Chưa được phân loại

  1. Cụm điệp báo A10 - Thời khắc lịch sử

  2. A10 - Cụm điệp báo và thời khắc lịch sử trong “Phủ Đầu Rồng”

  3. Bộ Y tế cảnh báo hệ lụy nghiêm trọng khi lạm dụng khí N2O, cần phải kiểm soát triệt để

  4. Bộ Y tế thông tin về khí Nitơ Oxit (N2O)

  5. Thuốc lá điện tử là gì? Tác hại của thuốc lá điện tử

  6. Từ ngày 01/7/2026, người nghiện ma tuý sẽ được giám sát bằng thiết bị điện tử

  7. DỰ THẢO LUẬT PHÒNG CHỐNG MA TÚY 2025

  8. Quốc hội thông qua Luật Phòng, chống ma tuý (sửa đổi)

  9. Bộ trưởng Bộ Công an Lương Tam Quang giới thiệu trước Quốc hội thiết bị giám sát người nghiện ma túy

 10. RỐI LOẠN TÂM THẦN VÀ HÀNH VI DO SỬ DỤNG NHIỀU CHẤT MA TÚY

 11. Sửa Luật Phòng, chống ma túy: Đề xuất tăng thời hạn cai nghiện

 12. Người chiến sĩ Điệp báo A10 của Ban An ninh Sài Gòn - Gia Định

 13. LUẬT PHÒNG, CHỐNG MA TÚY VÀ CÁC CHẾ ĐỘ CAI NGHIỆN TỰ NGUYỆN VÀ CAI NGHIỆN BẮT BUỘC (LUẬT BỔ SUNG VÀ SỬA ĐỔI)

 14. CÁC HÌNH THỨC CAI NGHIỆN MA TÚY ĐANG ÁP DỤNG (CÓ BỔ SUNG)

 15. TRẠNG THÁI KÍCH ĐỘNG

 16. QUY ĐỊNH CAI NGHIỆN CHO NGƯỜI NƯỚC NGOÀI

 17. Sau cai nghiện vẫn còn ảo giác, đau đầu, khó ngủ phải làm sao?

 18. RỐI LOẠN TÂM THẦN DO RƯỢU

 19. QUY TRÌNH CAI NGHIỆN MA TÚY TẠI CÁC CƠ SỞ CAI NGHIỆN MA TÚY

 20. Người nghiện ma túy: Tội phạm hay bệnh nhân?

 21. Nguyên nhân khiến nhiều người sa chân vào ma túy

 22. Tác hại của rượu, bia và cách phòng tránh

 23. DI CHỨNG SỬ DỤNG MA TÚY

 24. Nam thanh niên dùng dao sát hại mẹ, chém chị gái trọng thương

 25. Tác hại to lớn của rượu

 26. Người điệp báo A10 năm xưa

 27. NỘI DUNG ĐIỀU TRỊ

 28. Cựu điệp viên tình báo A10 về già không muốn thảnh thơi an nhàn

 29. PHÒNG KHÁM CAI NGHIỆN MA TÚY THANH ĐA

 30. Sinh viên tâm lý tham quan và học tập tại Trung tâm cai nghiện Thanh Đa

 31. TPHCM không còn người cai nghiện ma túy tại gia đình

 32. Kỷ lục số người cai nghiện tập trung tại TPHCM

 33. CAI NGHIỆN MA TÚY VỚI CÁC BÁC SĨ - THẠC SĨ - CHUYÊN GIA GIỎI ĐIỀU TRỊ NGHIỆN MA TÚY

 34. 'Hậu phương' vững chắc của cựu điệp viên tình báo A10

 35. Kết quả tìm kiếm

 36. cách nhận biết

 37. VGP: Cuộc chiến chống ma túy: thấy gì từ các vụ án khủng

 38. Những nhận thức cơ bản về cai nghiện phục hồi theo GS Jon Currie

 39. Kỳ thị HIV/AIDS khiến cho số người nhiễm tăng gấp 3 lần

 40. THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH SẼ LÀ ĐÔ THỊ TĂNG TRƯỞNG NHANH BẬC NHẤT CHÂU Á TRONG 5 NĂM TỚI

Sửa Luật Phòng, chống ma túy: Đề xuất tăng thời hạn cai nghiện

Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Báo Điện tử Chính phủ

Sửa Luật Phòng, chống ma túy: Đề xuất tăng thời hạn cai nghiện

(Chinhphu.vn) - Luật Phòng, chống ma túy (sửa đổi) đề xuất tăng thời hạn cai nghiện ma túy lần đầu là 24 tháng, lần thứ hai trở lên là 36 tháng

   

Sáng 11/11, tiếp tục chương trình làm việc kỳ họp thứ 10, Quốc hội đã nghe Tờ trình và Báo cáo thẩm tra về dự thảo Luật Phòng, chống ma túy (sửa đổi).

Trình bày tóm tắt Tờ trình dự án Luật Phòng, chống ma tuý (sửa đổi), Đại tướng Lương Tam Quang, Uỷ viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Công an cho biết, qua quá trình tổng kết và theo dõi Luật Phòng, chống ma túy năm 2021, bên cạnh những kết quả đạt được, đã bộc lộ những vướng mắc, bất cập; đồng thời, để bảo đảm việc thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy được chuyển giao về Bộ Công an, cần phải nghiên cứu để sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với thực tiễn.

Theo Bộ trưởng Lương Tam Quang, dự thảo luật được giữ nguyên phạm vi điều chỉnh so với Luật Phòng, chống ma túy năm 2021. Nội dung của dự thảo luật bảo đảm tính thống nhất với các văn bản quy phạm pháp luật liên quan và tương thích, phù hợp với các điều ước quốc tế. Việc xây dựng dự án luật đã thực hiện các trình tự, thủ tục theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

Dự thảo Luật Phòng, chống ma túy (sửa đổi) gồm nội dung cơ bản như sau: Hoàn thiện các quy định về bổ sung các quy định về kiểm soát các hoạt động hợp pháp liên quan đến ma túy để kiểm soát chặt chẽ và tạo cơ sở pháp lý thuận lợi cho doanh nghiệp phát triển kinh tế.

Các quy định về thời hạn cai nghiện, quy trình cai nghiện, quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy, người cai nghiện ma túy tại gia đình, cộng đồng, điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế, người bị quản lý sau cai nghiện ma túy, người đủ 18 tuổi cai nghiện bắt buộc hoặc tự nguyện trong cơ sở cai nghiện bắt buộc, người từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi cai nghiện bắt buộc hoặc tự nguyện trong trường giáo dưỡng; bảo đảm sự đồng bộ thống nhất đối với các quy định pháp luật chuyên ngành khác có liên quan và phù hợp với điều kiện thực tế của Việt Nam hiện nay và trong những năm tiếp theo.

Hoàn thiện quy định về chuyển thẩm quyền từ UBND cấp xã sang Công an cấp xã. Đồng thời, sửa đổi, bổ sung quy định để thực hiện phân quyền, phân cấp tại 5 nội dung cho Trưởng Công an cấp xã, Giám đốc Công an cấp tỉnh, Chủ tịch UBND cấp tỉnh để bảo đảm phù hợp với mô hình tổ chức chính quyền địa phương mới và việc chuyển nhiệm vụ quản lý nhà nước về cai nghiện ma túy từ Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (cũ) về Bộ Công an.

 

Bảo đảm hài hòa giữa xử lý nghiêm hành vi sử dụng ma túy và quyền học tập, cơ hội tái hòa nhập cộng đồng

Trình bày báo cáo thẩm tra, Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội Nguyễn Đắc Vinh cho biết, Ủy ban nhất trí với sự cần thiết sửa đổi Luật.

Ủy ban đề nghị Cơ quan chủ trì soạn thảo lưu ý việc sửa đổi Luật phải bảo đảm hài hòa giữa xử lý nghiêm, kịp thời hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và quyền học tập, tạo cơ hội tái hòa nhập cộng đồng của người sử dụng trái phép chất ma túy, người nghiện ma túy là trẻ em, học sinh, sinh viên...

Đồng thời nâng cao hiệu quả công tác cai nghiện ma túy, quản lý sau cai nghiện ma túy; hoàn thiện cơ chế phối hợp liên ngành, rõ trách nhiệm của các cơ quan trong công tác phòng, chống và kiểm soát ma túy; huy động nguồn lực cho công tác phòng, chống ma túy, xây dựng cơ chế phát huy vai trò của các tổ chức, cá nhân, gia đình và cộng đồng trong giám sát, hỗ trợ sau cai nghiện.

Về thời hạn, quy trình cai nghiện ma túy, theo Cơ quan chủ trì soạn thảo, việc tăng thời hạn cai nghiện ma túy góp phần nâng cao chất lượng công tác cai nghiện ma túy. Về vấn đề này, đa số ý kiến của Ủy ban tán thành với quy định tăng thời hạn cai nghiện ma túy.

Tuy nhiên, Ủy ban đề nghị cần nghiên cứu quy định phù hợp hơn về thời hạn cai nghiện ma túy, đặc biệt đối với người cai nghiện ma túy lần đầu, người cai nghiện ma túy là người đang nuôi con nhỏ, trẻ em thì thời hạn cai nghiện ma túy nên ngắn hơn hoặc quy định không quá 24 tháng đối với người cai nghiện lần đầu, không quá 36 tháng đối với người cai nghiện ma túy từ lần thứ hai trở đi.

Có ý kiến đề nghị nghiên cứu quy định thời hạn cai nghiện theo hướng đối với đối tượng cai nghiện ma túy bắt buộc thì thời hạn thực hiện như quy định tại dự thảo Luật; đối với đối tượng cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình và cộng đồng cần quy định thời hạn phù hợp.

Về cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình và cộng đồng, Ủy ban đề nghị tiếp tục nghiên cứu có quy định tại dự thảo Luật bảo đảm tính nguyên tắc và bao quát về điều kiện cơ sở vật chất, nhân lực, giá dịch vụ cai nghiện ma túy, thẩm quyền, trách nhiệm của tổ chức, cá nhân trong cung cấp dịch vụ cai nghiện…, đồng thời, cụ thể hóa các quy định này ở các văn bản hướng dẫn.

Việc cai nghiện ma túy bắt buộc cho người từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi tại trường giáo dưỡng sẽ tạo thuận lợi cho việc tổ chức học văn hóa, học nghề, giáo dưỡng theo quy định. Tuy nhiên, việc chỉ cai nghiện ma túy bắt buộc tại trường giáo dưỡng sẽ có một số hạn chế, bất cập.

Do đó, Ủy ban đề nghị tiếp tục nghiên cứu quy định bảo đảm tính mở, linh hoạt, phù hợp với điều kiện thực tiễn theo hướng về cơ bản, việc cai nghiện ma túy bắt buộc cho người từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi được thực hiện ở trường giáo dưỡng; giao Bộ trưởng Bộ Công an quy định mở rộng việc cai nghiện bắt buộc cho người từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi tại cơ sở cai nghiện khác có đủ điều kiện.

Tại Điều 28 về Thời hạn, quy trình cai nghiện ma túy trong dự thảo Luật: Thời hạn cai nghiện ma túy đối với người cai nghiện ma túy lần đầu là 24 tháng, đối với người cai nghiện ma túy từ lần thứ hai trở lên là 36 tháng.

Thu Giang

Người chiến sĩ Điệp báo A10 của Ban An ninh Sài Gòn – Gia Định

Người chiến sĩ Điệp báo A10 của Ban An ninh Sài Gòn - Gia Định

(CATP) Nguyễn Hữu Khánh Duy quê ở tỉnh Nghệ An nhưng sinh ra và lớn lên ở miền Nam. Thuở nhỏ, ông là học sinh giỏi của Trường Phan Chu Trinh, TP.Đà Nẵng. Năm 1963, ông tham gia phong trào đấu tranh chống Ngô Đình Diệm đàn áp Phật giáo. Năm 1966, ông thi đỗ vào trường Đại học Y khoa Sài Gòn và tham gia các hoạt động của Tổng hội sinh viên.

 

Ngày đậu vào trường Đại học Y khoa Sài Gòn, ông được tiếp cận với sách báo và hơn thế nữa là được tiếp cận với thực tế nên ông dần dần giác ngộ, hiểu được thực chất của cuộc chiến và trở thành người chiến sĩ cách mạng. Thời gian này, ông tham gia và giữ nhiều chức vụ trong các Ủy ban đấu tranh chống đàn áp, bắt bớ sinh viên - học sinh, chống quân sự học đường. Trong các phong trào đấu tranh, ông được tín nhiệm bầu làm Chủ tịch các Ủy ban tranh đấu, Trưởng ban đại diện sinh viên Y khoa, Đoàn trưởng đoàn Công tác Y tế sinh viên Y - Nha - Dược, Đoàn trưởng Đoàn văn nghệ sinh viên Y - Nha.

Năm 1971, Nguyễn Hữu Khánh Duy tham gia an ninh vũ trang. Đến năm 1972 là Cụm phó Cụm Điệp báo A10, Ban An ninh Sài Gòn - Gia Định. Nhiệm vụ của Điệp báo A10 là xây dựng cơ sở bí mật, thu thập tin tức, ý đồ, thủ đoạn và tổ chức của đối phương; tấn công chính trị, tác động và phân hóa hàng ngũ địch; xây dựng lõm căn cứ chính trị trong quần chúng, nhân dân. Để thực hiện các mục tiêu trên, Điệp báo A10 đã xây dựng được mạng lưới học sinh, sinh viên đánh vào các cơ sở trọng yếu của địch, vô hiệu hóa một số chính sách nguy hiểm cho cách mạng.

