Chưa được phân loại

  1. CAI NGHIỆN RƯỢU KHÓ NHƯ CAI NGHIỆN MA TÚY

  2. CHỐNG TÁI NGHIỆN RƯỢU BIA BẰNG LIỆU PHÁP KHÔNG DÙNG THUỐC:

  3. CHỐNG TÁI NGHIỆN RƯỢU BIA BẰNG LIỆU PHÁP DÙNG THUỐC:

  4. CAI NGHIỆN RƯỢU BIA KHÓ NHƯ CAI NGHIỆN MA TUÝ

  5. TÁC HẠI CỦA RƯỢU BIA ĐỐI VỚI TÂM THẦN VÀ THỂ CHẤT

  6. TÁC HẠI CỦA VIỆC SỬ DỤNG RƯỢU BIA CHO XÃ HỘI

  7. VÌ SAO CAI NGHIỆN RƯỢU BIA KHÓ NHƯ CAI NGHIỆN MA TUÝ

  8. NGUYÊN NHÂN SỬ DỤNG RƯỢU BIA RẤT ĐA DẠNG:

  9. NGHIỆN MA TÚY

 10. NGHIỆN RƯỢU

 11. CÔNG TÁC ĐIỀU DƯỠNG PHỤC HỒI

 12. Cụm điệp báo A10 - Thời khắc lịch sử

 13. A10 - Cụm điệp báo và thời khắc lịch sử trong “Phủ Đầu Rồng”

 14. Bộ Y tế cảnh báo hệ lụy nghiêm trọng khi lạm dụng khí N2O, cần phải kiểm soát triệt để

 15. Bộ Y tế thông tin về khí Nitơ Oxit (N2O)

 16. Thuốc lá điện tử là gì? Tác hại của thuốc lá điện tử

 17. Từ ngày 01/7/2026, người nghiện ma tuý sẽ được giám sát bằng thiết bị điện tử

 18. DỰ THẢO LUẬT PHÒNG CHỐNG MA TÚY 2025

 19. Quốc hội thông qua Luật Phòng, chống ma tuý (sửa đổi)

 20. Bộ trưởng Bộ Công an Lương Tam Quang giới thiệu trước Quốc hội thiết bị giám sát người nghiện ma túy

 21. RỐI LOẠN TÂM THẦN VÀ HÀNH VI DO SỬ DỤNG NHIỀU CHẤT MA TÚY

 22. Sửa Luật Phòng, chống ma túy: Đề xuất tăng thời hạn cai nghiện

 23. Người chiến sĩ Điệp báo A10 của Ban An ninh Sài Gòn - Gia Định

 24. LUẬT PHÒNG, CHỐNG MA TÚY VÀ CÁC CHẾ ĐỘ CAI NGHIỆN TỰ NGUYỆN VÀ CAI NGHIỆN BẮT BUỘC (LUẬT BỔ SUNG VÀ SỬA ĐỔI)

 25. CÁC HÌNH THỨC CAI NGHIỆN MA TÚY ĐANG ÁP DỤNG (CÓ BỔ SUNG)

 26. TRẠNG THÁI KÍCH ĐỘNG

 27. QUY ĐỊNH CAI NGHIỆN CHO NGƯỜI NƯỚC NGOÀI

 28. Sau cai nghiện vẫn còn ảo giác, đau đầu, khó ngủ phải làm sao?

 29. RỐI LOẠN TÂM THẦN DO RƯỢU

 30. QUY TRÌNH CAI NGHIỆN MA TÚY TẠI CÁC CƠ SỞ CAI NGHIỆN MA TÚY

 31. Người nghiện ma túy: Tội phạm hay bệnh nhân?

 32. Nguyên nhân khiến nhiều người sa chân vào ma túy

 33. Tác hại của rượu, bia và cách phòng tránh

 34. DI CHỨNG SỬ DỤNG MA TÚY

 35. Nam thanh niên dùng dao sát hại mẹ, chém chị gái trọng thương

 36. Tác hại to lớn của rượu

 37. Người điệp báo A10 năm xưa

 38. NỘI DUNG ĐIỀU TRỊ

 39. Cựu điệp viên tình báo A10 về già không muốn thảnh thơi an nhàn

 40. PHÒNG KHÁM CAI NGHIỆN MA TÚY THANH ĐA

 41. Sinh viên tâm lý tham quan và học tập tại Trung tâm cai nghiện Thanh Đa

 42. TPHCM không còn người cai nghiện ma túy tại gia đình

 43. Kỷ lục số người cai nghiện tập trung tại TPHCM

 44. CAI NGHIỆN MA TÚY VỚI CÁC BÁC SĨ - THẠC SĨ - CHUYÊN GIA GIỎI ĐIỀU TRỊ NGHIỆN MA TÚY

 45. 'Hậu phương' vững chắc của cựu điệp viên tình báo A10

 46. Kết quả tìm kiếm

 47. cách nhận biết

 48. VGP: Cuộc chiến chống ma túy: thấy gì từ các vụ án khủng

 49. Những nhận thức cơ bản về cai nghiện phục hồi theo GS Jon Currie

 50. Kỳ thị HIV/AIDS khiến cho số người nhiễm tăng gấp 3 lần

 51. THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH SẼ LÀ ĐÔ THỊ TĂNG TRƯỞNG NHANH BẬC NHẤT CHÂU Á TRONG 5 NĂM TỚI

