All posts by thanhda

NGHIỆN MA TÚY

NGHIỆN MA TÚY


Nghiện nói chung và nghiện ma túy nói riêng (hợp pháp và bất hợp pháp) do nhiều nguyên nhân phức tạp kết hợp chặt chẽ với nhau gây ra làm cho công tác điều trị và dự phòng gặp nhiều khó khăn và trở ngại.


A. NGUYÊN NHÂN NGHIỆN MA TÚY:

Hiện nay có 3 nguyên nhân chủ yếu thường được nhắc đến:

  • - Có tác nhân gây nghiện

  • - Có đối tượng có khuynh hướng lạm dụng các chất gây nghiện

  • - Có môi trường "gia đình và xã hội thuận lợi".

Ba nguyên nhân này kết hợp chặt chẽ với nhau theo mô hình sau


I. CHẤT GÂY NGHIỆN:

Ngoài những tác nhân gây nghiện đã mặc nhiên tồn tại, trên thế giới ngày càng ra đời nhiều loại chất gây nghiện mới làm cho công tác phòng chống lạm dụng chất gây nghiện đã khó nay càng khó hơn. Công tác triệt phá việc sản xuất, tàng trữ và buôn bán chất gây nghiện cũng diễn biến hết sức phức tạp. Theo báo cáo của cơ quan cảnh sát phòng chống chất gây nghiện, chúng ta mới khám phá thu giữ được khoảng 5%-10% lượng chất gây nghiện hợp pháp tiêu thụ trên thị trường.


Điều này có nhiều lý do:

  • - Do lợi nhuận quá cao của mặt hàng này nên không ít kẻ vẫn liều lĩnh buôn bán, sản xuất, tàng trữ. Thậm chí chúng lôi kéo gia đình, dòng họ, lợi dụng cả người già và trẻ em vào đường buôn bán chất gây nghiện này. Chúng không từ bất cứ thủ đoạn nào, từ mua chuộc các cơ quan chức năng tới việc chống trả quyết liệt khi bị phát hiện. Mặc dù hình phạt dành cho loại tội phạm này rất nghiêm khắc (tử hình) nhưng cũng không ngăn cản được lòng tham của chúng.


  • - Do đặc điểm địa lý của nước ta thuận lợi cho việc buôn lậu các chất gây nghiện: đó là nước ta nằm cạnh vùng tam giác vàng (Thái Lan, Lào, Miến Điện), một trong những trung tâm sản xuất chất gây nghiện lớn trên thế giới. Chúng ta có đường biên giới rất dài và nhiều cửa khẩu trên bộ, trên biển và hàng không với nhiều nước trên khu vực và thế giới, trong khi lực lượng phòng chống chất gây nghiện còn mỏng, trang thiết bị hiện đại còn thiếu, nên chất gây nghiện dễ dàng thẩm lậu vào nước ta.


  • - Do giao lưu quốc tế mở rộng, du lịch phát triển, mạng lưới thương mại rông khắp, hàng hóa xuất nhập khẩu, trung chuyển ngày càng gia tăng, đòi hỏi thời gian thông quan nhanh làm cho việc kiểm soát chất gây nghiện gặp nhiều khó khăn, nhất là khi chúng ta còn thiếu thông tin chính xác, kịp thời về loại hình tội phạm này.


  • - Việc toàn cầu hóa là một thuận lợi nhưng cũng là một thách thức to lớn trong công cuộc phòng chống chất gây nghiện. Nhiều loại chất gây nghiện mới không chỉ thâm nhập mà còn được sản xuất trong nước thông gia những chỉ dẫn trên mạng internet quốc tế như các điều chế, cách sử dụng... thậm chí được truyền bá bởi các khách du lịch quốc tế vào nước ta.


Những khó khăn chủ yếu nêu trên của nước ta đồng thời cũng là những khó khăn của các nước khác trên thế giới. Vì vậy đã có nhiều hiệp định song phương và đa phương giữa lực lượng công an nước ta với các nước trong khu vực và trên thế giới nhằm hợp lực đấu tranh với loại tội phạm liên quan tới chất gây nghiện. Tuy nhiên, triệt phá đường dây cung cấp chất gây nghiện không hề dễ dàng và đơn giản. Một thí dụ rõ nhất là Hoa Kỳ: cơ quan phòng chóng chất gây nghiện quốc gia được đầu tư rất nhiều tiền của, phương tiện hiện đại, huy động cả các cơ quan tình báo, thậm chí cả quân đội vào công tác này nhằm triệt phá các trung tâm sản xuất ma túy không chỉ ở trên đất Mỹ mà còn ở các nước hữu quan khác như Colombia, Apganistan, Panama, Mehico... Các chiến dịch này đã thu được nhiều kết quả: phá hủy nhiều trung tâm sản xuất chất gây nghiện, phát hiện và bắt giữ nhiều đường dây buôn lậu chất gây nghiện vào nước Mỹ và các nước khác. Tuy nhiên số lượng người Mỹ lạm dụng chất vẫn không giảm. Theo số liệu dịch tễ của Mỹ [Manual ò Therapeuties for Addictions 1997] có 16% dân Mỹ nghiện rượu (28% ở nam, 8% ở nữ), 8% nghiện ma túy (19% nam, 5% ở nữ), 30%-84% những người nghiện sử dụng rượu cùng với các loại chất khác như cần sa, cocaine, các chất dạng thuốc phiện...


Ở Việt Nam, đầu thập kỷ 90 thế kỷ 20, chúng ta đã thành công trong việc triệt phá các cánh đồng trồng cây anh túc (cây thuốc phiện) nhưng ngay lập tức heroin tràn vào nước ta và những người nghiện thuốc phiện trước kia nay chuyển sang nghiện heroin (một loại chất được tinh chế từ thuốc phiện) mạnh hơn và nguy hiểm hơn thuốc phiện. Vì vậy chúng ta phải thùa nhận rằng mọi nỗ lực của chúng ta chỉ mới có thể làm giảm được lượng chất gây nghiện trên thị trường chứ chưa thể loại trừ được hoàn toàn chất gây nghiện (mới giảm được cung chứ chưa loại được cung).

Do vậy chủ trương của nhiều nước trên thế giới là đi đôi với giảm cung cần có các giải pháp giảm cầu hữu hiệu, nghĩa là tác động vào những người có nguy cơ cao và đã nghiện từ bỏ việc sử dụng các chất gây nghiện.


II. YẾU TỐ CÁ NHÂN:

Đa số những người bắt đầu đi vào con đường nghiện ma túy ở nước ta phụ thuộc vào lứa tuổi thanh thiếu niên, lứa tuổi của giai đoạn khủng hoảng trong quá trình phát triển tâm lý và hoàn thiện nhân cách.


Thanh thiếu niên có thể đi vào con đường nghiện ma túy do tính tò mò và mạo hiểm của lứa tuổi, muốn thử trải nghiệm những cảm giác kỳ lạ của chất gây nghiện (do bạn bè kể lại) bất chấp sự ngăn cản của gia đình và xã hội, bất chấp những kiến thức tiếp thu về tác hại của chất gây nghiện qua thông tin truyền thông ở nhà trường, gia đình và xã hội cũng như trên các phương tiện thông tin truyền thông ở nhà trường, gia đình và xã hội cũng như trên các phương tiện thông tin đại chúng, bất chấp những hậu quả nghiêm trọng mà bản thân cũng nhận thấy ở những người nghiện khác.


Một số thanh thiếu niên sử dụng các chất gây nghiện như một phương thức khẳng định mình, tự cho mình đã trưởng thành, được quyền chọn hành vi độc lập tùy thích.


Những thanh thiếu niên có những vấn đề bất mãn với gia đình và cộng đồng có thể sử dụng chất gây nghiện như một phản ứng chống đối.


Cũng có thể thanh thiếu niên tìm đến chất gây nghiện như một phương thức lẩn tránh khỏi tác động của các stressrất đa dạng trong đời sống hiện đại: stress trong gia đình (mâu thuẫn giữa các thế hệ, cha mẹ bất hòa, ly thân, ly hôn, mất người thân gắn bó với họ, bị bạo lực trong gia đình, bị lạm dụng tình dục, bố. mẹ hoặc anh chị em khác lạm dụng các chất gây nghiện...), stress trong môi trường học tập (thi hỏng, bị thi hành kỷ luật,...), stress trong tình yêu, stress trong công việc...


Một số do yếu tố sinh học và di truyền: thường gặp trong rối loạn liên quan tới rượu được phản ánh qua các nghiên cứu mối liên quan giữa con cái và cha mẹ nghiện rượu, sinh đôi cùng trứng và khác trứng, con nuôi...


Thường gặp nhất và nguy hại nhất trong thời đại hiện nay là thanh thiếu niện sử dụng chất gây nghiện do ảnh hưởng hay áp lực của các bạn đã nghiện trong cùng bằng nhóm theo các qui luật "hoặc đồng hóa theo nhóm hoặc bị loại trừ ra khỏi nhóm". Mà đặc điểm tâm lý của lứa tuổi thanh thiếu niên là không muốn và không thể sống lẻ loi ngoài nhóm.


Một số thanh thiếu niên tìm đến các chất gây nghiện do các trạng thái bệnh tâm lý tâm thần nhất thời hay trường diễn. Thường gặp nhất là các trạng thái lo âu, trầm cảm, rối loạn stress sau sang chấn, tâm thần phân liệt, rối loạn cảm xúc lưỡng cực hay nhân cách bệnh lý. Lo âu có thể do thất bại trong cuộc sống, chán nản với hoàn cảnh, không tìm được mô hình lý tưởng để theo... Trầm cảm lúc đầu có thể do các stress gây ra và thanh thiếu niên tưởng nhầm là các chất gây nghiện khác có thể giúp thanh toán được các trạng thái trầm cảm của mình. Và những nhân cách bệnh lý, nhất là nhân cách bệnh chống xã hội, thưởng có khuynh hướng lạm dụng các chất gây nghiện. Và cũng có những người tuy chưa phải là nhân cách bệnh lý nhưng cũng có khuynh hướng lạm dụng chất.


Như vậy thầy thuốc tâm thần có vai trò quan trọng trong chẩn đoán và điều trị nghiện, đặc biệt những thầy thuốc có thể áp dụng được nhiều liệu pháp tâm lý, giúp đối tượng loại trừ ảnh hường của các tác nhân tâm lý đa dạng đã gây ra hay thúc đầy nghiện và/hoặc tái nghiện.


III. YẾU TỐ GIA ĐÌNH VÀ XÃ HỘI:

Gia đình, trường học và địa bàn sinh sống (khu phố, cụm dân cư...) chứa đựng nhiều nhân tố có nguy cơ gây nghiện, duy trì nghiện và tạo điều kiện thuận lợi cho tái nghện ma túy.

Môi trường chính là cầu nối hay chất xúc tác cho sự gặp gỡ giữa con người có khuynh hướng nghiện với các tác nhân gây nghiện.


1. Nguyên nhân môi trường gia đình:

Phần lớn thanh thiếu nhiên nghiện ma túy thuộc về các gia đình lơ là trong nhiệm vụ giáo dục, chăm sóc và quản lý con em của mình. Không ít gia đình chỉ biết con em của mình bị nghiện hoặc phạm pháp sai khi chúng có vấn đề với cơ quan hành pháp.


Những gia đình có con em nghiện ma túy thường là những gia đình hoặc không có thái độ phê phán nghiêm khắc với con em khi chúng bắt đầu sử dụng chất gây nghiện hoặc mất cảnh giác cho chúng nhiều tiền để tự do tiêu xài, đua đòi cùng bạn bè hoặc không kiểm tra xem con em mình có sử dụng tiền đúng mục đích hay không.


Đặc biệt nguy hại là những gia đình do sĩ diện hay do nuông chiều con cái không dám thừa nhận với cộng đồng là chúng đã bị nghiện, không dám đưa chúng đi điều trị ở các cơ sở cai nghiện và chịu áp lực thường xuyên phải cung cấp tiền để chúng mua chất gây nghiện.


Một số gia đình bố. mẹ cũng nghiện chất như nghiện rượu, nghiện thuốc lá... Đa số thanh thiếu niên trước khi nghiện ma túy đã lạm dụng rượu hay thuốc lá một thời gian và tiếp sau đó là nghiện chất bất hợp pháp.


Một số gia đình thiếu kinh nghiệm trong giáo dục con cái như thiếu kiên quyết, quá nóng giận hoặc hay trừng phạy không phù hợp với mức độ và hoàn cảnh, sợ con cái tức giận bỏ đi, sợ tan vỡ gia đình... cũng là nhân tố thúc đẩy.


Như phần trên đã đề cập đến, các stress xuất hiện do nội bộ gia đình có nhiều xung đột thường xuyên cũng là nhân tố thúc đẩy con em mình đi vào con đường nghiện chất, được chúng xem như là một phương thức để thoát khỏi bầu không khí căng thẳng, nặng nề phải chịu đựng hằng ngày.


Như vậy trong quá trình điều trị, việc thầy thuốc thiết lập được mối quan hệ mật thiết và thường xuyên với gia đình và người bệnh có tầm quan trọng đặc biệt trong khâu phát hiện và khắc phục nguyên nhân. Nếu tiến hành được liệu pháp đình hệ thống thì kết quả chống nghiện và chống tái nghiện sẽ cao hơn và bệnh vững hơn.


2. Nguyên nhân môi trường xã hội:

Hiện nay có thể nói, chúng ta đang phải sống trong một môi trường xã hội bị ô nhiễm chất gây nghiện: các ổ nhóm và tuh điểm tiêm chích chất gây nghiện vẫn con tồn tại ở nhiều nơi, người nghiện vẫn có thể tìm mua chất gây nghiện tương đối dễ dàng.


Tình trạng này có nhiều nguyên nhân. Cơ chế thị trường và sự tăng trưởng kinh tế nhanh đã kéo theo nhiều biến đổi xã hội cả tích cực lẫn tiêu cực. Sự phân hóa giàu nghèo đang diễn ra, tốc độ đô thị hóa cũng gia tăng nhanh chóng. Trình độ nhận thức của một bộ phận xã hội không theo kịp sự phát triển kinh tế, sự thay đổi của xã hội làm không ít người, không ít gia đình đã bị mất phương hướng, lâm vào khủng hoảng bởi mất cân bằng nội môi.


Mặt khác, các chuẩn mực đạo đức xã hội cũng ít nhiều bị biến đổi, xói mòn. Một nguyên nhân xã hội nữa là việc tôn trọng và thực thi pháp luật chưa được nghiêm túc. Bọn tội phạm liên quan tới chất gây nghiện không ngừng tấn công vào các tầng lớp thanh thiếu niên, nhưng ở nhiều nơi chính quyền và các cơ quan chức năng chưa huy động được sức mạnh toàn dân trong cuộ chiến chống chất gây nghiện.