Năm 1971 - 1972, đoàn công tác Y tế sinh viên Y - Nha - Dược được thành lập để tạo địa bàn hoạt động cho quần chúng cả 3 trường Y - Nha - Dược và các trường đại học khác. Bằng uy tín của mình, Nguyễn Hữu Khánh Duy đã xây dựng cương lĩnh hoạt động của Đoàn - ngụy trang làm công tác y tế - xã hội thuần túy để tiếp cận với quần chúng, nhân dân. Nhờ tính pháp lý vững chắc nên Đoàn đã quy tụ được hàng chục ngàn học sinh, sinh viên và nhân dân. Đoàn thành lập các ban văn nghệ, y tế, xã hội, báo chí... sinh hoạt bằng nhạc yêu nước, nhạc của sinh viên tranh đấu, viết những bài báo chống chiến tranh, kêu gọi hòa bình, đòi dân sinh, dân chủ, chống đàn áp sinh viên, học sinh.

Năm 1973, Nguyễn Hữu Khánh Duy tốt nghiệp bác sĩ, ông bị tổng động viên vào Quân đội Sài Gòn. Chấp hành lệnh của tổ chức, ông tiếp tục chỉ đạo mạng lưới điệp báo tại Sài Gòn, đồng thời tham gia hoạt động trong hàng ngũ địch với cương vị Trung úy, Bác sĩ trưởng Tiểu đoàn 6, Sư đoàn Thủy quân Lục chiến. Với tấm lòng của người cách mạng, ông luôn nhớ các binh sĩ là con em nhân dân nghèo bị địch bắt đi lính, họ không hiểu cách mạng thì phải làm cho họ hiểu, phải phân hóa được hàng ngũ của địch và kéo họ về phía ta.

Trung tướng Nguyễn Văn Long (bìa trái) - Thứ trưởng Bộ Công an và Thiếu tướng Mai Hoàng (giữa)

Trên cương vị là bác sĩ, ông có một lợi thế rất lớn là sử dụng quyền hạn của mình đem về cho tổ chức nhiều tư liệu quý giá. Để tấn công chính trị, phân hóa hàng ngũ địch, ông đã xây dựng cơ sở nòng cốt là đồng chí Huỳnh Bá Thành (Họa sĩ Ớt) - Giám đốc kỹ thuật kiêm Thư ký tòa soạn báo Điện Tín của nhóm Dương Văn Minh. Dưới sự chỉ đạo của ông, anh Thành và các cơ sở đã sử dụng báo Điện Tín của Dương Văn Minh thực hiện ý đồ của ta là: vận động dư luận quần chúng theo ý đồ có lợi cho cách mạng.

Tác động các phóng viên viết bài đấu tranh cho dân sinh, dân chủ, kêu gọi hòa bình, thực hiện nghiêm chỉnh Hiệp định Paris. Đấu tranh để thành lập chính phủ ba thành phần. Thực hiện hòa hợp, hòa giải trên cơ sở pháp lý và Hiệp định Paris mà Mỹ - Thiệu đã ký. Tháng 4/1975, trong trận chiến cuối cùng ông và mạng lưới cơ sở đã tác động đến Dương Văn Minh lựa chọn con đường đầu hàng quân giải phóng, cứu Sài Gòn thoát khỏi cuộc đổ nát.

Xuân Tuấn

LUẬT PHÒNG, CHỐNG MA TÚY VÀ CÁC CHẾ ĐỘ CAI NGHIỆN TỰ NGUYỆN VÀ CAI NGHIỆN BẮT BUỘC (LUẬT BỔ SUNG VÀ SỬA ĐỔI)

LUẬT PHÒNG, CHỐNG MA TÚY VÀ CÁC CHẾ ĐỘ CAI NGHIỆN TỰ NGUYỆN VÀ CAI NGHIỆN BẮT BUỘC (LUẬT BỔ SUNG VÀ SỬA ĐỔI)

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự 86/2025/QH15

Điều 256a: Tội sử dụng trái phép chất ma túy

1. Người nào sử dụng trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 2 năm đến 3 năm:
  1. Đang trong thời hạn cai nghiện ma túy hoặc điều trị nghiện các chất ma túy bằng thuốc thay thế theo quy định của Luật Phòng, Chống ma túy.
  2. Đang trong thời hạn quản lý sau cai nghiện ma túy theo quy định của Luật Phòng, Chống ma túy.
  3. Đang trong thời hạn 2 năm kể từ ngày hết thời hạn quản lý sau cai nghiện ma túy và trong thời hạn quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định của Luật Phòng, Chống ma túy.
  4. Đang trong thời hạn 2 năm kể từ khi tự ý chấm dứt cai nghiện ma túy tự nguyện hoặc điều trị nghiện các chất ma túy bằng thuốc thay thế.
2. Tái phạm về tội này thì bị phạt tù từ 3 năm đến 5 năm.

Luật Phòng, chống ma túy

Điều 28: Các biện pháp cai nghiện ma túy

  1. Biện pháp cai nghiện ma túy bao gồm:
  1. Cai nghiện ma túy tự nguyện
  2. Cai nghiện ma túy bắt buộc

Điều 32: Đối tượng bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên bị áp dụng biện pháp xử lý hành chánh đua vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chánh khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
  1. Không đăng ký, không thực hiện hoặc tự ý chấm dứt cai nghiện ma túy tự nguyện.
  2. Trong thời gian cai nghiện ma túy tự nguyện bị phát hiện sử dụng trái phép chất ma túy.
  3. Người nghiện ma túy các chất dạng thuốc phiện không đăng ký, không thực hiện hoặc tự ý chấm dứt điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế hoặc bị chấm dứt điều trị các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế do vi phạm quy định về điều trị nghiện.
  4. Trong thời gian quản lý sau cai nghiện mà tái nghiện.

Nghị định 116/2021/NĐ-CP

Quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống ma túy, Luật Xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy.

• Mẫu số 22: đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện của người nghiện hoặc người đại diện hợp pháp, thời gian đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện tối thiểu là 06 tháng.

Điều 37: Thực hiện Hợp đồng dịch vụ cai nghiện ma túy

1. Người nghiện ma túy hoặc người đại diện hợp pháp của người nghiện ma túy có trách nhiệm:

a. Bảo đảm người cai nghiện có mặt tại cơ sở cai nghiện ma túy trong toàn bộ thời gian sử dụng dịch vụ theo Hợp đồng đã ký kết.

b. Tuân thủ các nội quy, quy chế và hướng dẫn, quy định nghiệp vụ của cơ sở cai nghiện ma túy.

c. Trả chi phí sử dụng dịch vụ cai nghiện ma túy theo Hợp đồng.

2. Cơ sở cai nghiện ma túy có trách nhiệm:

e. Thông báo bằng văn bản cho UBND cấp xã nơi người đó đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện hoặc tự ý chấm dứt việc sử dụng dịch vụ cai nghiện ma túy tự nguyện.

CÁC HÌNH THỨC CAI NGHIỆN MA TÚY ĐANG ÁP DỤNG (CÓ BỔ SUNG)

CÁC HÌNH THỨC CAI NGHIỆN MA TÚY ĐANG ÁP DỤNG (CÓ BỔ SUNG)

TRÍCH LUẬT PHÒNG, CHỐNG MA TÚY SỐ 73/2021/QH14

Điều 28. Các biện pháp cai nghiện ma túy

Biện pháp cai nghiện ma túy bao gồm:

a) Cai nghiện ma túy tự nguyện.

b) Cai nghiện ma túy bắt buộc.

Điều 31. Cai nghiện ma túy tự nguyện tại cơ sở cai nghiện ma túy

1. Thời hạn cai nghiện ma túy tự nguyện tại cơ sở cai nghiện ma túy là từ 06 tháng đến 12 tháng.
3. Người cai nghiện ma túy tự nguyện tại cơ sở cai nghiện ma túy có trách nhiệm:
  1. Thực hiện đúng, đầy đủ các quy định về cai nghiện ma túy tự nguyện và tuân thủ hướng dẫn của cơ quan chuyên môn;
  2. Nộp chi phí liên quan đến cai nghiện ma túy theo quy định.
4. Cơ sở cai nghiện ma túy có trách nhiệm cấp giấy xác nhận hoàn thành cai nghiện ma túy tự nguyện cho người cai nghiện ma túy.

Điều 32. Đối tượng bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

Người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên bị áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
  1. Không đăng ký, không thực hiện hoặc tự ý chấm dứt cai nghiện ma túy tự nguyện;
  2. Trong thời gian cai nghiện ma túy tự nguyện bị phát hiện sử dụng trái phép chất ma túy;
  3. Trong thời gian quản lý sau cai nghiện ma túytái nghiện.

TRÍCH LUẬT SỬA ĐỔI, BỔ SUNG CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ

Điều 256a: Tội sử dụng trái phép chất ma túy

1. Người nào đang trong thời gian cai nghiện ma túy tự nguyện, cai nghiện ma túy bắt buộc hoặc đã từng cai nghiện ma túy tự nguyện, cai nghiện ma túy bắt buộc mà bị phát hiện hành vi sử dụng trái phép chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào thì bị phạt tù từ 2 năm đến 3 năm.
2. Tái phạm về tội này thì bị phạt tù từ 3 năm đến 5 năm.

TRẠNG THÁI KÍCH ĐỘNG

TRẠNG THÁI KÍCH ĐỘNG

TS. Nguyễn Trọng Đạo – Khoa Tâm thần, Bệnh viện Quân y 103


1. NGUYÊN NHÂN

  • Say rượu, say ma túy.
  • Cai rượu, cai ma túy.
  • Bệnh tâm thần phân liệt, rối loạn cảm xúc (hưng cảm và trầm cảm), động kinh, chậm phát triển tâm thần.

2. TRIỆU CHỨNG

Kích động ngôn ngữ: Kích động ngôn ngữ là tình trạng hưng phấn ngôn ngữ vô cùng mạnh mẽ, không thể kiểm soát. Bệnh nhân la hét, chửi bới, gào thét.

  • Tư duy phi tán: nói chưa hết chuyện này đã chuyển sang chuyện khác (hưng cảm).
  • Tư duy lập lại: chỉ trả lời một nội dung cho tất cả các câu hỏi. Ví dụ hỏi bệnh nhân: anh tên là gì, bệnh nhân trả lời: tôi tên là Nam; hỏi: anh bao nhiêu tuổi? trả lời: tôi tên là Nam; hỏi: anh làm nghề gì? trả lời: tôi tên là Nam. Tư duy kiên định trong kích động căng trương lực.
  • Tư duy lặp lại: bệnh nhân lặp lại câu hỏi mà ta đặt cho. Ví dụ một bệnh nhân có tư duy lặp lại như sau: hỏi: anh tên là gì? trả lời: anh tên là gì? hỏi: anh bao nhiêu tuổi? trả lời: anh bao nhiêu tuổi? Tư duy lặp lại trong kích động căng trương lực.

Kích động vận động: Kích động vận động là tình trạng hưng phấn vận động quá mức, không thể kiểm soát. Bệnh nhân có các hành vi đập phá, đốt nhà, đánh người, giết người. Kích động vận động ở bệnh nhân trầm cảm thể hiện bằng các hành vi rất nguy hiểm như tấn công người khác, giết người, đốt nhà. Họ tỏ ra rất lạnh lùng và tàn nhẫn.

Kích động ở bệnh nhân hưng cảm thường diễn ra trong không gian rộng. Bệnh nhân chạy nhảy, phá phách, gây rối trật tự công cộng. Tuy nhiên, hiếm khi bệnh nhân tấn công người, đốt nhà.

Kích động căng trương lực diễn ra trong một không gian hẹp (trong phòng bệnh) với các hành vi bất thường và không thể lường trước. Sau kích động căng trương lực, bệnh nhân có thể chuyển sang bất động.

Kích động hỗn hợp: Vừa kích động ngôn ngữ, vừa kích động vận động. Kích động hỗn hợp gặp trong bệnh nhân tâm thần phân liệt, say rượu, say ma túy nhóm kích thần, hội chứng cai rượu, hội chứng cai heroin.

3. XỬ LÝ

- Phối hợp với các lực lượng chức năng bắt và cố định bệnh nhân vào giường. Nếu bệnh nhân có vũ khí (gậy, dao, gạch, đá) thì chúng ta không được cố gắng bắt giữ. Hãy kiên nhẫn chờ đợi thời điểm thích hợp, đánh lạc hướng hoặc giả thỏa thuận với bệnh nhân để họ bỏ vũ khí, tốt nhất là mời công an, bảo vệ đến bắt giữ bệnh nhân; sau đó, cố định bệnh nhân tại giường bằng 3 hoặc 4 sợi dây to bản. Luôn luôn trông chừng, không để bệnh nhân hoặc người khác cởi dây cố định cho bệnh nhân. Ngay sau đó thì tiêm thuốc như sau:

Dùng thuốc chung cho mọi dạng kích động (trừ say rượu):

  • (1) Haloperidol 5mg x 4 ống
  • (2) Pipolphen 50mg x 2 ống
  • (3) Aminazin 25mg x 10 ống
Trộn 3 loại thuốc trên vào trong cùng 1 xilanh, tiêm bắp sâu, chia làm 2 lần mỗi ngày (sáng, tối).
  • (4) Diazepam 10mg x 2 ống, tiêm bắp (sáng, tối).
Lưu ý: chỉ được cởi dây cố định cho bệnh nhân khi bệnh nhân đã ngủ sâu. Tiêm thuốc như trên từ 3 – 5 ngày bệnh nhân sẽ hết kích động.