CAI NGHIỆN RƯỢU KHÓ NHƯ CAI NGHIỆN MA TÚY

Rượu bia là một loại ma tuý hợp pháp, thời gian dài sử dụng người nghiện rượu đã gây ra nhiều hệ lụy cho cá nhân, gia đình và xã hội. Nhận thấy công tác phòng - chống và điều trị nghiện rượu bia là quan trọng: ngày 11/10/2024, THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ đã ký Quyết định số 1169/QĐ-TTg phê duyệt ĐỀ ÁN TRUYỀN THÔNG PHÒNG, CHỐNG TÁC HẠI CỦA RƯỢU, BIA đến năm 2030.

Vấn đề lạm dụng rượu, bia đã trở thành mối quan tâm lớn của toàn xã hội - nếu không được can thiệp kịp thời, người nghiện rượu bia có thể gặp các biến chứng thần kinh, tim mạch và nhiều loại tổn thương khác dẫn đến tử vong.

Rượu bia được coi là một loại ma tuý hợp pháp, đa số người sử dụng rượu với liều lượng vừa phải và uống trong những dịp lễ hội, tuy nhiên vẫn có một số không ít đã sử dụng rượu bia với liều cao một thời gian rất dài trên nhiều năm và hàm lượng rượu bia tăng dần làm tổn thương rất nhiều bộ phận trong cơ thể gây ra nhiều vấn đề về sức khoẻ và trật tự - an toàn xã hội.

Buồn cũng uống, vui cũng uống – thành công cũng uống, thất bại cũng uống; đám cưới cũng uống, đám ma cũng uống – sáng uống, trưa uống, chiều uống, tối uống. Người nghèo uống rượu đế, nhâm nhi vài con sò, con ốc, trái cóc, trái xoài, người giàu uống rượu tây trong các nhà hàng sang trọng. Thanh niên uống la hét, người già uống nhâm nhi, ngẫm nghĩ sự đời. Chưa có một chất gây nghiện đặc biệt nào được sử dụng nhiều như rượu ở nước ta.

Tác hại rượu bia

Đa số rượu bia được sản xuất thủ công từ bột gạo, bột nếp đến vỏ cây, bã mía, củ sắn, lá rừng… Nhiều nhà biết cách làm rượu. Do đó giá rượu bia rẻ, thậm chí rất dễ kiếm, vì vậy việc tìm kiếm rượu bia không khó khăn như tìm kiếm ma tuý.

Lạm dụng rượu bia lâu ngày đưa đến chứng nghiện rượu bia, để lại nhiều tác hại cho cá nhân, gia đình và xã hội:

Thống kê cho thấy hơn 33% các vụ bạo lực gia đình xuất phát từ việc sử dụng rượu bia

Trong dự thảo tờ trình dự án LUẬT PHÒNG, CHỐNG TÁC HẠI CỦA RƯỢU, BIA, Bộ Y tế đã chỉ ra tác hại của rượu bia đối với những vấn đề kinh tế, xã hội.

Theo Bộ Y tế, bên cạnh những vấn đề về kinh tế, sức khỏe, an toàn giao thông, sử dụng rượu, bia còn là tác nhân gây bạo lực gia đình, tội phạm, mất an ninh trật tự. Khoảng gần 30% số vụ gây rối trật tự xã hội, 33,7% các vụ bạo lực gia đình có nguyên nhân xuất phát từ việc sử dụng rượu, bia. Sử dụng rượu, bia còn ảnh hưởng đến tâm lý, sức khoẻ của những người xung quanh, gia đình và cộng đồng. Đồng thời, những tổn thất do bị xói mòn về văn hóa, lối sống, đạo đức và chất lượng giống nòi bởi sử dụng rượu, bia gây ra là những gánh nặng xã hội nghiêm trọng không thể so sánh và rất khó lượng hóa.

Tác hại rượu bia

Một số không ít gia đình có trẻ em bị người thân uống rượu bia đánh đập, phải chứng kiến bạo lực nghiêm trọng liên quan đến rượu, bia trong gia đình, bị bỏ mặc, thiếu sự chăm sóc bảo vệ của người lớn, gia đình không còn tiền để chi cho các nhu cầu thiết yếu cho trẻ do thành viên hộ gia đình sử dụng rượu bia gây ra.

Trong số các hộ gia đình có người uống rượu bia, hộ gia đình phải đối mặt với các vấn đề: bạo lực gia đình liên quan đến rượu, bia, mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình bị ảnh hưởng; người uống rượu bia không muốn hoặc không đủ sức khỏe để lao động, kiếm sống, để đảm đương các công việc gia đình.

Tình trạng bạo lực gia đình và thành viên hộ gia đình bị chấn thương liên quan đến rượu bia xảy ra phổ biến.