Hiện nay môi trường học đường từ tiểu học đến đại học đã và đang bị ma túy xâm nhập. Sức ép trong học tập cũng được coi như những stress quá lớn đối với một bộ phận học sinh không theo kịp, làm chúng chán nản và bỏ học và đi đến nghiện chất và các loại tệ nạn khác.


Những nguyên nhân xã hội nêu trên đã làm cho đội ngũ những người nghiện chất ngày càng đông hơn và trẻ hơn.


B. ĐẶC TÍNH CỦA NGHIỆN MA TÚY:

I. NGHIỆN MA TÚY LÀ MỘT BỆNH NGUYÊN PHÁT:

Trước hết các rối loạn liên quan đến lạm dụng ma túy được phân loại vào mục F11 phần các rối loạn tâm thần của bảng phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 của Tổ chức Y tế thế giới (1992) và trong sách thống kê chuẩn đoán các rối loạn tâm thần của hội Tâm thần học Mỹ (1994).


Nghiện ma túy không phải là một bệnh thứ phát sau một bệnh cơ thể hay tâm thần mà là một bệnh nguyên phát do chất gây nghiện gây ra, có 3 nguyên nhân (có chất gây nghiện, con người và môi trường).


Đã là bệnh thì trước tiên cần phải được điều trị. Có điều trị khỏi thì các vấn đề khác mới được cải thiện (sức khỏe, việc làm, quan hệ xã hội...).


II. NGHIỆN MA TÚY LÀ MỘT BỆNH MÃN TÍNH:

Nghiện ma túy không thể chữa khỏi nhanh chóng được. Môi trường xung quanh còn có khả năng cung cấp chất gây nghiện thì đối tượng còn có nguy cơ tái nghiện và bệnh còn kéo dài (mạn tính). Chỉ khi nào liệu pháp sinh học làm cho hết thèm nhớ và liệu pháp tâm lý phát huy tác dụng, đối tượng rèn luyện có kết quả, có đầy đủ quyết tâm và nghị lực từ bỏ chất gây nghiện suốt đời thì bênh mới có thể xem như khỏi hẳn.


III. NGHIỆN MA TÚY LÀ MỘT BỆNH TIẾN TRIỂN

Nghiện ma túy càng để lâu không điều trị thì bệnh tiến triển ngày càng xấu hơn do lượng chất gây nghiện vào cơ thể ngày càng cao gây nghiễm độc mạn tính, gây rối loạn hoạt động chức năng của não, gây rối loạn hành vi, gây suy kiệt cơ thể, mắc các bệnh khác...


IV. NGHIỆN MA TÚY LÀ MỘT BỆNH CÓ THỂ GÂY CHẾT NGƯỜI

Nếu không được điều trị, nghiện ma túy có thể gây tử vong không phải chỉ do tác động của chất gây nghiện vào các cơ quan nội tạng mà còn do những rối loạn tâm thần và hành vi do chất gây nghiện gây ra như tai nạn giao thông, lao động, do hoang tưởng ảo giác chi phối, tự sát, lây nhiễm các bệnh qua đường tiêm chích hoặc quan hệ tình dục không an toàn (HIV, viêm gan B, C, nhiễm trùng máu, tim, phổi...).


V. NGHIỆN MA TÚY LÀ MỘT BỆNH CÓ THỂ CHỮA ĐƯỢC:

Nghiện ma túy là một bệnh khó chữa khỏi nhưng vẫn có thể chữa khỏi nếu có chiến lược điều trị thích hợp, đem lại lòng tin cho đối tượng, đưa dần đối tượng đến chỗ quyết tâm sửa chữa (không dùng chất gây nghiện nữa). Ngoài ra nếu có sự động viên giúp đỡ của gia đình và cộng đồng về các mặt (tài chính, việc làm, không kỳ thị...) thì điều trị có kết quả nhiều hơn.


VI. NGHIỆN MA TÚY KHÓ ĐIỀU TRỊ DO TÂM LÝ TỪ CHỐI CHỮA BỆNH CỦA ĐỐI TƯỢNG:

Từ chối chữa bệnh là một đặc điểm tâm lý rất phổ biến của những đối tượng nghiện ma túy. Có nhiều lý do:

  • - Trước hết đối tượng không muốn và không thể từ bỏ cảm giác sảng khoái do chất gây nghiện đem lại.

  • - Đối tượng nghiện không chịu đựng nổi những phản ứng của gia đình và cộng đồng, những khó khăn của cuộc sống, tìm cách ngày càng lẩn trốn vào chất gây nghiện, không muốn và không dám điều trị để trở lại thực tại mà đối tượng không thích nghi được nữa.

  • - Nếu đối tượng cảm nhận được sự dung túng của người thân thì càng từ chối mạnh hơn và dai dẳng hơn.

  • - Chính sự từ chối chữa bệnh của đối tượng (và sự dung túng của người thân trong một số trường hợp) đã hình thành và duy trì phương thức điều trị bắt buộc ở nhiều nước trên thế giới hiện nay.


VII. NGHIỆN MA TÚY TIẾN TRIỂN XẤU DO HÀNH VI DUNG TÚNG CỦA NGƯỜI THÂN:

Người thân ở đây bao gồm các thành viên trong gia đình, bạn bè thân cận và bạn đồng nghiệp của đối tượng nghiện.

Hành vi dung túng là những hành vi giúp cho người nghiện tiếp tục sử dụng chất gây nghiện mà không bị phê phán, lên án hoặc tránh bị rắc rối (phạt) bởi cơ quan hành pháp.

Hành vi dung túng rất đa dạng, bao gồm sử dụng nhiều loại như:

- Gia đình bảo lãnh cho con em mình khỏi phải đi điều trị bắt buộc, khỏi bị truy tố về những hành vi phạm pháp.

- Gia đình không theo dõi, kiểm tra những hành vi có liên quan đến sử dụng ma túy của con em mình, không nghiêm khắc phát hiện và đối chất với những lời nói dối của con em mình, vẫn cung cấp nhiều tiền cho chúng tiêu xài.

- Bạn đồng nghiệp che dấu hành vi sử dụng chất gây nghiện của đối tượng ở công sở.

- Bạn thân làm chứng giả cho những lời nói dối của đối tượng.


Như vậy, ta thấy rõ một nhiệm vụ quan trọng của liệu pháp gia đình là phát hiện và giúp sửa chữa những hành vi dung túng của các thành viên trong gia đình có người nghiện ma túy.


C. NGHIỆN MA TÚY KÈM THEO CÁC RỐI LOẠN TÂM THẦN:

Theo DSM IV, ở Mỹ (1991) có 76% nam, 65% nữ được chẩn đoán lạm dụng hoặc nghiện ma túy có thêm một chẩn đoán rối loạn tâm thần.


Các rối loạn tâm thần khác thường kết hợp với lạm dụng ma túy là: nhân cách bệnh chống xã hội, lo sợ ám ảnh và các rối loạn lo âu khác, trầm cảm nội sinh và tâm sinh.


Tính chất đồng bệnh lý tâm thần và lạm dụng ma túy thường gặp ở lạm dụng chát dạng thuốc phiện, cocain và marijuana.


90% người nghiện ma túy dạng thuốc phiện có thêm một chẩn đoán rối loạn tâm thần: 1/3-1/2 những người nghiện hoặc lạm dụng ma túy dạng thuốc phiện có kèm theo trầm cảm.


40% những người lạm dụng hoạc nghiện rượu có đủ tiêu chuẩn chuẩn đoán rối loạn trầm cảm điển hình vào một thời điểm trong cuộc sống của họ.


25-50% rối loạn liên quan tới rượu có đủ tiêu chuẩn chuẩn đoán rối loạn lo âu (thường gặp rối loạn lo sợ và hoảng sợ).


Có một tỉ lệ rất cao các bệnh nhân tâm thần hút thuốc lá: 50% bệnh nhân tâm thần ngoại trú, 70% bệnh nhân rối loạn cảm xúc lưỡng cực I ngoại trú, 90% bệnh nhân tâm thần phân liệt ngoại trú. Gần 1/2 doanh số bán thuốc lá hàng năm ở Mỹ (256 triệu USD/ năm) do bệnh nhân tâm thần tiêu thụ.


Lạm dụng ma túy cũng là một nhân tố thúc đẩy tự sát. Nguy cơ tự sát ở người lạm dụng ma túy cao hơn gần 20 lần so với dân số chung. Khoảng 15% người lạm dụng hoặc nghiện rượu nói họ đã toan tự sát (thường do thiếu trợ giúp tâm lý xã hội, bị các bệnh cơ thể, không có việc làm, sống độc thân). Tỉ lệ tự sát ở người lạm dụng hoặc nghiện chất đứng thứ hai sau tỉ lệ tự sát ở bệnh nhân trầm cảm.

NGHIỆN RƯỢU

NGHIỆN RƯỢU

I. KHÁI NIỆM:

Buồn cũng uống, vui cũng uống – thành công cũng uống, thất bại cũng uống; đám cưới cũng uống, đám ma cũng uống – sáng uống, trưa uống, chiều uống, tối uống. Người nghèo uống rượu đế, nhâm nhi vài con sò, con ốc, trái cóc, trái xoài, người giàu uống rượu tây trong các nhà hàng sang trọng. Thanh niên uống la hét, người già uống nhâm nhi, ngẫm nghĩ sự đời. Chưa có một chất gây nghiện đặc biệt nào được sử dụng nhiều như rượu ở nước ta.

 

Rượu là một loại ma túy hợp pháp, sử dụng đặc biệt rất nhiều ở các vùng núi, vùng sâu, vùng xa và đặc biệt là trong các nghi lễ văn hóa, trong ma chay, cưới hỏi, giỗ tết…. Đa số rượu được sản xuất thủ công từ bột gạo, bột nếp đến vỏ cây, bã mía, củ sắn, lá rừng… Hầu như mọi nhà đều biết cách làm rượu. Chính phủ lại không kiểm soát được việc sản xuất rượu vì chưa có chính sách quốc gia phòng chống lạm dụng rượu, người dân chưa thấy hết tác hại của việc lạm dụng rượu và một phần do rào cản văn hóa, phong tục – tập quán, thiếu hiểu biết nên thậm chí nhiều người có trách nhiệm phòng chống ma túy, vạch định chính sách cũng lạm dụng rượu.

 

Lạm dụng rượu lâu ngày đưa đến chứng nghiện rượu, để lại nhiều tác hại cho cá nhân, gia đình và xã hội:

- Về cơ thể: rượu gây tổn thương hệ thống thần kinh, gây bệnh tim mạch, viêm loét dạ dày, gây suy gan dẫn đến xơ gan và thậm chí dẫn đến ung thư gan và tổn thương nhiều bộ phận khác trong cơ thể.

- Về mặt tâm thần: do phụ thuộc rượu, người nghiện rượu bị tổn thương hệ thống thần kinh não bộ, rối loạn nhận thức, hành vi, nhân cách, mất trí và phát sinh nhiều bệnh tâm thần. Thiếu rượu người nghiện bị hội chứng cai đôi khi rất nặng dẫn đến tình trạng sảng rượu, hôn mê.

 

Ngoài ra do sử dụng rượu người nghiện rượu bị mất khả năng lao động về trí tuệ cũng như thể chất.

 

II. NGUYÊN NHÂN NGHIỆN RƯỢU:

 

1. Nhiều người tin rằng rượu là một chất bổ dưỡng:

Nhất là khi dùng rượu ngâm với các loại thảo dược, bộ phận động vật để tăng cường năng lực, bổ thận, tráng dương. Chính phủ lại chưa có chính sách quốc gia, chưa kiểm soát được nguồn cung cũng như quản lý nhu cầu về rượu. Thậm chí nhiều quảng cáo rượu còn được phổ biến trên nhiều phương tiện truyền thông đại chúng. Nhiều loại rượu được ngâm với các loại lá cây, bộ phận động vật mà chưa xác định được độc tính.

 

2. Môi trường văn hóa – tâm lý – xã hội:

Nhiều quan niệm phải sử dụng rượu trong việc hiếu hỉ, khen thưởng, thi đua, thậm chí chiêu đãi tại các hội nghị, khánh thành cơ sở… Việc uống rượu trở nên quá bình thường trong tập quán dân gian, lễ hội, trong quan hệ hàng ngày, thậm chí còn có quan điểm uống rượu là củng cố tình bằng hữu. Số người bị stress, thất bại trong cuộc sống hoặc có lắm nỗi buồn cũng uống rượu tiêu sầu. Đa số các buổi họp mặt, liên hoan phải có rượu, uống "không say – không về"…

 

3. Di truyền và sinh học:

+ Trẻ có cha mẹ nghiện rượu có nguy cơ nghiện rượu cao hơn con những người không nghiện rượu.

+ Tiền sử những gia đình nghiện rượu, con cái họ có nguy cơ nghiện rượu nhiều hơn những gia đình không có người nghiện rượu.

 

4. Tính chất sinh lý:

Người có tư tưởng hay chống đối xã hội, rối loạn cảm xúc, rối loạn lo âu, trầm cảm, thiếu sự trợ giúp tâm lý – xã hội, thất bại trong cuộc sống, mất việc làm, buồn chán việc riêng, hoàn cảnh công việc, nhân cách cá nhân yếu có nguy cơ bị nghiện rượu.

 

III. DỊCH TỄ HỌC:

 

Ở nước ta các bệnh lý tâm thần do nghiện rượu chưa nhiều bằng một số các nước khác, các công trình nghiên cứu về nghiện rượu cũng rất ít. Khoảng hơn 20 năm gần đây do có một số trường hợp loạn thần do nghiện rượu phải vào điều trị tại các cơ sở điều trị tâm thần nên chúng ta mới bắt đầu nghiên cứu. Kết quả theo dõi sau đó cho thấy bệnh lý do nghiện rượu tăng một tỷ lệ đáng quan tâm. Theo PGT- Tiến sĩ Trần Viết Nghị, bệnh lý tâm thần do nghiện rượu, năm 1990 chiếm 0,31% bệnh nhân nằm viện. Năm 1994 tăng lên 6,99% gấp 22 lần. Theo một số tại địa phương tỷ lệ nghiện rượu tăng khoảng 2% mỗi năm trên tổng số bệnh nhân bị tâm thần nhập viện.

 

Ở Pháp bệnh lý tâm thần do nghiện rượu chiếm 22%; loạn thần do nghiện rượu chiếm 20% (TS Tancuchiev 1988).