Với kích động do say rượu:

  • Cố định bệnh nhân vào giường.
  • Vitamin B1 0,025 x 10 ống, tiêm bắp.
Chờ bệnh nhân ngủ sâu hay cởi dây cố định. Sau 12 giờ, lượng rượu thải trừ hết, bệnh nhân sẽ hết kích động.

Với kích động do cai rượu:

  • Cố định bệnh nhân vào giường.
  • Tiêm thuốc:
    • (1) Diazepam 10mg x 2 ống/tiêm bắp (sáng, tối)
    • (2) Vitamin B1 0,025 x 10 ống/tiêm bắp (sáng, tối)
    • (3) Ringer lactat 500mL x 2 chai, truyền tĩnh mạch 40 giọt/phút.
Dùng thuốc 5 ngày, bệnh nhân sẽ hết hội chứng cai rượu.

TS. NGUYỄN TRỌNG ĐẠO Khoa Tâm thần – Bệnh viện Quân y 103

QUY ĐỊNH CAI NGHIỆN CHO NGƯỜI NƯỚC NGOÀI

QUY ĐỊNH CAI NGHIỆN CHO NGƯỜI NƯỚC NGOÀI

-------------------------

Căn cứ theo Điều 37 luật số 73/2021/QH14 của Quốc hội về Phòng, chống ma túy

Điều 37. Áp dụng biện pháp cai nghiện ma túy cho người Việt Nam bị nước ngoài trục xuất về nước do có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, nghiện ma túy; người nước ngoài nghiện ma túy sinh sống tại Việt Nam

1. Người Việt Nam bị nước ngoài trục xuất về Việt Nam do có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, nghiện ma túy khi về nước phải tiến hành xác định tình trạng nghiện ma túy. Trường hợp được xác định là nghiện ma túy thì người đó phải thực hiện các biện pháp cai nghiện ma túy theo quy định của Luật này.

2. Người nước ngoài nghiện ma túy sinh sống tại Việt Nam có trách nhiệm đăng ký thực hiện cai nghiện ma túy tự nguyện tại cơ sở cai nghiện ma túy theo quy định của Luật này và phải chi trả toàn bộ các khoản chi phí liên quan đến cai nghiện. Trường hợp không thực hiện cai nghiện ma túy tự nguyện thì người đó bị xử lý theo quy định của pháp luật.

Sau cai nghiện vẫn còn ảo giác, đau đầu, khó ngủ phải làm sao?

Sau cai nghiện vẫn còn ảo giác, đau đầu, khó ngủ phải làm sao?

Hỏi

Em chào bác sĩ ạ. Bác sĩ cho em hỏi, trước kia em có dùng ma túy nhưng đã bỏ 4 - 5 năm rồi. Tuy nhiên các triệu chứng xuất hiện trong người giống như vẫn còn chất gây nghiện, đầu lúc nào cũng giật giật, khó chịu, tối không ngủ được. Mong bác sĩ tư vấn. Xin cảm ơn bác sĩ ạ!

Đinh Văn Linh (1997)

Trả lời.

Chào bạn. Bác sĩ ghi nhận ý kiến của bạn, tuy nhiên bác sĩ chưa rõ lắm về ý nghĩa chia sẻ này. Bạn muốn hỏi về tình trạng đau đầu, khó ngủ về đêm sau khi cai nghiện? Hay là cách để cải thiện dấu hiệu này? Tuy nhiên, bác sĩ cũng có một vài ý kiến chung, mong sẽ hữu ích cho bạn. Cụ thể:

Sau khi bạn cai chất gây nghiện được 4 - 5 năm thì chất đó hoàn toàn không còn trong cơ thể bạn nhưng bạn vẫn nhớ cảm giác khi dùng chất gây nghiện thì đây được xem như phản xạ có điều kiện. Khi sử dụng ma túy, não bộ sẽ sản sinh Dopamine, là chất gây kích thích, khoái cảm, có thể gây nên ảo giác, kích thích tình dục... Vì vậy não bộ của bạn vẫn ghi nhớ và có các cảm giác thèm muốn khi nghĩ đến.

Bên cạnh đó, khi sử dụng ma túy, tổn thương não có thể không hồi phục. Vì vậy bạn có thể đau đầu, rối loạn giấc ngủ. Vì vậy người dùng ma túy hay tái nghiệncó thể đã cai được. Bạn nên có cuộc sống lành mạnh, tăng cường rèn luyện thể chất, tâm lý liệu pháp để vượt qua được tình trạng này nhé.

Cảm ơn bạn đã đặt câu hỏi tới Hệ thống Y tế Vinmec. Trân trọng.

Bác sĩ Võ Hà Băng Sương - Bác sĩ điều trị - Khoa Khám bệnh & nội khoa - Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Phú Quốc.

RỐI LOẠN TÂM THẦN DO RƯỢU

RỐI LOẠN TÂM THẦN DO RƯỢU VÀ MA TÚY

RỐI LOẠN TÂM THẦN DO RƯỢU

1. Khái niệm

Theo Tổ chức Y tế Thế giới, nghiện rượu là nhu cầu thèm muốn, đòi hỏi thường xuyên đồ uống có cồn, hình thành thói quen, gây rối loạn nhân cách, giảm khả năng lao động và ảnh hưởng đến sức khỏe. Có 7 triệu chứng chính của hội chứng nghiện rượu, đó là:

- Cảm giác thôi thúc phải uống rượu: người nghiện rượu khi đã bắt đầu uống rượu thì không thể ngừng lại được. Nếu họ bỏ rượu, họ cảm thấy thèm mãnh liệt.

- Thói quen uống rượu hàng ngày: người uống rượu uống hết ngày này sang ngày khác. Họ uống rượu sau các khoảng thời gian nhất định để tránh hoặc làm nhẹ hội chứng cai rượu.

- Uống rượu được ưu tiên hơn các hành vi khác: với người nghiện rượu, uống rượu là ưu tiên hàng đầu, hơn cả sức khỏe, gia đình, xã hội, nghề nghiệp.

- Có hiện tượng dung nạp rượu: với một nồng độ rượu trong máu bình thường, người nghiện rượu không bị ảnh hưởng. Lượng rượu uống của bệnh nhân ngày càng tăng dần. Đến giai đoạn cuối của nghiện rượu, sự dung nạp rượu tụt xuống, bệnh nhân mất năng lực chỉ sau khi uống một lượng rượu nhỏ.

- Lặp di, lặp lại hội chứng cai rượu: các triệu chứng của hội chứng cai rượu xuất hiện khi nồng độ rượu trong máu tụt xuống. Vì vậy hội chứng cai rượu thường xuất hiện vào buổi sáng sớm, sau một đêm không uống rượu.

- Uống rượu vào buổi sáng: người nghiện rượu phải uống rượu vào buổi sáng sớm, ngay sau khi thức giấc để chặn hội chứng cai rượu. Ở hầu hết các nền văn hóa, uống rượu buổi sáng được coi là nghiện rượu.

- Tái nghiện rượu: sau một thời gian cai rượu, người nghiện rượu dễ dàng tái nghiện chỉ sau vài ngày uống rượu.

Ngày nay, hầu hết các tác giả đều sử dụng tiêu chuẩn sau để xác định nghiện rượu: - Uống rượu hàng ngày từ 10 năm trở lên. - Mỗi ngày uống tối thiểu 300ml rượu 40 độ cồn.

2. Dịch tễ học

2.1 Tỷ lệ người nghiện rượu

Nghiện rượu là một bệnh phổ biến, chiếm 1-10% dân số. Các nghiên cứu ở Việt Nam cho thấy số người nghiện rượu ở thành thị là 4% và ở nông thôn là 3% dân số.

2.2 Giới

Tỷ lệ nữ/nam bị nghiện rượu giao động từ 1/8 đến 1/4. Trong thực tế lâm sàng, hầu hết các bệnh nhân nghiện rượu là nam. Ở Việt Nam, nữ chỉ chiếm chừng 10% số người nghiện rượu, số bệnh nhân nữ phải điều trị nghiện rượu trong bệnh viện là rất hiếm.

2.3 Nghề nghiệp

Nghề nghiệp là môi trường ảnh hưởng đến nghiện rượu. Có 3 loại nghề nghiệp liên quan đến nghiện rượu là nông dân với môi trường nông thôn, tầng lớp công nhân lao động chân tay, nặng nhọc và những người tiếp xúc với công chúng nhiều như bồi bàn, giới kinh doanh.

Ở Việt Nam, có đến 80% số người nghiện rượu làm những nghề lao động nặng nhọc như thợ xây, thợ mộc, thợ rèn, nhưng có đến 32,5% số người này thất nghiệp tại thời điểm nghiên cứu.

2.4 Trình độ học vấn

Người có học vấn thấp có tỷ lệ nghiện rượu cao hơn người có học vấn cao. Ở Việt Nam, theo Trần Viết Nghị (1996), có đến 80,6% số người nghiện rượu chưa tốt nghiệp phổ thông trung học.

Môi trường làm việc nặng nhọc, sự thiếu hiểu biết và sự phổ biến của quan niệm sai lầm trong dân chúng cho rượu là thuốc bổ, giúp nhanh chóng phục hồi sức khỏe… đã tạo diều kiện thuận lợi cho phát sinh, phát triển nghiện rượu.

2.5 Thời gian uống rượu

Đa số các tác giả đều cho rằng phải uống rượu trên 10 năm mới trở thành nghiện rượu, chỉ một số ít bệnh nhân uống trên 5 năm đã trở thành nghiện rượu. Những bệnh nhân này phải uống một lượng rượu rất lớn mỗi ngày (700-1000ml rượu 40 độ cồn). Nhìn chung, tỷ lệ người nghiện rượu có thời gian uống rượu dưới 5 năm chỉ chiếm 10% số trường hợp. Tỷ lệ cao nhất là nhóm uống rượu từ 10 đến 15 năm, chiếm 60%, còn nhóm bệnh nhân uống rượu 15-20 năm chiếm 30%.

3. Biểu hiện lâm sàng

3.1 Giai đoạn 1

Giai đoạn này bệnh nhân chưa thực sự trở thành nghiện rượu do không có hội chứng cai khi ngừng uống rượu. Bệnh nhân thích uống rượu và uống ngày càng nhiều. Nếu không uống rượu, bệnh nhân thấy thèm và nhớ rượu. Khả năng dung nạp với rượu của bệnh nhân tăng lên nhanh chóng, họ có thể uống 500 ml rượu 40 độ cồn mỗi ngày.

Bệnh nhân mất phẩn xạ nôn khi uống rượu, thay đổi tính tình và dần trở thành độc ác, hay nổi cáu vô cớ, hay quấy nhiễu và đa nghi. Bệnh nhân hay quên, mất ngủ, chú ý và trí nhớ kém, hay mệt mỏi, khả năng lao động giảm sút. Giai đoạn này thường kéo dài 5-10 năm. Nếu bệnh nhân tiếp tục uống rượu thì sẽ chuyển sang giai đoạn 2 của nghiện rượu.

3.2 Giai đoạn 2

Trong giai đoạn này, bệnh nhân đã thực sự trở thành nghiện rượu. Bệnh nhân luôn trong tình trạng thèm rượu bắt buộc và không thể kiềm chế. Họ có thể uống rượu bất kỳ lúc nào. Cứ sau một khoảng thời gian nhất định, bệnh nhân lại phải uống rượu để giảm cơn thèm rượu. Quãng thời gian này ngày càng ngắn lại.

Nếu không được uống rượu, bệnh nhân sẽ có hội chứng cai rượu. Hội chứng cai rượu xuất hiện khi nồng độ cồn trong máu giảm xuống. Vì thế hội chứng cai rượu hay xuất hiện vào buổi sáng, sau một đêm không được uống rượu. Để ngăn hội chứng cai rượu, bệnh nhân phải uống rượu buổi sáng, ngay sau khi ngủ dậy.

Bệnh nhân thường có khí sắc giảm, buồn rầu, dễ bực tức, giận dữ, độc ác và đa nghi. Bệnh nhân cũng có triệu chứng sợ hãi vô cớ, tự buộc tội mình, có thể cáo ảo thính, ảo thị giác, giấc ngủ không sâu đầy mộng mị.

Hội chứng cai rượu biểu hiên bởi các triệu chứng run tay, nôn, buồn nôn, mất ngủ, rối loạn thần kinh thực vật, kích động, lo lắng vô cớ, hoang tưởng và ảo giác, cơn co giật kiểu động kinh.

Khả năng dung nạp rượu tăng cao đến cực điểm và duy trì hàng năm, bệnh nhân uống từ 1500 đến 2000ml rượu 40 độ cồn mỗi ngày và triền miên trong trạng thái say rượu. Giai đoạn này thường kéo dài 5-10 năm.

