All posts by thanhda

RỐI LOẠN TÂM THẦN DO RƯỢU

RỐI LOẠN TÂM THẦN DO RƯỢU VÀ MA TÚY

RỐI LOẠN TÂM THẦN DO RƯỢU

1. Khái niệm

Theo Tổ chức Y tế Thế giới, nghiện rượu là nhu cầu thèm muốn, đòi hỏi thường xuyên đồ uống có cồn, hình thành thói quen, gây rối loạn nhân cách, giảm khả năng lao động và ảnh hưởng đến sức khỏe. Có 7 triệu chứng chính của hội chứng nghiện rượu, đó là:

- Cảm giác thôi thúc phải uống rượu: người nghiện rượu khi đã bắt đầu uống rượu thì không thể ngừng lại được. Nếu họ bỏ rượu, họ cảm thấy thèm mãnh liệt.

- Thói quen uống rượu hàng ngày: người uống rượu uống hết ngày này sang ngày khác. Họ uống rượu sau các khoảng thời gian nhất định để tránh hoặc làm nhẹ hội chứng cai rượu.

- Uống rượu được ưu tiên hơn các hành vi khác: với người nghiện rượu, uống rượu là ưu tiên hàng đầu, hơn cả sức khỏe, gia đình, xã hội, nghề nghiệp.

- Có hiện tượng dung nạp rượu: với một nồng độ rượu trong máu bình thường, người nghiện rượu không bị ảnh hưởng. Lượng rượu uống của bệnh nhân ngày càng tăng dần. Đến giai đoạn cuối của nghiện rượu, sự dung nạp rượu tụt xuống, bệnh nhân mất năng lực chỉ sau khi uống một lượng rượu nhỏ.

- Lặp di, lặp lại hội chứng cai rượu: các triệu chứng của hội chứng cai rượu xuất hiện khi nồng độ rượu trong máu tụt xuống. Vì vậy hội chứng cai rượu thường xuất hiện vào buổi sáng sớm, sau một đêm không uống rượu.

- Uống rượu vào buổi sáng: người nghiện rượu phải uống rượu vào buổi sáng sớm, ngay sau khi thức giấc để chặn hội chứng cai rượu. Ở hầu hết các nền văn hóa, uống rượu buổi sáng được coi là nghiện rượu.

- Tái nghiện rượu: sau một thời gian cai rượu, người nghiện rượu dễ dàng tái nghiện chỉ sau vài ngày uống rượu.

Ngày nay, hầu hết các tác giả đều sử dụng tiêu chuẩn sau để xác định nghiện rượu: - Uống rượu hàng ngày từ 10 năm trở lên. - Mỗi ngày uống tối thiểu 300ml rượu 40 độ cồn.

2. Dịch tễ học

2.1 Tỷ lệ người nghiện rượu

Nghiện rượu là một bệnh phổ biến, chiếm 1-10% dân số. Các nghiên cứu ở Việt Nam cho thấy số người nghiện rượu ở thành thị là 4% và ở nông thôn là 3% dân số.

2.2 Giới

Tỷ lệ nữ/nam bị nghiện rượu giao động từ 1/8 đến 1/4. Trong thực tế lâm sàng, hầu hết các bệnh nhân nghiện rượu là nam. Ở Việt Nam, nữ chỉ chiếm chừng 10% số người nghiện rượu, số bệnh nhân nữ phải điều trị nghiện rượu trong bệnh viện là rất hiếm.

2.3 Nghề nghiệp

Nghề nghiệp là môi trường ảnh hưởng đến nghiện rượu. Có 3 loại nghề nghiệp liên quan đến nghiện rượu là nông dân với môi trường nông thôn, tầng lớp công nhân lao động chân tay, nặng nhọc và những người tiếp xúc với công chúng nhiều như bồi bàn, giới kinh doanh.

Ở Việt Nam, có đến 80% số người nghiện rượu làm những nghề lao động nặng nhọc như thợ xây, thợ mộc, thợ rèn, nhưng có đến 32,5% số người này thất nghiệp tại thời điểm nghiên cứu.

2.4 Trình độ học vấn

Người có học vấn thấp có tỷ lệ nghiện rượu cao hơn người có học vấn cao. Ở Việt Nam, theo Trần Viết Nghị (1996), có đến 80,6% số người nghiện rượu chưa tốt nghiệp phổ thông trung học.

Môi trường làm việc nặng nhọc, sự thiếu hiểu biết và sự phổ biến của quan niệm sai lầm trong dân chúng cho rượu là thuốc bổ, giúp nhanh chóng phục hồi sức khỏe… đã tạo diều kiện thuận lợi cho phát sinh, phát triển nghiện rượu.

2.5 Thời gian uống rượu

Đa số các tác giả đều cho rằng phải uống rượu trên 10 năm mới trở thành nghiện rượu, chỉ một số ít bệnh nhân uống trên 5 năm đã trở thành nghiện rượu. Những bệnh nhân này phải uống một lượng rượu rất lớn mỗi ngày (700-1000ml rượu 40 độ cồn). Nhìn chung, tỷ lệ người nghiện rượu có thời gian uống rượu dưới 5 năm chỉ chiếm 10% số trường hợp. Tỷ lệ cao nhất là nhóm uống rượu từ 10 đến 15 năm, chiếm 60%, còn nhóm bệnh nhân uống rượu 15-20 năm chiếm 30%.

3. Biểu hiện lâm sàng

3.1 Giai đoạn 1

Giai đoạn này bệnh nhân chưa thực sự trở thành nghiện rượu do không có hội chứng cai khi ngừng uống rượu. Bệnh nhân thích uống rượu và uống ngày càng nhiều. Nếu không uống rượu, bệnh nhân thấy thèm và nhớ rượu. Khả năng dung nạp với rượu của bệnh nhân tăng lên nhanh chóng, họ có thể uống 500 ml rượu 40 độ cồn mỗi ngày.

Bệnh nhân mất phẩn xạ nôn khi uống rượu, thay đổi tính tình và dần trở thành độc ác, hay nổi cáu vô cớ, hay quấy nhiễu và đa nghi. Bệnh nhân hay quên, mất ngủ, chú ý và trí nhớ kém, hay mệt mỏi, khả năng lao động giảm sút. Giai đoạn này thường kéo dài 5-10 năm. Nếu bệnh nhân tiếp tục uống rượu thì sẽ chuyển sang giai đoạn 2 của nghiện rượu.

3.2 Giai đoạn 2

Trong giai đoạn này, bệnh nhân đã thực sự trở thành nghiện rượu. Bệnh nhân luôn trong tình trạng thèm rượu bắt buộc và không thể kiềm chế. Họ có thể uống rượu bất kỳ lúc nào. Cứ sau một khoảng thời gian nhất định, bệnh nhân lại phải uống rượu để giảm cơn thèm rượu. Quãng thời gian này ngày càng ngắn lại.

Nếu không được uống rượu, bệnh nhân sẽ có hội chứng cai rượu. Hội chứng cai rượu xuất hiện khi nồng độ cồn trong máu giảm xuống. Vì thế hội chứng cai rượu hay xuất hiện vào buổi sáng, sau một đêm không được uống rượu. Để ngăn hội chứng cai rượu, bệnh nhân phải uống rượu buổi sáng, ngay sau khi ngủ dậy.

Bệnh nhân thường có khí sắc giảm, buồn rầu, dễ bực tức, giận dữ, độc ác và đa nghi. Bệnh nhân cũng có triệu chứng sợ hãi vô cớ, tự buộc tội mình, có thể cáo ảo thính, ảo thị giác, giấc ngủ không sâu đầy mộng mị.

Hội chứng cai rượu biểu hiên bởi các triệu chứng run tay, nôn, buồn nôn, mất ngủ, rối loạn thần kinh thực vật, kích động, lo lắng vô cớ, hoang tưởng và ảo giác, cơn co giật kiểu động kinh.

Khả năng dung nạp rượu tăng cao đến cực điểm và duy trì hàng năm, bệnh nhân uống từ 1500 đến 2000ml rượu 40 độ cồn mỗi ngày và triền miên trong trạng thái say rượu. Giai đoạn này thường kéo dài 5-10 năm.

3.3 Giai đoạn 3

Triệu chứng thèm rượu của bệnh nhân có khuynh hướng giảm đi, bớt lè nhè và bớt quấy rối hơn trước. Khả năng dung nạp rượu của bệnh nhân kém đi, họ chỉ uống được 150-200ml rượu mạnh đã say và say lâu hơn trước.

Hội chứng cai rượu ở giai đoạn này kéo dài hơn, các triệu chứng rối loạn thần kinh thực vật như mạnh nhanh, huyết áp cao giao động, ra nhiều mồ hôi trầm trọng hơn giai đoạn trước.

Giai đoạn này, bệnh nhân có các bệnh não thực tổn do nghiện rượu mạn tính gây ra, đó là bệnh Korsakov, bệnh viêm não Wernicke và mất trí do rượu.

Bằng phương pháp chụp CT Scanner và MRI sọ não, người ta phát hiện hình ảnh teo não như giãn rộng não thất, tăng khoảng cách từ xương sọ đến bề mặt não, khe giữa các cuận não giãn rộng trên 2/3 số bệnh nhân. Hình ảnh này bền vững nửa năm sau khi cai rượu. Nếu bệnh nhân cai rượu lâu hơn thì hình ảnh giãn não thất mất dần. Nguyên nhân teo não còn được cho là rượu ảnh hưởng đến chức năng gan, gây giảm glucoza và các acid amin trong máu đến nuôi não. Như vậy, teo não do rượu vừa là hậu quả trực tiếp của rượu trên não và hậu quả gián tiếp rượu trên gan.

4. Hội chứng cai rượu

Hội chứng cai rượu xuất hiện ở người nghiện rượu nhưng đã ngừng uống đột ngột hoặc giảm đáng kể lượng rượu uống hàng ngày.

4.1 Lý do ngừng uống rượu

- Bệnh nội khoa: chiếm 75% các lý do gây ngừng uống rượu ở bệnh nhân nghiện rượu. Các bệnh hay gặp là nhiễm trùng, cao huyết áp, loét dạ dày, tá tràng, viêm gan, xơ gan, viêm cầu thận mạn...

- Bệnh ngoại khoa: chiếm 20% số trường hợp cai rượu. Đó là các chấn thương, các bệnh đòi hỏi phải vào viện phẫu thuật như đau ruột thừa, viêm tụy cấp...

- Tự cai: Chỉ chiếm 5% số trường hợp cai rượu.

4.2 Triệu chứng của hội chứng cai rượu

- Thèm rượu mãnh liệt. Đây là triệu chứng bắt buộc có ở tất cả các bệnh nhân cai rượu. Bệnh nhân thèm rượu đến mức mọi suy nghĩ và hành động chỉ tập chung vào việc sao cho có rượu uống để giảm bớt cơn thèm rượu.

- Run tay chân: Triệu chứng này xuất hiện rất sớm sau khi ngừng uống rượu chứng 2-3 giờ. Bệnh nhân run tay biên độ nhỏ, đi đứng loạng choạng. Họ không làm được các nghiệm pháp giữ thăng bằng. Run có thể xuất hiện ở miệng, ở mặt của bệnh nhân.

- Ăn ít, nôn, buồn nôn: Bệnh nhân luôn trong tình trạng chán ăn, thậm chí không ăn gì. Bệnh nhân có cảm giác buồn nôn, nôn khan hoặc nôn hết thức ăn vừa ăn được.

- Mất ngủ: Đây là triệu chứng rất hay gặp trong cai rượu. Mất ngủ xuất hiện vào tối đầu tiên sau khi cai rượu. Bệnh nhân rất khó vào giấc ngủ, ngủ không sâu và đầy ác mộng. Giấc ngủ của bệnh nhân rất ngắn, họ hay thức giấc giữa chừng và cảm thấy rất mệt mỏi sau khi thức dậy. Mất ngủ tăng dần và đạt đến đỉnh vào ngày thứ 3 đến thứ 5 sau cai rượu, khi đó bệnh nhân có thể mất ngủ hoàn toàn.

- Rối loạn thần kinh thực vật: Bệnh nhân có mạch nhanh trên 100 lần/phút. Mồ hôi của bệnh nhân ra như tắm mặc dù thời tiết không nóng. Kèm theo, bệnh nhân có huyết áp cao và huyết áp tối đa có thể đạt tới 180-200 mmHg. Tuy nhiên, huyết áp không cao thường xuyên mà giao động, lúc cao, lúc về bình thường. Thân nhiệt của bệnh nhân có thể tăng tới 38-39 độ C do run cơ và gây ra tình trạng mất nước, mất điện giải.

- Lo lắng quá mức: Bệnh nhân lo lắng nhiều vào ngày thứ 2 của cai rượu. Họ lo lắng mơ hồ điều gì không lành sẽ xảy ra với họ. Bệnh nhân có lú lẫn, tăng lên về buổi tối.

- Kích động tâm thần vận động: Bệnh nhân la hét, chửi bới, đạp phá đồ đạc, đánh vợ, con... để có tiền uống rượu.

- Hoang tưởng và ảo giác: Triệu chứng này xuất hiện ở ngày thứ 3 đến thứ 5 của cai rượu. Khoảng 85% số bệnh nhân cai rượu sẽ có ảo thanh thật, là các tiếng người không có thật, nhưng bệnh nhân nghe thấy rất rõ ràng, vọng từ ngoài môi trường vào đầu bệnh nhân. Nội dung của ảo thanh thường là tiếng chửi rủa khiến bệnh nhân rất hoảng sợ.

Bệnh nhân cũng có thể có ảo thị, là các hình ảnh không có thật như nhìn thấy các động vật nhỏ (chim, chuột, côn trùng) hoặc các hình ảnh rất ghê rợn mà bệnh nhân cho là nhìn thấy ma quỷ.

Khoảng 65% số bệnh nhân cai rượu là có hoang tưởng. Hoang tưởng ở các bệnh nhân này thường là hoang tưởng ghen tuông, hoang tưởng bị hại.

- Cơn co giật kiểu động kinh: Đây là triệu chứng trầm trọng nhất của hội chứng cai rượu. Bệnh nhân có các cơn co giật xuất hiện theo thứ tự co cứng, co giật, doãi mềm và hôn mê ngắn. Cơn co giật hay xuất hiện ở ngày thứ 3 đến thứ 5 của cai rượu, nó xuất hiện khi hội chứng cai đạt đến đỉnh điểm và báo hiệu bệnh nhân sắp vào sảng rượu.

4.3 Tiêu chuẩn chẩn đoán hội chứng cai rượu theo DSM-5

A. Ngừng hoặc giảm đáng kể lượng rượu uống khi đang sử dụng rượu liều cao và kéo dài.

B. Có ít nhất 2 tiêu chuẩn dưới đây xảy ra sau tiêu chuẩn A vài giờ đến vài ngày.

- Tăng hoạt động tự động.