 

Tại Nam Tư số bệnh nhân nằm bệnh viện tâm thần là 23,1% (D. Heroitic 1991).

 

Ở Mỹ 10% nữ, 20% nam lạm dụng rượu: 3% – 5% nữ, 10% nam chẩn đoán nghiện rượu. Khoảng 200.000 người tử vong hàng năm liên quan trực tiếp đến lạm dụng rượu. (DSM III R).

  IV. TÁC DỤNG DƯỢC LÝ CỦA RƯỢU:  

Rượu là một loại ma túy thiên nhiên hợp pháp. Rượu tác động vào hệ thần kinh trung ương. Hội chứng cai rượu phụ thuộc vào tâm thần và cả cơ thể.

 

1. HẤP THU:

 

Công thức hóa học của rượu là Ethanol là : CH3 – CH2 – OH. Rượu được sử dụng với nồng độ rượu khác nhau, tên gọi khác nhau và có hương vị khác nhau… Sau khi uống, khoảng 10%  – 20% rượu được hấp thu tại dạ dày, phần còn lại hấp thu tại ruột non. Rượu hấp thu nhanh khi bụng đói và hấp thu chậm khi bụng no. Nồng độ rươu hấp thu trong máu cao nhất thông thường từ 40 đến 60 phút sau khi uống. Để bảo vệ chống tăng nồng độ rượu cơ thể có cơ chế tự điều chỉnh. Khi nồng độ rượu quá cao trong dạ dày, dạ dày sẽ tiết dịch nhày làm giảm sự hấp thu rượu và đóng van môn vị lại gây hiện tượng nôn ói, hạn chế lượng rượu xuống ruột non, ngăn cản bớt sự hấp thu rượu, nên giảm lượng rượu hấp thu vào máu. Thức ăn chất đạm và chất béo làm chậm sự hấp thu rượu, trái lại nước uống làm tăng sự hấp thu rượu. Rượu vào máu và được phân bổ toàn cơ thể. Rượu hòa tan trong nước nên ở tất cả các mô, do đó gây nguy cơ nhiễm độc cao.

 

2. CHUYỂN HÓA:

 

Khoảng 90% rượu được hấp thu, chuyển hóa ở gan, 10% bài tiết ở thận qua nước tiểu và và qua hơi thở ở phổi.

Tại gan rượu bị oxy hóa khoảng 15mg/dl/giờ. Ở người uống rượu thường xuyên hiện tượng chuyển hóa nhanh hơn. Rượu được chuyển hóa nhờ enzym là Alcohol Dehydrogenase (ADH) biến đổi rượu thành acetaldehyde là một chất độc hại. Acetaldehyde được Enzym Aldehyde Dehydrogenase xúc tác chuyển đổi thành Acid Acetic. Ở phụ nữ lượng ADH thấp hơn nam giới nên dễ bị nhiễm độc hơn.

  V. TÁC HẠI CỦA RƯỢU TRÊN CƠ THỂ:  

1. TÁC ĐỘNG CỦA RƯỢU TRÊN HỆ THỐNG NÃO BỘ:

 

- Khác với nhiều người lầm tưởng, rượu không phải là chất kích thích mà là một chất làm suy giảm cả hai quá trình hưng phấn và ức chế của hệ thần kinh trung ương. Tuy nhiên do rượu làm sự ức chế giảm mạnh trong lúc sự hưng phấn giảm ít hơn nên gây ra quá trình hưng phấn giả tạo. Vì vậy người nghiện rượu cảm thấy giảm lo âu, hăng hái, nói nhiều, hoạt động nhiều nhưng thiếu chính xác, lời nói không được kiềm chế, xuồng xã hay khoe khoang, tự cao tự đại hoặc xúc phạm người khác. Khi nồng độ rượu trong máu trên 0.3% sẽ bị rối loạn tư duy, tri giác, vận động, khi nồng độ rượu từ 0.4% đến 0,5% cả hai quá trình hưng phấn và ức chế bị suy giảm, người uống rượu có thể dẫn đến hôn mê. Khi nồng độ rượu đến 0,6 đến 0,7% người uống rượu có thể bị tử vong.

 

- Người uống rượu bị rối loạn cảm xúc, rối loạn lo âu, có tư tưởng chống đối cũng như tư tưởng tự sát, có thể bị liệt mềm mất trí. Gần 40% số người nghiện rượu bị trầm cảm.

 

2. TÁC ĐỘNG CỦA RƯỢU TRÊN HỆ TIM MẠCH – HÔ HẤP:

 
  • - Tăng huyết áp, mạch nhanh.

  • - Bệnh cơ tim trên người nghiện nặng.

  • - Thở nhanh, nông, hồi hộp

  • - Chán ăn, phù, dễ dẫn đến hội chứng suy tim.

 

3. TÁC ĐỘNG CỦA RƯỢU TRÊN HỆ TIÊU HÓA:

 
  • - Rượu gây kích thích, viêm niêm mạc dạ dày, viêm teo dạ dày, loét dạ dày và xuất huyết dạ dày, viêm loét hành tá tràng.

  • - Hiện tượng trào ngược thực quản do viêm cơ vòng thượng vị. Người nghiện cảm thấy nóng rát sau xương ức, cảm giác nôn, có thể gây ói. Trường hợp nặng có thể thủng bao tử ở vùng co thắt.

  • - Nếu bệnh nhân bị ngộ độc gan gây tăng áp lực tĩnh mạch sẽ bị giãn tĩnh mạch thực quản đôi khi gây vỡ tĩnh mạch thực quản gây chảy máu và có thể dẫn đến tử vong.

  • - Hấp thu kém, tiêu chảy thường gặp ở người nghiện rượu do rối loạn co bóp của dạ dày, bào mòn dịch nhày, rối loạn vận chuyển các vitamine và ion.

 

4. TÁC ĐỘNG CỦA RƯỢU TRÊN GAN:

 

Một lượng lớn rượu được chuyển hóa tại gan, do đó gan bị suy yếu, ngộ độc dẫn đến gan dễ bị nhiễm mỡ, có thể gây xơ gan do rượu. Viêm gan do rượu, người nghiện có hiện tượng vàng da, vàng mắt, chán ăn, đau hạ sườn phải và rối loạn tiêu hóa. Người nghiện rượu lâu năm bị xơ gan có dấu hiệu thường gặp là sút cân, mệt mỏi, chán ăn. Trường hợp nặng người nghiện rượu bị vàng da, lách to, cổ chướng, gan to hoặc teo nhỏ, teo tinh hoàn, phù…., chứng vú to. Xét nghiệm cho thấy Albumine máu giảm, Globuline máu tăng, men gan có thể tăng hoặc giảm.

 

5. TÁC ĐỘNG CỦA RƯỢU TRÊN TUYẾN YÊN:

 

Gây rối loạn tăng trưởng, rối loạn kinh nguyệt, rối loạn chuyển hóa iron, nước, muối khoáng.

 

6. TÁC ĐỘNG CỦA RƯỢU TRÊN TUYẾN TỤY:

 

Còn có thể viêm tụy mãn, đau bụng và nôn nhiều. Trường hợp tế bào đảo tụy do viêm mãn tính người nghiện có thể bị tiểu đường hoặc tăng đường huyết.

 

7. CÁC BIỂU HIỆN VỀ DINH DƯỠNG:

 
  • - Rượu cản trở sự hấp thu, chuyển hóa các chất dinh dưỡng

  • - Người nghiện rượu bị giảm acid folic gây thiếu máu.

  • - Giảm vitamine B1, vitamine B6, các ion, nhất là ion kẽm.

  • - Thiếu các vitamine hòa tan trong mỡ như vitamine A, vitamine D, vitamine H…

  • - Giảm đường máu gây run, co giật, mệt mỏi

  • - Viêm đây thần kinh ngoại vi gây liệt mềm, mất trí.

 

8. PHỤ NỮ NGHIỆN RƯỢU Có thể sinh non, trẻ nhẹ cân, dị dạng.

 

9. TĂNG NGUY CƠ GÂY UNG THƯ Vòm hầu, họng, thanh quản, thực quản và gan.

  VI. NHIỄM ĐỘC RƯỢU:  

Nhiễm độc rượu còn được gọi là say rượu, có 2 loại nhiễm độc rượu:

- Nhiễm độc (say rượu) thông thường

- Nhiễm độc (say rượu) bệnh lý

 

1. SAY RƯỢU THÔNG THƯỜNG:

 

Say rượu thông thường còn gọi là say rượu cấp ở những người lạm dụng rượu uống quá ngưỡng, dẫn đến những thay đổi hành vi, cảm xúc kèm theo trạng thái rối loạn ý thức.

Tùy theo lượng rượu uống, lượng hấp thu rượu, thời gian uống kéo dài bao lâu, uống lúc no hay đói và khả năng dung nạp của từng cá thể. Tình trạng say rượu có thể được biểu hiện ở 3 mức độ:

 

1.1 SAY RƯỢU MỨC ĐỘ NHẸ:

- Người say rượu nhẹ có tư duy chậm chạp, kém nhạy bén, thiếu chính xác vận động, giảm khéo léo, giảm nhiều kỹ năng lao động.Tình trạng hưng phấn tùy thuộc vào lượng rượu uống, khí sắc tăng nhẹ, cảm giác hưng phấn quá mức, khoái cảm thô lỗ, nói năng đùa cợt không phù hợp. Người say rượu thường cường điệu hóa vụ việc, ưa khoe khoang về mình, ưa công kích người khác. Ngoài ra người say rượu ưa chấp nhặt, hay gây sự, kiếm chuyện làm tăng khả năng xung đột với người xung quanh.

- Say rượu nhẹ có thể giải tỏa bản năng tình dục dễ dẫn đến hành vi thô bạo với người khác giới.

 

1.2 SAY RƯỢU TRUNG BÌNH:

- Liên tưởng hỗn độn, không kiềm chế được cảm xúc, dễ tức giận, nổi nóng dù những nguyên do không đáng kể.

- Người say rượu mức trung bình thường mất tế nhị, mất lịch sự có những hành vi thô bạo, nói to, ồn ào, ưa la hét, khó thực hiện các động tác đòi hỏi khéo léo, đi đứng xiêu vẹo.

 

1.3 SAY RƯỢU NẶNG:

- Thường biểu hiện nôn nhiều, vã mồ hôi, rối loạn thực vật, tăng tiết nước bọt, đái ra quần, ngã vật, nếu lượng rượu uống nhiều có thể dẫn đến hôn mê, mạch nhanh, thở nông, hạ huyết áp có thể dẫn đến tử vong.

  *Xử trí:  

- Các trường hợp ngộ độc rượu cấp thể nhẹ sau giai đoạn ngủ sâu, tự hồi phục.

- Trong những trường hợp ngộ độc cấp nặng (say rượu nặng) có các biểu hiện như:

  • + Hôn mê

  • + Suy hô hấp nặng

  • + Mạch nhanh, tụt huyết áp, hạ đường huyết.

Phải thực hiện, phác đồ cấp cứu ở các trung tâm cấp cứu gần nhất.

  • + Nếu đến sớm nên rửa dạ dày.

  • + Có suy hô hấp: đặt nội khí quản, thở oxy qua máy.

  • + Nếu hạ đường huyết, tụt huyết áp: truyền glucose 20 – 30%

  • + Nên có toan chuyển hóa truyền Natribicarbonate 1,4%

  • + Nếu bệnh nhân ngộ độc rượu cấp (say rượu nặng) có hiện tượng tăng Creatimin máu, tăng K+ máu dẫn đến  suy thận cấp, phải truyền dịch từ 400ml – 5000 ml ngày, cho lợi tiểu Lasix để duy trì lượng nước tiểu 3000 ml/24 giờ.

  • + Có chế độ theo dõi cấp cứu chăm sóc toàn diện, thích hợp.

 

2. SAY RƯỢU BỆNH LÝ:

 

2.1 KHÁI NIỆM:

 

- Say rượu bệnh lý là một trạng thái ngộ độc rượu cấp rất đặc biệt, hiếm gặp, có thể xảy ra ở những người uống lượng rượu không lớn.

– Theo Corsacop X.X và Xerbski V.P say rượu bệnh lý là tình trạng loạn thần cấp, diễn ra trong một thời gian ngắn, nhất thời với những triệu chứng bệnh lý rối loạn ý thức sâu sắc kiểu mù mờ, kèm theo những trạng thái căng thẳng cảm xúc do hoang tưởng và ảo giác.

 

2.2 ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG CỦA SAY RƯỢU BỆNH LÝ:

 

- Rượu chỉ là một tác nhân dẫn đến say rượu bệnh lý trong số nhiều yếu tố khác cần được kể đến như: Sự mệt nhọc, lo âu, sợ sệt, căng thẳng, thiếu ngủ, đói ăn, suy kiệt, nóng quá mức, khác quá mức, bệnh nhiễm trùng.

- Say rượu bệnh lý phát sinh sau uống rượu không phụ thuộc vào số lượng và loại rượu uống.

- Khởi phát có thể nhanh từ vài phút đến một giờ (ít khi xuất hiện muộn sau nhiều giờ).

- Khác với say rượu thông thường, người say rượu bệnh lý bị ngay những rối loạn ý thức trầm trọng, mất định hướng, không duy trì được sự tiếp xúc với người xung quanh.

- Trong say rượu bệnh lý phối hợp vận động vẫn còn tốt, người say rượu bệnh lý vẫn duy trì được thăng bằng, khả năng di chuyển.

- Trạng thái say rượu bệnh lý thường kéo dài khoảng một giờ đôi khi vài giờ kết thúc bằng giấc ngủ sâu.

- Thường phát sinh cảm xúc bất an, lo âu, hoảng sợ, đạt tới mức khủng khiếp; cảm xúc không thoải mái về quá khứ.

- Các nét đặc trưng khác với say rượu đơn thuần, lượng rượu uống vào ít hay rất ít. Thường gặp ở những người có trạng thái phụ thuộc vào rượu rõ rệt. Những người có nhân cách yếu.

- Cơn xảy ra đột ngột, bất ngờ với nhiều rối loạn hành vi, và có rối loạn ý thức (thường lú lẫn).

 

 3. LẠM DỤNG RƯỢU (ALCOHOL ABUSE)

 

- Một người uống rượu chưa hẳn đã nghiện, nhưng vẫn có thể làm hại đến sức khỏe của họ.

- Nhận thức được ý nghĩa này, mục đích để nhằm ngăn chặn sớm tác hại của rượu, nâng cao cảnh giác cho mọi người hiểu rằng nhiều khi vì thói quen, tuân thủ tập tục, dễ dàng biện hộ cho những hành vi mang tính chất lễ nghi quên mất rằng mình “lạm dụng rượu” trong giao tiếp, hội hè, ăn nhậu sẽ bị tác hại rất nhiều đến sức khỏe.