3.3 Giai đoạn 3

Triệu chứng thèm rượu của bệnh nhân có khuynh hướng giảm đi, bớt lè nhè và bớt quấy rối hơn trước. Khả năng dung nạp rượu của bệnh nhân kém đi, họ chỉ uống được 150-200ml rượu mạnh đã say và say lâu hơn trước.

Hội chứng cai rượu ở giai đoạn này kéo dài hơn, các triệu chứng rối loạn thần kinh thực vật như mạnh nhanh, huyết áp cao giao động, ra nhiều mồ hôi trầm trọng hơn giai đoạn trước.

Giai đoạn này, bệnh nhân có các bệnh não thực tổn do nghiện rượu mạn tính gây ra, đó là bệnh Korsakov, bệnh viêm não Wernicke và mất trí do rượu.

Bằng phương pháp chụp CT Scanner và MRI sọ não, người ta phát hiện hình ảnh teo não như giãn rộng não thất, tăng khoảng cách từ xương sọ đến bề mặt não, khe giữa các cuận não giãn rộng trên 2/3 số bệnh nhân. Hình ảnh này bền vững nửa năm sau khi cai rượu. Nếu bệnh nhân cai rượu lâu hơn thì hình ảnh giãn não thất mất dần. Nguyên nhân teo não còn được cho là rượu ảnh hưởng đến chức năng gan, gây giảm glucoza và các acid amin trong máu đến nuôi não. Như vậy, teo não do rượu vừa là hậu quả trực tiếp của rượu trên não và hậu quả gián tiếp rượu trên gan.

4. Hội chứng cai rượu

Hội chứng cai rượu xuất hiện ở người nghiện rượu nhưng đã ngừng uống đột ngột hoặc giảm đáng kể lượng rượu uống hàng ngày.

4.1 Lý do ngừng uống rượu

- Bệnh nội khoa: chiếm 75% các lý do gây ngừng uống rượu ở bệnh nhân nghiện rượu. Các bệnh hay gặp là nhiễm trùng, cao huyết áp, loét dạ dày, tá tràng, viêm gan, xơ gan, viêm cầu thận mạn...

- Bệnh ngoại khoa: chiếm 20% số trường hợp cai rượu. Đó là các chấn thương, các bệnh đòi hỏi phải vào viện phẫu thuật như đau ruột thừa, viêm tụy cấp...

- Tự cai: Chỉ chiếm 5% số trường hợp cai rượu.

4.2 Triệu chứng của hội chứng cai rượu

- Thèm rượu mãnh liệt. Đây là triệu chứng bắt buộc có ở tất cả các bệnh nhân cai rượu. Bệnh nhân thèm rượu đến mức mọi suy nghĩ và hành động chỉ tập chung vào việc sao cho có rượu uống để giảm bớt cơn thèm rượu.

- Run tay chân: Triệu chứng này xuất hiện rất sớm sau khi ngừng uống rượu chứng 2-3 giờ. Bệnh nhân run tay biên độ nhỏ, đi đứng loạng choạng. Họ không làm được các nghiệm pháp giữ thăng bằng. Run có thể xuất hiện ở miệng, ở mặt của bệnh nhân.

- Ăn ít, nôn, buồn nôn: Bệnh nhân luôn trong tình trạng chán ăn, thậm chí không ăn gì. Bệnh nhân có cảm giác buồn nôn, nôn khan hoặc nôn hết thức ăn vừa ăn được.

- Mất ngủ: Đây là triệu chứng rất hay gặp trong cai rượu. Mất ngủ xuất hiện vào tối đầu tiên sau khi cai rượu. Bệnh nhân rất khó vào giấc ngủ, ngủ không sâu và đầy ác mộng. Giấc ngủ của bệnh nhân rất ngắn, họ hay thức giấc giữa chừng và cảm thấy rất mệt mỏi sau khi thức dậy. Mất ngủ tăng dần và đạt đến đỉnh vào ngày thứ 3 đến thứ 5 sau cai rượu, khi đó bệnh nhân có thể mất ngủ hoàn toàn.

- Rối loạn thần kinh thực vật: Bệnh nhân có mạch nhanh trên 100 lần/phút. Mồ hôi của bệnh nhân ra như tắm mặc dù thời tiết không nóng. Kèm theo, bệnh nhân có huyết áp cao và huyết áp tối đa có thể đạt tới 180-200 mmHg. Tuy nhiên, huyết áp không cao thường xuyên mà giao động, lúc cao, lúc về bình thường. Thân nhiệt của bệnh nhân có thể tăng tới 38-39 độ C do run cơ và gây ra tình trạng mất nước, mất điện giải.

- Lo lắng quá mức: Bệnh nhân lo lắng nhiều vào ngày thứ 2 của cai rượu. Họ lo lắng mơ hồ điều gì không lành sẽ xảy ra với họ. Bệnh nhân có lú lẫn, tăng lên về buổi tối.

- Kích động tâm thần vận động: Bệnh nhân la hét, chửi bới, đạp phá đồ đạc, đánh vợ, con... để có tiền uống rượu.

- Hoang tưởng và ảo giác: Triệu chứng này xuất hiện ở ngày thứ 3 đến thứ 5 của cai rượu. Khoảng 85% số bệnh nhân cai rượu sẽ có ảo thanh thật, là các tiếng người không có thật, nhưng bệnh nhân nghe thấy rất rõ ràng, vọng từ ngoài môi trường vào đầu bệnh nhân. Nội dung của ảo thanh thường là tiếng chửi rủa khiến bệnh nhân rất hoảng sợ.

Bệnh nhân cũng có thể có ảo thị, là các hình ảnh không có thật như nhìn thấy các động vật nhỏ (chim, chuột, côn trùng) hoặc các hình ảnh rất ghê rợn mà bệnh nhân cho là nhìn thấy ma quỷ.

Khoảng 65% số bệnh nhân cai rượu là có hoang tưởng. Hoang tưởng ở các bệnh nhân này thường là hoang tưởng ghen tuông, hoang tưởng bị hại.

- Cơn co giật kiểu động kinh: Đây là triệu chứng trầm trọng nhất của hội chứng cai rượu. Bệnh nhân có các cơn co giật xuất hiện theo thứ tự co cứng, co giật, doãi mềm và hôn mê ngắn. Cơn co giật hay xuất hiện ở ngày thứ 3 đến thứ 5 của cai rượu, nó xuất hiện khi hội chứng cai đạt đến đỉnh điểm và báo hiệu bệnh nhân sắp vào sảng rượu.

4.3 Tiêu chuẩn chẩn đoán hội chứng cai rượu theo DSM-5

A. Ngừng hoặc giảm đáng kể lượng rượu uống khi đang sử dụng rượu liều cao và kéo dài.

B. Có ít nhất 2 tiêu chuẩn dưới đây xảy ra sau tiêu chuẩn A vài giờ đến vài ngày.

- Tăng hoạt động tự động.

- Run tay.

- Mất ngủ.

- Nôn, buồn nôn.

- Lo âu quá mức.

- Kích động tâm thần vận động.

- Ảo thị giác, ảo thanh, hoặc hoang tưởng.

- Cơn co giật kiểu động kinh.

C. Các triệu chứng ở tiêu chuẩn B gây suy giảm rõ rệt các chức năng xã hội, nghề nghiệp hoặc các lĩnh vực quan trọng khác.

D. Các triệu chứng này không do một bệnh thực tổn và một bệnh rối loạn tâm thần khác gây ra.

5. Điều trị nghiện rượu

5.1 Phương pháp dùng thuốc bình thần

Bệnh nhân nghiện rượu sẽ được đưa vào bệnh khoa tâm thần, điều trị nội trú. Tại đây, bệnh nhân bị bắt buộc ngừng uống rượu đột ngột và được dùng thuốc điều trị ngay, giống như điều trị hội chứng cai rượu ở trên.

5.2 Phương pháp dùng naltrexone

Rượu vào cơ thể được chuyển hóa qua nhiều giai đoạn với nhiều chất chung gian chuyển hóa khác nhau. Một trong những sản phẩm chuyển hóa dở dang của rượu là acetaldehyd. Chất này liên kết với monoamin ở não để tạo thành tetraisoquinolin. Đây chính là chất có tác dụng giống morphin, vì thế khi chúng gắn lên các thụ cảm thể morphin trong não sẽ tạo ra sảng khoái cho bệnh nhân. Chính các cảm giác sảng khoái do chất này tạo ra khiến bệnh nhân thích uống rượu, uống ngày càng thường xuyên và số lượng ngày càng tăng. Khi chúng ta dùng naltrexon điều trị cho bệnh nhân nghiện rượu, các thụ cảm thể morphin trên não sẽ bị naltrexon ức chế. Chất tetraisoquinolin không tác dụng được lên các thụ cảm thể morphin nữa, do vậy bệnh nhân sẽ không còn cảm giác sảng khoái khi uống rượu. Do cảm giác sảng khoái khi uống rượu không còn nữa nên sự thèm muốn uống rượu của bệnh nhân sẽ giảm dần và có thể mất hoàn toàn.

Diễn biến điều trị nghiện rượu của naltrexon (natrex, nodict, reVia) như sau:

- Sau 1 tháng điều trị, bệnh nhân giảm được 50% lượng rượu uống mỗi ngày (ví dụ trước đây uống mỗi ngày 1 lít rượu 40 độ cồn thì sau 1 tháng chỉ còn uống được 500 ml rượu cùng loại mỗi ngày).

- Sau 2 tháng điều trị, bệnh nhân giảm được 70% số lượng rượu uống mỗi ngày (chỉ còn uống được 300 ml rượu 40 độ cồn mỗi ngày).

- Sau 3 tháng điều trị, bệnh nhân căn bản kiểm soát được hành vi uống rượu của mình, có thể bỏ rượu hoàn toàn.

Tuy nhiên, bệnh nhân cần được uống thuốc điều trị củng cố tiếp tục trong ít nhất 2 năm tiếp theo.

Liều dùng: Naltrexon 50 mg x 1 viên/ngày, uống buổi sáng.

Ưu điểm của phương pháp cai rượu bằng naltrexon

- Bệnh nhân không phải ngừng rượu đột ngột (uống thuốc khi bệnh nhân vẫn đang uống rượu), do đó sẽ không có hội chứng cai rượu.

- Do không có hội chứng cai rượu nên có thể điều trị ngoại trú.

- Lượng rượu uống hàng ngày giảm từ từ, bệnh nhân sẽ dễ chấp nhận hơn.

- Có thể uống rượu (khi bắt buộc), mà không sợ bị các phản ứng khó chịu như đối với esperal.

Nhược điểm của phương pháp này là:

- Thời gian cai rượu kéo dài, không có lợi cho bệnh nhân đã có biểu hiện suy gan, thận, cao huyết áp, các bệnh não do rượu...

- Khó cai rượu tuyệt đối do bệnh nhân vẫn có thể uống được một lượng rượu nhỏ, hiệu quả không cao như dùng esperal.

- Giá thành đắt hơn nhiều so với esperal.

Áp dụng cụ thể cho từng trường hợp

- Bệnh nhân nghiện rượu đã có tổn thương chức năng gan, thận, cao huyết áp, xuất huyết tiêu hóa... cần phải điều trị nội trú, cắt cơn cai rượu bằng seduxen và vitamin B1. Sau đó điều trị củng cố bằng esperal.

- Bệnh nhân lạm dụng rượu, nghiện rượu nhưng thể trạng chung còn tốt, chưa tổn thương gan thận và các bệnh thực tổn như đã nêu trên, có thể điều trị ngoại trú bằng naltrexon.

6. Loạn thần do rượu

Loạn thần do rượu bao gồm tất cả các rối loạn tâm thần có hoang tưởng hoặc/và ảo giác do rượu gây ra. Các rối loạn này bao gồm ảo giác do rượu, hoang tưởng do rượu, hội chứng cai rượu có hoang tưởng, ảo giác, sảng rượu và bệnh não thực tổn do rượu.

6.1 Ảo giác do rượu

Đặc trưng của ảo giác do rượu là ảo thanh, thường là tiếng người nói xấu, chửi, đe dọa bệnh nhân, xảy ra khi ý thức của bệnh nhân hoàn toàn tỉnh táo. Tiếng nói nghe thấy từ môi trường bên ngoài vọng vào đầu, khiến bệnh nhân rất lo lắng, khó chịu. Khoảng 3/4 số bệnh nhân có ảo thanh kéo dài dưới 6 tháng, 1/4 còn lại ảo thanh kéo dài trên 1 năm nếu không ngừng rượu. Chính vì thế, ảo thanh do rượu dễ bị nhầm với tâm thần phân liệt.

Ảo thanh có thể xuất hiện đơn độc, nhưng cũng có thể phối hợp với ảo thị. Ảo thanh trong hội chứng cai rượu thì lộn xộn và chóng hết, nhưng ảo thanh do uống rượu thì rất bền vững. Khi cai rượu, ảo giác do rượu nặng thêm và xuất hiện thêm các triệu chứng của hội chứng cai rượu. Sau khi hết hội chứng cai (sau khoảng 2 tuần), ý thức bệnh nhân sáng sủa trở lại, nhưng ảo thanh vẫn tồn tại và bền vững trong nhiều tháng.