- Run tay.

- Mất ngủ.

- Nôn, buồn nôn.

- Lo âu quá mức.

- Kích động tâm thần vận động.

- Ảo thị giác, ảo thanh, hoặc hoang tưởng.

- Cơn co giật kiểu động kinh.

C. Các triệu chứng ở tiêu chuẩn B gây suy giảm rõ rệt các chức năng xã hội, nghề nghiệp hoặc các lĩnh vực quan trọng khác.

D. Các triệu chứng này không do một bệnh thực tổn và một bệnh rối loạn tâm thần khác gây ra.

5. Điều trị nghiện rượu

5.1 Phương pháp dùng thuốc bình thần

Bệnh nhân nghiện rượu sẽ được đưa vào bệnh khoa tâm thần, điều trị nội trú. Tại đây, bệnh nhân bị bắt buộc ngừng uống rượu đột ngột và được dùng thuốc điều trị ngay, giống như điều trị hội chứng cai rượu ở trên.

5.2 Phương pháp dùng naltrexone

Rượu vào cơ thể được chuyển hóa qua nhiều giai đoạn với nhiều chất chung gian chuyển hóa khác nhau. Một trong những sản phẩm chuyển hóa dở dang của rượu là acetaldehyd. Chất này liên kết với monoamin ở não để tạo thành tetraisoquinolin. Đây chính là chất có tác dụng giống morphin, vì thế khi chúng gắn lên các thụ cảm thể morphin trong não sẽ tạo ra sảng khoái cho bệnh nhân. Chính các cảm giác sảng khoái do chất này tạo ra khiến bệnh nhân thích uống rượu, uống ngày càng thường xuyên và số lượng ngày càng tăng. Khi chúng ta dùng naltrexon điều trị cho bệnh nhân nghiện rượu, các thụ cảm thể morphin trên não sẽ bị naltrexon ức chế. Chất tetraisoquinolin không tác dụng được lên các thụ cảm thể morphin nữa, do vậy bệnh nhân sẽ không còn cảm giác sảng khoái khi uống rượu. Do cảm giác sảng khoái khi uống rượu không còn nữa nên sự thèm muốn uống rượu của bệnh nhân sẽ giảm dần và có thể mất hoàn toàn.

Diễn biến điều trị nghiện rượu của naltrexon (natrex, nodict, reVia) như sau:

- Sau 1 tháng điều trị, bệnh nhân giảm được 50% lượng rượu uống mỗi ngày (ví dụ trước đây uống mỗi ngày 1 lít rượu 40 độ cồn thì sau 1 tháng chỉ còn uống được 500 ml rượu cùng loại mỗi ngày).

- Sau 2 tháng điều trị, bệnh nhân giảm được 70% số lượng rượu uống mỗi ngày (chỉ còn uống được 300 ml rượu 40 độ cồn mỗi ngày).

- Sau 3 tháng điều trị, bệnh nhân căn bản kiểm soát được hành vi uống rượu của mình, có thể bỏ rượu hoàn toàn.

Tuy nhiên, bệnh nhân cần được uống thuốc điều trị củng cố tiếp tục trong ít nhất 2 năm tiếp theo.

Liều dùng: Naltrexon 50 mg x 1 viên/ngày, uống buổi sáng.

Ưu điểm của phương pháp cai rượu bằng naltrexon

- Bệnh nhân không phải ngừng rượu đột ngột (uống thuốc khi bệnh nhân vẫn đang uống rượu), do đó sẽ không có hội chứng cai rượu.

- Do không có hội chứng cai rượu nên có thể điều trị ngoại trú.

- Lượng rượu uống hàng ngày giảm từ từ, bệnh nhân sẽ dễ chấp nhận hơn.

- Có thể uống rượu (khi bắt buộc), mà không sợ bị các phản ứng khó chịu như đối với esperal.

Nhược điểm của phương pháp này là:

- Thời gian cai rượu kéo dài, không có lợi cho bệnh nhân đã có biểu hiện suy gan, thận, cao huyết áp, các bệnh não do rượu...

- Khó cai rượu tuyệt đối do bệnh nhân vẫn có thể uống được một lượng rượu nhỏ, hiệu quả không cao như dùng esperal.

- Giá thành đắt hơn nhiều so với esperal.

Áp dụng cụ thể cho từng trường hợp

- Bệnh nhân nghiện rượu đã có tổn thương chức năng gan, thận, cao huyết áp, xuất huyết tiêu hóa... cần phải điều trị nội trú, cắt cơn cai rượu bằng seduxen và vitamin B1. Sau đó điều trị củng cố bằng esperal.

- Bệnh nhân lạm dụng rượu, nghiện rượu nhưng thể trạng chung còn tốt, chưa tổn thương gan thận và các bệnh thực tổn như đã nêu trên, có thể điều trị ngoại trú bằng naltrexon.

6. Loạn thần do rượu

Loạn thần do rượu bao gồm tất cả các rối loạn tâm thần có hoang tưởng hoặc/và ảo giác do rượu gây ra. Các rối loạn này bao gồm ảo giác do rượu, hoang tưởng do rượu, hội chứng cai rượu có hoang tưởng, ảo giác, sảng rượu và bệnh não thực tổn do rượu.

6.1 Ảo giác do rượu

Đặc trưng của ảo giác do rượu là ảo thanh, thường là tiếng người nói xấu, chửi, đe dọa bệnh nhân, xảy ra khi ý thức của bệnh nhân hoàn toàn tỉnh táo. Tiếng nói nghe thấy từ môi trường bên ngoài vọng vào đầu, khiến bệnh nhân rất lo lắng, khó chịu. Khoảng 3/4 số bệnh nhân có ảo thanh kéo dài dưới 6 tháng, 1/4 còn lại ảo thanh kéo dài trên 1 năm nếu không ngừng rượu. Chính vì thế, ảo thanh do rượu dễ bị nhầm với tâm thần phân liệt.

Ảo thanh có thể xuất hiện đơn độc, nhưng cũng có thể phối hợp với ảo thị. Ảo thanh trong hội chứng cai rượu thì lộn xộn và chóng hết, nhưng ảo thanh do uống rượu thì rất bền vững. Khi cai rượu, ảo giác do rượu nặng thêm và xuất hiện thêm các triệu chứng của hội chứng cai rượu. Sau khi hết hội chứng cai (sau khoảng 2 tuần), ý thức bệnh nhân sáng sủa trở lại, nhưng ảo thanh vẫn tồn tại và bền vững trong nhiều tháng.

Ảo thanh chi phối mọi hành vi của bệnh nhân và bệnh nhân mất hết khả năng phê phán với ảo thanh, vì vậy dễ nhầm với tâm thần phân liệt. Các bệnh nhân này cần phải cai rượu, sau khi hết hội chứng cai rượu thì phải điều trị tiếp tục bằng thuốc an thần (haloperidol, olanzapin) thì bệnh nhân mới hết được ảo thanh. Tuy nhiên, ảo thanh sẽ nhanh chóng xuất hiện trở lại nếu bệnh nhân tái nghiện rượu.

Thuốc cụ thể:

1. Haloperidol 1,5mg x 8 viên/ngày (sáng 4 viên, tối 4 viên).

2. Trihex 2mg x 4 viên/ngày (sáng 2 viên, tối 2 viên).

Hoặc

1. Olanzapin 10mg x 1 viên/tối.

Dùng thuốc 3 tháng, bệnh nhân cần phải cai rượu bằng esperal.

6.2 Hoang tưởng do rượu

Đặc trưng của hoang tưởng do rượu là hoang tưởng ghen tuông, hoang tưởng bị hại xuất hiện khi ý thức của bệnh nhân hoàn toàn tỉnh táo. Cũng như ảo thanh do rượu, 3/4 số bệnh nhân có hoang tưởng kéo dài dưới 6 tháng và 1/4 số bệnh nhân hoang tưởng kéo dài hàng năm sau khi cai rượu. Do vậy, hoang tưởng do rượu dễ nhầm với tâm thần phân liệt.

Hoang tưởng ghen tuông xuất hiện ở bệnh nhân sau nhiều năm uống rượu với số lượng lớn. Bệnh nhân cho rằng vợ (hoặc bạn tình) của mình không chung thủy dù không có bằng chứng gì. Họ theo dõi, đánh đập và hành hạ vợ (bạn tình) do bị hoang tưởng chi phối hành vi. Hoang tưởng ghen tuông gắn liền với cuộc sống tình dục nghèo nàn của bệnh nhân. Họ thường bị liệt dương nên khó có khả năng sinh hoạt tình dục. Hơn nữa, vợ của những người nghiện rượu rất ghê tởm, không muốn quan hệ tình dục với họ do vệ sinh cơ thể của bệnh nhân bẩn, luôn trong tình trạng say rượu.

Hoang tưởng bị hại do rượu là bệnh nhân cho rằng có ai hoặc một thế lực nào đó tìm cách hại bệnh nhân, cũng có khi họ cho rằng ma quỷ hại mình. Hoang tưởng bị hại thường đi kèm với ảo giác do rượu tạo thành hội chứng paranoid.

Nói chung, hoang tưởng do rượu rất giống với hoang tưởng do cai rượu, nhưng chúng bền vững và xuất hiện trong tình trạng ý thức sáng sủa, còn hoang tưởng do cai rượu thì lộn xộn và nhanh chóng hết đi cùng với hội chứng cai rượu. Khi cai rượu, hoang tưởng do rượu nặng thêm cùng hội chứng cai. Trong thời gian hội chứng cai, bệnh nhân có thêm ảo thị giác. Khi hội chứng cai hết, ý thức bệnh nhân sáng sủa dần nhưng hoang tưởng vẫn không hết.

Cũng như ảo giác do rượu, để điều trị hoang tưởng do rượu thì cần cai rượu cho bệnh nhân và dùng thuốc an thần (haloperidol, olanzapin). Các triệu chứng này sẽ xuất hiện nhanh chóng khi bệnh nhân tái nghiện rượu.

Thuốc cụ thể:

1. Haloperidol 1,5mg x 8 viên/ngày (sáng 4 viên, tối 4 viên).

2. Trihex 2mg x 4 viên/ngày (sáng 2 viên, tối 2 viên).

Hoặc

1. Olanzapin 10mg x 1 viên/tối.

Dùng thuốc 3 tháng, bệnh nhân cần phải cai rượu bằng esperal.

6.3 Sảng rượu

Sảng rượu là một cấp cứu tâm thần tối khẩn cấp, phát triển trên nền một hội chứng cai rượu nặng. Nếu không được điều trị kịp thời và đúng cách, tỷ lệ tử vong của sảng rượu là 22-33%.

6.3.1 Triệu chứng của sảng rượu

Sảng rượu có khởi phát đột ngột, cấp tính trong khoảng thời gian từ một đến vài ngày sau khi ngừng uống rượu. Biểu hiện ban đầu của sảng rượu là bệnh nhân mất ngủ, chếnh choáng, run lẩy bẩy, rối loạn thần kinh thực vật (đỏ da, mạch nhanh, ra nhiều mồ hôi, đánh trống ngực, lo lắng, sợ hãi). Quãng thời gian từ lúc ngừng rượu cho đến khi có sảng rượu là khác nhau, cũng có thể từ 1-2 ngày, nhưng có trường hợp phải sau 3-4 ngày. Sảng rượu bao gồm 3 triệu chứng chính sau:

- Mất ngủ hoàn toàn.

- Rối loạn ý thức.

- Hoang tưởng và ảo giác rất rầm rộ.

Các triệu chứng của sảng rượu thường tăng lên về chiều tối và giảm đi vào buổi sáng.

6.3.2 Tiêu chuẩn chẩn đoán sảng rượu theo DSM -5

A. Rối loạn ý thức cùng với giảm sự tập trung chú ý. Sự chú ý luôn giao động.

B. Rối loạn nhận thức: giảm trí nhớ, rối loạn định hướng, rối loạn ngôn ngữ hoặc rối loạn khả năng quan sát.

C. Các rối loạn này xuất hiện cấp tính (trong vài giờ đến vài ngày) và tiến triển có khuynh hướng giao động trong ngày.

D. Có bằng chứng về một hội chứng cai rượu.

6.3.3 Điều trị sảng rượu

Sảng rượu cần được điều trị tại phòng cấp cứu của khoa tâm thần, có bình ô xy, máy hút và các thiết bị cấp cứu khác. Cần tiến hành ngay các bước sau:

- Cố định bệnh nhân tại giường.

- Cho ngửi bông cồn hoặc cho uống rượu vang (50 ml rượu 10 độ cồn mỗi lần, ngày 3 lần) để làm giảm nhẹ các triệu chứng của sảng rượu.

- Chế độ hộ lý cấp 1.

- Hút đờm rãi (nếu cần), thở ô xy.

- Làm các xét nghiệm huyết học, chức năng gan, thận, đặc biệt là đường máu.

- Dùng thuốc:

1. Seduxen 10 mg x 2 ống/ngày, tiêm bắp sáng 1 ống, tối 1 ống.

2. Vitamin B1 0,1 x 2 ống/ngày, tiêm bắp sáng 1 ống, tối 1 ống.

3. Ringer lactat 500 ml x 2 chai, truyền tĩnh mạch 40 giọt/phút.

4. Piracetam 1 g x 4 ống/ngày, tiêm tĩnh mạch chậm.

Dùng thuốc 5 ngày. Sau thời gian 5 ngày điều trị, bệnh nhân sẽ hết sảng và hết hội chứng cai rượu. Sau đó chuyển sang đơn thuốc sau:

1. Olanzapin 10 mg x 1 viên/ngày, uống tối.

2. Amitriptylin 25 mg x 4 viên/ngày, sáng 2 viên, tối 2 viên.

Uống đơn trên 2 tuần, sau đó chuyển sang điều trị chống tái nghiện rượu như sau:

1. Esperal (disulfiram) 500 mg x 1/2 viên/ngày, uống buổi sáng. Nên bắt đầu uống thuốc này 2-3 ngày trước khi ra viện. Thời gian uống thuốc tối thiểu 2 năm để tránh tái nghiện.

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

1. American Psychiatric Association. Diagnostic and Statistical Manual of Mental Disorders, 5th Ed., DSM-5, 2013, pp 156-170.