 

4. NGHIỆN RƯỢU MÃN TÍNH:

 

- Nghiện rượu mãn tính xảy ra khi dùng rượu dài ngày, dần dần thường xuyên phải tìm rươu, uống rượu. Tuy nhiên không phải mọi trường hợp uống rượu thường xuyên đều có thể coi là nghiện rượu mãn tính.

- Nghiện rượu mãn tính là một bệnh lý mà đối tượng sử dụng rượu bị lệ thuộc vào thể chất và tâm thần. Người nghiện rượu bị các triệu chứng sau:

  • + Hội chứng nghiện.

  • + Hội chứng cai rượu.

  • + Sự thay đổi khả năng dung nạp rượu.

  • + Rối loạn tâm thần.

  • + Biến đổi nhân cách.

Cụm điệp báo A10 – Thời khắc lịch sử

Cụm điệp báo A10 - Thời khắc lịch sử

30/04/2012 00:20

Dường như không có một tổ chức tình báo nào hoạt động đặc biệt như Cụm điệp báo A10. Họ không được hướng dẫn, trang bị bất kỳ một thứ máy móc, thiết bị nào. Họ là những học sinh, sinh viên yêu nước, căm thù giặc ngoại xâm. Họ chỉ biết định hướng chung từ thủ trưởng trực tiếp rồi tự quyết định hành động sao cho đạt hiệu quả cao nhất và không để bị lộ, bị bắt.

 
  • Xây dựng “lõm chính trị”
 

Đầu năm 1972, sau Hội nghị Bình Giã, đồng chí Nguyễn Văn Linh, Phó Bí thư Trung ương Cục miền Nam chỉ đạo Thành ủy Sài Gòn - Gia Định nghiên cứu các nhân vật đối lập để vừa phân hóa, vừa lôi kéo, vừa cài người của ta để làm sao hạ bệ được Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu.

Nhận được chỉ thị, ông Nguyễn Quốc Hương (Mười Hương), Phó Bí thư Thành ủy Sài Gòn - Gia Định, liền bàn bạc với ông Sáu Ngọc (tức Lê Thanh Vân, Phó ban An ninh T4 phụ trách điệp báo) tìm một số anh em cài vào nhóm của Đại tướng Dương Văn Minh để triển khai công tác hoạt động chính trị nhằm tạo thế và lực cho số đối lập chịu ảnh hưởng của cách mạng lớn mạnh đến khi đủ điều kiện có thể thay thế được Nguyễn Văn Thiệu.

Tháng 9-1972, ông Sáu Ngọc thành lập Cụm điệp báo lấy bí số A10. Cụm gồm các ông Nguyễn Minh Trí (tức Mười Thắng, Cụm trưởng), Nguyễn Hữu Khánh Duy (tức Năm Quang, Cụm phó), Huỳnh Huề (tức Ba Hoàng, Cụm phó)…

Ông Năm Quang cho biết: “Cụm điệp báo A10 có nhiệm vụ xây dựng cơ sở, thu thập tin tức, âm mưu thủ đoạn của địch; tấn công chính trị, phân hóa hàng ngũ địch, xây dựng “lõm chính trị”. Các “lõm chính trị” ở thành phố là lực lượng quần chúng có cảm tình với cách mạng và có thể lợi dụng được bộ máy hành chính của địch để phục vụ yêu cầu của ta. Lúc đó, tôi đang hoạt động trong Ban An ninh T4 được điều động về cụm điệp báo và đang là Đoàn trưởng Đoàn công tác Y-Nha-Dược. Đoàn công tác của chúng tôi chủ yếu làm công tác xã hội thuần túy như khám sức khỏe, phát thuốc cho bà con nghèo ở các quận 4, 6, 11…

Lợi dụng việc này, chúng tôi đã thâm nhập vào bà con và không ít lần ứng cứu bộ đội đang ẩn nấp trong dân cũng như chuyển thuốc men về vùng cách mạng. Tôi nhiều lần quy tụ sinh viên tổ chức biểu tình chống tham nhũng, vận động dân sinh, dân chủ, chống bắt lính… Do gia đình tôi có nhiều người giữ vị trí nòng cốt của ngụy quyền Sài Gòn nên bọn lính ngụy, mật thám coi tôi như một sinh viên ngoan cố, quậy phá. Với vỏ bọc như vậy, tôi dễ dàng tạo được nhiều cơ sở, “lõm chính trị”, trong đó có cơ sở quan trọng là ông Huỳnh Bá Thành (tức Ba Trung), Giám đốc kỹ thuật tờ Điện Tín, tờ báo đối lập có số phát hành khá cao vào thời điểm bấy giờ”.

Nhờ thân quen từ hồi học hồi phổ thông, ông Năm Quang đã tác động cho ông Ba Trung thực hiện và đăng tải các tin bài phản chiến, đấu tranh dân sinh, dân chủ, vạch mặt chính quyền tham nhũng, kêu gọi hòa bình, thực hiện hòa hợp, hòa giải trên cơ sở pháp lý và thực hiện nghiêm chỉnh Hiệp định Paris…

Ông Năm Quang cho biết, với thế mạnh của tờ báo, từ sự rệu rã của ngụy quyền Sài Gòn, Mỹ không viện trợ cũng như các nguồn tin tình báo quan trọng không thể chuyển về trung ương kịp, đã được báo Điện Tín đăng tải. Khi đã là cơ sở nòng cốt của Cụm điệp báo A10, ông Huỳnh Bá Thành đã quan hệ chặt chẽ với các dân biểu, nghị sĩ, phóng viên, thành viên Văn phòng Chính phủ bên cạnh Đại tướng Dương Văn Minh.

  • Giờ phút lịch sử
 

Chính vì những bài báo “phương hại đến an ninh quốc gia”, tháng 3-1975, báo Điện Tín bị chính quyền Nguyễn Văn Thiệu đóng cửa. Ban An ninh T4, Cụm điệp báo A10 yêu cầu ông Huỳnh Bá Thành tìm cách ở hẳn trong Dinh Hoa Lan của tướng Dương Văn Minh. Trong khí thế tấn công và chiến thắng của quân giải phóng ở khắp mọi miền, ông Sáu Ngọc, Phó ban An ninh T4 giao nhiệm vụ cho Cụm điệp báo A10 bằng mọi cách tấn công chính trị, tác động để Dương Văn Minh thay Nguyễn Văn Thiệu rồi tìm cách giao chính quyền cho cách mạng để cuộc chiến sớm chấm dứt và ít tổn thất.

Khi Tổng thống Thiệu từ chức, Trần Văn Hương lên thay thế, Cụm điệp báo A10 đã tác động các dân biểu đối lập đề ra bản tuyên cáo chống “Chính phủ Thiệu không có Thiệu”. Bản tuyên cáo được nhóm của ông Huỳnh Bá Thành biên soạn và dịch ra nhiều thứ tiếng trong đêm 24-4-1975 để kịp phân phát trong cuộc họp báo sáng hôm sau. Chính bản tuyên cáo này đã làm rối loạn cuộc họp của hạ viện. Cuộc họp này dự kiến là lễ tấn phong Tổng thống cho Trần Văn Hương.

Ông Mười Hương tiếp tục chỉ đạo Cụm A10 tác động để thay Trần Văn Hương và phương án tốt nhất là ông Dương Văn Minh thay thế. Cùng với nhiều lực lượng khác, Cụm điệp báo A10 đã tham gia tác động các nghị sĩ đối lập để Quốc hội chế độ Sài Gòn bầu ông Dương Văn Minh làm tổng thống vào ngày 28-4-1975.

Sau khi quân giải phóng cắm cờ Dinh Độc Lập, trưa ngày 30-4, ông Dương Văn Minh cùng nội các đi theo Trung tá Bùi Văn Tùng, Chính ủy Lữ đoàn xe tăng 203; đại úy Phạm Xuân Thệ, Trung đoàn phó Trung đoàn 66 đến đài phát thanh đọc lời tuyên bố đầu hàng vô điều kiện. Khi đến nơi, các nhân viên nhà đài đã bỏ chạy về nhà, máy vẫn mở nhưng không ai biết vận hành.

Ông Phạm Kỳ Nhân, phóng viên Hãng thông tấn AP (cơ sở của Cụm A10) liền phóng xe về Làng Báo chí (phường Thảo Điền, quận 2 bây giờ) để đưa các chuyên viên Hứa Trọng Liêm, Trần Tự Lập, Nguyễn Hữu Hùng… vào hướng dẫn, vận hành máy. Đến 12 giờ 15 phút, ông Dương Văn Minh đọc lời tuyên bố đầu hàng. Và ông Phạm Kỳ Nhân đã chụp được bức ảnh lịch sử ghi nhận sự kiện trọng đại của đất nước.

ĐOÀN HIỆP

A10 – Cụm điệp báo và thời khắc lịch sử trong “Phủ Đầu Rồng”

A10 - Cụm điệp báo và thời khắc lịch sử trong “Phủ Đầu Rồng”

28/04/2015 10:39

(CAND) Sau Hội nghị Bình Giã V, Ban lãnh đạo Trung ương Cục miền Nam chỉ đạo Thành ủy Sài Gòn Gia Định và Ban An ninh T4 thiết lập một mạng lưới tình báo mới tại Sài Gòn. Thực hiện chỉ đạo, năm 1972, ông Trần Quốc Hương, bí danh Mười Hương - Trưởng ban An ninh T4 và Phó ban Lê Thanh Vân, tức Sáu Ngọc quyết định thành lập một mạng lưới tình báo đưa vào nội thành Sài Gòn, trong đó có 1 cụm mang mật danh A10.

 

Nhiệm vụ chính của cụm A10 là tấn công chính trị trực diện với chính quyền Nguyễn Văn Thiệu; xây dựng hệ thống đặc tình nhằm xoay chuyển tình thế chính trị trong giới lãnh đạo Việt Nam Cộng hòa (VNCH) theo chiều hướng có lợi cho Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam, đồng thời thu thập tin tình báo; tạo lõm chính trị quần chúng bao vây nội đô Sài Gòn để làm nơi đứng chân của các cánh quân tiến vào giải phóng Sài Gòn.

Là một nhà tình báo nhìn xa, trông rộng, từ đầu năm 1973, ông Mười Hương đã phán đoán “Mỹ rút lui thì VNCH chỉ có chết”. Từ nhận định đó, ông cùng Phó ban Sáu Ngọc xây dựng 1 tuyến lưới tình báo chính trị thâm nhập sâu "Phủ Đầu Rồng" của chính quyền VNCH, gồm một số cốt cán và anh em có nhiều kinh nghiệm đấu tranh chính trị tại Sài Gòn làm "khung sườn" cho cụm A10.

Ông Sáu Ngọc đã chọn sinh viên Nguyễn Minh Trí - người bị chính quyền Nguyễn Văn Thiệu truy lùng vừa lánh vào căn cứ mật trong một cánh rừng giáp giới Campuchia - làm Cụm trưởng. Cụm phó gồm có Nguyễn Hữu Khánh Duy, bí danh Năm Quang; Huỳnh Huề, bí danh Ba Hoàng (sau này là Thiếu tướng Huỳnh Huề); Trần Thiếu Bảo, bí danh Hai Phương. Sau đó, Nguyễn Hữu Khánh Duy kết nạp thêm Huỳnh Bá Thành, bí danh Ba Trung (tức họa sỹ Ớt) vào lưới.

Ngay từ những ngày mới thành lập, cụm đã xây dựng các tuyến lưới điệp viên nằm ẩn sâu trong các cơ quan trọng yếu nhất của chính quyền Sài Gòn như văn phòng Phó Thủ tướng đặc trách kinh tế, Nha Dân vận & Chiêu hồi; Nha Điện toán (CIA), Quốc hội VNCH, Tổng nha Cảnh sát, Phủ Đặc ủy Tình báo Trung ương... Do yêu cầu nhiệm vụ, sau này một số điệp viên của A10 chuyển sang hoạt động dưới quyền điều khiển trực tiếp của Ban An ninh T4.

Họa sỹ Ớt tức nhà báo Huỳnh Bá Thành - Giám đốc kỹ thuật tờ Điện Tín - đã tổ chức được nhiều trận đánh chính trị làm cho lực lượng dân biểu phản động và Chính phủ Nguyễn Văn Thiệu lay hoay, điên đảo.

Cuối năm 1973, sau khi tốt nghiệp bác sỹ hạng ưu, Cụm phó Khánh Duy bị địch nghi ngờ ép buộc phải đi quân dịch. Ông Mười Hương quyết định cho Khánh Duy đăng lính để tạo vỏ bọc. Dù rơi vào thế khó khăn, Khánh Duy vẫn tiếp tục "đánh địch" trong vai trò bác sỹ của quân đội địch cho đến ngày toàn thắng 30/4/1975.

Sau khi Cụm phó Khánh Duy thay đổi vị trí hoạt động, Cụm phó Ba Hoàng (tức Thiếu tướng Huỳnh Huề) tiếp tục chỉ huy cụm A10.

Cuối năm 1974 đầu năm 1975, khi Bộ Chính trị quyết tâm thực hiện kế hoạch chiến lược giải phóng miền Nam trong 2 năm 1975-1976 thì ông Mười Hương đã có kế hoạch để góp phần giải phóng Sài Gòn êm thấm, không đổ máu.

Ông nhận định: Mỹ chắc chắn sẽ cho Thiệu ra đi. Phải có người thay Thiệu. Trong số những gương mặt chính trị, ông nhận thấy chỉ có Dương Văn Minh là người vừa có các yếu tố cần và đủ để làm Tổng thống VNCH. Điều có lợi cho cách mạng là ông Dương Văn Minh có tinh thần dân tộc. Ông Mười Hương đã chỉ đạo họa sỹ Ớt và cụm A10 tiếp cận Dương Văn Minh và các nhóm dân biểu đối lập Thiệu để hỗ trợ chính trị, vận động ngầm cho ông Minh lên làm Tổng thống VNCH.

Ngày 21/4/1975, Nguyễn Văn Thiệu tuyên bố từ chức, bàn giao quyền lực cho ông Trần Văn Hương. Cụm A10 tiếp tục tác động các nhóm chính trị gia trong chính trường VNCH để tẩy chay Trần Văn Hương, mở đường để Dương Văn Minh ngồi vào ghế tổng thống.