Ảo thanh chi phối mọi hành vi của bệnh nhân và bệnh nhân mất hết khả năng phê phán với ảo thanh, vì vậy dễ nhầm với tâm thần phân liệt. Các bệnh nhân này cần phải cai rượu, sau khi hết hội chứng cai rượu thì phải điều trị tiếp tục bằng thuốc an thần (haloperidol, olanzapin) thì bệnh nhân mới hết được ảo thanh. Tuy nhiên, ảo thanh sẽ nhanh chóng xuất hiện trở lại nếu bệnh nhân tái nghiện rượu.

Thuốc cụ thể:

1. Haloperidol 1,5mg x 8 viên/ngày (sáng 4 viên, tối 4 viên).

2. Trihex 2mg x 4 viên/ngày (sáng 2 viên, tối 2 viên).

Hoặc

1. Olanzapin 10mg x 1 viên/tối.

Dùng thuốc 3 tháng, bệnh nhân cần phải cai rượu bằng esperal.

6.2 Hoang tưởng do rượu

Đặc trưng của hoang tưởng do rượu là hoang tưởng ghen tuông, hoang tưởng bị hại xuất hiện khi ý thức của bệnh nhân hoàn toàn tỉnh táo. Cũng như ảo thanh do rượu, 3/4 số bệnh nhân có hoang tưởng kéo dài dưới 6 tháng và 1/4 số bệnh nhân hoang tưởng kéo dài hàng năm sau khi cai rượu. Do vậy, hoang tưởng do rượu dễ nhầm với tâm thần phân liệt.

Hoang tưởng ghen tuông xuất hiện ở bệnh nhân sau nhiều năm uống rượu với số lượng lớn. Bệnh nhân cho rằng vợ (hoặc bạn tình) của mình không chung thủy dù không có bằng chứng gì. Họ theo dõi, đánh đập và hành hạ vợ (bạn tình) do bị hoang tưởng chi phối hành vi. Hoang tưởng ghen tuông gắn liền với cuộc sống tình dục nghèo nàn của bệnh nhân. Họ thường bị liệt dương nên khó có khả năng sinh hoạt tình dục. Hơn nữa, vợ của những người nghiện rượu rất ghê tởm, không muốn quan hệ tình dục với họ do vệ sinh cơ thể của bệnh nhân bẩn, luôn trong tình trạng say rượu.

Hoang tưởng bị hại do rượu là bệnh nhân cho rằng có ai hoặc một thế lực nào đó tìm cách hại bệnh nhân, cũng có khi họ cho rằng ma quỷ hại mình. Hoang tưởng bị hại thường đi kèm với ảo giác do rượu tạo thành hội chứng paranoid.

Nói chung, hoang tưởng do rượu rất giống với hoang tưởng do cai rượu, nhưng chúng bền vững và xuất hiện trong tình trạng ý thức sáng sủa, còn hoang tưởng do cai rượu thì lộn xộn và nhanh chóng hết đi cùng với hội chứng cai rượu. Khi cai rượu, hoang tưởng do rượu nặng thêm cùng hội chứng cai. Trong thời gian hội chứng cai, bệnh nhân có thêm ảo thị giác. Khi hội chứng cai hết, ý thức bệnh nhân sáng sủa dần nhưng hoang tưởng vẫn không hết.

Cũng như ảo giác do rượu, để điều trị hoang tưởng do rượu thì cần cai rượu cho bệnh nhân và dùng thuốc an thần (haloperidol, olanzapin). Các triệu chứng này sẽ xuất hiện nhanh chóng khi bệnh nhân tái nghiện rượu.

Thuốc cụ thể:

1. Haloperidol 1,5mg x 8 viên/ngày (sáng 4 viên, tối 4 viên).

2. Trihex 2mg x 4 viên/ngày (sáng 2 viên, tối 2 viên).

Hoặc

1. Olanzapin 10mg x 1 viên/tối.

Dùng thuốc 3 tháng, bệnh nhân cần phải cai rượu bằng esperal.

6.3 Sảng rượu

Sảng rượu là một cấp cứu tâm thần tối khẩn cấp, phát triển trên nền một hội chứng cai rượu nặng. Nếu không được điều trị kịp thời và đúng cách, tỷ lệ tử vong của sảng rượu là 22-33%.

6.3.1 Triệu chứng của sảng rượu

Sảng rượu có khởi phát đột ngột, cấp tính trong khoảng thời gian từ một đến vài ngày sau khi ngừng uống rượu. Biểu hiện ban đầu của sảng rượu là bệnh nhân mất ngủ, chếnh choáng, run lẩy bẩy, rối loạn thần kinh thực vật (đỏ da, mạch nhanh, ra nhiều mồ hôi, đánh trống ngực, lo lắng, sợ hãi). Quãng thời gian từ lúc ngừng rượu cho đến khi có sảng rượu là khác nhau, cũng có thể từ 1-2 ngày, nhưng có trường hợp phải sau 3-4 ngày. Sảng rượu bao gồm 3 triệu chứng chính sau:

- Mất ngủ hoàn toàn.

- Rối loạn ý thức.

- Hoang tưởng và ảo giác rất rầm rộ.

Các triệu chứng của sảng rượu thường tăng lên về chiều tối và giảm đi vào buổi sáng.

6.3.2 Tiêu chuẩn chẩn đoán sảng rượu theo DSM -5

A. Rối loạn ý thức cùng với giảm sự tập trung chú ý. Sự chú ý luôn giao động.

B. Rối loạn nhận thức: giảm trí nhớ, rối loạn định hướng, rối loạn ngôn ngữ hoặc rối loạn khả năng quan sát.

C. Các rối loạn này xuất hiện cấp tính (trong vài giờ đến vài ngày) và tiến triển có khuynh hướng giao động trong ngày.

D. Có bằng chứng về một hội chứng cai rượu.

6.3.3 Điều trị sảng rượu

Sảng rượu cần được điều trị tại phòng cấp cứu của khoa tâm thần, có bình ô xy, máy hút và các thiết bị cấp cứu khác. Cần tiến hành ngay các bước sau:

- Cố định bệnh nhân tại giường.

- Cho ngửi bông cồn hoặc cho uống rượu vang (50 ml rượu 10 độ cồn mỗi lần, ngày 3 lần) để làm giảm nhẹ các triệu chứng của sảng rượu.

- Chế độ hộ lý cấp 1.

- Hút đờm rãi (nếu cần), thở ô xy.

- Làm các xét nghiệm huyết học, chức năng gan, thận, đặc biệt là đường máu.

- Dùng thuốc:

1. Seduxen 10 mg x 2 ống/ngày, tiêm bắp sáng 1 ống, tối 1 ống.

2. Vitamin B1 0,1 x 2 ống/ngày, tiêm bắp sáng 1 ống, tối 1 ống.

3. Ringer lactat 500 ml x 2 chai, truyền tĩnh mạch 40 giọt/phút.

4. Piracetam 1 g x 4 ống/ngày, tiêm tĩnh mạch chậm.

Dùng thuốc 5 ngày. Sau thời gian 5 ngày điều trị, bệnh nhân sẽ hết sảng và hết hội chứng cai rượu. Sau đó chuyển sang đơn thuốc sau:

1. Olanzapin 10 mg x 1 viên/ngày, uống tối.

2. Amitriptylin 25 mg x 4 viên/ngày, sáng 2 viên, tối 2 viên.

Uống đơn trên 2 tuần, sau đó chuyển sang điều trị chống tái nghiện rượu như sau:

1. Esperal (disulfiram) 500 mg x 1/2 viên/ngày, uống buổi sáng. Nên bắt đầu uống thuốc này 2-3 ngày trước khi ra viện. Thời gian uống thuốc tối thiểu 2 năm để tránh tái nghiện.

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

1. American Psychiatric Association. Diagnostic and Statistical Manual of Mental Disorders, 5th Ed., DSM-5, 2013, pp 156-170.

2. Ngô Ngọc Tản, Nguyễn Văn Ngân (chủ biên). Bệnh học tâm thần, NXB QĐND, 2005, tr. 175-214.

3. Bùi Quang Huy. Trầm cảm, NXB Y học, 2008.

QUY TRÌNH CAI NGHIỆN MA TÚY TẠI CÁC CƠ SỞ CAI NGHIỆN MA TÚY

Quy trình cai nghiện ma túy

QUY TRÌNH CAI NGHIỆN MA TÚY

TẠI CÁC CƠ SỞ CAI NGHIỆN MA TÚY

(Ban hành kèm theo Quyết định số 1565/QĐ‑BCA ngày 08 tháng 3 năm 2025 của Bộ trưởng Bộ Công an)

Quy trình cai nghiện ma túy tại các cơ sở cai nghiện ma túy gồm các giai đoạn sau:

  1. Tiếp nhận, phân loại;
  2. Điều trị cắt cơn, giải độc, điều trị rối loạn tâm thần, điều trị các bệnh lý khác;
  3. Giáo dục, tư vấn phục hồi hành vi, nhân cách;
  4. Lao động trị liệu, học nghề;
  5. Chuẩn bị tái hoà nhập cộng đồng.

I. NỘI DUNG CỤ THỂ CỦA CÁC GIAI ĐOẠN

Giai đoạn 1: Tiếp nhận, phân loại

1. Thời gian thực hiện: 01 ‑ 02 ngày, kể từ khi tiếp nhận người cai nghiện ma túy vào cơ sở cai nghiện ma túy.

2. Phân công thực hiện: Tổ Tham mưu, tổng hợp; Tổ Quản lý học viên và Giáo dục, dạy nghề; Tổ Y tế.

3. Nội dung và biện pháp thực hiện:

3.1. Thực hiện các thủ tục tiếp nhận người cai nghiện ma túy theo nội quy của Cơ sở cai nghiện ma túy.
Tổ Tham mưu, tổng hợp thực hiện các nội dung sau: Tiếp nhận, kiểm tra hồ sơ của người cai nghiện ma túy (quyết định, sơ yếu lý lịch, giấy tờ tùy thân...), đối chiếu người với các thông tin trong hồ sơ để đảm bảo đúng người cai nghiện ma túy và lập hồ sơ người cai nghiện ma túy để lưu trữ tại Tổ Tham mưu, tổng hợp.

‑ Đối với người vào cai nghiện bắt buộc, hồ sơ tiếp nhận gồm có: (i) Quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc của Tòa án nhân dân cấp huyện; (ii) Bản sao tóm tắt lý lịch của người bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc do cơ quan lập hồ sơ cung cấp (Mẫu số 30, Nghị định số 116/2021/NĐ‑CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống ma túy, Luật Xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy).

‑ Đối với người vào cai nghiện ma túy tự nguyện, hồ sơ tiếp nhận gồm có: (i) 01 bản đăng ký tự nguyện cai nghiện (Mẫu số 22, Nghị định 116); (ii) 01 bản phô tô giấy tờ tùy thân (Căn cước công dân, Hộ chiếu hoặc Giấy khai sinh); (iii) Hợp đồng dịch vụ cai nghiện ma túy (Mẫu số 28, Nghị định 116).

3.2. Thu thập thông tin cá nhân của người cai nghiện ma túy để tư vấn xây dựng kế hoạch cai nghiện ma túy, gồm: độ tuổi, giới tính, tình trạng sức khỏe, loại ma túy sử dụng, mức độ sử dụng, trình độ học vấn, nghề nghiệp và các vấn đề khác về bản thân, gia đình người cai nghiện ma túy.
Tổ Y tế phối hợp với Tổ Quản lý học viên và Giáo dục, dạy nghề thực hiện thu thập thông tin của người cai nghiện ma túy (Mẫu số 19, Nghị định 116).

3.3. Thông tin về phương pháp, chương trình cai nghiện ma túy; tư vấn, giải đáp các thắc mắc cho người cai nghiện ma túy:
‑ Tổ Quản lý học viên và Giáo dục, dạy nghề thực hiện các nội dung sau:
+ Kiểm tra người (nam kiểm tra nam, nữ kiểm tra nữ), đồ dùng cá nhân; lưu trữ tài sản cá nhân (nếu có) theo quy định và cấp phát đồ dùng, tư trang cá nhân theo chế độ của người cai nghiện ma túy, chụp ảnh hoàn thiện hồ sơ.
+ Lập Biên bản giao, nhận ghi rõ tình trạng sức khỏe; số lượng tài liệu, hồ sơ; tư trang, đồ dùng cá nhân của người bị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc (theo Mẫu số 40, Nghị định 116).
+ Phổ biến sơ bộ nội quy của cơ sở cai nghiện ma túy.
+ Xếp phòng, phân khu người cai nghiện ma túy theo từng nhóm: nam; nữ; nhân thân tốt, mới nghiện ma túy; có tiền án, tiền sự; nghiện lâu năm, tái nghiện; bệnh truyền nhiễm.
+ Thông báo bằng văn bản cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện khi người cai nghiện ma túy sử dụng dịch vụ hoặc tự ý chấm dứt việc sử dụng dịch vụ tại cơ sở cai nghiện ma túy.
‑ Tổ Y tế thực hiện các nội dung sau:
+ Tư vấn cho người cai nghiện ma túy, gia đình người cai nghiện ma túy về phương pháp cai nghiện, vai trò, trách nhiệm của gia đình để động viên người thân họ sẵn sàng cai nghiện.
+ Tư vấn các biểu hiện của hội chứng cai khi cắt cơn, diễn biến biểu hiện tâm lý trong các giai đoạn, những nguy cơ có thể xảy ra tai biến. Căn cứ kết quả thu thập thông tin có thể phát hiện sớm các bệnh lý đi kèm, tư vấn thuốc hỗ trợ điều trị từng giai đoạn.