2. Ngô Ngọc Tản, Nguyễn Văn Ngân (chủ biên). Bệnh học tâm thần, NXB QĐND, 2005, tr. 175-214.

3. Bùi Quang Huy. Trầm cảm, NXB Y học, 2008.

QUY TRÌNH CAI NGHIỆN MA TÚY TẠI CÁC CƠ SỞ CAI NGHIỆN MA TÚY

Quy trình cai nghiện ma túy

QUY TRÌNH CAI NGHIỆN MA TÚY

TẠI CÁC CƠ SỞ CAI NGHIỆN MA TÚY

(Ban hành kèm theo Quyết định số 1565/QĐ‑BCA ngày 08 tháng 3 năm 2025 của Bộ trưởng Bộ Công an)

Quy trình cai nghiện ma túy tại các cơ sở cai nghiện ma túy gồm các giai đoạn sau:

  1. Tiếp nhận, phân loại;
  2. Điều trị cắt cơn, giải độc, điều trị rối loạn tâm thần, điều trị các bệnh lý khác;
  3. Giáo dục, tư vấn phục hồi hành vi, nhân cách;
  4. Lao động trị liệu, học nghề;
  5. Chuẩn bị tái hoà nhập cộng đồng.

I. NỘI DUNG CỤ THỂ CỦA CÁC GIAI ĐOẠN

Giai đoạn 1: Tiếp nhận, phân loại

1. Thời gian thực hiện: 01 ‑ 02 ngày, kể từ khi tiếp nhận người cai nghiện ma túy vào cơ sở cai nghiện ma túy.

2. Phân công thực hiện: Tổ Tham mưu, tổng hợp; Tổ Quản lý học viên và Giáo dục, dạy nghề; Tổ Y tế.

3. Nội dung và biện pháp thực hiện:

3.1. Thực hiện các thủ tục tiếp nhận người cai nghiện ma túy theo nội quy của Cơ sở cai nghiện ma túy.
Tổ Tham mưu, tổng hợp thực hiện các nội dung sau: Tiếp nhận, kiểm tra hồ sơ của người cai nghiện ma túy (quyết định, sơ yếu lý lịch, giấy tờ tùy thân...), đối chiếu người với các thông tin trong hồ sơ để đảm bảo đúng người cai nghiện ma túy và lập hồ sơ người cai nghiện ma túy để lưu trữ tại Tổ Tham mưu, tổng hợp.

‑ Đối với người vào cai nghiện bắt buộc, hồ sơ tiếp nhận gồm có: (i) Quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc của Tòa án nhân dân cấp huyện; (ii) Bản sao tóm tắt lý lịch của người bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc do cơ quan lập hồ sơ cung cấp (Mẫu số 30, Nghị định số 116/2021/NĐ‑CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống ma túy, Luật Xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy).

‑ Đối với người vào cai nghiện ma túy tự nguyện, hồ sơ tiếp nhận gồm có: (i) 01 bản đăng ký tự nguyện cai nghiện (Mẫu số 22, Nghị định 116); (ii) 01 bản phô tô giấy tờ tùy thân (Căn cước công dân, Hộ chiếu hoặc Giấy khai sinh); (iii) Hợp đồng dịch vụ cai nghiện ma túy (Mẫu số 28, Nghị định 116).

3.2. Thu thập thông tin cá nhân của người cai nghiện ma túy để tư vấn xây dựng kế hoạch cai nghiện ma túy, gồm: độ tuổi, giới tính, tình trạng sức khỏe, loại ma túy sử dụng, mức độ sử dụng, trình độ học vấn, nghề nghiệp và các vấn đề khác về bản thân, gia đình người cai nghiện ma túy.
Tổ Y tế phối hợp với Tổ Quản lý học viên và Giáo dục, dạy nghề thực hiện thu thập thông tin của người cai nghiện ma túy (Mẫu số 19, Nghị định 116).

3.3. Thông tin về phương pháp, chương trình cai nghiện ma túy; tư vấn, giải đáp các thắc mắc cho người cai nghiện ma túy:
‑ Tổ Quản lý học viên và Giáo dục, dạy nghề thực hiện các nội dung sau:
+ Kiểm tra người (nam kiểm tra nam, nữ kiểm tra nữ), đồ dùng cá nhân; lưu trữ tài sản cá nhân (nếu có) theo quy định và cấp phát đồ dùng, tư trang cá nhân theo chế độ của người cai nghiện ma túy, chụp ảnh hoàn thiện hồ sơ.
+ Lập Biên bản giao, nhận ghi rõ tình trạng sức khỏe; số lượng tài liệu, hồ sơ; tư trang, đồ dùng cá nhân của người bị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc (theo Mẫu số 40, Nghị định 116).
+ Phổ biến sơ bộ nội quy của cơ sở cai nghiện ma túy.
+ Xếp phòng, phân khu người cai nghiện ma túy theo từng nhóm: nam; nữ; nhân thân tốt, mới nghiện ma túy; có tiền án, tiền sự; nghiện lâu năm, tái nghiện; bệnh truyền nhiễm.
+ Thông báo bằng văn bản cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện khi người cai nghiện ma túy sử dụng dịch vụ hoặc tự ý chấm dứt việc sử dụng dịch vụ tại cơ sở cai nghiện ma túy.
‑ Tổ Y tế thực hiện các nội dung sau:
+ Tư vấn cho người cai nghiện ma túy, gia đình người cai nghiện ma túy về phương pháp cai nghiện, vai trò, trách nhiệm của gia đình để động viên người thân họ sẵn sàng cai nghiện.
+ Tư vấn các biểu hiện của hội chứng cai khi cắt cơn, diễn biến biểu hiện tâm lý trong các giai đoạn, những nguy cơ có thể xảy ra tai biến. Căn cứ kết quả thu thập thông tin có thể phát hiện sớm các bệnh lý đi kèm, tư vấn thuốc hỗ trợ điều trị từng giai đoạn.

3.4. Phân loại đối tượng và tư vấn xây dựng kế hoạch cai nghiện ma túy:
‑ Tổ Quản lý học viên và Giáo dục, dạy nghề thực hiện các nội dung sau:
+ Phân loại đối tượng và tư vấn xây dựng kế hoạch cai nghiện ma túy (theo Mẫu số 20, Nghị định 116).
+ Việc xây dựng kế hoạch cai nghiện ma túy phải phù hợp với độ tuổi; giới tính; trình độ nhận thức; tình trạng sức khỏe, bệnh lý; loại ma túy sử dụng, thời gian sử dụng ma túy… của từng người cai nghiện ma túy, phải đảm bảo sự thống nhất và xuyên suốt trong quá trình cai nghiện phục hồi.
+ Kết thúc quy trình tiếp nhận, phân loại và đưa người cai nghiện ma túy về khu cắt cơn, giải độc, điều trị rối loạn tâm thần, điều trị các bệnh lý khác.

* Lưu ý:
‑ Đối với người nghiện trong thời gian làm thủ tục đề nghị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, hồ sơ tiếp nhận gồm: (i) Quyết định quản lý (Mẫu số 36, Nghị định 116); (ii) Lý lịch tóm tắt của đối tượng có xác nhận của cơ quan lập hồ sơ (Mẫu số 30, Nghị định 116); (iii) Biên bản giao nhận (Mẫu số 37, Nghị định 116).
‑ Đối với người bị tạm giữ theo thủ tục hành chính để đề nghị xác định tình trạng nghiện ma túy, hồ sơ gồm: (i) Giấy đề nghị xác định tình trạng nghiện ma túy; (ii) Bản sao phiếu kết quả xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể; (iii) Bản tóm tắt lý lịch; (iv) Bản sao quyết định tạm giữ người theo thủ tục hành chính; (v) Bệnh án theo quy định của pháp luật về khám chữa bệnh… (theo khoản 1 Điều 5 Nghị định 109/2021/NĐ‑CP ngày 08/12/2021 của Chính phủ quy định cơ sở y tế đủ điều kiện xác định tình trạng nghiện ma túy và hồ sơ, trình tự, thủ tục xác định tình trạng nghiện ma túy).

Giai đoạn 2: Điều trị cắt cơn, giải độc, điều trị rối loạn tâm thần, điều trị các bệnh lý khác

1. Thời gian thực hiện: từ 10 đến 20 ngày (tùy thuộc vào tình trạng sức khỏe và thời gian sử dụng, loại ma túy sử dụng, liều lượng ma túy để có thời gian điều trị thích hợp).

2. Phân công thực hiện: Tổ Y tế phụ trách chuyên môn; Tổ Quản lý học viên và Giáo dục, dạy nghề phụ trách quản lý người cai nghiện ma túy.

3. Nội dung và phương pháp thực hiện:

3.1. Khám, xây dựng bệnh án đối với người cai nghiện ma túy (theo Phụ lục 1 kèm theo Quyết định này); chú ý các dấu hiệu rối loạn tâm thần, bệnh nhiễm trùng cơ hội.
‑ Khám, hoàn thiện bệnh án đối với người cai nghiện ma túy; chú ý các dấu hiệu rối loạn tâm thần, bệnh nhiễm trùng cơ hội, bệnh truyền nhiễm. Hàng ngày cán bộ y tế khám, ra y lệnh về thuốc, chế độ chăm sóc, theo dõi, ăn uống và ghi diễn biến vào bệnh án điều trị đối với người cai nghiện ma túy phải tuân thủ theo quy định. Căn cứ vào kết quả khám và thu thập thông tin có thể chỉ định xét nghiệm (nếu cần) để phát hiện sớm các bệnh lý đi kèm.
‑ Dự đoán các biểu hiện, triệu chứng trong hội chứng cai, trạng thái cai và các biểu hiện rối loạn tâm thần của người cai nghiện ma túy để đưa ra phác đồ cắt cơn giải độc, điều trị các rối loạn tâm thần cho phù hợp theo hướng dẫn của Bộ Y tế.

3.2. Xác định loại ma túy, liều lượng ma túy người nghiện sử dụng để xây dựng phác đồ điều trị cắt cơn, giải độc theo hướng dẫn của Bộ Y tế.
Cán bộ y tế đánh giá tình trạng sức khỏe người cai nghiện ma túy, xác định loại ma túy sử dụng, khai thác về liều lượng, mức độ phụ thuộc để xây dựng phác đồ điều trị theo hướng dẫn chuyên môn của Bộ Y tế ban hành kèm theo Quyết định 2058/QĐ‑BYT ngày 14/5/2020 về hướng dẫn chẩn đoán và điều trị các rối loạn tâm thần thường gặp. Bệnh nhân phải đảm bảo được theo dõi, được giám sát chặt chẽ diễn biến lâm sàng, tâm lý, hành vi và có chế độ hội chẩn thường xuyên.

3.3. Tư vấn tâm lý đối với người cai nghiện ma túy trước khi cắt cơn giải độc.
Tư vấn tâm lý đối với người cai nghiện ma túy trước khi điều trị cắt cơn, giải độc. Nắm bắt, nhận định diễn biến tâm lý người cai nghiện ma túy, các vấn đề người cai nghiện ma túy gặp phải, các bệnh nhiễm trùng cơ hội, bệnh truyền nhiễm để đưa ra các biện pháp tư vấn tâm lý giúp người nghiện yên tâm, giải tỏa tâm lý, giảm bớt áp lực và phối hợp trong điều trị. Việc tư vấn tâm lý cho người nghiện không chỉ thực hiện trước khi điều trị mà cần cả trong giai đoạn hậu cắt cơn để giúp người cai nghiện ma túy nhanh chóng hồi phục.

3.4. Thực hiện phác đồ điều trị theo các quy định, hướng dẫn chuyên môn của Bộ Y tế. Kết hợp sử dụng thuốc với các biện pháp tâm lý và các biện pháp vật lý trị liệu phục hồi chức năng; kết hợp điều trị cắt cơn, giải độc với điều trị rối loạn tâm thần và các bệnh cơ hội khác.
Thực hiện phác đồ điều trị theo các quy định, hướng dẫn chuyên môn của Bộ Y tế, ngoài ra cần lưu ý một số nội dung sau:
‑ Kết hợp sử dụng thuốc với các biện pháp tâm lý và các biện pháp vật lý trị liệu phục hồi chức năng; kết hợp điều trị cắt cơn, giải độc với điều trị rối loạn tâm thần. Tư vấn với gia đình người cai nghiện ma túy về khám và điều trị chuyên khoa đối với các bệnh lý khác (nếu có).
‑ Song song với việc điều trị cắt cơn giải độc cần chú trọng tới việc điều trị các bệnh lý kèm theo (nếu có).
* Lưu ý: Cán bộ y tế thực hiện việc khám, chữa bệnh theo đúng quy trình chuyên môn, phạm vi hoạt động chuyên môn, nếu vượt quá khả năng chuyên môn thì chuyển tuyến theo quy định.

Giai đoạn 3: Giáo dục, tư vấn phục hồi hành vi, nhân cách

1. Thời gian thực hiện: Tập trung vào 03 tháng đầu kể từ ngày người cai nghiện ma túy kết thúc Giai đoạn 2 và duy trì trong suốt quá trình cai nghiện ma túy.