Trước sức ép của dư luận, ngày 26/4/1975, lưỡng viện VNCH đồng loạt tẩy chay Trần Văn Hương và bầu ông Dương Văn Minh làm Tổng thống. Ngay tại buổi lễ nhậm chức, ông Minh đã gửi thông điệp cho các đơn vị chiến đấu của VNCH buông súng “chờ lệnh”. Chính ông Dương Văn Minh xác nhận với các phóng viên quốc tế, họa sỹ Ớt là người tác động quan trọng nhất để ông lên nhận chức Tổng thống – bước đệm để ra tuyên bố đầu hàng.

Ngày 29/4/1975, họa sỹ Ớt và các điệp viên An ninh T4, cùng với các cán bộ tình báo Binh vận đã vận động trực tiếp những nhân vật có uy tín tác động ông Dương Văn Minh phải tuyên bố ngừng bắn đơn phương, giao chính quyền cho cách mạng.

Sáng 30/4/1975, một đơn vị chiến đấu của VNCH do Thiếu tá Chỉnh chỉ huy đang chuẩn bị phá sập cầu Sài Gòn hòng ngăn bước tiến xe tăng của quân ta. Nhận được tin, dân biểu Phan Xuân Huy - một điệp viên A10 - con rể của ông Dương Văn Minh đã đến tận chân cầu gặp Thiếu tá Chỉnh ra lệnh “không được giật sập cầu nếu không có lệnh của Tổng thống Dương Văn Minh”. Nhờ giữ được chiếc cầu, thiết giáp của quân ta tiến nhanh vào tận Dinh Độc Lập vào sáng 30/4/1975.

Khi những chiếc xe tăng đầu tiên của quân đội của ta tiến vào Dinh Độc Lập thì một số thành viên của cụm điệp báo A10 như Nguyễn Hữu Thái, Kỳ Nhân, Cung Văn – Nguyễn Vạn Hồng đã có mặt xung quanh Dương Văn Minh. Nhà báo Kỳ Nhân (Hãng tin AP) - thành viên A10 là người chụp được bức ảnh lịch sử ngay thời điểm Dương Văn Minh đầu hàng. Và một thành viên khác của A10 là Nguyễn Hữu Thái đã dẫn đường cho cán bộ quân sự của ta lên nóc Dinh Độc Lập treo cờ.

Tuy Dương Văn Minh đã phát lời tuyên bố đầu hàng nhưng một số đơn vị quân đội VNCH vẫn chưa nhận được tin. Thời điểm đó, Đài Phát thanh Sài Gòn đã không còn hoạt động, ông Nguyễn Hữu Thái đã nhanh trí đi tìm, mời 2 kỹ thuật viên của đài đến khởi động máy. Nguyễn Hữu Thái đã làm phát thanh viên bất đắc dĩ đọc lời dẫn buổi phát thanh đặc biệt đó. Sau lời dẫn của Nguyễn Hữu Thái, ông Dương Văn Minh mới bắt đầu đọc lời tuyên bố đầu hàng. Đó là thời khắc 11h30’ sáng 30/4/1975.

Cũng trong buổi sáng 30/4/1975, khi tình hình Sài Gòn chưa ngã ngũ, Cụm phó Ba Hoàng đã chủ động rải điệp viên giải giáp nhiều viên sỹ quan cao cấp của VNCH, đồng thời tổ chức lực lượng chiếm giữ phủ Thủ tướng đặc trách kinh tế, Bưu điện Sài Gòn, Đài Phát tin Chí Hòa, Sứ quán Mã Lai, những trụ sở chính quyền từ sân bay Tân Sơn Nhất chạy dọc theo tuyến Tân Bình, quận 3 đến Dinh Độc Lập. Ba Vũ, tức Võ Vân – thành viên của A10 – là người trực tiếp tiếp quản, treo cờ giải phóng khu vực Bảy Hiền, Bàu Cát và Sứ quán Malaysia. Võ Văn Chi (tức Chín Thanh) làm chủ tình hình ở Phú Nhuận…

Rất nhiều cơ quan trọng yếu của chính quyền Sài Gòn đã được cụm A10 làm chủ tình hình trước khi lời tuyên bố đầu hàng của Dương Văn Minh phát trên làn sóng phát thanh.

Tại Hội thảo khoa học "Vai trò của lực lượng Công an nhân dân trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn TP Hồ Chí Minh" ngày 29-3-2015, Đại tướng Trần Đại Quang đã phát biểu:
"...Cụm điệp báo A10 đã tác động sĩ quan, binh lính chính quyền Sài Gòn "án binh bất động", bảo quản hồ sơ, tài liệu của chính quyền Việt Nam Cộng hòa, kết hợp với các tổ chức quần chúng tổ chức các đường dây giao liên dẫn đường 5 mũi tiến công vào Sài Gòn, góp phần giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước..."

Nông Huyền Sơn

Bộ Y tế cảnh báo hệ lụy nghiêm trọng khi lạm dụng khí N2O, cần phải kiểm soát triệt để

Bộ Y tế cảnh báo hệ lụy nghiêm trọng khi lạm dụng khí N2O, cần phải kiểm soát triệt để

SKĐS - Theo Bộ Y tế, việc lạm dụng, sử dụng không đúng mục đích khí Nitơ Oxyd (N2O) có nguy cơ ảnh hưởng xấu đến sức khỏe, đặc biệt trong giới trẻ do thần kinh bị kích thích, hưng phấn và gây cười; sử dụng lâu sẽ dẫn đến tự kỉ, đau đầu, mệt mỏi, suy nhược cơ thể; sử dụng liều cao có thể dẫn đến ảo giác.

 

Bộ Y tế vừa có văn bản gửi Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố về việc tăng cường quản lý sản xuất, kinh doanh và sử dụng sản phẩm khí Nitơ Oxyd (N2O).

Theo Thứ trưởng Bộ Y tế Đỗ Xuân Tuyên, trong thời gian vừa qua, Bộ Y tế nhận được thông tin tại một số địa phương xuất hiện tình trạng mua bán, sử dụng 'bóng cười' có chứa khí Nitơ Oxyd (N2O) nhất là tại các quán bar, vũ trường, quán karaoke, khu vui chơi giải trí...

Bộ Y tế cho hay, khí Nitơ Oxyd (tên hóa học là Dinitrogen monoxyd) có công thức hóa học là N2O, là hóa chất được sử dụng trong công nghiệp (sản xuất pin mặt trời, trong kỹ thuật hàn, cắt, dùng cho máy, thiết bị phân tích, tăng công suất động cơ...); đồng thời được sử dụng trong sản xuất, chế biến thực phẩm (có trong danh mục phụ gia thực phẩm của Ủy ban thực phẩm quốc tế - Codex); và đang được nghiên cứu sử dụng để an thần, giảm đau trong nha khoa.

Tuy nhiên, việc lạm dụng, sử dụng không đúng mục đích khí Nitơ Oxyd (N2O) có nguy cơ ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người, đặc biệt là trong giới trẻ do thần kinh bị kích thích, hưng phấn và gây cười; sử dụng lâu sẽ dẫn đến tự kỉ, đau đầu, mệt mỏi, suy nhược cơ thể; sử dụng liều cao có thể dẫn đến ảo giác... Đồng thời có thể có những tác động tiêu cực đến đời sống xã hội.

Để tăng cường công tác quản lý đối với khí Nitơ Oxyd (N2O) theo quy định pháp luật, phòng chống việc lạm dụng, sử dụng sai mục đích, Bộ Y tế đã có công văn đề nghị UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chỉ đạo triển khai các hoạt động sau:

Tăng cường thanh tra, kiểm tra, giám sát các cơ sở nhập khẩu, kinh doanh, sang chiết sản phẩm khí Nitơ Oxyd (N2O) bảo đảm tuân thủ quy định của pháp luật về quản lý hóa chất cũng như quản lý phụ gia thực phẩm.

Các công ty phải khai báo nhập khẩu, kinh doanh khí Nitơ Oxyd (N2O) làm phụ gia thực phẩm; việc thanh tra, kiểm tra các quy định về an toàn thực phẩm nói chung ưu tiên kiểm tra việc khai báo kiểm tra nhà nước về thực phẩm nhập khẩu trước khi thông quan, kiểm tra việc tuân thủ các quy định tại Thông tư số 25/2019/TT- BYT ngày 30/8/2019 của Bộ Y tế quy định truy xuất nguồn gốc sản phẩm thực phẩm thuộc lĩnh vực quản lý của Bộ Y tế (Bảo đảm truy xuất được người bán và người mua), xử lý nghiêm các hành vi lạm dụng, sử dụng sai mục đích đối với khí Nitơ Oxyd (N2O).

Cùng đó, tăng cường công tác thông tin, giáo dục, truyền thông đến người dân, đặc biệt là đối tượng thanh thiếu niên, học sinh, sinh viên về tác hại và hậu quả của việc lạm dụng sử dụng, sử dụng sai mục đích khí Nitơ Oxyd (N2O).

Ban hành các quy định theo thẩm quyền để ngăn ngừa và xử lý việc lạm dụng, sử dụng sai mục đích khí Nitơ Oxyd (N2O) nhất là tại các điểm vui chơi, giải trí như các quán bar, vũ trường, quán karaoke, rạp chiếu phim, công sở, trường học...

Bộ Y tế cũng đề nghị các địa phương thực hiện rà soát, đánh giá và đề xuất sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật, các điều kiện kinh doanh trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh sản phẩm khí Nitơ Oxyd (N2O) nhằm bảo đảm kiểm soát triệt để nguy cơ lạm dụng, sử dụng sai mục đích, gây ảnh hưởng đến sức khỏe người tiêu dùng, tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp sản xuất, nhập khẩu và kinh doanh theo đúng quy định.

Trên thực tế thời gian qua, báo Sức khỏe & Đời sống đã có nhiều lần phản ánh, thông tin việc giới trẻ lạm dụng sử dụng 'bóng cười' và những hệ lụy nghiêm trọng về sức khoẻ khi lạm dụng khí N2O. Đã có không ít trường hợp phải nhập viện điều trị dài ngày vì tổn thương tủy cổ, tê yếu tay chân do ngộ độc khí N2O, loạn thần...

Thái Bình

Bộ Y tế thông tin về khí Nitơ Oxit (N2O)

Bộ Y tế thông tin về khí Nitơ Oxit (N2O)

 

Hiện nay theo báo cáo của một số địa phương đã xảy ra tình trạng mua bán, sử dụng “bóng cười” có chứa khí Nitơ Oxit (N2O) tại các quán bar, vũ trường, quán karaoke, khu vui chơi giải trí… ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ người sử dụng, đồng thời gây ra những tác động tiêu cực đến đời sống xã hội; Bộ Y tế thông tin về khí N2O như sau:

1. Khí Nitơ Oxit (tên hoá học là Dinitrogen monoxyd), công thức hoá học là N2O, là hóa chất được ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực như trong công nghiệp (sản xuất pin mặt trời, sử dụng trong kỹ thuật hàn, cắt, dùng cho máy, thiết bị phân tích, tăng công suất động cơ...); trong y học (để gây mê, an thần, giảm đau trong lĩnh vực nha khoa, sản khoa, thể thao…) và trong thực phẩm (là một phụ gia được phép sử dụng theo danh mục của Ủy ban Tiêu chuẩn thực phẩm quốc tế - Codex).

2. Tại Việt Nam, riêng đối với lĩnh vực thực phẩm Bộ Y tế đã ban hành Thông tư 24/2019/TT-BYT ngày 30/8/2019 quy định về quản lý và sử dụng phụ gia thực phẩm, trong đó N2O là một phụ gia thực phẩm có chức năng làm chất khí đẩy, chất tạo bọt, chất khí bao gói, chất chống oxy hóa được phép sử dụng trong một số loại thực phẩm như sữa lên men, cream, quả tươi gọt vỏ hoặc cắt miếng, mì ống, mì sợi…(quy định này phù hợp với quy định của Uỷ ban Tiêu chuẩn thực phẩm quốc tế - Codex). Các tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh phụ gia thực phẩm nói chung và khí N2O nói riêng phải thực hiện tự công bố sản phẩm tại cơ quan quản lý an toàn thực phẩm địa phương và phải đảm bảo yêu cầu đối với phụ gia thực phẩm: được phép sử dụng và đúng đối tượng thực phẩm; không vượt quá mức sử dụng tối đa đối với một loại thực phẩm hoặc nhóm thực phẩm; hạn chế đến mức thấp nhất lượng phụ gia thực phẩm cần thiết để đạt được hiệu quả kỹ thuật mong muốn; không có nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe con người.


3. Hiện nay, theo báo cáo của các cơ quan chức năng: việc lạm dụng, sử dụng không đúng mục đích khí N2O trong vui chơi, giải trí (sử dụng bóng cười) khi hít vào cơ thể con người có khả năng tác động, kích thích mạnh lên một số điểm của hệ thần kinh, tạo ra cảm giác lâng lâng và gây cười sảng khoái. Việc lạm dụng thường xuyên N2O có thể gây ra các rối loạn như: cảm giác châm chích ở đầu các chi và đi lại loạng choạng, gây ra rối loạn khí sắc, rối loạn trí nhớ, rối loạn giấc ngủ, ảnh hưởng đến tim mạch, hạ huyết áp, thiếu máu lên não. Sử dụng bóng cười chứa khí N2O đặc biệt nguy hiểm khi dùng chung với một số ma tuý khác làm mất kiểm soát năng lực hành vi, gây mất an ninh trật tự và nguy hiểm cho xã hội.

4. Để đảm bảo sức khỏe, đảm bảo an ninh, an toàn cho xã hội; Bộ Y tế đề nghị các địa phương giám sát, quản lý chặt chẽ việc sản xuất, kinh doanh, nhập khẩu, sử dụng N2O đúng theo quy định của pháp luật; Xử lý nghiêm các hành vi lạm dụng, sử dụng sai mục đích đối với khí N2O; Tăng cường công tác thông tin, giáo dục, truyền thông đến người dân, đặc biệt là đối tượng thanh thiếu niên, học sinh, sinh viên về tác hại và hậu quả của việc lạm dụng sử dụng, sử dụng sai mục đích khí N2O; Các doanh nghiệp phải tuân thủ nghiêm quy định, nguyên tắc sử dụng phụ gia thực phẩm, không được lạm dụng, sử dụng sai mục đích; phải tuân thủ khai báo nhập khẩu, kinh doanh khí N2O làm phụ gia thực phẩm (bảo đảm truy xuất được người bán và người mua). Nếu tổ chức, cá nhân nào vi phạm sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật.