3.4. Phân loại đối tượng và tư vấn xây dựng kế hoạch cai nghiện ma túy:
‑ Tổ Quản lý học viên và Giáo dục, dạy nghề thực hiện các nội dung sau:
+ Phân loại đối tượng và tư vấn xây dựng kế hoạch cai nghiện ma túy (theo Mẫu số 20, Nghị định 116).
+ Việc xây dựng kế hoạch cai nghiện ma túy phải phù hợp với độ tuổi; giới tính; trình độ nhận thức; tình trạng sức khỏe, bệnh lý; loại ma túy sử dụng, thời gian sử dụng ma túy… của từng người cai nghiện ma túy, phải đảm bảo sự thống nhất và xuyên suốt trong quá trình cai nghiện phục hồi.
+ Kết thúc quy trình tiếp nhận, phân loại và đưa người cai nghiện ma túy về khu cắt cơn, giải độc, điều trị rối loạn tâm thần, điều trị các bệnh lý khác.

* Lưu ý:
‑ Đối với người nghiện trong thời gian làm thủ tục đề nghị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, hồ sơ tiếp nhận gồm: (i) Quyết định quản lý (Mẫu số 36, Nghị định 116); (ii) Lý lịch tóm tắt của đối tượng có xác nhận của cơ quan lập hồ sơ (Mẫu số 30, Nghị định 116); (iii) Biên bản giao nhận (Mẫu số 37, Nghị định 116).
‑ Đối với người bị tạm giữ theo thủ tục hành chính để đề nghị xác định tình trạng nghiện ma túy, hồ sơ gồm: (i) Giấy đề nghị xác định tình trạng nghiện ma túy; (ii) Bản sao phiếu kết quả xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể; (iii) Bản tóm tắt lý lịch; (iv) Bản sao quyết định tạm giữ người theo thủ tục hành chính; (v) Bệnh án theo quy định của pháp luật về khám chữa bệnh… (theo khoản 1 Điều 5 Nghị định 109/2021/NĐ‑CP ngày 08/12/2021 của Chính phủ quy định cơ sở y tế đủ điều kiện xác định tình trạng nghiện ma túy và hồ sơ, trình tự, thủ tục xác định tình trạng nghiện ma túy).

Giai đoạn 2: Điều trị cắt cơn, giải độc, điều trị rối loạn tâm thần, điều trị các bệnh lý khác

1. Thời gian thực hiện: từ 10 đến 20 ngày (tùy thuộc vào tình trạng sức khỏe và thời gian sử dụng, loại ma túy sử dụng, liều lượng ma túy để có thời gian điều trị thích hợp).

2. Phân công thực hiện: Tổ Y tế phụ trách chuyên môn; Tổ Quản lý học viên và Giáo dục, dạy nghề phụ trách quản lý người cai nghiện ma túy.

3. Nội dung và phương pháp thực hiện:

3.1. Khám, xây dựng bệnh án đối với người cai nghiện ma túy (theo Phụ lục 1 kèm theo Quyết định này); chú ý các dấu hiệu rối loạn tâm thần, bệnh nhiễm trùng cơ hội.
‑ Khám, hoàn thiện bệnh án đối với người cai nghiện ma túy; chú ý các dấu hiệu rối loạn tâm thần, bệnh nhiễm trùng cơ hội, bệnh truyền nhiễm. Hàng ngày cán bộ y tế khám, ra y lệnh về thuốc, chế độ chăm sóc, theo dõi, ăn uống và ghi diễn biến vào bệnh án điều trị đối với người cai nghiện ma túy phải tuân thủ theo quy định. Căn cứ vào kết quả khám và thu thập thông tin có thể chỉ định xét nghiệm (nếu cần) để phát hiện sớm các bệnh lý đi kèm.
‑ Dự đoán các biểu hiện, triệu chứng trong hội chứng cai, trạng thái cai và các biểu hiện rối loạn tâm thần của người cai nghiện ma túy để đưa ra phác đồ cắt cơn giải độc, điều trị các rối loạn tâm thần cho phù hợp theo hướng dẫn của Bộ Y tế.

3.2. Xác định loại ma túy, liều lượng ma túy người nghiện sử dụng để xây dựng phác đồ điều trị cắt cơn, giải độc theo hướng dẫn của Bộ Y tế.
Cán bộ y tế đánh giá tình trạng sức khỏe người cai nghiện ma túy, xác định loại ma túy sử dụng, khai thác về liều lượng, mức độ phụ thuộc để xây dựng phác đồ điều trị theo hướng dẫn chuyên môn của Bộ Y tế ban hành kèm theo Quyết định 2058/QĐ‑BYT ngày 14/5/2020 về hướng dẫn chẩn đoán và điều trị các rối loạn tâm thần thường gặp. Bệnh nhân phải đảm bảo được theo dõi, được giám sát chặt chẽ diễn biến lâm sàng, tâm lý, hành vi và có chế độ hội chẩn thường xuyên.

3.3. Tư vấn tâm lý đối với người cai nghiện ma túy trước khi cắt cơn giải độc.
Tư vấn tâm lý đối với người cai nghiện ma túy trước khi điều trị cắt cơn, giải độc. Nắm bắt, nhận định diễn biến tâm lý người cai nghiện ma túy, các vấn đề người cai nghiện ma túy gặp phải, các bệnh nhiễm trùng cơ hội, bệnh truyền nhiễm để đưa ra các biện pháp tư vấn tâm lý giúp người nghiện yên tâm, giải tỏa tâm lý, giảm bớt áp lực và phối hợp trong điều trị. Việc tư vấn tâm lý cho người nghiện không chỉ thực hiện trước khi điều trị mà cần cả trong giai đoạn hậu cắt cơn để giúp người cai nghiện ma túy nhanh chóng hồi phục.

3.4. Thực hiện phác đồ điều trị theo các quy định, hướng dẫn chuyên môn của Bộ Y tế. Kết hợp sử dụng thuốc với các biện pháp tâm lý và các biện pháp vật lý trị liệu phục hồi chức năng; kết hợp điều trị cắt cơn, giải độc với điều trị rối loạn tâm thần và các bệnh cơ hội khác.
Thực hiện phác đồ điều trị theo các quy định, hướng dẫn chuyên môn của Bộ Y tế, ngoài ra cần lưu ý một số nội dung sau:
‑ Kết hợp sử dụng thuốc với các biện pháp tâm lý và các biện pháp vật lý trị liệu phục hồi chức năng; kết hợp điều trị cắt cơn, giải độc với điều trị rối loạn tâm thần. Tư vấn với gia đình người cai nghiện ma túy về khám và điều trị chuyên khoa đối với các bệnh lý khác (nếu có).
‑ Song song với việc điều trị cắt cơn giải độc cần chú trọng tới việc điều trị các bệnh lý kèm theo (nếu có).
* Lưu ý: Cán bộ y tế thực hiện việc khám, chữa bệnh theo đúng quy trình chuyên môn, phạm vi hoạt động chuyên môn, nếu vượt quá khả năng chuyên môn thì chuyển tuyến theo quy định.

Giai đoạn 3: Giáo dục, tư vấn phục hồi hành vi, nhân cách

1. Thời gian thực hiện: Tập trung vào 03 tháng đầu kể từ ngày người cai nghiện ma túy kết thúc Giai đoạn 2 và duy trì trong suốt quá trình cai nghiện ma túy.

2. Phân công thực hiện: Tổ Quản lý học viên và Giáo dục, dạy nghề.

3. Nội dung và phương pháp thực hiện:

3.1. Tổ chức học nội quy, quy định của cơ sở cai nghiện ma túy; thực hiện chào cờ và học tập đội ngũ, trật tự nội vụ, chính trị, pháp luật, bổ túc văn hóa, kỹ năng sống và chuyên đề phù hợp khác.
(1) Học nội quy, quy định của cơ sở cai nghiện ma túy
Sau khi người cai nghiện ma túy hoàn thành giai đoạn điều trị cắt cơn, giải độc, điều trị rối loạn tâm thần, điều trị các bệnh lý khác sẽ được chuyển về khu quản lý để sinh hoạt, tham gia học nội quy, quy chế của cơ sở cai nghiện ma túy.
Thời gian học: Tối đa 02 ngày; tổ chức thành các lớp.
(2) Thực hiện chào cờ
‑ Tổ chức cho người cai nghiện ma túy học hát Quốc ca và nghi thức Lễ chào cờ Tổ quốc. Việc thực hiện nghi thức Lễ chào cờ Tổ quốc phải đảm bảo tính trang nghiêm và ý nghĩa giáo dục của buổi chào cờ, góp phần xây dựng nền nếp, kỷ luật cho người cai nghiện ma túy trong quá trình cai nghiện. Nghi thức Lễ chào cờ Tổ quốc bảo đảm thực hiện mỗi tuần/01 lần vào sáng thứ Hai; số lượng tổ người cai nghiện ma túy (gọi tắt là tổ) thực hiện chào cờ mỗi lần do Trưởng Cơ sở cai nghiện ma túy quyết định.
‑ Trách nhiệm các bộ phận: Tổ Quản lý học viên và Giáo dục, dạy nghề chịu trách nhiệm điều hành chung, đảm bảo trật tự, kỷ luật, kiểm tra trang phục, đội hình. Tổ Tham mưu, tổng hợp chuẩn bị âm thanh, ánh sáng, treo cờ đúng quy định. Tổ Y tế theo dõi, đảm bảo sức khỏe của người cai nghiện ma túy tham gia chào cờ.
‑ Phòng Công tác chính trị và Phòng Cảnh sát cơ động cử cán bộ phối hợp với Tổ Quản lý học viên và Giáo dục, dạy nghề hướng dẫn hát Quốc ca và luyện tập thực hiện nghi thức Lễ chào cờ Tổ quốc cho người cai nghiện ma túy.
(3) Học tập đội ngũ và trật tự nội vụ
‑ Học tập đội ngũ, trật tự nội vụ nhằm giúp người cai nghiện ma túy nắm vững các động tác cơ bản, rèn luyện tính kỷ luật và tinh thần tập thể, xây dựng tác phong nhanh nhẹn, nghiêm túc và tạo thói quen sinh hoạt có tổ chức, nền nếp.
‑ Khóa học cơ bản được thực hiện trong 2 tuần với 10 buổi học, mỗi buổi 90 phút. Mỗi lớp học do một cán bộ phụ trách chính và một cán bộ trợ giảng đảm nhiệm.
‑ Nội dung chương trình: Tuần 1 học tập đội ngũ, bao gồm: tư thế nghiêm, nghỉ, các động tác quay người, đi đều, đứng lại, đổi chân và chào khi đứng, chào khi đi. Tuần 2 học tập đội ngũ, trật tự nội vụ, bao gồm: tập hợp hàng ngang, hàng dọc, di chuyển theo đội hình; trật tự nội vụ của cá nhân trong phòng ở.
‑ Phòng Công tác chính trị và Phòng Cảnh sát cơ động cử cán bộ huấn luyện đội ngũ, trật tự nội vụ cho người cai nghiện ma túy.
(4) Học chính trị
‑ Học chính trị được thực hiện nhằm nâng cao nhận thức về đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, hiểu rõ chính sách phòng, chống ma túy, xây dựng niềm tin, ý thức trách nhiệm với bản thân và xã hội, đồng thời trang bị kiến thức cơ bản về lịch sử, văn hóa dân tộc. Nội dung học tập phải đảm bảo tính thiết thực, dễ hiểu, phương pháp sinh động và phù hợp với đối tượng, đồng thời đảm bảo tính hiệu quả và thiết thực trong việc giáo dục, cải tạo người cai nghiện ma túy.
‑ Khóa học được tổ chức trong thời gian 5 tuần với 10 buổi học, mỗi buổi 120 phút, thực hiện 2 buổi/tuần. Mỗi lớp học có sĩ số từ 15 người cai nghiện ma túy trở lên. Giảng viên là cán bộ trung tâm chính trị hoặc giảng viên được mời có chuyên môn phù hợp.
‑ Nội dung chương trình gồm ba phần chính. Phần thứ nhất về lịch sử dân tộc (3 buổi) gồm các chuyên đề: Lịch sử Việt Nam và các mốc son: Thành lập Nước năm 1945; Chiến thắng Điện Biên Phủ và ý nghĩa lịch sử; Thống nhất đất nước và công cuộc đổi mới. Phần thứ hai về đường lối của Đảng (4 buổi) bao gồm: Chủ trương phát triển kinh tế ‑ xã hội; chính sách an sinh xã hội; đường lối phòng chống tệ nạn xã hội; chính sách phòng chống ma túy. Phần thứ ba về văn hóa và đạo đức (3 buổi) gồm: Giá trị văn hóa truyền thống, đạo đức và lối sống.
‑ Cơ sở cai nghiện có thể ký kết hợp đồng hoặc có quy chế phối hợp với trung tâm giáo dục chính trị trên địa bàn tổ chức.
(5) Học pháp luật
‑ Học pháp luật được thực hiện nhằm giúp người cai nghiện ma túy nắm vững các quy định pháp luật về phòng, chống ma túy, hiểu rõ hậu quả pháp lý của việc sử dụng, mua bán ma túy, trang bị kiến thức pháp luật cơ bản để tái hòa nhập và nâng cao ý thức chấp hành pháp luật sau khi tái hòa nhập cộng đồng. Nội dung học tập phải đảm bảo tính cập nhật, thực tiễn, liên hệ với tình huống cụ thể và dễ áp dụng, đảm bảo tính nghiêm túc, thiết thực và hiệu quả, giúp người cai nghiện ma túy không chỉ hiểu biết pháp luật mà còn có ý thức và kỹ năng tuân thủ pháp luật sau khi tái hòa nhập cộng đồng.
‑ Khóa học được tổ chức trong thời gian 5 tuần với 10 buổi học, mỗi buổi 120 phút, thực hiện 2 buổi/tuần. Mỗi lớp học có sĩ số từ 15 người cai nghiện ma túy trở lên. Giảng viên là cán bộ có chuyên môn và kinh nghiệm giảng dạy, có trợ giảng hỗ trợ thảo luận nhóm.
‑ Nội dung chương trình được chia thành ba phần chính. Phần thứ nhất về pháp luật về ma túy (4 buổi) gồm: Luật Hình sự, Luật Phòng chống ma túy; chế độ cai nghiện bắt buộc và tự nguyện. Phần thứ hai về pháp luật liên quan (3 buổi) bao gồm: Quyền và nghĩa vụ công dân; Luật Hôn nhân gia đình; pháp luật lao động và việc làm. Phần thứ ba về kỹ năng pháp lý (3 buổi) gồm: Kỹ năng phòng tránh vi phạm pháp luật; thủ tục hành chính cơ bản; quyền được trợ giúp pháp lý.
‑ Cơ sở cai nghiện có thể ký kết hợp đồng hoặc có quy chế phối hợp với các cơ sở giáo dục đóng trên địa bàn hoặc các trường Công an nhân dân.
(6) Học kỹ năng sống
‑ Học kỹ năng sống được thực hiện nhằm trang bị cho người cai nghiện ma túy kỹ năng tự quản lý bản thân, phát triển khả năng kiểm soát cảm xúc, xây dựng kỹ năng phòng chống tái nghiện và nâng cao khả năng giao tiếp, hòa nhập. Nội dung học tập phải đảm bảo tính thực hành cao, tập trung vào tình huống thực tế và phù hợp với đặc điểm của người cai nghiện ma túy, tôn trọng cá nhân và tạo môi trường an toàn để người cai nghiện ma túy có thể thực hành và phát triển các kỹ năng cần thiết cho quá trình phục hồi và tái hòa nhập cộng đồng.
‑ Khóa học cơ bản được tổ chức trong thời gian 2‑3 tuần với 5 buổi học, mỗi buổi 120 phút, trong đó thời gian thực hành chiếm 60% tổng thời lượng. Ngoài ra, người cai nghiện ma túy phải duy trì sinh hoạt nhóm hàng tuần trong suốt quá trình cai nghiện. Mỗi lớp học có sĩ số từ 15 người cai nghiện ma túy trở lên, do chuyên gia tâm lý hoặc cán bộ có kinh nghiệm hướng dẫn, có trợ giảng hỗ trợ thực hành.
‑ Nội dung chương trình được chia thành ba phần chính. Phần thứ nhất về kỹ năng tự quản lý (2 buổi) gồm: quản lý thời gian và kế hoạch cá nhân; quản lý cảm xúc và stress. Phần thứ hai về kỹ năng phòng chống tái nghiện (2 buổi) bao gồm: nhận diện và tránh yếu tố kích thích; xây dựng lối sống lành mạnh. Phần thứ ba về kỹ năng xã hội (1 buổi) tập trung vào giao tiếp và quan hệ xã hội.
‑ Về tổ chức thực hiện: Cán bộ Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy thực hiện hoặc các mời các chuyên gia tâm lý, chuyên gia trong lĩnh vực tội phạm giảng dạy. Cơ sở cai nghiện ma túy có thể ký kết hợp đồng hoặc có quy chế phối hợp với các cơ sở giáo dục, các trung tâm có chức năng đào tạo kỹ năng sống.