2. Phân công thực hiện: Tổ Quản lý học viên và Giáo dục, dạy nghề.

3. Nội dung và phương pháp thực hiện:

3.1. Tổ chức học nội quy, quy định của cơ sở cai nghiện ma túy; thực hiện chào cờ và học tập đội ngũ, trật tự nội vụ, chính trị, pháp luật, bổ túc văn hóa, kỹ năng sống và chuyên đề phù hợp khác.
(1) Học nội quy, quy định của cơ sở cai nghiện ma túy
Sau khi người cai nghiện ma túy hoàn thành giai đoạn điều trị cắt cơn, giải độc, điều trị rối loạn tâm thần, điều trị các bệnh lý khác sẽ được chuyển về khu quản lý để sinh hoạt, tham gia học nội quy, quy chế của cơ sở cai nghiện ma túy.
Thời gian học: Tối đa 02 ngày; tổ chức thành các lớp.
(2) Thực hiện chào cờ
‑ Tổ chức cho người cai nghiện ma túy học hát Quốc ca và nghi thức Lễ chào cờ Tổ quốc. Việc thực hiện nghi thức Lễ chào cờ Tổ quốc phải đảm bảo tính trang nghiêm và ý nghĩa giáo dục của buổi chào cờ, góp phần xây dựng nền nếp, kỷ luật cho người cai nghiện ma túy trong quá trình cai nghiện. Nghi thức Lễ chào cờ Tổ quốc bảo đảm thực hiện mỗi tuần/01 lần vào sáng thứ Hai; số lượng tổ người cai nghiện ma túy (gọi tắt là tổ) thực hiện chào cờ mỗi lần do Trưởng Cơ sở cai nghiện ma túy quyết định.
‑ Trách nhiệm các bộ phận: Tổ Quản lý học viên và Giáo dục, dạy nghề chịu trách nhiệm điều hành chung, đảm bảo trật tự, kỷ luật, kiểm tra trang phục, đội hình. Tổ Tham mưu, tổng hợp chuẩn bị âm thanh, ánh sáng, treo cờ đúng quy định. Tổ Y tế theo dõi, đảm bảo sức khỏe của người cai nghiện ma túy tham gia chào cờ.
‑ Phòng Công tác chính trị và Phòng Cảnh sát cơ động cử cán bộ phối hợp với Tổ Quản lý học viên và Giáo dục, dạy nghề hướng dẫn hát Quốc ca và luyện tập thực hiện nghi thức Lễ chào cờ Tổ quốc cho người cai nghiện ma túy.
(3) Học tập đội ngũ và trật tự nội vụ
‑ Học tập đội ngũ, trật tự nội vụ nhằm giúp người cai nghiện ma túy nắm vững các động tác cơ bản, rèn luyện tính kỷ luật và tinh thần tập thể, xây dựng tác phong nhanh nhẹn, nghiêm túc và tạo thói quen sinh hoạt có tổ chức, nền nếp.
‑ Khóa học cơ bản được thực hiện trong 2 tuần với 10 buổi học, mỗi buổi 90 phút. Mỗi lớp học do một cán bộ phụ trách chính và một cán bộ trợ giảng đảm nhiệm.
‑ Nội dung chương trình: Tuần 1 học tập đội ngũ, bao gồm: tư thế nghiêm, nghỉ, các động tác quay người, đi đều, đứng lại, đổi chân và chào khi đứng, chào khi đi. Tuần 2 học tập đội ngũ, trật tự nội vụ, bao gồm: tập hợp hàng ngang, hàng dọc, di chuyển theo đội hình; trật tự nội vụ của cá nhân trong phòng ở.
‑ Phòng Công tác chính trị và Phòng Cảnh sát cơ động cử cán bộ huấn luyện đội ngũ, trật tự nội vụ cho người cai nghiện ma túy.
(4) Học chính trị
‑ Học chính trị được thực hiện nhằm nâng cao nhận thức về đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, hiểu rõ chính sách phòng, chống ma túy, xây dựng niềm tin, ý thức trách nhiệm với bản thân và xã hội, đồng thời trang bị kiến thức cơ bản về lịch sử, văn hóa dân tộc. Nội dung học tập phải đảm bảo tính thiết thực, dễ hiểu, phương pháp sinh động và phù hợp với đối tượng, đồng thời đảm bảo tính hiệu quả và thiết thực trong việc giáo dục, cải tạo người cai nghiện ma túy.
‑ Khóa học được tổ chức trong thời gian 5 tuần với 10 buổi học, mỗi buổi 120 phút, thực hiện 2 buổi/tuần. Mỗi lớp học có sĩ số từ 15 người cai nghiện ma túy trở lên. Giảng viên là cán bộ trung tâm chính trị hoặc giảng viên được mời có chuyên môn phù hợp.
‑ Nội dung chương trình gồm ba phần chính. Phần thứ nhất về lịch sử dân tộc (3 buổi) gồm các chuyên đề: Lịch sử Việt Nam và các mốc son: Thành lập Nước năm 1945; Chiến thắng Điện Biên Phủ và ý nghĩa lịch sử; Thống nhất đất nước và công cuộc đổi mới. Phần thứ hai về đường lối của Đảng (4 buổi) bao gồm: Chủ trương phát triển kinh tế ‑ xã hội; chính sách an sinh xã hội; đường lối phòng chống tệ nạn xã hội; chính sách phòng chống ma túy. Phần thứ ba về văn hóa và đạo đức (3 buổi) gồm: Giá trị văn hóa truyền thống, đạo đức và lối sống.
‑ Cơ sở cai nghiện có thể ký kết hợp đồng hoặc có quy chế phối hợp với trung tâm giáo dục chính trị trên địa bàn tổ chức.
(5) Học pháp luật
‑ Học pháp luật được thực hiện nhằm giúp người cai nghiện ma túy nắm vững các quy định pháp luật về phòng, chống ma túy, hiểu rõ hậu quả pháp lý của việc sử dụng, mua bán ma túy, trang bị kiến thức pháp luật cơ bản để tái hòa nhập và nâng cao ý thức chấp hành pháp luật sau khi tái hòa nhập cộng đồng. Nội dung học tập phải đảm bảo tính cập nhật, thực tiễn, liên hệ với tình huống cụ thể và dễ áp dụng, đảm bảo tính nghiêm túc, thiết thực và hiệu quả, giúp người cai nghiện ma túy không chỉ hiểu biết pháp luật mà còn có ý thức và kỹ năng tuân thủ pháp luật sau khi tái hòa nhập cộng đồng.
‑ Khóa học được tổ chức trong thời gian 5 tuần với 10 buổi học, mỗi buổi 120 phút, thực hiện 2 buổi/tuần. Mỗi lớp học có sĩ số từ 15 người cai nghiện ma túy trở lên. Giảng viên là cán bộ có chuyên môn và kinh nghiệm giảng dạy, có trợ giảng hỗ trợ thảo luận nhóm.
‑ Nội dung chương trình được chia thành ba phần chính. Phần thứ nhất về pháp luật về ma túy (4 buổi) gồm: Luật Hình sự, Luật Phòng chống ma túy; chế độ cai nghiện bắt buộc và tự nguyện. Phần thứ hai về pháp luật liên quan (3 buổi) bao gồm: Quyền và nghĩa vụ công dân; Luật Hôn nhân gia đình; pháp luật lao động và việc làm. Phần thứ ba về kỹ năng pháp lý (3 buổi) gồm: Kỹ năng phòng tránh vi phạm pháp luật; thủ tục hành chính cơ bản; quyền được trợ giúp pháp lý.
‑ Cơ sở cai nghiện có thể ký kết hợp đồng hoặc có quy chế phối hợp với các cơ sở giáo dục đóng trên địa bàn hoặc các trường Công an nhân dân.
(6) Học kỹ năng sống
‑ Học kỹ năng sống được thực hiện nhằm trang bị cho người cai nghiện ma túy kỹ năng tự quản lý bản thân, phát triển khả năng kiểm soát cảm xúc, xây dựng kỹ năng phòng chống tái nghiện và nâng cao khả năng giao tiếp, hòa nhập. Nội dung học tập phải đảm bảo tính thực hành cao, tập trung vào tình huống thực tế và phù hợp với đặc điểm của người cai nghiện ma túy, tôn trọng cá nhân và tạo môi trường an toàn để người cai nghiện ma túy có thể thực hành và phát triển các kỹ năng cần thiết cho quá trình phục hồi và tái hòa nhập cộng đồng.
‑ Khóa học cơ bản được tổ chức trong thời gian 2‑3 tuần với 5 buổi học, mỗi buổi 120 phút, trong đó thời gian thực hành chiếm 60% tổng thời lượng. Ngoài ra, người cai nghiện ma túy phải duy trì sinh hoạt nhóm hàng tuần trong suốt quá trình cai nghiện. Mỗi lớp học có sĩ số từ 15 người cai nghiện ma túy trở lên, do chuyên gia tâm lý hoặc cán bộ có kinh nghiệm hướng dẫn, có trợ giảng hỗ trợ thực hành.
‑ Nội dung chương trình được chia thành ba phần chính. Phần thứ nhất về kỹ năng tự quản lý (2 buổi) gồm: quản lý thời gian và kế hoạch cá nhân; quản lý cảm xúc và stress. Phần thứ hai về kỹ năng phòng chống tái nghiện (2 buổi) bao gồm: nhận diện và tránh yếu tố kích thích; xây dựng lối sống lành mạnh. Phần thứ ba về kỹ năng xã hội (1 buổi) tập trung vào giao tiếp và quan hệ xã hội.
‑ Về tổ chức thực hiện: Cán bộ Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy thực hiện hoặc các mời các chuyên gia tâm lý, chuyên gia trong lĩnh vực tội phạm giảng dạy. Cơ sở cai nghiện ma túy có thể ký kết hợp đồng hoặc có quy chế phối hợp với các cơ sở giáo dục, các trung tâm có chức năng đào tạo kỹ năng sống.

3.2. Bổ túc văn hóa
‑ Bổ túc văn hóa được thực hiện nhằm xóa mù chữ cho người cai nghiện ma túy chưa biết đọc, biết viết, nâng cao trình độ văn hóa cơ bản, tạo nền tảng cho việc học nghề và tái hòa nhập, phát triển kỹ năng đọc hiểu, tính toán. Nội dung học tập phải phù hợp với trình độ của từng người cai nghiện ma túy, thiết thực, dễ hiểu và tạo hứng thú học tập, góp phần nâng cao hiệu quả cai nghiện và tái hòa nhập cộng đồng.
‑ Tùy thuộc khả năng và điều kiện thực tế, cơ sở cai nghiện ma túy xây dựng chương trình dạy, học cho người cai nghiện ma túy theo chương trình xóa mù chữ tại Thông tư số 33/2021/TT‑BGDĐT ngày 26/11/2021 của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Chương trình xóa mù chữ.
‑ Thời gian học: 03 buổi/tuần, học xen kẽ với các hoạt động khác, duy trì từ 6 đến 12 tháng. Thời gian học được phân bổ vào buổi sáng, buổi chiều và thời gian tự học vào buổi tối.
‑ Về tổ chức thực hiện: do cán bộ Tổ Quản lý học viên và Giáo dục, dạy nghề tham mưu với Trưởng cơ sở cai nghiện ma túy phối hợp với các trường tiểu học, trung học cơ sở trên địa bàn thực hiện.
* Lưu ý:
‑ Trong quá trình thực hiện giai đoạn giáo dục, tư vấn phục hồi hành vi, nhân cách cần tiếp tục điều trị phối hợp các bệnh lý kèm theo (nếu có) theo quy trình, phạm vi hoạt động chuyên môn, nếu vượt quá khả năng chuyên môn thì chuyển tuyến theo quy định (Tổ Y tế phối hợp với Tổ Quản lý học viên và Giáo dục, dạy nghề thực hiện).
‑ Việc đánh giá kết quả học tập dựa trên ba tiêu chí: kiểm tra giữa khóa (30%), bài tập tình huống (30%) và kiểm tra cuối khóa (40%). Lấy kết quả học tập để làm căn cứ đánh giá, phân loại người cai nghiện ma túy.

Giai đoạn 4: Lao động trị liệu, học nghề

1. Thời gian thực hiện: Thực hiện xen kẽ với Giai đoạn 3 và phù hợp với điều kiện thực tế của cơ sở cai nghiện ma túy cho đến khi hoàn thành chương trình cai nghiện.

2. Phân công thực hiện: Tổ Quản lý học viên và Giáo dục, dạy nghề, Tổ Y tế.

3. Nội dung và phương pháp thực hiện:

3.1. Tổ chức các hoạt động lao động trị liệu nhằm giúp người cai nghiện ma túy cải thiện về sức khỏe thể chất, tâm trí, tăng cường ý thức tổ chức, kỷ luật trong lao động, nâng cao tinh thần tự lập và giúp người cai nghiện ma túy nhận thức được giá trị của lao động.
Tổ Quản lý học viên và Giáo dục, dạy nghề thực hiện các nội dung sau:
‑ Tiến hành phân nhóm để tổ chức lao động trị liệu phù hợp với sức khỏe, độ tuổi, giới tính giúp người cai nghiện ma túy hiểu được giá trị của lao động và tìm lại kỹ năng lao động như:
+ Bố trí cho người cai nghiện ma túy tham gia lao động trị liệu thông qua các ngành nghề trồng trọt, chăn nuôi, chăm sóc vườn cây cảnh, vệ sinh khuôn viên cơ sở cai nghiện ma túy hoặc phối hợp với các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp hỗ trợ thiết bị, cung cấp nguyên liệu để gia công những mặt hàng phù hợp với người cai nghiện ma túy tại cơ sở cai nghiện ma túy theo đúng quy định của pháp luật.
+ Theo dõi, đánh giá kết quả học tập, lao động trị liệu để mỗi người cai nghiện ma túy đều hưởng thành quả lao động phù hợp với kết quả lao động trị liệu của bản thân.
‑ Thời gian lao động trị liệu của người cai nghiện ma túy thực hiện theo quy định tại Điều 68 và Điều 74 Nghị định 116.

3.2. Tổ chức các hoạt động hướng nghiệp, dạy nghề phù hợp với điều kiện thực tế tại cơ sở cai nghiện ma túy.
Tổ Quản lý học viên và Giáo dục, dạy nghề thực hiện:
‑ Lập danh sách người cai nghiện ma túy tham gia học nghề căn cứ vào số lượng, sức khỏe, độ tuổi, giới tính, trình độ, thời gian, nguyện vọng của người cai nghiện ma túy.
‑ Cơ sở cai nghiện ma túy tự đào tạo hoặc liên kết với các cơ sở giáo dục nghề nghiệp để đào tạo các nghề: chăn nuôi, trồng trọt, gốm, mộc, xây dựng, cơ khí, ăn uống, khách sạn, xây dựng, điện, sửa chữa ô tô, xe máy…
* Lưu ý: Thời gian học nghề áp dụng cho người cai nghiện ma túy tại cơ sở cai nghiện ma túy còn đủ thời gian cai nghiện từ 03 tháng trở lên.

3.3. Tổ chức khám sức khỏe định kỳ, tiếp tục điều trị phối hợp các bệnh lý kèm theo (nếu có) theo quy trình, phạm vi hoạt động chuyên môn, nếu quá khả năng chuyên môn thì chuyển tuyến theo quy định: Tổ Y tế thực hiện.

Giai đoạn 5: Chuẩn bị tái hoà nhập cộng đồng

1. Thời gian thực hiện: Trước 30 ngày người cai nghiện ma túy hết thời gian cai nghiện ma túy.

2. Phân công thực hiện: Tổ Quản lý học viên và Giáo dục, dạy nghề, Tổ Tham mưu, tổng hợp và Tổ Y tế.

3. Nội dung và phương pháp thực hiện:

3.1. Đánh giá kết quả thực hiện kế hoạch cai nghiện theo các mục tiêu; đánh giá tình trạng sức khỏe thể chất, tâm thần của người cai nghiện ma túy.
‑ Tổ Y tế đánh giá kết quả điều trị y tế và hỗ trợ phục hồi.
‑ Tổ Quản lý học viên và Giáo dục, dạy nghề đánh giá kết quả giáo dục, tư vấn phục hồi hành vi, nhân cách; lao động trị liệu, học nghề; đánh giá, chuẩn bị tái hòa nhập.