Thông tin từ Cục An toàn thực phẩm – Bộ Y tế

Bộ Y tế cảnh báo hệ lụy nghiêm trọng khi lạm dụng khí N2O, cần phải kiểm soát triệt để

SKĐS - Theo Bộ Y tế, việc lạm dụng, sử dụng không đúng mục đích khí Nitơ Oxyd (N2O) có nguy cơ ảnh hưởng xấu đến sức khỏe, đặc biệt trong giới trẻ do thần kinh bị kích thích, hưng phấn và gây cười; sử dụng lâu sẽ dẫn đến tự kỉ, đau đầu, mệt mỏi, suy nhược cơ thể; sử dụng liều cao có thể dẫn đến ảo giác.

 

Bộ Y tế vừa có văn bản gửi Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố về việc tăng cường quản lý sản xuất, kinh doanh và sử dụng sản phẩm khí Nitơ Oxyd (N2O).

Theo Thứ trưởng Bộ Y tế Đỗ Xuân Tuyên, trong thời gian vừa qua, Bộ Y tế nhận được thông tin tại một số địa phương xuất hiện tình trạng mua bán, sử dụng 'bóng cười' có chứa khí Nitơ Oxyd (N2O) nhất là tại các quán bar, vũ trường, quán karaoke, khu vui chơi giải trí...

Bộ Y tế cho hay, khí Nitơ Oxyd (tên hóa học là Dinitrogen monoxyd) có công thức hóa học là N2O, là hóa chất được sử dụng trong công nghiệp (sản xuất pin mặt trời, trong kỹ thuật hàn, cắt, dùng cho máy, thiết bị phân tích, tăng công suất động cơ...); đồng thời được sử dụng trong sản xuất, chế biến thực phẩm (có trong danh mục phụ gia thực phẩm của Ủy ban thực phẩm quốc tế - Codex); và đang được nghiên cứu sử dụng để an thần, giảm đau trong nha khoa.

Tuy nhiên, việc lạm dụng, sử dụng không đúng mục đích khí Nitơ Oxyd (N2O) có nguy cơ ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người, đặc biệt là trong giới trẻ do thần kinh bị kích thích, hưng phấn và gây cười; sử dụng lâu sẽ dẫn đến tự kỉ, đau đầu, mệt mỏi, suy nhược cơ thể; sử dụng liều cao có thể dẫn đến ảo giác... Đồng thời có thể có những tác động tiêu cực đến đời sống xã hội.

Để tăng cường công tác quản lý đối với khí Nitơ Oxyd (N2O) theo quy định pháp luật, phòng chống việc lạm dụng, sử dụng sai mục đích, Bộ Y tế đã có công văn đề nghị UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chỉ đạo triển khai các hoạt động sau:

Tăng cường thanh tra, kiểm tra, giám sát các cơ sở nhập khẩu, kinh doanh, sang chiết sản phẩm khí Nitơ Oxyd (N2O) bảo đảm tuân thủ quy định của pháp luật về quản lý hóa chất cũng như quản lý phụ gia thực phẩm.

Các công ty phải khai báo nhập khẩu, kinh doanh khí Nitơ Oxyd (N2O) làm phụ gia thực phẩm; việc thanh tra, kiểm tra các quy định về an toàn thực phẩm nói chung ưu tiên kiểm tra việc khai báo kiểm tra nhà nước về thực phẩm nhập khẩu trước khi thông quan, kiểm tra việc tuân thủ các quy định tại Thông tư số 25/2019/TT- BYT ngày 30/8/2019 của Bộ Y tế quy định truy xuất nguồn gốc sản phẩm thực phẩm thuộc lĩnh vực quản lý của Bộ Y tế (Bảo đảm truy xuất được người bán và người mua), xử lý nghiêm các hành vi lạm dụng, sử dụng sai mục đích đối với khí Nitơ Oxyd (N2O).

Cùng đó, tăng cường công tác thông tin, giáo dục, truyền thông đến người dân, đặc biệt là đối tượng thanh thiếu niên, học sinh, sinh viên về tác hại và hậu quả của việc lạm dụng sử dụng, sử dụng sai mục đích khí Nitơ Oxyd (N2O).

Ban hành các quy định theo thẩm quyền để ngăn ngừa và xử lý việc lạm dụng, sử dụng sai mục đích khí Nitơ Oxyd (N2O) nhất là tại các điểm vui chơi, giải trí như các quán bar, vũ trường, quán karaoke, rạp chiếu phim, công sở, trường học...

Bộ Y tế cũng đề nghị các địa phương thực hiện rà soát, đánh giá và đề xuất sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật, các điều kiện kinh doanh trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh sản phẩm khí Nitơ Oxyd (N2O) nhằm bảo đảm kiểm soát triệt để nguy cơ lạm dụng, sử dụng sai mục đích, gây ảnh hưởng đến sức khỏe người tiêu dùng, tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp sản xuất, nhập khẩu và kinh doanh theo đúng quy định.

Trên thực tế thời gian qua, báo Sức khỏe & Đời sống đã có nhiều lần phản ánh, thông tin việc giới trẻ lạm dụng sử dụng 'bóng cười' và những hệ lụy nghiêm trọng về sức khoẻ khi lạm dụng khí N2O. Đã có không ít trường hợp phải nhập viện điều trị dài ngày vì tổn thương tủy cổ, tê yếu tay chân do ngộ độc khí N2O, loạn thần...

Thái Bình

Thuốc lá điện tử là gì? Tác hại của thuốc lá điện tử

Thuốc lá điện tử là gì? Tác hại của thuốc lá điện tử

 

1. Thuốc lá điện tử là gì?

Thuốc lá điện tử (Electronic Nicotine Delivery Systems – ENDS), còn được gọi tên khác như E-cigarette hay Vape, là thiết bị điện tử cầm tay, sử dụng pin để làm nóng dung dịch điện tử có chứa nicotine và các chất hóa học khác, tạo ra các hạt khí dung (còn gọi là aerosol hay sol khí) cho người dùng hít vào.

Cấu tạo của thuốc lá điện tử như sau:

 

2. Các loại thuốc lá điện tử

Thuốc lá điện tử hiện chưa được phép lưu hành chính thức tại Việt Nam. Tuy nhiên, trên thị trường có rất loại nhiều thuốc lá điện tử với tên gọi, hình dáng và kích thước khác nhau.

- Thuốc lá điện tử sử dụng một lần: Có hình giống điếu thuốc (cigalike), không thể sạc hay tái nạp lại dung dịch điện tử, dùng một lần cho đến khi hết pin hoặc hết dung dịch có sẵn trong thiết bị.

- Thuốc lá điện tử sử dụng nhiều lần có ống chứa dung dịch điện tử được đóng sẵn bởi nhà sản xuất và có thể thay ống mới khi sử dụng hoặc có bộ phận chứa dung dịch điện tử có thể tái nạp sau khi sử dụng. Ống chứa dung dịch điện tử được gắn vào pin. Thuốc lá điện tử này có hình như chiếc bút (vape pen).

- Thuốc lá điện tử sử dụng nhiều lần với đầu đốt dung dịch điện tử và thân máy tích hợp bộ điều khiển và pin (tanks mods) cho phép người sử dụng có thể điều chỉnh nhiệt độ và thay đổi thành phần dung dịch điện tử. Thiết bị có thể sạc và sử dụng nhiều lần.

- Thuốc lá điện tử sử dụng nhiều lần với phần đầu là bình chứa dung dịch điện tử được nạp sẵn hoặc tái nạp gắn với thân máy tích hợp hệ thống có thể điều chỉnh (Pod-mods). Sản phẩm thường sử dụng muối nicotin thay vì nicotine đơn thuần như trong các sản phẩm thuốc lá điện tử khác, cho phép dung nạp nicotine nồng độ cao.

3. Tác hại của thuốc lá điện tử

3.1. Tác hại của thuốc lá điện tử đối với sức khỏe của người hút thuốc

(1) Gây nghiện và ảnh hưởng tới hệ thần kinh

- Nicotine trong thuốc lá điện tử là chất gây nghiện mạnh và rất độc hại, do đó gây hại như các sản phẩm thuốc lá điếu thông thường.

- Nicotine làm cho người hút thuốc lá nhanh chóng bị nghiện thuốc lá (lệ thuộc vào nicotine) dù chỉ sau vài lần hút thuốc.

- Nicotine có thể vào não bộ từ 7 đến 10 giây sau khi hút thuốc lá điện tử, làm tăng lượng dopamine trong não và làm người hút thuốc cảm thấy sảng khoái. Khi đã bị nghiện thuốc lá, nếu thiếu thuốc lá hoặc dừng hút thuốc sẽ có biểu hiện thèm thuốc, cơ thể mệt mỏi, chán nản, hay cáu kỉnh. Để cai nghiện thuốc lá rất khó và mất nhiều thời gian và công sức.

- Sử dụng nitcotine liều cao có thể làm trầm trọng hơn các triệu chứng trầm cảm và lo âu.

- Sử dụng nicotine lâu dài làm kìm hãm sự phát triển của não bộ, ảnh hưởng đến khả năng nhớ, tập trung chú ý và học tập, do vậy đặc biệt tác động đối với trẻ em. Do não bộ của con người phát triển từ khi sinh ra cho đến khi 25 tuổi, thanh thiếu niên sử dụng thuốc lá điện tử dễ dàng bị nghiện nicotine hơn, ảnh hưởng tới sức khỏe cũng xảy ra sớm hơn và trầm trọng hơn.

- Sử dụng nicotine ở tuổi vị thành niên cũng có thể làm tăng nguy cơ nghiện các chất gây nghiện khác (như ma túy) ở nhóm tuổi này. Hơn nữa, sử dụng thuốc lá điện tử ở giới trẻ cũng làm tăng khả năng hút thuốc lá trong tương lai.

(2) Bệnh lý đường hô hấp

- Bệnh ‘phổi bỏng ngô’ (popcorn lung) hay còn gọi là viêm tiểu phế quản tắc nghẽn

Một bệnh hiếm gặp được cho là do diacetyl, một trong các hóa chất tạo mùi hương trong khói thuốc lá điện tử có khả năng đi sâu vào phổi gây ra. Các biểu hiện thường gặp là ho, thở khò khè, đau ngực và thở nông. Hiện chưa có thuốc điều trị khỏi hoàn toàn bệnh này.

- Bệnh viêm phổi lipoid

Có liên quan đến hút thuốc lá điện tử và thuốc lá nung nóng (vaping-related lipoid pneumonia) là hậu quả của việc hít các hợp chất dầu có trong dung dịch điện tử. Các axit béo bám dính vào phổi và gây ra phản ứng viêm tại phổi. Các triệu chứng thường gặp là ho mạn tính, thở nông, ho ra máu hoặc đờm có máu. Hiện tại không có thuốc điều trị đặc hiệu cho bệnh này.

- Hội chứng tổn thương phổi cấp do thuốc lá điện tử (E-cigarette Acute Lung Injury Syndrome – EVALI).

Vitamin E acetate có trong thuốc lá điện tử được cho là nguyên nhân gây hội chứng này. Các triệu chứng thường gặp là khó thở, ho, đau ngực, sốt, ớn lạnh, tiêu chảy, buồn nôn và nôn, thở nhanh và nông.

- Suy giảm chức năng phổi:

Kim loại được giải phóng từ khói thuốc lá điện tử, tùy mức độ tiếp xúc, có khả năng gây ra khó thở, kích ứng phế quản và phổi, kích ứng màng nhầy ở mắt và đường hô hấp trên.

- Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính:

Sử dụng thuốc lá điện tử lâu dài có thể gây bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính. Triệu chứng thường gặp của bệnh là ho, khó thở kéo dài vì đường thở bị hẹp lại so với bình thường. Phổi tắc nghẽn mạn tính có thể gây ra tình trạng suy giảm hô hấp, hạn chế khả năng hoạt động hàng ngày, làm giảm chất lượng cuộc sống.

(3) Bệnh lý tim mạch

Nicotine làm tăng nguy cơ rối loạn tim mạch. Sử dụng nicotine lâu dài có thể gây suy tim hoặc tử vong.

Một số hóa chất độc hại như carbon monoxide trong khói thuốc lá điện tử và thuốc lá nung nóng làm tăng nguy cơ hình thành huyết khối và xơ vữa động mạch, nhồi máu cơ tim, suy tim, đột quỵ.

(4) Ưng thư

Một số hợp chất có trong khói thuốc lá điện tử như: formaldehyd, acrolein, toluene, chất đặc biệt gây ung thư nitrosamine và hydrocarbon thơm đa vòng, các kim loại nặng (như niken và chì) có thể gây các thay đổi tế bào liên quan đến ung thư tương tự như người hút thuốc lá điếu thông thường.

Ngoài việc gây nghiện cao, nicotine làm tăng nguy cơ gây ung thư thông qua tăng sinh tế bào, mất cân bằng oxy hóa, gây chết tế bào và đột biến DNA, cũng như sự phát triển của khối u.

(5) Chấn thương

Các thiết bị trong thuốc lá điện tử có thể hỏng, lỗi và phát nổ gây ra các chấn thương, bỏng nghiêm trọng (miệng, mặt, cổ, mắt mũi, xương hàm, cổ).

Chỉ riêng tại Hoa Kỳ từ năm 2015 đến 2017, ước tính có khoảng 2.035 vụ nổ thuốc lá điện tử và các tổn thương do bỏng tại các khoa cấp cứu của bệnh viện Hoa Kỳ.

3.2. Tác hại của thuốc lá điện tử với người hút thuốc thụ động

Khói từ thuốc lá điện tử và thuốc lá nung nóng gây hại cho sức khỏe của những người xung quanh. Bằng chứng cho thấy có sự phơi nhiễm nicotine ở những người không sử dụng thuốc lá tiếp xúc với khói từ thuốc lá điện tử và thuốc lá nung nóng. Các triệu chứng thường gặp ở người tiếp xúc thụ động với thuốc lá điện tử và thuốc lá nung nóng gồm khó thở, kích ứng mắt, nhức đầu, buồn nôn và đau họng hoặc kích thích họng.

Hít phải các chất độc hại như nitrosamines, aldehydes, carbon monoxide... trong khói của thuốc lá điện tử và thuốc lá nung nóng cũng có nguy cơ mắc ung thư và tăng nguy cơ tim mạch, đột quỵ.

Trẻ em là đối tượng dễ bị ảnh hưởng nhất bởi khói thuốc lá điện tử và khói thuốc lá nung nóng. Bằng chứng cho thấy chỉ một lượng nhỏ khói thuốc lá điện tử và thuốc là nung nóng cũng tác động tới sự phát triển của não bộ và phổi của trẻ em.

Phụ nữ có thai đặc biệt dễ bị tác động bởi nicotine trong khói thuốc lá điện tử và thuốc lá nung nóng. Các nguy cơ có thể gồm: sinh thiếu tháng, trẻ sinh ra thiếu cân, thai lưu, dị dạng phát triển não và phổi, hội chứng đột tử ở trẻ sơ sinh.