3.2. Bổ túc văn hóa
‑ Bổ túc văn hóa được thực hiện nhằm xóa mù chữ cho người cai nghiện ma túy chưa biết đọc, biết viết, nâng cao trình độ văn hóa cơ bản, tạo nền tảng cho việc học nghề và tái hòa nhập, phát triển kỹ năng đọc hiểu, tính toán. Nội dung học tập phải phù hợp với trình độ của từng người cai nghiện ma túy, thiết thực, dễ hiểu và tạo hứng thú học tập, góp phần nâng cao hiệu quả cai nghiện và tái hòa nhập cộng đồng.
‑ Tùy thuộc khả năng và điều kiện thực tế, cơ sở cai nghiện ma túy xây dựng chương trình dạy, học cho người cai nghiện ma túy theo chương trình xóa mù chữ tại Thông tư số 33/2021/TT‑BGDĐT ngày 26/11/2021 của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Chương trình xóa mù chữ.
‑ Thời gian học: 03 buổi/tuần, học xen kẽ với các hoạt động khác, duy trì từ 6 đến 12 tháng. Thời gian học được phân bổ vào buổi sáng, buổi chiều và thời gian tự học vào buổi tối.
‑ Về tổ chức thực hiện: do cán bộ Tổ Quản lý học viên và Giáo dục, dạy nghề tham mưu với Trưởng cơ sở cai nghiện ma túy phối hợp với các trường tiểu học, trung học cơ sở trên địa bàn thực hiện.
* Lưu ý:
‑ Trong quá trình thực hiện giai đoạn giáo dục, tư vấn phục hồi hành vi, nhân cách cần tiếp tục điều trị phối hợp các bệnh lý kèm theo (nếu có) theo quy trình, phạm vi hoạt động chuyên môn, nếu vượt quá khả năng chuyên môn thì chuyển tuyến theo quy định (Tổ Y tế phối hợp với Tổ Quản lý học viên và Giáo dục, dạy nghề thực hiện).
‑ Việc đánh giá kết quả học tập dựa trên ba tiêu chí: kiểm tra giữa khóa (30%), bài tập tình huống (30%) và kiểm tra cuối khóa (40%). Lấy kết quả học tập để làm căn cứ đánh giá, phân loại người cai nghiện ma túy.

Giai đoạn 4: Lao động trị liệu, học nghề

1. Thời gian thực hiện: Thực hiện xen kẽ với Giai đoạn 3 và phù hợp với điều kiện thực tế của cơ sở cai nghiện ma túy cho đến khi hoàn thành chương trình cai nghiện.

2. Phân công thực hiện: Tổ Quản lý học viên và Giáo dục, dạy nghề, Tổ Y tế.

3. Nội dung và phương pháp thực hiện:

3.1. Tổ chức các hoạt động lao động trị liệu nhằm giúp người cai nghiện ma túy cải thiện về sức khỏe thể chất, tâm trí, tăng cường ý thức tổ chức, kỷ luật trong lao động, nâng cao tinh thần tự lập và giúp người cai nghiện ma túy nhận thức được giá trị của lao động.
Tổ Quản lý học viên và Giáo dục, dạy nghề thực hiện các nội dung sau:
‑ Tiến hành phân nhóm để tổ chức lao động trị liệu phù hợp với sức khỏe, độ tuổi, giới tính giúp người cai nghiện ma túy hiểu được giá trị của lao động và tìm lại kỹ năng lao động như:
+ Bố trí cho người cai nghiện ma túy tham gia lao động trị liệu thông qua các ngành nghề trồng trọt, chăn nuôi, chăm sóc vườn cây cảnh, vệ sinh khuôn viên cơ sở cai nghiện ma túy hoặc phối hợp với các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp hỗ trợ thiết bị, cung cấp nguyên liệu để gia công những mặt hàng phù hợp với người cai nghiện ma túy tại cơ sở cai nghiện ma túy theo đúng quy định của pháp luật.
+ Theo dõi, đánh giá kết quả học tập, lao động trị liệu để mỗi người cai nghiện ma túy đều hưởng thành quả lao động phù hợp với kết quả lao động trị liệu của bản thân.
‑ Thời gian lao động trị liệu của người cai nghiện ma túy thực hiện theo quy định tại Điều 68 và Điều 74 Nghị định 116.

3.2. Tổ chức các hoạt động hướng nghiệp, dạy nghề phù hợp với điều kiện thực tế tại cơ sở cai nghiện ma túy.
Tổ Quản lý học viên và Giáo dục, dạy nghề thực hiện:
‑ Lập danh sách người cai nghiện ma túy tham gia học nghề căn cứ vào số lượng, sức khỏe, độ tuổi, giới tính, trình độ, thời gian, nguyện vọng của người cai nghiện ma túy.
‑ Cơ sở cai nghiện ma túy tự đào tạo hoặc liên kết với các cơ sở giáo dục nghề nghiệp để đào tạo các nghề: chăn nuôi, trồng trọt, gốm, mộc, xây dựng, cơ khí, ăn uống, khách sạn, xây dựng, điện, sửa chữa ô tô, xe máy…
* Lưu ý: Thời gian học nghề áp dụng cho người cai nghiện ma túy tại cơ sở cai nghiện ma túy còn đủ thời gian cai nghiện từ 03 tháng trở lên.

3.3. Tổ chức khám sức khỏe định kỳ, tiếp tục điều trị phối hợp các bệnh lý kèm theo (nếu có) theo quy trình, phạm vi hoạt động chuyên môn, nếu quá khả năng chuyên môn thì chuyển tuyến theo quy định: Tổ Y tế thực hiện.

Giai đoạn 5: Chuẩn bị tái hoà nhập cộng đồng

1. Thời gian thực hiện: Trước 30 ngày người cai nghiện ma túy hết thời gian cai nghiện ma túy.

2. Phân công thực hiện: Tổ Quản lý học viên và Giáo dục, dạy nghề, Tổ Tham mưu, tổng hợp và Tổ Y tế.

3. Nội dung và phương pháp thực hiện:

3.1. Đánh giá kết quả thực hiện kế hoạch cai nghiện theo các mục tiêu; đánh giá tình trạng sức khỏe thể chất, tâm thần của người cai nghiện ma túy.
‑ Tổ Y tế đánh giá kết quả điều trị y tế và hỗ trợ phục hồi.
‑ Tổ Quản lý học viên và Giáo dục, dạy nghề đánh giá kết quả giáo dục, tư vấn phục hồi hành vi, nhân cách; lao động trị liệu, học nghề; đánh giá, chuẩn bị tái hòa nhập.

3.2. Xác định nơi cư trú của người cai nghiện ma túy để chuẩn bị thực hiện biện pháp quản lý sau cai nghiện ma túy; tư vấn các biện pháp phòng, chống tái nghiện cho người cai nghiện ma túy; kỹ năng từ chối sử dụng ma túy khi tái hoà nhập cộng đồng.
Tổ Tham mưu, tổng hợp thực hiện các nội dung sau:
‑ Xác định nơi cư trú của người cai nghiện ma túy để chuẩn bị thực hiện biện pháp quản lý sau cai nghiện ma túy; chậm nhất là 15 ngày trước khi hết thời gian cai nghiện thì cơ sở cai nghiện ma túy gửi thông báo cho Công an cấp xã nơi lập hồ sơ (Phụ lục số 2 kèm theo Quyết định này), đại diện gia đình (bố, mẹ, vợ hoặc chồng, anh, chị, em ruột), người đại diện theo pháp luật của người từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi biết ngày người cai nghiện ma túy tái hòa nhập cộng đồng.
‑ Cấp giấy xác nhận hoàn thành cai nghiện ma túy tự nguyện cho người cai nghiện ma túy tự nguyện (Mẫu số 26b, Nghị định 116). Cấp giấy chứng nhận đã chấp hành xong quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc cho người bị áp dụng biện pháp đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc (Mẫu số 46, Nghị định 116).
‑ Thực hiện thủ tục thanh lý hợp đồng cai nghiện đối với người cai nghiện ma túy tự nguyện.

* Lưu ý:
‑ Đối với người từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi đã chấp hành xong quyết định mà không có gia đình đến đón thì cơ sở cai nghiện ma túy có trách nhiệm đưa về bàn giao tại gia đình hoặc Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người sau cai nghiện cư trú (Mẫu số 47, Nghị định 116).
‑ Trong trường hợp người sau cai nghiện ốm yếu không có khả năng lao động, không xác định được nơi cư trú; người từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi đã hoàn thành cai nghiện ma túy mà không rõ cha, mẹ, không có nơi nương tựa hoặc không xác định được nơi cư trú thì Trưởng Cơ sở cai nghiện ma túy có trách nhiệm phối hợp với đơn vị chức năng hoàn chỉnh hồ sơ, thủ tục chuyển người chấp hành xong biện pháp cai nghiện bắt buộc vào cơ sở trợ giúp xã hội theo quy định của pháp luật.
‑ Trường hợp người đã hoàn thành cai nghiện không về nơi cư trú, không thông báo cho Công an cấp xã nơi chuyển đến sinh sống thì thời hạn quản lý sau cai sẽ tính từ thời điểm người đó ra trình diện với cấp có thẩm quyền để thực hiện việc quản lý sau cai nghiện ma túy. Công an cấp xã phối hợp với các đơn vị chức năng và gia đình người nghiện ma túy để nắm tình hình, xác minh, làm rõ nơi đối tượng chuyển đến để phối hợp với Công an cấp xã nơi đối tượng đến sinh sống thực hiện việc quản lý sau cai nghiện theo quy định.
‑ Công an cấp xã nơi cư trú của người đã hoàn thành cai nghiện ma túy rà soát, hướng dẫn làm thủ tục cấp các loại giấy tờ cá nhân để người đã hoàn thành cai nghiện có điều kiện thuận lợi tái hoà nhập cộng đồng.