3.2. Xác định nơi cư trú của người cai nghiện ma túy để chuẩn bị thực hiện biện pháp quản lý sau cai nghiện ma túy; tư vấn các biện pháp phòng, chống tái nghiện cho người cai nghiện ma túy; kỹ năng từ chối sử dụng ma túy khi tái hoà nhập cộng đồng.
Tổ Tham mưu, tổng hợp thực hiện các nội dung sau:
‑ Xác định nơi cư trú của người cai nghiện ma túy để chuẩn bị thực hiện biện pháp quản lý sau cai nghiện ma túy; chậm nhất là 15 ngày trước khi hết thời gian cai nghiện thì cơ sở cai nghiện ma túy gửi thông báo cho Công an cấp xã nơi lập hồ sơ (Phụ lục số 2 kèm theo Quyết định này), đại diện gia đình (bố, mẹ, vợ hoặc chồng, anh, chị, em ruột), người đại diện theo pháp luật của người từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi biết ngày người cai nghiện ma túy tái hòa nhập cộng đồng.
‑ Cấp giấy xác nhận hoàn thành cai nghiện ma túy tự nguyện cho người cai nghiện ma túy tự nguyện (Mẫu số 26b, Nghị định 116). Cấp giấy chứng nhận đã chấp hành xong quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc cho người bị áp dụng biện pháp đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc (Mẫu số 46, Nghị định 116).
‑ Thực hiện thủ tục thanh lý hợp đồng cai nghiện đối với người cai nghiện ma túy tự nguyện.

* Lưu ý:
‑ Đối với người từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi đã chấp hành xong quyết định mà không có gia đình đến đón thì cơ sở cai nghiện ma túy có trách nhiệm đưa về bàn giao tại gia đình hoặc Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người sau cai nghiện cư trú (Mẫu số 47, Nghị định 116).
‑ Trong trường hợp người sau cai nghiện ốm yếu không có khả năng lao động, không xác định được nơi cư trú; người từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi đã hoàn thành cai nghiện ma túy mà không rõ cha, mẹ, không có nơi nương tựa hoặc không xác định được nơi cư trú thì Trưởng Cơ sở cai nghiện ma túy có trách nhiệm phối hợp với đơn vị chức năng hoàn chỉnh hồ sơ, thủ tục chuyển người chấp hành xong biện pháp cai nghiện bắt buộc vào cơ sở trợ giúp xã hội theo quy định của pháp luật.
‑ Trường hợp người đã hoàn thành cai nghiện không về nơi cư trú, không thông báo cho Công an cấp xã nơi chuyển đến sinh sống thì thời hạn quản lý sau cai sẽ tính từ thời điểm người đó ra trình diện với cấp có thẩm quyền để thực hiện việc quản lý sau cai nghiện ma túy. Công an cấp xã phối hợp với các đơn vị chức năng và gia đình người nghiện ma túy để nắm tình hình, xác minh, làm rõ nơi đối tượng chuyển đến để phối hợp với Công an cấp xã nơi đối tượng đến sinh sống thực hiện việc quản lý sau cai nghiện theo quy định.
‑ Công an cấp xã nơi cư trú của người đã hoàn thành cai nghiện ma túy rà soát, hướng dẫn làm thủ tục cấp các loại giấy tờ cá nhân để người đã hoàn thành cai nghiện có điều kiện thuận lợi tái hoà nhập cộng đồng.

3.3. Cung cấp thông tin về biện pháp quản lý sau cai nghiện tại cộng đồng và các chính sách hỗ trợ tái hoà nhập cộng đồng của nhà nước đối với người sau cai nghiện ma túy; giới thiệu, cung cấp thông tin, địa chỉ dịch vụ công tác xã hội, nhóm sinh hoạt đồng đẳng tại địa phương cho người sau cai nghiện ma túy.
Tổ Quản lý học viên và Giáo dục, dạy nghề thực hiện các nội dung sau:
‑ Hướng dẫn người đã hoàn thành cai nghiện ma túy đến Công an cấp xã trình diện và thực hiện quản lý sau cai nghiện ma túy; chấp hành các quy định trong thời gian bị quản lý sau cai nghiện ma túy.
‑ Tư vấn các chính sách hỗ trợ hoà nhập cộng đồng của Nhà nước đối với người sau cai nghiện ma túy, các mô hình quản lý, hỗ trợ hoà nhập cộng đồng cho người sau cai nghiện ma túy; giới thiệu, cung cấp thông tin, địa chỉ dịch vụ công tác xã hội, nhóm sinh hoạt đồng đẳng tại địa phương cho người sau cai nghiện ma túy.

3.4. Phổ biến chính sách, pháp luật, thông tin về tình hình kinh tế ‑ xã hội, thị trường lao động, tư vấn, giáo dục kỹ năng sống, trợ giúp về tâm lý, hỗ trợ các thủ tục pháp lý nhằm trang bị kiến thức cần thiết, nâng cao khả năng tự giải quyết những khó khăn, vướng mắc của người cai nghiện ma túy.
Tổ Quản lý học viên và Giáo dục, dạy nghề tư vấn cho người cai nghiện ma túy tái hòa nhập cộng đồng gồm: các biện pháp phòng, chống tái nghiện; kỹ năng từ chối sử dụng ma túy khi tái hòa nhập cộng đồng; cung cấp thông tin về tình hình kinh tế ‑ xã hội, thị trường lao động; hướng dẫn, tư vấn, điều trị, dự phòng các bệnh lý (nếu có).

3.5. Hướng dẫn người cai nghiện ma túy xây dựng kế hoạch tái hòa nhập cộng đồng (Mẫu số 21, Nghị định 116).
Tổ Tham mưu, tổng hợp thực hiện nội dung sau:
Kế hoạch cần xác định mục tiêu, nguyện vọng của người cai nghiện ma túy, hoàn cảnh thực tế, sự hỗ trợ của các nguồn lực, năng lực bản thân của người cai nghiện ma túy, chọn việc làm phù hợp với sức khỏe và kỹ năng lao động của bản thân.

III. TỔ CHỨC THỰC HIỆN

1. Căn cứ điều kiện thực tế, Trưởng Cơ sở cai nghiện ma túy ban hành quy trình cụ thể theo quy định tại khoản 1 Điều 27 Nghị định 116; đồng thời phân công nhiệm vụ linh hoạt, phù hợp đảm bảo đáp ứng yêu cầu công tác cai nghiện. Sau mỗi giai đoạn của quy trình cai nghiện cần đánh giá kết quả để xác định người cai nghiện ma túy có đủ điều kiện chuyển sang giai đoạn tiếp theo hay không.

2. Giao Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy hướng dẫn, đôn đốc, định kỳ, đột xuất kiểm tra, đánh giá việc thực hiện quy trình này tại các cơ sở cai nghiện đảm bảo hiệu quả.

3. Trường hợp văn bản viện dẫn tại Quy trình này được sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc ban hành mới thì những nội dung viện dẫn tại Quy trình này được thực hiện theo các văn bản sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc ban hành mới.

4. Quá trình triển khai thực hiện nếu có vướng mắc, đề nghị phản ánh kịp thời về Bộ Công an (qua Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy) để chỉ đạo, hướng dẫn giải quyết./.

Người nghiện ma túy: Tội phạm hay bệnh nhân?

Người nghiện ma túy: Tội phạm hay bệnh nhân?

Thượng tá Lê Quý Minh

Khi người nghiện sử dụng ma túy càng lâu, liều lượng càng tăng thì hậu quả tác hại càng nặng nề. Những tác động của ma túy trên não bộ gây ra những tổn thương tạm thời hoặc vĩnh viễn trên người nghiện, làm người nghiện ma túy suy giảm khả năng phán đoán, phân tích, tổng hợp, xử lý thông tin, khả năng tự chủ.


Hình minh họa
Trung tướng Nguyễn Văn Long (bìa trái) - Thứ trưởng Bộ Công an và Thiếu tướng Mai Hoàng (giữa) - Giám đốc Công an TP.HCM đến thăm và làm việc tại Trung tâm Điều dưỡng & Cai nghiện ma túy Thanh Đa.

Đồng chí Thượng tá Lê Quý Minh, Hội Cựu CAND TP.HCM đã có buổi trao đổi với Bác sỹ Nguyễn Hữu Khánh Duy, Giám dốc trung tâm cai nghiện ma túy Thanh Đa để làm rõ vấn đề “Người nghiện ma túy là tội phạm hay bệnh nhân?”.

Theo Bác sỹ Nguyễn Hữu Khánh Duy, nghiện ma túy rất khó chữa, đặc tính là dễ tái nghiện. Việc cai nghiện phục hồi cho người nghiện ma túy đòi hỏi phải kiên nhẫn và có kiến thức về cai nghiện ma túy.

Người nghiện ma túy gây ra các hậu quả nặng nề về luật pháp, y tế, xã hội, tài chính, việc làm và ổn định của xã hội. Để sử dụng ma túy người nghiện phải mua bán, tàng trữ, sử dụng, thậm chí phải trộm cắp tiền bạc của gia đình, người thân quen hoặc cướp giật, gây trọng án cho người khác ngoài xã hội, tiếp tay cho bọn buôn bán ma túy, sản xuất, tiêu thụ ma túy thậm chí với khối lượng rất lớn. Tác hại của việc sử dụng ma túy đã được đăng tải nhiều trên các cơ quan truyền thông và báo chí.

Về phương diện bệnh lý, cai nghiện ma túy phải được đánh giá thường xuyên bởi một nhóm cán bộ điều trị gồm các cán bộ quản lý, bác sỹ cai nghiện phục hồi, các nhà giáo dục, hướng nghiệp, các nhà tư vấn - tâm lý - xã hội học…

Khi người nghiện sử dụng ma túy càng lâu, liều lượng càng tăng thì hậu quả tác hại càng nặng nề. Những tác động của ma túy trên não bộ gây ra những tổn thương tạm thời hoặc vĩnh viễn trên người nghiện, làm người nghiện ma túy suy giảm khả năng phán đoán, phân tích, tổng hợp, xử lý thông tin, khả năng tự chủ. Họ thiếu nghị lực, thiếu sáng suốt, thiếu ý chí để thực hiện các quyết định của mình. Do ký ức hồi tưởng, người nghiện rất dễ bị gợi nhớ đến ma túy khi gặp lại những hình ảnh, vụ việc liên quan đến việc sử ma túy trước đây như gặp ống chích, kim tiêm, bạn bè cũ, quán café cũ, nghe nhạc cũ, tâm trạng cũ; phản xạ có điều kiện làm cho người nghiện ma túy nghĩ đến những khoái cảm ngây ngất khi sử dụng ma túy: họ bị kích động mạnh mẽ khiến đối tượng rất dễ tái sử dụng, tái nghiện.

Người nghiện ma túy không đủ nghị lực cũng như không đủ nhận thức để sống một cách trong sạch, lành mạnh. Về mặt tinh thần, sức khỏe, nghề nghiệp, trách nhiệm bị suy sụp.

Bác sỹ Nguyễn Hữu Khánh Duy, nguyên Cụm phó cụm Điệp báo A10 Ban An ninh T4. Sau năm 1976 là bác sỹ phụ trách y tế tại trại giam Chí Hòa. Năm 1983 Ông về công tác tại P.A25 phụ trách lĩnh vực Y tế - Giáo dục - Lao động - Thương binh - Xã hội, Cơ quan Dân chính Đảng. Năm 1990 ông là Hội thẩm Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Năm 1999 đến nay là Giám đốc Trung tâm Điều dưỡng và Cai nghiện ma túy Thanh Đa. Từ đó ông đã có điều kiện nghiên cứu - tiếp xúc - điều trị hơn 25.000 lượt người nghiện ma túy và đã có nhiều báo cáo tại các hội nghị trong và ngoài nước về Cai nghiện - Phục hồi.

Có 4 vấn đề chính cần phải giải quyết trên đối tượng nghiện ma túy, đó là:

- Rối loạn và xuống cấp nhận thức - hành vi - nhân cách.

- Chấn thương tâm lý: Đây là một quá trình diễn biến đây phức tạp của nội tâm đối với bản thân, gia đình và xã hội.

- Người nghiện ma túy hầu hết đều ở trong tình trạng đói ma túy trường diễn, kể cả sau khi cai nghiện. Hội chứng hồi tưởng, chấn thương tâm lý, tổn thương não bộ, rối loạn hành vi nhân cách rất dễ dẫn người đã cai nghiện đến tái sử dụng ma túy.

- Tổn thương hệ thống não bộ và các vấn đề tâm thần của người nghiện ma túy.

Bốn vấn đề chính này tác động qua lại lẫn nhau, vừa là nguyên nhân cũng vừa là hậu quả của việc sử dụng ma túy.

Để cai nghiện có kết quả phải duy trì thời gian đủ dài để phục hồi hệ thống não bộ, gọt dũa, điều chỉnh, phục hồi nhận thức, hành vi, nhân cách, giải quyết các chấn thương tâm lý, mâu thuẫn nội tâm, trang bị bản lĩnh và kỹ năng sống, phát hiện các yếu tố nguy cơ và các yếu tố bảo vệ để biết cách vươn lên, xa lánh môi trường xấu, phát huy lợi thế hoàn cảnh bản thân.

Thời gian cai nghiện từ 6 tháng đến 2 năm tùy theo mức độ nặng nhẹ của từng đối tượng.

Một quan điểm rất sai lầm của nhiều người là cắt cơn nghiện là đã chữa xong nghiện ma túy. Thực chất cắt cơn nghiện ma túy chỉ là giai đoạn đầu để chuẩn bị cho một quy trình, cai nghiện rất khó khăn tiếp theo.

Do các rối loạn tâm trí thực tổn, các phản ứng tâm sinh lý và đặc biệt là chứng hồi tưởng dễ dẫn người nghiện đến những cơn thèm nhớ ma túy với tất cả sự khoái cảm của nó và sự phản ứng yếu ớt của bản thân trước sự quyến rũ của ma túy. Nếu có giải pháp tích cực, đúng cách, đủ thời gian, cách ly với môi trường ma túy: cường độ và tần số nhớ này sẽ giảm dần, tổn thương hệ thống não bộ được phục hồi, ngoài ra người cai nghiện còn được trang bị bản lĩnh và kỹ năng sống, biết được ưu nhược điểm bản thân để vươn lên trong hoàn cảnh của mình. Tuy nhiên, cần lưu ý là ngay cả khi tạm gọi là cai nghiện thành công, người nghiện vẫn phải tiếp tục cai nghiện cả đời.

Sau khi cai, nếu những nhân tố tác động thúc đẩy đối tượng tìm đến ma túy vẫn chưa được giải quyết, hầu hết những người nghiện sẽ tái nghiện. Do hệ thống não bộ đã bị ngộ độc ma túy, hầu hết những người nghiện ma túy đều có vấn đề tâm thần từ mức độ nhẹ đến nặng.

Ngoài trạng thái lạm dụng rồi lệ thuộc, các hội chứng lâm sàng liên quan đến thể chất, gây các phản ứng tâm lý và rối loạn tâm trí thực tổn như: trạng thái nhiễm độc, lú lẫn tâm trí, hội chứng hồi tưởng, loạn tâm thần, các rối loạn hành vi, các rối loạn tập trung, các rối loạn nhân cách, các rối loạn tâm thần , tự sát và các ý dịnh tự sát.