3.3. Một số tác hại khác của thuốc lá điện tử

- Nguy cơ phát sinh các tệ nạn xã hội:

Người sử dụng thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng có thể tự ý tăng tỷ lệ nicotine quá mức hoặc thêm ma túy và các chất gây nghiện khác vào để sử dụng mà khó bị phát hiện. Pha trộn ma túy vào dung dịch điện tử đã được ghi nhận ở Trung tâm Chống độc bệnh viện Bạch Mai và Trung tâm giám định ma túy Viện Khoa học hình sự Bộ Công an22. Tại Mỹ, nghiên cứu sử dụng dữ liệu Điều tra quốc gia về sử dụng thuốc lá ở thanh thiếu niên (lớp 6 đến lớp 12) năm 2016 cho thấy tỷ lệ đã từng sử dụng chất ma túy từ cây cannabis trong thuốc lá điện tử là 30,6% trong số những thanh thiếu niên đã từng sử dụng thuốc lá điện tử

- Ảnh hưởng tới môi trường:

Thiết bị điện tử có thể hỏng, lỗi và gây cháy nổ, thương tích, mất an toàn cho người sử dụng. Rác thải bộ phận điện tử của thuốc lá điện tử và thuốc lá nung nóng gây ảnh hưởng đến môi trường, đặc biệt là với thiết bị sử dụng một lần.

Thêm vào đó, thiết bị thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng có rất nhiều thành phần: nhựa, pin, bảng mạch điện, lọ dung dịch…., quy trình dỡ bỏ, phân loại… nhằm tái chế hay vứt bỏ, tiêu hủy đều phức tạp và tốn kém. Nếu bị vứt bỏ dưới dạng vỡ, nát có thể phát tán ra môi trường các chất độc hại như kim loại, axit, nicotine, ...

Thực tế tại Mỹ, 58 triệu sản phẩm thuốc lá điện tử được bán ra trong năm 2015, trong đó có 19,2 triệu sản phẩm dùng một lần.

Các sản phẩm thuốc lá điện tử thiếu hướng dẫn người dùng cách vứt bỏ sản phẩm.

- Ảnh hưởng tới an sinh xã hội, kinh tế và sự phát triển bền vững:

Thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng làm gia tăng gánh nặng bệnh tật và chi phí liên quan đến sử dụng thuốc lá. Tính riêng các sản phẩm thuốc lá điếu, sử dụng thuốc lá đã gây thiệt hại 500 tỷ đô la mỗi năm cho nền kinh tế thế giới. Ước tính chi phí y tế điều trị các bệnh liên quan đến thuốc lá, giảm năng suất lao động và các chi phí xã hội khác là 1.852 tỷ đô la Mỹ chiếm 1,8% GDP26.

Tại Việt Nam, chi phí y tế cho 5 trong số 25 loại bệnh liên quan đến thuốc lá năm 2011 (ung thư phổi, ung thư đường tiêu hóa, nhồi máu cơ tim, đột quỵ và bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính) đã là 24.679 tỷ đồng.

Tiêu dùng thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng ảnh hưởng tới đói nghèo và phát triển bền vững. Các hãng thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng đang có xu thế đưa ra nhiều sản phẩm với giá bán thấp hơn để tiếp cận người có thu nhập thấp (là đối tượng dễ tổn thương nhất).

Chi tiêu cho thuốc lá làm giảm các chi tiêu thiết yếu khác của hộ gia đình, đặc biệt là ảnh hưởng đến sự phát triển của trẻ em trong các gia đình có thu nhập thấp. Tính trong các hộ gia đình nghèo, một người hút thuốc trong một năm tiêu hết số tiền bằng 1/3 số tiền chi cho lương thực, gấp 1,5 lần so với chi cho giáo dục, gấp 5 lần chi phí y tế tính theo bình quân đầu người.

Như vậy, hút thuốc lá là một trong những nguyên nhân làm gia tăng nghèo đói

Sơn

Từ ngày 01/7/2026, người nghiện ma tuý sẽ được giám sát bằng thiết bị điện tử

Từ ngày 01/7/2026, người nghiện ma tuý sẽ được giám sát bằng thiết bị điện tử

(CAO) Chính phủ sẽ quy định chi tiết về thiết bị, đối tượng; quy định điều kiện, thời hạn, trình tự, thủ tục xử lý vi phạm trong việc áp dụng biện pháp giám sát điện tử.

 

Ngày 10/12, với tỷ lệ tán thành cao, Quốc hội đã thông qua Luật phòng, chống ma túy (sửa đổi), gồm 8 Chương 56 Điều, có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2026.

Trước đó, trình bày báo cáo tiếp thu giải trình và hoàn thiện dự thảo Luật phòng, chống ma túy (sửa đổi), Bộ trưởng Bộ Công an Lương Tam Quang cho biết, về việc áp dụng biện pháp giám sát điện tử, tiếp thu ý kiến của đại biểu Quốc hội và Kết luận của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Cơ quan chủ trì soạn thảo đã bổ sung các đánh giá tác động về thực hiện giám sát điện tử như: Đối tượng áp dụng, dự báo số lượng người áp dụng, nguồn lực thực hiện và các tác động khi áp dụng biện pháp, trong đó có tác động về quyền con người.

Trên cơ sở đó, dự thảo Luật đã bổ sung quy định theo hướng xác định về đối tượng áp dụng, thẩm quyền áp dụng, trách nhiệm của người bị giám sát điện tử và giao Chính phủ quy định chi tiết về thiết bị, đối tượng; quy định điều kiện, thời hạn, trình tự, thủ tục xử lý vi phạm trong việc áp dụng biện pháp giám sát điện tử.

Về việc quản lý người nghiện ma túy trong thời gian lập hồ sơ đưa đi cai nghiện bắt buộc, Chính phủ xin tiếp thu và chỉnh lý dự thảo Luật theo hướng, Công an cấp xã nơi lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa đi cai nghiện bắt buộc quyết định giao người bị đề nghị cho cơ sở cai nghiện ma túy công lập, trường giáo dưỡng nơi gần nhất để quản lý trong thời gian lập hồ sơ đề nghị; người này trong thời gian quản lý được hưởng chế độ như người bị áp dụng cai nghiện ma túy bắt buộc, thời gian quản lý được trừ vào thời gian cai nghiện ma túy.

Về việc giải quyết trường hợp người đang cai nghiện ma túy mà bị truy cứu trách nhiệm hình sự và bị tuyên án phạt tù, Chính phủ tiếp thu và chỉnh lý dự thảo Luật theo hướng bổ sung quy định người đang trong thời hạn cai nghiện ma túy, trong thời hạn quản lý sau cai nghiện ma túy mà bị kết án phạt tù có thời hạn; Sau khi chấp hành xong án phạt tù mà vẫn còn thời hạn cai nghiện ma túy hoặc thời hạn quản lý sau cai nghiện ma túy thì phải tiếp tục cai nghiện ma túy, hoặc tiếp tục quản lý sau cai nghiện ma túy thời hạn còn lại.

Về bổ sung quy định đối với việc sử dụng kết quả lao động trị liệu của người cai nghiện ma túy, Chính phủ xin tiếp thu và chỉnh lý dự thảo Luật theo hướng: bổ sung quy định về việc người cai nghiện ma túy được hưởng kết quả lao động trị liệu của mình theo quy định của Chính phủ. Bổ sung nghĩa vụ cơ sở cai nghiện ma túy trong việc tổ chức lao động trị liệu cho người cai nghiện ma túy theo các hình thức do cơ quan có thẩm quyền quyết định và sử dụng kết quả lao động trị liệu để phục vụ cho người cai nghiện ma túy theo quy định của Chính phủ.

Hình minh họa
Quốc hội thông qua Luật phòng, chống ma túy (sửa đổi) với tỷ lệ tán thành cao

Về nội dung cai nghiện ma túy bắt buộc cho người từ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, Chính phủ đề nghị giữ nguyên quy định về việc đưa nhóm người có độ tuổi này cai nghiện bắt buộc tại các trường giáo dưỡng để bảo đảm quyền lợi cho người dưới 18 tuổi, nhất là việc tổ chức học văn hóa cho họ. Tuy nhiên, tiếp thu ý kiến đại biểu Quốc hội, dự thảo Luật đã bổ sung quy định: Bên cạnh việc đưa vào trường giáo dưỡng, có thể đưa người từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi cai nghiện tại các cơ sở cai nghiện công lập đủ điều kiện theo quy định của Bộ trưởng Bộ Công an.

Về cơ chế tài chính trong phòng chống ma túy, tiếp thu ý của đại biểu Quốc hội, cơ quan chủ trì soạn thảo đã chỉnh lý dự thảo Luật theo hướng bổ sung chính sách cụ thể, khuyến khích tổ chức, cá nhân tham gia cung cấp dịch vụ cai nghiện ma túy trong sử dụng lao động là người nghiện ma túy, người đã chấp hành xong quyết định cai nghiện ma túy.

Thanh Hòa

DỰ THẢO LUẬT PHÒNG CHỐNG MA TÚY 2025

QUỐC HỘI

___

Luật số: /2025/QH15

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc -----

DỰ THẢO

LUẬT

PHÒNG, CHỐNG MA TUÝ

Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 203/2025/QH15; Quốc hội ban hành Luật Phòng, chống ma túy.  

Chương I

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Luật này quy định về phòng, chống ma túy; quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy; cai nghiện ma túy; trách nhiệm của cá nhân, gia đình, cơ quan, tổ chức trong phòng, chống ma túy; quản lý nhà nước và hợp tác quốc tế về phòng, chống ma túy.

 

Điều 2. Giải thích từ ngữ

Trong Luật này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:

1. Chất ma túy là chất gây nghiện, chất hướng thần được quy định trong danh mục chất ma túy do Chính phủ ban hành.

2. Chất gây nghiện là chất kích thích hoặc ức chế thần kinh, dễ gây tình trạng nghiện đối với người sử dụng.

3. Chất hướng thần là chất kích thích hoặc ức chế thần kinh hoặc gây ảo giác, nếu sử dụng nhiều lần có thể dẫn tới tình trạng nghiện đối với người sử dụng.

4. Tiền chất là hóa chất thường được sử dụng trong quá trình điều chế, sản xuất chất ma túy được quy định trong danh mục tiền chất do Chính phủ ban hành.

5. Cây có chứa chất ma túy là cây thuốc phiện, cây côca, cây cần sa và các loại cây khác có chứa chất ma túy do Chính phủ quy định.

6. Phòng, chống ma túy là phòng ngừa, ngăn chặn, đấu tranh chống tội phạm và tệ nạn ma túy; kiểm soát các hoạt động hợp pháp liên quan đến ma túy.

7. Tệ nạn ma túy là việc sử dụng trái phép chất ma túy, nghiện ma túy và các hành vi vi phạm pháp luật về ma túy mà chưa đến mức hoặc không bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

8. Kiểm soát các hoạt động hợp pháp liên quan đến ma túy là việc cho phép, theo dõi, kiểm tra, giám sát các hoạt động hợp pháp liên quan đến ma túy và phòng ngừa, ngăn chặn việc lợi dụng các hoạt động đó vào mục đích khác.

9. Người sử dụng trái phép chất ma túy là người có hành vi sử dụng chất ma túy mà không được sự cho phép của người hoặc cơ quan chuyên môn có thẩm quyền và xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể có kết quả dương tính.

10. Xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể là việc thực hiện các kỹ thuật chuyên môn nhằm xác định chất ma túy trong cơ thể thông qua mẫu nước tiểu, mẫu máu hoặc các mẫu vật khác của cơ thể người.

11. Người nghiện ma túy là người sử dụng chất ma túy, thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần và bị lệ thuộc vào các chất này.

12. Cai nghiện ma túy là quá trình thực hiện các hoạt động hỗ trợ về y tế, tâm lý, xã hội, giúp người nghiện ma túy dừng sử dụng chất ma túy, thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần; phục hồi thể chất, tinh thần, nâng cao nhận thức, thay đổi hành vi để chấm dứt việc sử dụng trái phép các chất này.

 

Điều 3. Chính sách của Nhà nước về phòng, chống ma túy

1. Thực hiện đồng bộ các biện pháp phòng, chống ma túy; kết hợp với phòng, chống HIV/AIDS và các tệ nạn xã hội khác.

2. Tăng cường hoạt động tuyên truyền, giáo dục về công tác phòng, chống ma túy; khuyến khích tổ chức, cá nhân tham gia tuyên truyền, giáo dục phòng, chống ma túy.

3. Ưu tiên nguồn lực phòng, chống ma túy cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, hải đảo, khu vực biên giới, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và địa bàn phức tạp về ma túy theo quy định của Chính phủ.

4. Bảo vệ, hỗ trợ cá nhân, gia đình, cơ quan, tổ chức tham gia phòng, chống ma túy.

5. Quản lý chặt chẽ người sử dụng trái phép chất ma túy, người nghiện ma túy; khuyến khích người nghiện ma túy tự nguyện cai nghiện ma túy, điều trị nghiện bằng thuốc thay thế; khuyến khích cá nhân, gia đình, cơ quan, tổ chức tham gia, hỗ trợ hoạt động cai nghiện ma túy, quản lý sau cai nghiện ma túy.

6. Cán bộ, chiến sĩ thuộc cơ quan chuyên trách phòng, chống tội phạm về ma túy, người làm công tác cai nghiện ma túy trong các cơ sở cai nghiện ma túy công lập, trường giáo dưỡng được hưởng chế độ, chính sách ưu đãi phù hợp với tính chất nhiệm vụ, địa bàn hoạt động theo quy định của Chính phủ.

7. Bảo đảm kinh phí cai nghiện ma túy tại cơ sở cai nghiện ma túy công lập, trường giáo dưỡng; hỗ trợ kinh phí cai nghiện ma túy ngoài công lập, kinh phí quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy, kinh phí quản lý sau cai nghiện ma túy.

8. Tổ chức, cá nhân trong nước và ngoài nước đầu tư vào hoạt động cai nghiện ma túy hỗ trợ quản lý sau cai nghiện ma túy, phòng, chống tái nghiện ma túy, sử dụng lao động là người nghiện ma túy, người đã chấp hành xong quyết định cai nghiện ma túy được miễn, giảm tiền thuê đất, thuế thu nhập doanh nghiệp theo quy định của pháp luật.

9. Khuyến khích nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và ứng dụng công nghệ cao trong phòng, chống ma túy.