3.3. Cung cấp thông tin về biện pháp quản lý sau cai nghiện tại cộng đồng và các chính sách hỗ trợ tái hoà nhập cộng đồng của nhà nước đối với người sau cai nghiện ma túy; giới thiệu, cung cấp thông tin, địa chỉ dịch vụ công tác xã hội, nhóm sinh hoạt đồng đẳng tại địa phương cho người sau cai nghiện ma túy.
Tổ Quản lý học viên và Giáo dục, dạy nghề thực hiện các nội dung sau:
‑ Hướng dẫn người đã hoàn thành cai nghiện ma túy đến Công an cấp xã trình diện và thực hiện quản lý sau cai nghiện ma túy; chấp hành các quy định trong thời gian bị quản lý sau cai nghiện ma túy.
‑ Tư vấn các chính sách hỗ trợ hoà nhập cộng đồng của Nhà nước đối với người sau cai nghiện ma túy, các mô hình quản lý, hỗ trợ hoà nhập cộng đồng cho người sau cai nghiện ma túy; giới thiệu, cung cấp thông tin, địa chỉ dịch vụ công tác xã hội, nhóm sinh hoạt đồng đẳng tại địa phương cho người sau cai nghiện ma túy.

3.4. Phổ biến chính sách, pháp luật, thông tin về tình hình kinh tế ‑ xã hội, thị trường lao động, tư vấn, giáo dục kỹ năng sống, trợ giúp về tâm lý, hỗ trợ các thủ tục pháp lý nhằm trang bị kiến thức cần thiết, nâng cao khả năng tự giải quyết những khó khăn, vướng mắc của người cai nghiện ma túy.
Tổ Quản lý học viên và Giáo dục, dạy nghề tư vấn cho người cai nghiện ma túy tái hòa nhập cộng đồng gồm: các biện pháp phòng, chống tái nghiện; kỹ năng từ chối sử dụng ma túy khi tái hòa nhập cộng đồng; cung cấp thông tin về tình hình kinh tế ‑ xã hội, thị trường lao động; hướng dẫn, tư vấn, điều trị, dự phòng các bệnh lý (nếu có).

3.5. Hướng dẫn người cai nghiện ma túy xây dựng kế hoạch tái hòa nhập cộng đồng (Mẫu số 21, Nghị định 116).
Tổ Tham mưu, tổng hợp thực hiện nội dung sau:
Kế hoạch cần xác định mục tiêu, nguyện vọng của người cai nghiện ma túy, hoàn cảnh thực tế, sự hỗ trợ của các nguồn lực, năng lực bản thân của người cai nghiện ma túy, chọn việc làm phù hợp với sức khỏe và kỹ năng lao động của bản thân.

III. TỔ CHỨC THỰC HIỆN

1. Căn cứ điều kiện thực tế, Trưởng Cơ sở cai nghiện ma túy ban hành quy trình cụ thể theo quy định tại khoản 1 Điều 27 Nghị định 116; đồng thời phân công nhiệm vụ linh hoạt, phù hợp đảm bảo đáp ứng yêu cầu công tác cai nghiện. Sau mỗi giai đoạn của quy trình cai nghiện cần đánh giá kết quả để xác định người cai nghiện ma túy có đủ điều kiện chuyển sang giai đoạn tiếp theo hay không.

2. Giao Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy hướng dẫn, đôn đốc, định kỳ, đột xuất kiểm tra, đánh giá việc thực hiện quy trình này tại các cơ sở cai nghiện đảm bảo hiệu quả.

3. Trường hợp văn bản viện dẫn tại Quy trình này được sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc ban hành mới thì những nội dung viện dẫn tại Quy trình này được thực hiện theo các văn bản sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc ban hành mới.

4. Quá trình triển khai thực hiện nếu có vướng mắc, đề nghị phản ánh kịp thời về Bộ Công an (qua Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy) để chỉ đạo, hướng dẫn giải quyết./.

Người nghiện ma túy: Tội phạm hay bệnh nhân?

Người nghiện ma túy: Tội phạm hay bệnh nhân?

Thượng tá Lê Quý Minh

Khi người nghiện sử dụng ma túy càng lâu, liều lượng càng tăng thì hậu quả tác hại càng nặng nề. Những tác động của ma túy trên não bộ gây ra những tổn thương tạm thời hoặc vĩnh viễn trên người nghiện, làm người nghiện ma túy suy giảm khả năng phán đoán, phân tích, tổng hợp, xử lý thông tin, khả năng tự chủ.


Trung tướng Nguyễn Văn Long (bìa trái) - Thứ trưởng Bộ Công an và Thiếu tướng Mai Hoàng (giữa) - Giám đốc Công an TP.HCM đến thăm và làm việc tại Trung tâm Điều dưỡng & Cai nghiện ma túy Thanh Đa.

Đồng chí Thượng tá Lê Quý Minh, Hội Cựu CAND TP.HCM đã có buổi trao đổi với Bác sỹ Nguyễn Hữu Khánh Duy, Giám dốc trung tâm cai nghiện ma túy Thanh Đa để làm rõ vấn đề “Người nghiện ma túy là tội phạm hay bệnh nhân?”.

Theo Bác sỹ Nguyễn Hữu Khánh Duy, nghiện ma túy rất khó chữa, đặc tính là dễ tái nghiện. Việc cai nghiện phục hồi cho người nghiện ma túy đòi hỏi phải kiên nhẫn và có kiến thức về cai nghiện ma túy.

Người nghiện ma túy gây ra các hậu quả nặng nề về luật pháp, y tế, xã hội, tài chính, việc làm và ổn định của xã hội. Để sử dụng ma túy người nghiện phải mua bán, tàng trữ, sử dụng, thậm chí phải trộm cắp tiền bạc của gia đình, người thân quen hoặc cướp giật, gây trọng án cho người khác ngoài xã hội, tiếp tay cho bọn buôn bán ma túy, sản xuất, tiêu thụ ma túy thậm chí với khối lượng rất lớn. Tác hại của việc sử dụng ma túy đã được đăng tải nhiều trên các cơ quan truyền thông và báo chí.

Về phương diện bệnh lý, cai nghiện ma túy phải được đánh giá thường xuyên bởi một nhóm cán bộ điều trị gồm các cán bộ quản lý, bác sỹ cai nghiện phục hồi, các nhà giáo dục, hướng nghiệp, các nhà tư vấn - tâm lý - xã hội học…

Khi người nghiện sử dụng ma túy càng lâu, liều lượng càng tăng thì hậu quả tác hại càng nặng nề. Những tác động của ma túy trên não bộ gây ra những tổn thương tạm thời hoặc vĩnh viễn trên người nghiện, làm người nghiện ma túy suy giảm khả năng phán đoán, phân tích, tổng hợp, xử lý thông tin, khả năng tự chủ. Họ thiếu nghị lực, thiếu sáng suốt, thiếu ý chí để thực hiện các quyết định của mình. Do ký ức hồi tưởng, người nghiện rất dễ bị gợi nhớ đến ma túy khi gặp lại những hình ảnh, vụ việc liên quan đến việc sử ma túy trước đây như gặp ống chích, kim tiêm, bạn bè cũ, quán café cũ, nghe nhạc cũ, tâm trạng cũ; phản xạ có điều kiện làm cho người nghiện ma túy nghĩ đến những khoái cảm ngây ngất khi sử dụng ma túy: họ bị kích động mạnh mẽ khiến đối tượng rất dễ tái sử dụng, tái nghiện.

Người nghiện ma túy không đủ nghị lực cũng như không đủ nhận thức để sống một cách trong sạch, lành mạnh. Về mặt tinh thần, sức khỏe, nghề nghiệp, trách nhiệm bị suy sụp.

Bác sỹ Nguyễn Hữu Khánh Duy, nguyên Cụm phó cụm Điệp báo A10 Ban An ninh T4. Sau năm 1976 là bác sỹ phụ trách y tế tại trại giam Chí Hòa. Năm 1983 Ông về công tác tại P.A25 phụ trách lĩnh vực Y tế - Giáo dục - Lao động - Thương binh - Xã hội, Cơ quan Dân chính Đảng. Năm 1990 ông là Hội thẩm Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Năm 1999 đến nay là Giám đốc Trung tâm Điều dưỡng và Cai nghiện ma túy Thanh Đa. Từ đó ông đã có điều kiện nghiên cứu - tiếp xúc - điều trị hơn 25.000 lượt người nghiện ma túy và đã có nhiều báo cáo tại các hội nghị trong và ngoài nước về Cai nghiện - Phục hồi.

Có 4 vấn đề chính cần phải giải quyết trên đối tượng nghiện ma túy, đó là:

- Rối loạn và xuống cấp nhận thức - hành vi - nhân cách.

- Chấn thương tâm lý: Đây là một quá trình diễn biến đây phức tạp của nội tâm đối với bản thân, gia đình và xã hội.

- Người nghiện ma túy hầu hết đều ở trong tình trạng đói ma túy trường diễn, kể cả sau khi cai nghiện. Hội chứng hồi tưởng, chấn thương tâm lý, tổn thương não bộ, rối loạn hành vi nhân cách rất dễ dẫn người đã cai nghiện đến tái sử dụng ma túy.

- Tổn thương hệ thống não bộ và các vấn đề tâm thần của người nghiện ma túy.

Bốn vấn đề chính này tác động qua lại lẫn nhau, vừa là nguyên nhân cũng vừa là hậu quả của việc sử dụng ma túy.

Để cai nghiện có kết quả phải duy trì thời gian đủ dài để phục hồi hệ thống não bộ, gọt dũa, điều chỉnh, phục hồi nhận thức, hành vi, nhân cách, giải quyết các chấn thương tâm lý, mâu thuẫn nội tâm, trang bị bản lĩnh và kỹ năng sống, phát hiện các yếu tố nguy cơ và các yếu tố bảo vệ để biết cách vươn lên, xa lánh môi trường xấu, phát huy lợi thế hoàn cảnh bản thân.

Thời gian cai nghiện từ 6 tháng đến 2 năm tùy theo mức độ nặng nhẹ của từng đối tượng.

Một quan điểm rất sai lầm của nhiều người là cắt cơn nghiện là đã chữa xong nghiện ma túy. Thực chất cắt cơn nghiện ma túy chỉ là giai đoạn đầu để chuẩn bị cho một quy trình, cai nghiện rất khó khăn tiếp theo.

Do các rối loạn tâm trí thực tổn, các phản ứng tâm sinh lý và đặc biệt là chứng hồi tưởng dễ dẫn người nghiện đến những cơn thèm nhớ ma túy với tất cả sự khoái cảm của nó và sự phản ứng yếu ớt của bản thân trước sự quyến rũ của ma túy. Nếu có giải pháp tích cực, đúng cách, đủ thời gian, cách ly với môi trường ma túy: cường độ và tần số nhớ này sẽ giảm dần, tổn thương hệ thống não bộ được phục hồi, ngoài ra người cai nghiện còn được trang bị bản lĩnh và kỹ năng sống, biết được ưu nhược điểm bản thân để vươn lên trong hoàn cảnh của mình. Tuy nhiên, cần lưu ý là ngay cả khi tạm gọi là cai nghiện thành công, người nghiện vẫn phải tiếp tục cai nghiện cả đời.

Sau khi cai, nếu những nhân tố tác động thúc đẩy đối tượng tìm đến ma túy vẫn chưa được giải quyết, hầu hết những người nghiện sẽ tái nghiện. Do hệ thống não bộ đã bị ngộ độc ma túy, hầu hết những người nghiện ma túy đều có vấn đề tâm thần từ mức độ nhẹ đến nặng.

Ngoài trạng thái lạm dụng rồi lệ thuộc, các hội chứng lâm sàng liên quan đến thể chất, gây các phản ứng tâm lý và rối loạn tâm trí thực tổn như: trạng thái nhiễm độc, lú lẫn tâm trí, hội chứng hồi tưởng, loạn tâm thần, các rối loạn hành vi, các rối loạn tập trung, các rối loạn nhân cách, các rối loạn tâm thần , tự sát và các ý dịnh tự sát.

Hầu hết người nghiện đều có vấn đề tâm thần từ nhẹ đến nặng, do đó Trung tâm cai nghiện phải có bác sĩ chuyên khoa tâm thần để điều trị tại chỗ vì chuyển học viên ra bệnh viện ngoài rất khó quản lý: học viên có điều kiện thẩm lậu, tái sử dụng ma túy và nếu có điều kiện sẽ tìm cách trốn.

Vì những lý do trên, quan điểm của chúng tôi: Người nghiện ma túy là một tội phạm và cũng là một bệnh nhân.

Exit mobile version