Rước voi giày mả, thiệt là ngu si”.
 
Và Nguyễn Ái Quốc đã viết về vua Tự Đức như sau: “Nay ta mất nước nhà tan/ Cũng vì những lũ vua quan ngu hèn/ Năm Tự Đức thập thất niên/ Nam kỳ đã lọt dưới quyền giặc Tây/ Hăm lăm năm sau trận này/ Trung kỳ cũng mất, Bắc kỳ cũng tan/ Ngàn năm gấm vóc giang san/ Bị vua họ Nguyễn đem hàng cho Tây!/ Tội kia càng đắp càng dày/ Sự tình càng nghĩ càng cay đắng lòng”.
 
- Trong “Báo cáo đọc tại Đại hội các đoàn thể cách mạng Việt Nam ở nước ngoài” họp tại thành phố Liễu Châu (tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc), vào tháng 3-1944, Nguyễn Ái Quốc đã phát biểu: “Năm 1862, vua Tự Đức ký hiệp ước bán nước, cắt nhượng ba tỉnh Sài Gòn, Biên Hòa, Mỹ Tho cho giặc Pháp”.
 
- Trong “Trả lời điện phỏng vấn của Dân quốc Nhật báo” (Trung Quốc), ngày 3-4-1949, Hồ Chủ tịch đã viết bài về Bảo Đại – ông vua cuối cùng của vương triều Nguyễn như sau: “Vĩnh Thụy trở về nước với hơn 10.000 viện binh Pháp để giết hại thêm đồng bào Việt Nam. Vĩnh Thụy cam tâm bán nước. Vĩnh Thụy làm tay sai cho thực dân, là một tên phản quốc”.
 
- Trong quyển “Thường thức chính trị” do NXB Sự thật ấn hành lần đầu năm 1954, Bác Hồ chỉ rõ: “Hơn 80 năm trước đây, đế quốc Pháp thấy nước ta người đông, của nhiều, bèn dùng vũ lực sang cướp nước ta. Giai cấp phong kiến (vua, quan) thì hủ bại hèn nhát, chỉ biết bán nước, không dám chống giặc”.
 
- Trong “Báo cáo về Dự thảo Hiến pháp sửa đổi” tại kỳ họp thứ XI Quốc hội khóa I, ngày 18-12-1959, Bác Hồ viết: “Giữa thế kỷ XIX, đế quốc Pháp bắt đầu xâm lược nước ta: Bọn vua quan phong kiến đã đầu hàng giặc ngoại xâm và bán nước ta cho đế quốc Pháp. Trong gần một thế kỷ, đế quốc Pháp đã cấu kết với giai cấp phong kiến để thống trị nước ta một cách vô cùng tàn bạo”.
 
- Trong Báo cáo chính trị đọc tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ I của Đảng (27-31/3/1935), đồng chí Tổng bí thư Lê Hồng Phong chỉ rõ: Chính sách mới của đế quốc Pháp và mưu mô mới của bọn thống trị bản xứ là “trả quyền cho bù nhìn Bảo Đại, cải cách Nam triều, lập nguyên lão nghị viện. Thi hành các chính sách ấy, không phải trở lại điều ước nô lệ năm 1884 như nhiều người đã tưởng mà là kiên cố quyền thống trị của đế quốc Pháp”.
 
- Trong Nghị quyết của cuộc Hội nghị Trung ương lần thứ VI nổi tiếng (6-8/11/1939), do đồng chí Tổng bí thư Nguyễn Văn Cừ trình bày, đã phân tích kỹ: “Chính phủ Nam triều Bảo Đại đã hoàn toàn bán mình cho đế quốc Pháp, làm tay sai đắc lực cho đế quốc trong cuộc đàn áp phong trào cách mệnh năm 1930-1931”. “Bảo Đại đã hoàn toàn làm nô lệ một cách vô liêm sỉ cho đế quốc” (website Đảng Cộng sản Việt Nam).
 
Không chỉ Bác Hồ, trong thế kỷ XX, các đồng chí lãnh đạo lỗi lạc của Đảng, Nhà nước và Quân đội ta như: Lê Hồng Phong, Nguyễn Văn Cừ, Lê Duẩn, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp… cũng đều đánh giá vương triều nhà Nguyễn và đều hoàn toàn nhất trí với quan điểm của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh.
 
Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên Hợp Quốc (United Nations Educational Scientific and Cultural Organization), gọi tắt là UNESCO, Khóa họp Đại hội đồng UNESCO lần thứ 24 tại Paris, từ ngày 20-10 đến 20-11-1987, đã thông qua các nghị quyết về việc tổ chức lễ kỷ niệm các nhân vật kiệt xuất và các sự kiện lịch sử, trong đó có Nghị quyết 24C/18.65 về việc Kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, với tư cách là Anh hùng giải phóng dân tộc Việt Nam và là Nhà văn hóa kiệt xuất của nhân loại.
 
Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên Hợp Quốc đã vinh danh Chủ tịch Hồ Chí Minh như vậy. Vậy mà, được sự “phù phép” của tạp chí Xưa & Nay – cơ quan của Hội KHLS do GS Phan Huy Lê làm Chủ tịch danh dự, ông Dương Trung Quốc làm Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký kiêm Tổng biên tập, ông Nguyễn Hạnh – Phó Tổng biên tập tạp chí Xưa & Nay. Tạp chí Xưa & Nay làm “bà đỡ”, ông Đặng Phước Thành xây… “nhà thờ họ” gọi là “Nam phương Linh từ” tọa lạc tại xã Long Hưng A, huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp. Thờ đến 125 người mà ông Đặng Phước Thành và những người của tạp chí Xưa & Nay lẫn Hội KHLS cho là có công khai mở, giữ gìn và làm rạng danh vùng đất phương Nam như Nguyễn Ánh (Gia Long), Minh Mạng, Phan Thanh Giản, Trương Vĩnh Ký, Lê Văn Duyệt… Theo văn bản số 72/X&N ngày 2-7-2014 của tạp chí Xưa & Nay, trong danh sách các vị xét để thờ, không có thờ Chủ tịch Hồ Chí Minh! Mọi người còn nhớ, “Trong lễ quốc tang Bác Hồ năm 1969, ông Lê Duẩn, Bí thư thứ nhất Ban chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam lúc bấy giờ đọc bài “Điếu văn” trong đó có đoạn: “Dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta đã sinh ra Hồ Chủ tịch, người anh hùng dân tộc vĩ đại và chính Người đã làm rạng rỡ dân tộc ta, nhân dân ta và non sông đất nước ta…” . Một tác giả khuyết danh trước đây ở Sài Gòn trân trọng điếu Hồ Chủ tịch: “Thế giới đạo tiến trình. Âu Á kim vô hậu bối; Vĩ nhân tân xã hội, Mã liệt chi hận hữu tiên sinh”, nghĩa là: “Vạch ra con đường lên thế giới mới, Xưa nay Âu Á chưa từng có như Người, Vĩ nhân của xã hội mới, sau Các Mác, Lê Nin chỉ có Người mà thôi” (Từ điển Nhân vật Lịch sử Việt Nam của Nguyễn Q. Thắng – Nguyễn Bá Thế, NXB Văn hóa 1993 – trang 630). Ai cho phép tạp chí Xưa & Nay, cơ quan của Hội KHLS có chức năng tuyển chọn, bình xét những người là anh hùng dân tộc hoặc có công với nước để thờ, để cho lớp trẻ học tập mà không thờ Bác Hồ?! Lại thờ Nguyễn Ánh (Gia Long), Minh Mạng, Phan Thanh Giản, Trương Vĩnh Ký, Lê Văn Duyệt… Bấy nhiêu đó, đã nói lên lập trường, quan điểm của Hội KHLS. Mặt khác, hơn 10 năm qua, toàn Đảng, toàn Quân và toàn Dân ta tích cực thực hiện cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, thiết nghĩ, một nhóm người trong Hội KHLS không có tư cách để nói khác lịch sử, nói khác với Cụ Ngô Đức Kế và Bác Hồ, nói khác sự đánh giá vương triều nhà Nguyễn của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh và của những đồng chí lãnh đạo lỗi lạc của Đảng, Nhà nước và Quân đội ta.
 
Những người viết lịch sử chân chính, chính là người làm tốt công tác chính trị tư tưởng, là người góp phần hình thành nhân cách, phẩm chất, lối sống cho mọi công dân theo mục tiêu: “Đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Tất cả những điều đó chỉ có thể thực hiện được thông qua người viết lịch sử, người dạy lịch sử và mọi công dân tiếp thu lịch sử chứ không thể có trong bộ Lịch sử Việt Nam đang được biên soạn, cần phải trình bày về lịch sử Việt Nam theo quan điểm đầy đủ, toàn diện… chung chung được. Dư luận hoàn toàn không yên tâm nếu giao cho một nhóm người của Hội KHLS chỉnh sửa sách giáo khoa Sử học và biên soạn bộ quốc sử của nước nhà, Hội KHLS sẽ đứng trên lập trường, quan điểm như vừa nêu trên chắc chắn sẽ gây ra cho Đảng, Nhà nước và nhân dân ta những tổn thất không nhỏ trong lĩnh vực giáo dục chính trị tư tưởng cho mọi công dân.
 
Rõ ràng, Hội KHLS chỉnh sửa sách giáo khoa Sử học và biên soạn bộ quốc sử nước nhà là không chấp nhận được.
 
Luật gia – nhà báo Hoàng Phương
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 451
 
http://tuanbaovannghetphcm.vn/chinh-sua-sach-giao-khoa-su-hoc-va-bien-soan-bo-quoc-su-nhu-the-nay-sao/