10. Khen thưởng cá nhân, tổ chức, cơ quan có thành tích trong phòng, chống ma túy.

 

Điều 4. Nguồn tài chính cho phòng, chống ma túy

1. Ngân sách nhà nước.

2. Nguồn tài trợ, viện trợ, đầu tư, tặng cho của tổ chức, cá nhân trong nước và ngoài nước.

3. Chi trả của người nghiện ma túy, gia đình của họ.

4. Các nguồn tài chính hợp pháp khác.

 

Điều 5. Các hành vi bị nghiêm cấm

1. Trồng cây có chứa chất ma túy, hướng dẫn trồng cây có chứa chất ma túy.

2. Nghiên cứu, giám định, kiểm nghiệm, kiểm định, sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, bảo quản, tồn trữ, mua bán, phân phối, xử lý, trao đổi, xuất khẩu, nhập khẩu, tạm nhập, tái xuất, tạm xuất, tái nhập, quá cảnh trái phép chất ma túy, tiền chất, thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần, thuốc tiền chất, nguyên liệu làm thuốc là dược chất gây nghiện, dược chất hướng thần, tiền chất dùng làm thuốc, thuốc thú y, thức ăn chăn nuôi, thức ăn thủy sản có chứa chất ma túy, tiền chất.

3. Chiếm đoạt chất ma túy, tiền chất, thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần, thuốc tiền chất, nguyên liệu làm thuốc là dược chất gây nghiện, dược chất hướng thần; tiền chất dùng làm thuốc, thuốc thú y, thức ăn chăn nuôi, thức ăn thủy sản có chứa chất ma túy, tiền chất.

4. Giao nhận, quản lý, kiểm soát, lưu giữ, cấp phát, bảo quản chất ma túy, tiền chất trái quy định của pháp luật; cho phép người sử dụng chất ma túy, thuốc gây nghiện hoặc thuốc hướng thần trái quy định của pháp luật.

5. Sử dụng, tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy; cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy; chứa chấp, hỗ trợ việc sử dụng trái phép chất ma túy.

6. Sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, mua bán phương tiện, dụng cụ dùng vào việc sản xuất hoặc sử dụng trái phép chất ma túy.

7. Cản trở việc xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể, xác định tình trạng nghiện ma túy, quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy, cai nghiện ma túy, quản lý sau cai nghiện ma túy.

8. Trả thù hoặc cản trở người thực thi nhiệm vụ phòng, chống ma túy, người tham gia phòng, chống ma túy.

9. Lợi dụng chức vụ, quyền hạn, nghề nghiệp để vi phạm pháp luật về phòng, chống ma túy.

10. Hướng dẫn sản xuất, sử dụng trái phép chất ma túy; quảng cáo, tiếp thị chất ma túy.

11. Kỳ thị người sử dụng trái phép chất ma túy, người cai nghiện ma túy, người sau cai nghiện ma túy.

 

Chương II

TRÁCH NHIỆM PHÒNG, CHỐNG MA TÚY

Điều 6. Trách nhiệm của cá nhân, gia đình

1. Tuyên truyền, giáo dục thành viên trong gia đình, người thân về tác hại của ma túy và thực hiện quy định của pháp luật về phòng, chống ma túy; quản lý, ngăn chặn thành viên trong gia đình vi phạm pháp luật về phòng, chống ma túy.

2. Thực hiện đúng chỉ định của người có thẩm quyền về sử dụng thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần, thuốc tiền chất, thuốc thú y có chứa chất ma túy, tiền chất.

3. Hợp tác với cơ quan chức năng trong đấu tranh với tội phạm và tệ nạn ma túy; quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy; tham gia hỗ trợ hoạt động cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng, cai nghiện ma túy tại cơ sở cai nghiện ma túy và điều trị nghiện bằng thuốc thay thế; theo dõi, giúp đỡ người sau cai nghiện ma túy hòa nhập cộng đồng; phòng, chống tái nghiện ma túy.

4. Cung cấp kịp thời thông tin về tội phạm, tệ nạn ma túy và việc trồng cây có chứa chất ma túy cho cơ quan công an hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền; tham gia xóa bỏ cây có chứa chất ma túy do chính quyền địa phương tổ chức.

 

Điều 7. Trách nhiệm của cơ quan nhà nước

1. Tổ chức phòng, chống ma túy trong cơ quan, đơn vị; phòng ngừa, ngăn chặn cán bộ, công chức, viên chức, người lao động thuộc quyền quản lý và cán bộ, chiến sĩ thuộc lực lượng vũ trang nhân dân vi phạm pháp luật về phòng, chống ma túy; tuyên truyền, vận động nhân dân phát hiện, tố giác, đấu tranh với tội phạm và tệ nạn ma túy.

2. Tổ chức thực hiện chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước về quy hoạch, phát triển kinh tế - xã hội để thay thế việc trồng cây có chứa chất ma túy tại các vùng xóa bỏ cây có chứa chất ma túy.

 

Điều 8. Trách nhiệm của cơ sở giáo dục

1. Tổ chức thực hiện chương trình giáo dục về phòng, chống ma túy; phổ biến, giáo dục pháp luật về phòng, chống ma túy cho học sinh, sinh viên, học viên; quản lý chặt chẽ, ngăn chặn học sinh, sinh viên, học viên vi phạm pháp luật về phòng, chống ma túy.

2. Phối hợp với gia đình, cơ quan, tổ chức và chính quyền địa phương để quản lý, giáo dục học sinh, sinh viên, học viên về phòng, chống ma túy.

3. Phối hợp với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền tổ chức xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể khi cần thiết để phát hiện học sinh, sinh viên, học viên sử dụng trái phép chất ma túy.

 

Điều 9. Trách nhiệm của cơ quan báo chí

Cơ quan báo chí, truyền thông có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức có liên quan tuyên truyền chủ trương, chính sách, pháp luật về phòng, chống ma túy.

 

Điều 10. Trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận và tổ chức khác

1. Tổ chức và phối hợp với cơ quan có thẩm quyền tuyên truyền, phổ biến kiến thức, pháp luật về phòng, chống ma túy trong nhân dân; vận động nhân dân tham gia phòng, chống ma túy và thực hiện các phong trào phòng, chống ma túy.

2. Phòng ngừa, ngăn chặn người của tổ chức mình và mọi công dân vi phạm pháp luật về phòng, chống ma túy.

3. Phối hợp với chính quyền địa phương các cấp, cơ quan có thẩm quyền vận động người nghiện ma túy thực hiện biện pháp cai nghiện ma túy, điều trị nghiện bằng thuốc thay thế; quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy; tham gia cảm hóa, giáo dục, dạy nghề, tìm việc làm và giúp đỡ người sau cai nghiện ma túy hòa nhập cộng đồng; phòng, chống tái nghiện ma túy.

 

Điều 11. Cơ quan chuyên trách phòng, chống tội phạm về ma túy

1. Cơ quan chuyên trách phòng, chống tội phạm về ma túy bao gồm:

a) Cơ quan chuyên trách phòng, chống tội phạm về ma túy thuộc Công an nhân dân;

b) Cơ quan chuyên trách phòng, chống tội phạm về ma túy thuộc Bộ đội Biên phòng, Cảnh sát biển Việt Nam và Hải quan.

2. Cơ quan chuyên trách phòng, chống tội phạm về ma túy thuộc Công an nhân dân trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn chủ trì, phối hợp với cơ quan, tổ chức có liên quan thực hiện các hoạt động phòng ngừa, ngăn chặn và đấu tranh chống tội phạm về ma túy.

3. Cơ quan chuyên trách phòng, chống tội phạm về ma túy thuộc Bộ đội Biên phòng, Cảnh sát biển Việt Nam, Hải quan trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn chủ trì, phối hợp với cơ quan công an, cơ quan, tổ chức khác có liên quan thực hiện các hoạt động phòng ngừa, ngăn chặn và đấu tranh chống tội phạm về ma túy tại khu vực hoặc địa bàn quản lý, kiểm soát.

4. Trên cùng một địa bàn khi phát hiện hành vi vi phạm pháp luật liên quan đến nhiệm vụ, quyền hạn của nhiều cơ quan thì cơ quan phát hiện trước có trách nhiệm xử lý theo thẩm quyền do pháp luật quy định; trường hợp vụ việc không thuộc thẩm quyền của mình thì chuyển giao hồ sơ, người, tang vật vi phạm pháp luật cho cơ quan có thẩm quyền chủ trì giải quyết.

5. Chính phủ quy định việc phối hợp của các cơ quan chuyên trách phòng, chống tội phạm về ma túy.

 

Điều 12. Biện pháp giám sát điện tử

1. Giám sát điện tử là biện pháp sử dụng thiết bị điện tử để quản lý, giám sát đối với:

a) Người đang cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng;

b) Người đang điều trị nghiện bằng thuốc thay thế;

c) Người đang bị quản lý sau cai nghiện ma túy.

2. Trưởng Công an cấp xã có thẩm quyền áp dụng biện pháp giám sát điện tử.

3. Trách nhiệm của người bị áp dụng biện pháp giám sát điện tử:

a) Chấp hành quyết định áp dụng biện pháp giám sát điện tử;

b) Không tự ý tháo gỡ, phá hủy hoặc có tác động gây rối loạn hoạt động của thiết bị giám sát điện tử;

c) Thông báo ngay cho Công an cấp xã khi phát hiện thiết bị giám sát điện tử bị hư hỏng.

4. Chính phủ quy định chi tiết về thiết bị, đối tượng; quy định điều kiện, thời hạn, trình tự, thủ tục, xử lý vi phạm trong việc áp dụng biện pháp giám sát điện tử.

 

Chương III

KIỂM SOÁT CÁC HOẠT ĐỘNG HỢP PHÁP LIÊN QUAN ĐẾN MA TÚY

Điều 12. Các hoạt động hợp pháp liên quan đến ma túy   Điều 13. Kiểm soát hoạt động nghiên cứu, giám định, sản xuất chất ma túy, tiền chất   Điều 14. Kiểm soát hoạt động vận chuyển chất ma túy, tiền chất   Điều 15. Kiểm soát hoạt động liên quan đến thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần, thuốc tiền chất, nguyên liệu làm thuốc là dược chất gây nghiện, dược chất hướng thần, tiền chất dùng làm thuốc   Điều 16. Kiểm soát hoạt động liên quan đến thuốc thú y có chứa chất ma túy, tiền chất   Điều 17. Kiểm soát hoạt động nhập khẩu, xuất khẩu, tạm nhập, tái xuất, tạm xuất, tái nhập, quá cảnh chất ma túy, tiền chất, thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần, thuốc tiền chất, nguyên liệu làm thuốc là dược chất gây nghiện, dược chất hướng thần, tiền chất dùng làm thuốc   Điều 18. Lập hồ sơ các hoạt động hợp pháp liên quan đến ma túy   Điều 19. Kiểm soát hoạt động hợp pháp liên quan đến ma túy vì mục đích quốc phòng, an ninh   Điều 20. Kiểm soát thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần, thuốc tiền chất vì mục đích sơ cứu, cấp cứu trong cuộc hành trình, du lịch quốc tế, điều trị bệnh cho bản thân người nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh   Điều 21. Xử lý chất ma túy, tiền chất, thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần, thuốc tiền chất, nguyên liệu làm thuốc là dược chất gây nghiện, dược chất hướng thần, tiền chất dùng làm thuốc, thuốc thú y có chứa chất ma túy, tiền chất thu giữ trong vụ việc vi phạm pháp luật  

Chương IV

QUẢN LÝ NGƯỜI SỬ DỤNG TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Điều 22. Xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể   Điều 23. Quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy   Điều 24. Trách nhiệm của người sử dụng trái phép chất ma túy   Điều 25. Trách nhiệm của gia đình, cơ quan, tổ chức, cộng đồng trong quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy   Điều 26. Lập danh sách người sử dụng trái phép chất ma túy  

Chương V

CAI NGHIỆN MA TÚY

Điều 27. Xác định tình trạng nghiện ma túy   Điều 28. Các biện pháp cai nghiện ma túy   Điều 29. Quy trình cai nghiện ma túy   Điều 30. Cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng   Điều 31. Cai nghiện ma túy tự nguyện tại cơ sở cai nghiện ma túy   Điều 32. Đối tượng bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc   Điều 33. Cai nghiện ma túy cho người từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi   Điều 34. Lập hồ sơ đề nghị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người nghiện ma túy từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi   Điều 35. Cơ sở cai nghiện ma túy công lập   Điều 36. Cơ sở cai nghiện ma túy tự nguyện   Điều 37. Áp dụng biện pháp cai nghiện ma túy cho người Việt Nam bị nước ngoài trục xuất về nước do có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, nghiện ma túy; người nước ngoài nghiện ma túy sinh sống tại Việt Nam   Điều 38. Cai nghiện ma túy cho người bị tạm giam, phạm nhân, trại viên cơ sở giáo dục bắt buộc, học sinh trường giáo dưỡng   Điều 39. Miễn chấp hành thời gian còn lại trong quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi đang cai nghiện ma túy bắt buộc   Điều 40. Quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú   Điều 41. Biện pháp can thiệp giảm tác hại đối với người sử dụng trái phép chất ma túy và người nghiện ma túy   Điều 42. Trách nhiệm của gia đình người nghiện ma túy, cộng đồng   Điều 43. Lập danh sách người nghiện ma túy, người bị quản lý sau cai nghiện ma túy  

Chương VI

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ PHÒNG, CHỐNG MA TÚY

Điều 44. Nội dung quản lý nhà nước về phòng, chống ma túy   Điều 45. Trách nhiệm quản lý nhà nước về phòng, chống ma túy   Điều 46. Trách nhiệm của Bộ Công an   Điều 47. Trách nhiệm của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội   Điều 48. Trách nhiệm của Bộ Quốc phòng   Điều 49. Trách nhiệm của Bộ Y tế   Điều 50. Trách nhiệm của Bộ Tài chính  

Chương VII

HỢP TÁC QUỐC TẾ VỀ PHÒNG, CHỐNG MA TÚY

Điều 51. Nguyên tắc trong hợp tác quốc tế về phòng, chống ma túy   Điều 52. Chính sách hợp tác quốc tế về phòng, chống ma túy   Điều 53. Chuyển giao hàng hóa có kiểm soát  

Chương VIII

ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH

Điều 54. Hiệu lực thi hành   Điều 55. Quy định chuyển tiếp  

Luật này được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIV, kỳ họp thứ 11 thông qua ngày 30 tháng 3 năm 2021.

 

CHỦ TỊCH QUỐC HỘI

 

Nguyễn Thị Kim Ngân