Hầu hết người nghiện đều có vấn đề tâm thần từ nhẹ đến nặng, do đó Trung tâm cai nghiện phải có bác sĩ chuyên khoa tâm thần để điều trị tại chỗ vì chuyển học viên ra bệnh viện ngoài rất khó quản lý: học viên có điều kiện thẩm lậu, tái sử dụng ma túy và nếu có điều kiện sẽ tìm cách trốn.

Vì những lý do trên, quan điểm của chúng tôi: Người nghiện ma túy là một tội phạm và cũng là một bệnh nhân.

Nguyên nhân khiến nhiều người sa chân vào ma túy

Nguyên nhân khiến nhiều người sa chân vào ma túy

Thượng tá Lê Quý Minh

Các gia đình quá bận rộn công việc, lo làm ăn, hoặc lơ là thiếu quan tâm trong việc giáo dục, chăm sóc, quản lý con em mình cũng là nguyên nhân khiến con em từng bước sa chân vào ma túy.

 

Đồng chí Thượng tá Lê Quý Minh, Hội Cựu Công an nhân dân (CAND) thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM) đã có cuộc trao đổi với bác sỹ Nguyễn Hữu Khánh Duy - Giám đốc Trung tâm Điều dưỡng và Cai nghiện ma túy Thanh Đa về nguyên nhân sử dụng ma túy.

Theo bác sỹ Nguyễn Hữu Khánh Duy, người nghiện ma túy từ nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có 3 vấn đề chính gồm chất gây nghiện, đối tượng sử dụng chất gây nghiện và môi trường sống của người nghiện.

Do có nhiều chất gây nghiện mới phát sinh nên công tác phòng chống lạm dụng chất gây nghiện đã khó nay càng khó hơn. Công tác triệt phá các ổ nhóm sản xuất, tàng trữ và buôn bán chất ma túy diễn biến hết sức phức tạp. Việc sản xuất, mua bán ma túy là siêu lợi nhuận nên không ít kẻ vẫn liều lĩnh lao vào việc này, thậm chí chúng còn lôi kéo gia đình, dòng họ, lợi dụng cả người già và trẻ em vào đường dây buôn bán chất cấm. Chúng không từ bất cứ thủ đoạn, từ mua chuộc các cơ quan chức năng tới việc chống trả quyết liệt khi bị phát hiện. Mặc dù hình phạt dành cho loại tội phạm này rất nghiêm khắc (tử hình) nhưng cũng không ngăn cản được lòng tham của chúng.

Do nằm cạnh vùng Tam giác vàng, một trong những trung tâm sản xuất ma túy lớn trên thế giới. nước ta còn có đường biên giới rất dài và nhiều cửa khẩu trên bộ, trên biển và hàng không nối với nhiều nước trong khi lực lượng phòng chống ma túy còn mỏng, thiếu trang thiết bị hiện đại nên việc kiểm tra sản xuất, tàng trữ, vận chuyển trái phép chất ma túy rất khó khăn.

Đối tượng sử dụng ma túy rất phức tạp, bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân khác nhau, như:

- Do tính tò mò và mạo hiểm muốn thử trải nghiệm những cảm giác kỳ lạ của chất gây nghiện bất chấp sự ngăn cản của gia đình và xã hội, các khuyến cáo của các phương tiện thông tin đại chúng. Một số thanh thiếu niên sử dụng các chất gây nghiện như một phương thức tự khẳng định mình, tự cho mình đã trưởng thành.

- Những thanh thiếu niên có những vấn đề bất mãn với gia đình và xã hội có thể sử dụng chất gây nghiện như một phản ứng chống đối.

- Thanh thiếu niên tìm đến chất gây nghiện như một phương thức lẩn tránh tác động của các stress rất đa dạng trong đời sống hiện đại.

- Một số khác tìm đến các chất gây nghiện do các trạng thái bệnh tâm thần nhất thời hay trường diễn. Thường gặp nhất là các trạng thái lo âu, trầm cảm, rối loạn stress sau sang chấn, tâm thần phân liệt, rối loạn cảm xúc hay nhân cách có thể do thất bại trong cuộc sống, chán nản với hoàn cảnh, không tìm được mô hình lý tưởng để theo...

Một số gia đình có con em nghiện ma túy do không có thái độ phê phán quyết liệt với con em khi chúng bắt đầu sử dụng chất gây nghiện, một số khác mất cảnh giác cho con cái nhiều tiền để tự do tiêu xài, đua đòi cùng bạn bè hoặc không kiểm tra xem con em mình có sử dụng tiền đúng mục đích hay không.

Đặc biệt nguy hại là những gia đình do sĩ diện hay do nuông chiều con cái không dám thừa nhận với cộng đồng là con cái đã bị nghiện, để đưa đi điều trị ở các cơ sở cai nghiện và chịu áp lực thường xuyên phải cung cấp tiền để mua ma túy.

Ở những gia đình thiếu kinh nghiệm trong giáo dục con cái như nóng nảy, la mắng, một số khác lại thiếu kiên quyết sợ con cái tức giận, sợ tan vỡ gia đình... do đó không giải quyết phù hợp với sai phạm của con em.

Các gia đình quá bận rộn công việc, lo làm ăn, hoặc lơ là thiếu quan tâm trong việc giáo dục, chăm sóc, quản lý con em mình cũng là nguyên nhân khiến con em từng bước sa chân vào ma túy. Không ít gia đình chỉ biết con em mình bị nghiện hoặc phạm pháp sau khi chúng có vấn đề liên quan với cơ quan pháp luật hoặc thể hiện bất thường trong sinh hoạt rõ rệt.

Các gia đình có nhiều xung đột thường xuyên cũng là nhân tố thúc đẩy con em mình đi vào con đường nghiện ngập, được chúng xem như là một phương thức để đối tượng thoát khỏi bầu không khí căng thẳng, nặng nề phải chịu đựng hằng ngày.

Chúng ta đang phải sống trong một môi trường xã hội bị ô nhiễm chất gây nghiện: Việc sản xuất các loại ma túy thậm chí còn được hướng dẫn cách pha chế trên các trang mạng và được bày bán dưới nhiều hình thức như bánh kẹo, nước uống giải khát. Các ổ nhóm và tụ điểm sử dụng các chất gây nghiện vẫn còn tồn tại ở nhiều nơi, người nghiện vẫn có thể tìm mua chất gây nghiện tương đối dễ dàng.

Mặt khác, các chuẩn mực đạo đức xã hội cũng bị biến đổi, xói mòn. Một nguyên nhân xã hội nữa là việc tôn trọng và thực thi pháp luật chưa được nghiêm túc.

Hiện nay môi trường học đường từ tiểu học đến đại học đã và đang bị ma túy xâm nhập. Cần có các biện pháp quyết liệt và khoa học.

Nghiện ma túy khó điều trị do tâm lý từ chối chữa bệnh của đối tượng:

Trước hết đối tượng không muốn và không thể từ bỏ cảm giác sảng khoái đê mê do chất gây nghiện đem lại. Người nghiện không chịu nổi những phản ứng của gia đình và cộng đồng, những khó khăn của cuộc sống, tìm cách ngày càng làm người nghiện lẩn trốn vào chất gây nghiện, không muốn và không dám trở lại thực tại mà đối tượng không thích nghi được nữa.

Nếu đối tượng cảm nhận được sự dung túng của người thân thì càng từ chối mạnh hơn, dai dẳng hơn, việc cai nghiện có thể vô cùng khó khăn. Chính từ sự từ chối chữa bệnh của đối tượng và sự dung túng của người thân đã hình thành và duy trì phương thức điều trị bắt buộc ở nhiều nước trên thế giới hiện nay.

Nghiện ma túy khó chữa nhưng vẫn có thể chữa khỏi nếu có chiến lược điều trị thích hợp thông qua tư vấn, tâm lý trị liệu, trang bị bản lĩnh kỹ năng sống, hình thành thói quen tốt để đối tượng được thấu hiểu, đem lại lòng tin cho đối tượng, đưa dần đối tượng đến chỗ quyết tâm không dùng chất gây nghiện nữa. Ngoài ra nếu có sự động viên giúp đỡ của gia đình và cộng đồng về các mặt tinh thần, tài chính, việc làm, không kỳ thị thì cai nghiện đạt kết quả hơn.

Tác hại của rượu, bia và cách phòng tránh

Tác hại của rượu, bia và cách phòng tránh

Thượng tá Lê Quý Minh

Người say rượu, bia thường cường điệu hóa vụ việc, ưa khoe khoang về mình, ưa công kích người khác.

 

Đồng chí Thượng tá Lê Quý Minh, Ủy viên Ban Chính trị - Phong trào Hội Cựu Công an nhân dân (CAND) thành phố Hồ Chí Minh đã có buổi trao đổi với Bác sỹ Nguyễn Hữu Khánh Duy, nguyên Cụm phó Cụm điệp báo A10, Ban an ninh T4, Hội viên Hội Cựu CAND TP.HCM, nay là Giám đốc trung tâm cai nghiện ma túy Thanh Đa, về tác hại của rượu, bia.

Theo bác sỹ Nguyễn Hữu Khánh Duy, ngày 11/10/2024 Thủ tướng Chính Phủ đã ký quyết định số 1169/QĐ phê duyệt đề án truyền thông phòng chống tác hại của rượu, bia đến năm 2030. Theo ý kiến chủ quan của tôi về mặt chuyên môn có thể nói chưa có một loại gây nghiện nào được sử dụng rộng rãi như ở Việt Nam. Rượu bia là một loại nước uống có cồn dễ gây nghiện nếu người uống dùng thường xuyên liên tục với số lượng lớn hàng ngày, uống vô độ, không kiềm chế, lâu dần thành thói quen khó bỏ và sau đó dẫn đến nghiện ngập, ảnh hưởng đến sức khỏe thể chất và tâm thần. Chưa có một chất gây nghiện đặc biệt nào được sử dụng nhiều như rượu, bia ở nước ta.

Rượu, bia được sử dụng đặc biệt là trong các nghi lễ văn hóa, trong ma chay, cưới hỏi, giỗ tết,... Đa số rượu, bia được sản xuất từ bột gạo, bột nếp đến vỏ cây, mía, củ sắn, lá rừng,… Lạm dụng rượu, bia lâu ngày đưa đến chứng nghiện rượu, bia để lại nhiều tác hại.

- Về cơ thể: rượu, bia gây tổn thương hệ thống thần kinh, tim mạch, viêm loét dạ dày, dẫn đến xơ gan, ung thư gan và tổn thương nhiều bộ phận khác.

- Về mặt tâm thần: do phụ thuộc rượu, bia, người nghiện rượu, bia bị tổn thương hệ thống thần kinh não bộ, rối loạn nhận thức, hành vi, nhân cách, mất trí, phát sinh nhiều rối loạn tâm thần.

Nguyên nhân dẫn đến uống rượu, bia là do nhiều người tin rằng rượu, bia là một chất bổ, nhất là khi dùng rượu, ngâm với các loại thảo dược, bộ phận động vật để tăng cường năng lực, bổ thận, tráng dương.

Ngoài ra, môi trường văn hóa, tâm lý và xã hội cũng là một yếu tố dẫn đến sử dụng rượu, bia. Việc uống rượu trở nên quá bình thường trong tập quán dân gian, lễ hội, trong quan hệ hàng ngày. Số người bị thất bại trong cuộc sống cũng uống rượu, bia tiêu sầu. Đa số các buổi họp mặt, liên hoan phải có rượu, bia.

Người say rượu, bia mức độ nhẹ chậm chạp, kém nhạy bén, thiếu vận động, giảm nhiều kỹ năng lao động. Tình trạng hưng phấn, khí sắc tăng, cảm giác hưng phấn quá mức, khoái cảm thô lỗ, nói năng đùa cợt không phù hợp. Người say rượu, bia thường cường điệu hóa vụ việc, ưa khoe khoang về mình, ưa công kích người khác. Ngoài ra người say rượu, bia ưa chấp nhặt, hay gây sự. Say rượu, bia nhẹ có thể giải tỏa bản năng tình dục dễ dẫn đến hành vi thô bạo với người khác giới.

Người say rượu, bia ở mức độ trung bình: Liên tưởng hỗn độn, không kiềm chế được cảm xúc, dễ tức giận, nổi nóng dù những nguyên do không đáng.

Khi quá say người uống thường nôn nhiều, vã mồ hôi, tăng tiết nước bọt, tiểu ra quần, có thể dẫn đến hôn mê, mạch nhanh, thở nhanh, có thể ngộ độc dẫn đến tử vong nếu không được cứu chữa kịp thời. Người nghiện rượu cần được theo dõi ở cơ sở y tế.

Rượu, bia gây rất nhiều rối loạn về tâm thần: làm người nghiện rối loạn khí sắc, rối loạn hành vi, nói năng luyên thuyên, khoác lác, hay đùa cợt, xàm sỡ, cáu gắt, công kích dọa nạt, chửi bới tấn công người khác. Trong một số người có thể thay đổi từ vui nhộn, khoan khoái với những câu bông đùa vô duyên, quá xàm sỡ chuyển sang quấy rầy, nổi khùng, cau có, gây gổ, độc ác.

Người nghiện ngày càng trở nên ích kỷ, mất đi những thích thú cũ, lãnh đạm với người thân, giảm sút tình cảm đạo đức, năng xuất công việc giảm, các mối quan hệ xã hội bị thu hẹp dần, người nghiện rượu, bia chỉ còn những bạn rượu chia sẻ thú vui uống rượu nhất thời. Phẩm chất thoái hóa, thường vi phạm pháp luật.

Người bệnh bị ảo giác, ảo thanh, ảo thị, ảo xúc, ảo khứu, ảo vị, hoang tưởng, rối loạn cảm xúc và hành vi, lúc đầu uống thường cảm thấy hưng phấn nhưng sau đó có cảm giác thường bị ức chế, đôi khi trở nên cau có, giận dữ, cảm giác không lối thoát. Vì bị tổn thương hệ thống não bộ người nghiện phải được điều trị nội trú một thời gian về tâm thần, điều chỉnh phục hồi nhận thức, hành vi, nhân cách, tư vấn tâm lý trị liệu, và các loại hình hoạt động trị liệu khác.

Khi điều trị ngoại trú người nghiện phải được uống thuốc chống tái nghiện.

Trung tâm Điều dưỡng và Cai nghiện ma túy Thanh Đa là một trong rất ít trung tâm cai nghiện ma túy được Sở Y tế Tp.Hồ Chí Minh cho phép tiếp nhận điều trị cai nghiện cho những người nghiện rượu, bia. Trung tâm có 7 Bác sĩ chuyên khoa tâm thần và cai nghiện ma túy trên 20 năm.

Nghiện rượu, bia tuy tác hại về tâm thần chậm, nhưng ảnh hưởng trên não bộ, ngoài những rối loạn tâm thần kể trên người nghiện còn bị teo não rất khó phục hồi và còn bị tổn thương trên rất nhiều bộ phân khác, do đó không thể coi thường tác hại của rượu, bia này được.

Những nguyên tắc cơ bản trong cai nghiện và phục hồi cho người nghiện ma túy

Những nguyên tắc cơ bản trong cai nghiện và phục hồi cho người nghiện ma túy

Lê Quý Minh

Cai nghiện được gọi là thành công không chỉ nhằm vào mục tiêu người nghiện không tái sử dụng ma túy mà còn đòi hỏi đối tượng phải có một lối sống điều độ, tự quản lý bản thân một cách tốt đẹp.

 

Đồng chí Thượng tá Lê Quý Minh - Ủy viên Ban CT-PT Hội Cựu Công an nhân dân (CAND) Tp.HCM đã có buổi gặp gỡ trao đổi với bác sỹ Nguyễn Hữu Khánh Duy - Giám đốc Trung tâm điều dưỡng và Cai nghiện ma túy Thanh Đa Tp.HCM về những nguyên tắc cơ bản trong cai nghiện, phục hồi cho người nghiện may túy.

Theo bác sỹ Nguyễn Hữu Khánh Duy, người nghiện ma túy bị tổn thương não do ngộ độc ma túy khó chữa có đặc tính là dễ tái nghiện. Việc điều trị phục hồi cho người nghiện ma túy đòi hỏi phải kiên nhẫn và phải có kiến thức về cai nghiện ma túy.

Quá trình điều trị phải được đánh giá thường xuyên bởi một nhóm điều trị gồm các bác sĩ nội khoa, bác sĩ tâm thần, bác sĩ điều dưỡng - phục hồi, các nhà giáo dục - hướng nghiệp, các nhà tư vấn - tâm lý học - xã hội học, các cán bộ quản lý,… Quá trình điều trị này phải được chuyển đổi kịp thời theo những rối loạn tâm sinh lý của người nghiện mà chuyên môn ngành nào, ngành đó phải giải quyết, nhưng bắt buộc các thành viên của nhóm điều trị phải phối hợp tác nghiệp ở một thể thống nhất khi đánh giá và lập kế hoạch điều trị cho đối tượng.

Khi người nghiện sử dụng ma túy càng lâu, liều lượng càng tăng thì hậu quả tác hại càng nhiều và càng nặng nề bấy nhiêu. Những tác động của ma túy gây những tổn thương tạm thời hoặc vĩnh viễn, người nghiện suy giảm khả năng phán đoán, phân tích, tổng hợp, xử lý thông tin, khả năng tự chủ, rất khó khăn khi đưa ra một quyết định đúng đắn. Họ thiếu nghị lực, thiếu sáng suốt, thiếu ý chí để thực hiện quyết định của mình.

Do ký ức hồi tưởng, người nghiện rất dễ bị gợi nhớ đến ma túy khi gặp lại những hình ảnh, vụ việc liên quan đến việc sử ma túy trước đây. Gặp ống chích, kim chích, bạn bè cũ, quán café cũ, nghe nhạc cũ, gặp hoàn cảnh cũ, tâm trạng cũ, hay khi nghĩ đến những khoái cảm do sử dụng ma túy, họ bị kích động mạnh mẽ khiến đối tượng rất dễ tái nghiện.

Người nghiện phát triển những cách ứng xử không thích nghi và nhiều thói quen xấu khiến họ mất đi lòng tự trọng. Hầu hết người nghiện không cần hoặc không còn khả năng hiểu biết những hậu quả do hành vi mình gây nên và đều có vấn đề tâm thần từ thấp đến cao.

Và thực hiện thành công sự thay đổi về nhận thức. Người nghiện ma túy hầu hết đều ở trong tình trạng đói ma túy trường diễn, kể cả sau khi cai nghiện. Hội chứng hồi tưởng, phản xạ có điều kiện, chấn thương tâm lý, tổn thương não bộ, rối loạn hành vi nhân cách rất dễ dẫn người đã cai nghiện đến tái sử dụng ma túy.

Những nguyên tắc cơ bản trong cai nghiện phục hồi:

Nguyên tắc điều trị: “Không có một loại thuốc, một biện pháp đơn thuần nào (châm cứu, bấm huyệt, phẫu thuật,...) có thể chữa được bệnh nghiện ma túy mà phải đòi hỏi một liệu pháp tổng hợp, đồng bộ, xuyên suốt, khép kín, linh hoạt, kịp thời”.

Biện pháp thực hiện: Trong điều trị nghiện ma túy để cai nghiện thành công, người nghiện phải được điều trị toàn diện, ngoài việc sử dụng thuốc, biện pháp chủ yếu là người cai nghiện còn phải được gọt dũa, điều chỉnh, phục hồi nhận thức, hành vi, nhân cách, giải quyết những chấn thương tâm lý, mâu thuẫn nội tâm hình thành thói quen tốt thông qua các biện pháp điều trị không dùng thuốc bao gồm: Tư vấn, liệu pháp tâm lý, liệu pháp giáo dục và liệu pháp quản lý,...

Một người nghiện nếu không được giải quyết các vấn đề nêu trên thì sau khi cai nghiện về, hầu hết sẽ tái nghiện. Điều này lý giải tại sao các chương trình cai nghiện thường thất bại và đạt kết quả thấp.

Yếu tố quyết tâm cai nghiện của đối tượng: Là yếu tố tiên quyết nhưng không phải là yếu tố quyết định.

Khi đối tượng không chịu cai nghiện thì khó có thể chữa được bệnh. Tuy nhiên, biện pháp cai nghiện bắt buộc không phải là không có kết quả. Tại các trung tâm cai nghiện cưỡng bức, đối tượng có thời gian cách ly với môi trường ma túy, sẽ có thời gian suy nghĩ lại mình.

Tại các trung tâm cai nghiện tốt, đối tượng sẽ được giúp đỡ, quan tâm, giáo dục đúng đắn; do đó nhận thức, tư tưởng đối tượng sẽ chuyển đổi dần thành cai nghiện tự nguyện.

Trái lại, tại các trung tâm cai nghiện không tốt dù tự nguyện hay không tự nguyện, cũng sẽ dẫn đối tượng tới những đối kháng với trung tâm, dẫn tới đối kháng thêm với gia đình, dễ có những hành vi hung hăng, bạo loạn bộc phát, một số đối tượng khác không thể phản kháng được, âm thầm chấp nhận cai nghiện nhưng rất dễ dẫn đến trầm cảm phản ứng, phải chấp nhận thời gian cai nghiện nhưng sau khi rời trung tâm trở về dễ bùng phát dẫn đến tái nghiện nhanh.

Điều trị có kết quả phải duy trì thời gian điều trị đủ dài: Để phục hồi hệ thống não bộ, gọt dũa, điều chỉnh lại nhận thức, hành vi, nhân cách, giải quyết các chấn thương tâm lý, mâu thuẫn nội tâm, trang bị bản lĩnh, và kỹ năng sống, phát hiện các yếu tố nguy cơ và các yếu tố bảo vệ để biết cách vươn lên.

Thời gian cai nghiện tạm ổn định từ 6 tháng đến 2 năm.

Một quan điểm rất sai lầm là cắt cơn nghiện là đã chữa xong bệnh nghiện ma túy. Thực chất cắt cơn nghiện ma túy chỉ là giai đoạn đầu để chuẩn bị cho mọi quy trình điều trị, cai nghiện rất khó khăn tiếp theo. Bản thân việc cắt cơn nghiện có rất ít tác động đến việc thay đổi tình trạng sử dụng ma túy.

Do các rối loạn tâm trí thực tổn, các phản ứng tâm sinh lý và đặc biệt là chứng hồi tưởng, dẫn người nghiện đến những cơn thèm nhớ ma túy với tất cả sự khoái cảm của nó và sự phản ứng yếu ớt của bản thân trước sự quyến rũ của ma túy. Nếu được điều trị tích cực, đúng cách, đủ thời gian, cách ly với môi trường ma túy, cường độ và tần số nhớ này sẽ giảm dần, tổn thương hệ thống não bộ được phục hồi, ngoài ra bệnh nhân còn được trang bị bản lĩnh và kỹ năng sống, biết được ưu nhược điểm bản thân để vươn lên Tuy nhiên, cần lưu ý là ngay cả khi tạm gọi là cai nghiện thành công, người nghiện vẫn phải tiếp tục cai nghiện cả đời.

DI CHỨNG SỬ DỤNG MA TÚY

 
 

Bị trầm cảm sau cai nghiện, có phục hồi lại được không?

 
10/02/2020 10:03

Năm nay em 24 tuổi. Em sử dụng ma túy đá tầm khoảng 30 lần trong 6 tháng và hiện em đã cai khoảng 6 tháng rồi. Mới lần đầu tiên cai, em thấy mình rất hay cáu gắt, bực bội, tính tình nóng nảy, mất ngủ, nhưng hiện tại em đỡ nhiều rồi. Giờ em hay bị thức giấc nửa đêm, ít nói và trầm cảm, buồn chán, không còn vui vẻ yêu đời như trước đây nữa. Vậy sau cai, sức khỏe của em có được phục hồi như trước đây không, em có cần phải sử dụng thuốc gì không? Em xin cảm ơn.

 

Trả lời:

 

Khi ma túy đá vào cơ thể, nó kích thích tế bào thần kinh trung ương, tăng sinh nồng độ chất dẫn truyền thần kinh một cách cao độ làm nồng độ chất dẫn truyền thần kinh tăng vọt trong máu, đưa người chơi vào trạng thái hưng phấn một cách tột độ. Hậu quả của việc sử dụng ma túy đá lâu dài ảnh hưởng nặng nề tới sức khỏe như mất ngủ, suy nhược, ảo giác, hoang tưởng, vô sinh, ảnh hưởng nhiều đến chức năng tim mạch, gan thận... Do vậy quyết định từ bỏ ma túy đá của em là một quyết định rất đúng đắn và sáng suốt.

 

Tuy nhiên, người nghiện ma túy đá phải đối mặt với hậu quả suy giảm nhận thức cảm xúc trầm uất, không tìm được niềm vui trong cuộc sống trong giai đoạn mới ngưng sử dụng. Trí nhớ, khả năng tập trung và khả năng ra quyết định bị tổn thương nghiêm trọng, làm cho việc điều trị trở nên nhiều khó khăn hơn. Phục hồi từ nghiện ma túy đá mất một thời gian dài, và một số tổn thương não có thể không hồi phục hoàn toàn được. Những cải thiện đáng kể có thể đạt được sau 1 hoặc 2 năm.Điều trị nên kéo dài ít nhất 3 tháng cho tới khoảng một năm hoặc lâu hơn. Do vậy em cần quyết tâm cao độ để giành chiến thắng trong cuộc chiến này.

 

Trong thời gian sau cai là giai đoạn cực kỳ khó khăn. Do đó, nếu em cảm thấy trầm cảm, buồn chán, suy kiệt…, em nên tìm đến sự hỗ trợ của các bác sỹ chuyên khoa trong giai đoạn này. Các điều trị hỗ trợ có thể bằng các liệu pháp tâm lý hoặc thuốc men nếu cần theo chỉ định của bác sỹ chuyên khoa tâm thần, hoặc các vấn đề dinh dưỡng, các bệnh khác em nhé.

  Chúc em sức khỏe.  
 

RỐI LOẠN TÂM THẦN VÀ HÀNH VI DO SỬ DỤNG NHIỀU CHẤT MA TÚY

LOẠN THẦN DI CHỨNG VÀ KHỞI PHÁT MUỘN LIÊN QUAN SỬ DỤNG ĐA CHẤT

ĐỊNH NGHĨA

Các chất ma túy là các chất tác động lên hệ thần kinh trung ương gây phê sướng, gây lệ thuộc về tâm thần và cơ thể. Khi người nghiện sử dụng nhiều chất ma túy (từ 2 loại ma túy trở lên) gây ra các rối loạn tâm thần và hành vi.

NGUYÊN NHÂN

  • Do sự tổng hợp dễ dàng và bất hợp pháp các chất ma túy.
  • Do việc sử dụng bằng nhiều phương thức: hút, hít, uống, tiêm...
  • Việc một số nhóm người (đặc biệt là giới trẻ) có những nhận thức sai lệch cho rằng sử dụng các chất ma túy là thời thượng, lôi kéo hoặc ép buộc người khác cùng sử dụng.

CHẨN ĐOÁN

Các rối loạn tâm thần và hành vi liên quan đến chất ma túy thường gặp là rối loạn loạn thần, như hoang tưởng, ảo giác, kích động và các hành vi bạo lực, các rối loạn cảm xúc như lo âu, trầm cảm và hưng cảm.

 

Chẩn đoán nghiện các chất ma túy

Theo ICD 10 (1992), chẩn đoán nghiện các chất ma túy khi có từ 3 biểu hiện sau đây xảy ra cùng nhau trong vòng ít nhất 1 tháng hoặc nếu tồn tại trong khoảng thời gian ngắn hơn 1 tháng, thì cần lặp đi lặp lại cùng nhau trong khoảng thời gian 12 tháng:

 

Thèm muốn mạnh mẽ hoặc cảm thấy buộc phải sử dụng các chất ma túy.

 

Khó khăn trong việc kiểm soát tập tính sử dụng các chất ma túy về mặt thời gian bắt đầu, kết thúc hoặc mức sử dụng.

 

Một trạng thái cai sinh lý khi ngừng hay giảm bớt sử dụng các chất ma túy.

 

Có bằng chứng về hiện tượng tăng dung nạp (chịu đựng) các chất ma túy như: cần phải tăng liều để loại bỏ những cảm giác khó chịu do thiếu các chất ma túy gây ra.

 

Dần xao nhãng các thú vui hoặc những thích thú trước đây.

 

Tiếp tục sử dụng các chất ma túy mặc dù có bằng chứng rõ ràng về hậu quả tai hại.

 

Tuy nhiên chẩn đoán nghiện chất ma túy đôi lúc khó khăn vì hội chứng cai thường không điển hình, có khi chỉ biểu hiện bằng mệt mỏi về thể chất và tâm thần.

 

Chẩn đoán rối loạn tâm thần do các chất ma túy

Tiêu chuẩn chẩn đoán chung cho rối loạn tâm thần do sử dụng đa chất

 

Khởi phát của các triệu chứng phải xảy ra trong khi hoặc trong vòng 2 tuần có sử dụng đa chất

 

Các triệu chứng phải tồn tại hơn 48 tiếng

 

Sự kéo dài của rối loạn này phải không vượt quá 6 tháng (NẾU DÀI HƠN THÌ CẦN CÂN NHẮC CHẨN ĐOÁN RỐI LOẠN LOẠN THẦN DI CHỨNG VÀ KHỞI PHÁT MUỘN LIÊN QUAN SỬ DỤNG ĐA CHẤT: F19.7)

 

Chẩn đoán thể bệnh: Biểu hiện rối loạn tâm thần do các chất ma túy có thể là rối loạn giấc ngủ, rối loạn lo âu, trầm cảm, hưng cảm, hoang tưởng, ảo giác, kích động và các hành vi bạo lực.

 

Rối loạn giấc ngủ

Người bệnh ngủ ít hoặc mất ngủ hoàn toàn, một số trường hợp lại ngủ nhiều

 

Rối loạn lo âu

Người bệnh sợ hãi, run rẩy, lo lắng về sức khỏe thể chất và tinh thần của mình.

 

Rối loạn trầm cảm

Biểu hiện khí sắc trầm, mất sự quan tâm, thích thú, giảm năng lượng, mệt mỏi, giảm hoạt động. Một số trường hợp cáu kỉnh, hằn học, nhiều trường hợp dẫn đến tự sát.

 

Ảo giác

Thường gặp các loại ảo giác đa dạng. Lúc đầu biểu hiện bằng những tri giác sai thực tại như màu sắc trở nên huyền ảo, sặc sỡ có khi hình thức xung quanh rùng rợn hoặc như ma quỷ.

 

Âm thanh trở nên sống động, náo nhiệt làm cho người bệnh tưởng mình trong thế giới khác lạ sau đó trở thành những ảo giác thực sự thường là ảo thanh, các tiếng nói bình phẩm, khen ngợi hoặc chê bai có khi là lời nói đe dọa buộc tội người bệnh..

 

Hoang tưởng

Lúc đầu người bệnh có ý tưởng nghi ngờ đôi khi cảm thấy bàng hoàng kèm theo các rối loạn lo âu hoặc sợ hãi sau đó là dẫn đến hoang tưởng thực sự.

 

Hầu hết những người sử dụng Methamphetamin (ma túy đá) xuất hiện những hoang tưởng, các biểu hiện hoang tưởng cũng đa dạng như: hoang tưởng ghen tuông, hoang tưởng bị theo dõi, hoang tưởng bị chi phối, bị kiểm tra, bị điều khiển, bị truy hại…

 

Rối loạn hành vi: kích động, bạo lực

Người bệnh sử dụng đa chất trong đó thường có cả các chất gây ảo giác ban đầu gây nên sự hưng phấn, tăng năng lượng, tăng hoạt động thể lực, đi lại nhiều, một số tăng hoạt động tình dục sau đó dẫn tới mất kiểm soát, có thể rối loạn sự định hướng kèm theo dẫn tới kích động: la hét, đập phá, tấn công những người xung quanh, không sợ nguy hiểm cho bản thân. Thường gặp ở người ngộ độc chất gây ảo giác hoặc người bệnh bị hoang tưởng ảo giác chi phối.

 
Bệnh viện Nguyễn Tri Phương - Đa khoa Hạng I Thành phố Hồ Chí Minh
 

Di chứng sử dụng ma túy, thanh niên vô cớ đâm 2 người thương vong

TPO - Dù không có mâu thuẫn, không quen biết nhưng do tinh thần không ổn định do di chứng của việc sử dụng chất ma túy, Nguyễn Chí Cường (27 tuổi, trú xã Tam Dân, huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam) đã đâm 2 người thương vong.

Bị cáo Nguyễn Chí Cường tại tòa.

Ngày 5/11, TAND tỉnh Quảng Nam mở phiên xét xử sơ thẩm, tuyên phạt bị cáo Nguyễn Chí Cường 20 năm tù về tội “Giết người”.

Theo cáo trạng, Cường là đối tượng nghiện ma túy, đã 2 lần đưa đi cai nghiện bắt buộc. Sau khi về địa phương, do di chứng của việc sử dụng chất ma túy nên Cường có trạng thái tinh thần và hành vi không bình thường.

Khoảng 4 giờ ngày 5/12/2022, Cường cùng cha ruột là ông N.K.H đến quán bún tại chợ Tam Dân ăn sáng, sau đó Cường nói đi mua sữa uống nên đi bộ đến quán của chị H.T.P cách quán bún khoảng 15 mét.

Lúc này, ông H.K. (SN 1945, cha ruột chị P.) đang ngồi trên ghế nhựa phía trước quán. Cường nhìn thấy con dao Thái Lan dài 21,5 cm ở trên tủ kính nên đến lấy dao đâm 1 nhát vào lưng ông K. khiến ông nằm gục tại chỗ.

Sau khi đâm ông K., Cường tiếp tục cầm con dao đi đến quán bún và đâm vào vai ông T.V.T. (SN 1957, trú xã Tiên Mỹ, Tiên Phước, Quảng Nam) đang ngồi ăn bún khiến người này ngã xuống bàn.

Sau khi gây án, Cường bị người dân đuổi bắt, đối tượng điều khiển chiếc xe máy của ông T. bỏ chạy. Đến 6 giờ 30 phút cùng ngày, Cường đến công an xã Tam Dân đầu thú, khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Về phía nạn nhân, mặc dù được người dân nhanh chóng đưa đi cấp cứu, nhưng do vết đâm trúng chỗ hiểm nên ông K. tử vong, còn ông T. bị thương tích 9%.

HĐXX nhận định, dù không có mâu thuẫn, không quen biết nhưng do tinh thần không ổn định bị cáo Cường cầm dao đâm 2 bị hại thương vong. Hành vi của bị cáo Cường gây nguy hiểm cho xã hội, quyết định tuyên bị cáo Cường 20 năm tù về tội danh trên.

Nam thanh niên dùng dao sát hại mẹ, chém chị gái trọng thương

Tác giả: Anh Anh

VTV.vn - Nam thanh niên 34 tuổi ở TP Hồ Chí Minh đã dùng dao ở nhà bếp sát hại mẹ, chém chị gái trọng thương rồi vứt hung khí trong vườn cây gần nhà.

Ngày 22/9, Phòng Cảnh sát hình sự Công an TP Hồ Chí Minh phối hợp Công an phường Long Hương, điều tra vụ con trai sát hại mẹ và người thân. Vụ án mạng khiến 1 người tử vong, 1 người bị thương.

Hiện trường vụ án mạng tại căn nhà cấp 4, nằm phía sau trường dạy lái xe trên tuyến đường tránh Quốc lộ 51 - TP Bà Rịa thuộc phường Long Hương, TP Hồ Chí Minh.

Đối tượng gây án được xác định là Vũ Văn Hà (SN 1991, ở phường Long Hương). Hà là người nghiện ma túy, đã cai nghiện xong, về nhà.

Khu vực dẫn vào hiện trường vụ án mạng. (Ảnh: CAND)

Trước đó, khoảng 5h30 cùng ngày, Hà dùng dao ở nhà bếp chém nhiều nhát vào vùng cổ, mặt mẹ mình là bà N.T.N (SN 1963, ở phường Long Hương) khiến nạn nhân tử vong tại chỗ.

Chị gái của Hà là V.T.Ng (SN 1988) ở chung nhà cũng bị Hà chém gây thương tích. Hai con chó trong nhà cũng bị Hà chém, làm 1 con chết.

Sau khi gây án, Hà vứt bỏ con dao trong vườn cây gần nhà.

Nhận tin báo có vụ án mạng, Công an phường Long Hương đã đến căn nhà nói trên bắt giữ Hà. Lúc vụ án mạng xảy ra, ông V.V.T (SN 1960, chồng bà N.) đang đi làm.

Được biết, chị Ng đang được cấp cứu tại bệnh viện Bà Rịa, hiện đã qua cơn nguy cấp và đang được tích cực điều trị.

Theo người dân địa phương, Hà chưa có vợ con, từng nghiện ma túy và đã cai nghiện trở về địa phương.

Sau cai nghiện vẫn còn ảo giác, đau đầu, khó ngủ phải làm sao?

Hỏi

Em chào bác sĩ ạ. Bác sĩ cho em hỏi, trước kia em có dùng ma túy nhưng đã bỏ 4 - 5 năm rồi. Tuy nhiên các triệu chứng xuất hiện trong người giống như vẫn còn chất gây nghiện, đầu lúc nào cũng giật giật, khó chịu, tối không ngủ được. Mong bác sĩ tư vấn. Xin cảm ơn bác sĩ ạ!

Đinh Văn Linh (1997)

Trả lời.

Chào bạn. Bác sĩ ghi nhận ý kiến của bạn, tuy nhiên bác sĩ chưa rõ lắm về ý nghĩa chia sẻ này. Bạn muốn hỏi về tình trạng đau đầu, khó ngủ về đêm sau khi cai nghiện? Hay là cách để cải thiện dấu hiệu này? Tuy nhiên, bác sĩ cũng có một vài ý kiến chung, mong sẽ hữu ích cho bạn. Cụ thể:

Sau khi bạn cai chất gây nghiện được 4 - 5 năm thì chất đó hoàn toàn không còn trong cơ thể bạn nhưng bạn vẫn nhớ cảm giác khi dùng chất gây nghiện thì đây được xem như phản xạ có điều kiện. Khi sử dụng ma túy, não bộ sẽ sản sinh Dopamine, là chất gây kích thích, khoái cảm, có thể gây nên ảo giác, kích thích tình dục... Vì vậy não bộ của bạn vẫn ghi nhớ và có các cảm giác thèm muốn khi nghĩ đến.

Bên cạnh đó, khi sử dụng ma túy, tổn thương não có thể không hồi phục. Vì vậy bạn có thể đau đầu, rối loạn giấc ngủ. Vì vậy người dùng ma túy hay tái nghiệncó thể đã cai được. Bạn nên có cuộc sống lành mạnh, tăng cường rèn luyện thể chất, tâm lý liệu pháp để vượt qua được tình trạng này nhé.

Cảm ơn bạn đã đặt câu hỏi tới Hệ thống Y tế Vinmec. Trân trọng.

Bác sĩ Võ Hà Băng Sương - Bác sĩ điều trị - Khoa Khám bệnh & nội khoa - Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Phú Quốc.

Nam thanh niên dùng dao sát hại mẹ, chém chị gái trọng thương

Nam thanh niên dùng dao sát hại mẹ, chém chị gái trọng thương

Tác giả: Anh Anh

VTV.vn - Nam thanh niên 34 tuổi ở TP Hồ Chí Minh đã dùng dao ở nhà bếp sát hại mẹ, chém chị gái trọng thương rồi vứt hung khí trong vườn cây gần nhà.

Ngày 22/9, Phòng Cảnh sát hình sự Công an TP Hồ Chí Minh phối hợp Công an phường Long Hương, điều tra vụ con trai sát hại mẹ và người thân. Vụ án mạng khiến 1 người tử vong, 1 người bị thương.

Hiện trường vụ án mạng tại căn nhà cấp 4, nằm phía sau trường dạy lái xe trên tuyến đường tránh Quốc lộ 51 - TP Bà Rịa thuộc phường Long Hương, TP Hồ Chí Minh.

Đối tượng gây án được xác định là Vũ Văn Hà (SN 1991, ở phường Long Hương). Hà là người nghiện ma túy, đã cai nghiện xong, về nhà.

Khu vực dẫn vào hiện trường vụ án mạng. (Ảnh: CAND)

Trước đó, khoảng 5h30 cùng ngày, Hà dùng dao ở nhà bếp chém nhiều nhát vào vùng cổ, mặt mẹ mình là bà N.T.N (SN 1963, ở phường Long Hương) khiến nạn nhân tử vong tại chỗ.

Chị gái của Hà là V.T.Ng (SN 1988) ở chung nhà cũng bị Hà chém gây thương tích. Hai con chó trong nhà cũng bị Hà chém, làm 1 con chết.

Sau khi gây án, Hà vứt bỏ con dao trong vườn cây gần nhà.

Nhận tin báo có vụ án mạng, Công an phường Long Hương đã đến căn nhà nói trên bắt giữ Hà. Lúc vụ án mạng xảy ra, ông V.V.T (SN 1960, chồng bà N.) đang đi làm.

Được biết, chị Ng đang được cấp cứu tại bệnh viện Bà Rịa, hiện đã qua cơn nguy cấp và đang được tích cực điều trị.

Theo người dân địa phương, Hà chưa có vợ con, từng nghiện ma túy và đã cai nghiện trở về địa phương.

Di chứng sử dụng ma túy, thanh niên vô cớ đâm 2 người thương vong

Di chứng sử dụng ma túy, thanh niên vô cớ đâm 2 người thương vong

TPO - Dù không có mâu thuẫn, không quen biết nhưng do tinh thần không ổn định do di chứng của việc sử dụng chất ma túy, Nguyễn Chí Cường (27 tuổi, trú xã Tam Dân, huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam) đã đâm 2 người thương vong.

Bị cáo Nguyễn Chí Cường tại tòa.

Ngày 5/11, TAND tỉnh Quảng Nam mở phiên xét xử sơ thẩm, tuyên phạt bị cáo Nguyễn Chí Cường 20 năm tù về tội “Giết người”.

Theo cáo trạng, Cường là đối tượng nghiện ma túy, đã 2 lần đưa đi cai nghiện bắt buộc. Sau khi về địa phương, do di chứng của việc sử dụng chất ma túy nên Cường có trạng thái tinh thần và hành vi không bình thường.

Khoảng 4 giờ ngày 5/12/2022, Cường cùng cha ruột là ông N.K.H đến quán bún tại chợ Tam Dân ăn sáng, sau đó Cường nói đi mua sữa uống nên đi bộ đến quán của chị H.T.P cách quán bún khoảng 15 mét.

Lúc này, ông H.K. (SN 1945, cha ruột chị P.) đang ngồi trên ghế nhựa phía trước quán. Cường nhìn thấy con dao Thái Lan dài 21,5 cm ở trên tủ kính nên đến lấy dao đâm 1 nhát vào lưng ông K. khiến ông nằm gục tại chỗ.

Sau khi đâm ông K., Cường tiếp tục cầm con dao đi đến quán bún và đâm vào vai ông T.V.T. (SN 1957, trú xã Tiên Mỹ, Tiên Phước, Quảng Nam) đang ngồi ăn bún khiến người này ngã xuống bàn.

Sau khi gây án, Cường bị người dân đuổi bắt, đối tượng điều khiển chiếc xe máy của ông T. bỏ chạy. Đến 6 giờ 30 phút cùng ngày, Cường đến công an xã Tam Dân đầu thú, khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Về phía nạn nhân, mặc dù được người dân nhanh chóng đưa đi cấp cứu, nhưng do vết đâm trúng chỗ hiểm nên ông K. tử vong, còn ông T. bị thương tích 9%.

HĐXX nhận định, dù không có mâu thuẫn, không quen biết nhưng do tinh thần không ổn định bị cáo Cường cầm dao đâm 2 bị hại thương vong. Hành vi của bị cáo Cường gây nguy hiểm cho xã hội, quyết định tuyên bị cáo Cường 20 năm tù về tội danh trên.