Tác hại rượu bia
Đối tượng Mai Văn Khanh giết người trong lúc say rượu, lãnh án 07 năm tù

Có thể nói, tác hại do sử dụng rượu, bia gây ra đối với sức khỏe và kinh tế - xã hội ở nước ta đang ngày càng trầm trọng và gia tăng tỷ lệ thuận với mức độ gia tăng tiêu thụ rượu, bia.

Cả nước có đến 20% tai nạn giao thông do sử dụng rượu bia

Cục Cảnh sát giao thông thống kê từ năm 2022 - 2024, cả nước có đến 20% số vụ tai nạn giao thông xảy ra liên quan đến việc người điều khiển phương tiện có sử dụng rượu, bia. Theo đó, cứ có 5 người chết hoặc bị thương trong các vụ tai nạn giao thông thì có 1 người chết hoặc bị thương do lái xe có sử dụng rượu, bia. Riêng TP.HCM, năm 2024 xảy ra 1.459 vụ tai nạn giao thông làm chết 472 người và 863 người bị thương. Trong đó có 352 vụ (24,12%) tai nạn giao thông có liên quan nồng độ cồn, làm 132 người chết và 265 người bị thương.

Trong 20% vụ tai nạn giao thông trên, có 34% nạn nhân tử vong có liên quan tới rượu, bia

Theo báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới, tại Việt Nam, mỗi năm có tới 34% số ca tử vong do va chạm giao thông đường bộ ở Việt Nam có liên quan đến rượu bia. Con số này tăng cao vào các ngày lễ, Tết.

Tác hại rượu bia

Do sử dụng rượu bia một thời gian dài gây nhiều bệnh lý, người nghiện rượu bia bị tổn thương rất nhiều bộ phận cơ thể. Người nghiện rượu bia mất khả năng lao động về tinh thần cũng như thể chất.

Tác hại rượu bia

Về mặt tinh thần: do phụ thuộc rượu bia, người nghiện rượu bia bị tổn thương hệ thống thần kinh não bộ, rối loạn nhận thức, hành vi, nhân cách, suy giảm trí nhớ và phát sinh nhiều bệnh tâm thần. Thiếu rượu bia người nghiện bị hội chứng cai đôi khi rất nặng dẫn đến tình trạng sảng rượu, hôn mê, có thể dẫn đến tử vong.

- Khác với nhiều người lầm tưởng, rượu bia không phải là chất kích thích mà là một chất làm suy giảm cả hai quá trình hưng phấn và ức chế của hệ thần kinh trung ương. Tuy nhiên, do rượu bia làm sự ức chế giảm mạnh trong lúc sự hưng phấn ít hơn nên gây ra quá trình hưng phấn giả tạo. Người nghiện rượu bia cảm thấy giảm lo âu, hăng hái, nói nhiều, hoạt động nhiều nhưng thiếu chính xác, lời nói không được kiềm chế, xuồng xã hay khoe khoang, tự cao tự đại hoặc xúc phạm người khác. Khi nồng độ rượu bia trong máu trên 0.3% sẽ bị rối loạn tư duy, tri giác, vận động. Khi nồng độ rượu bia từ 0.4% đến 0.5% cả hai quá trình hưng phấn và ức chế bị suy giảm, người uống rượu bia có thể dẫn đến hôn mê. Khi nồng độ rượu bia đến 0,6% đến 0,7% thì người uống rượu có thể bị tử vong.

Về mặt thể chất

- Ngoài việc gây tổn thương hệ thống thần kinh, rượu bia còn gây nên thương tổn về mặt thể chất:

RỐI LOẠN CHUYỂN HOÁ

Rượu bia gây chán ăn cản trở sự hấp thu, rối loạn chuyển hóa các chất dinh dưỡng. Người nghiện bị giảm vitamine B12, acid folic gây thiếu máu, giảm vitamine B1, vitamine B6, gây rối loạn điện giải: nhất là kali, clo, canxi, natri... gây rối loạn nhịp tim, liệt cơ. Đồng thời nghiện rượu bia làm giảm đường máu gây run, co giật, mệt mỏi, viêm dây thần kinh ngoại vi gây liệt mềm, mất trí.

TÁC HẠI CỦA RƯỢU BIA TRÊN HỆ TIM MẠCH:

Hệ thống tim mạch bị ảnh hưởng bởi rượu bia. Tại thời điểm uống, rượu bia có thể gây tăng nhịp tim và huyết áp tạm thời.

Về lâu dài, uống quá nhiều rượu bia có thể dẫn đến nhịp tim tăng liên tục, huyết áp cao, cơ tim yếu và nhịp tim không đều. Tất cả đều có thể làm tăng nguy cơ đau tim và đột quỵ do rượu bia.

TÁC HẠI CỦA RƯỢU BIA TRÊN GAN:

Một lượng lớn rượu bia được chuyển hóa tại gan, do đó gan bị suy yếu, ngộ độc dẫn đến gan dễ bị nhiễm mỡ, vàng da, chán ăn, đau hạ sườn phải và rối loạn tiêu hóa. Người nghiện rượu bia lâu năm có khả năng bị xơ gan, tăng áp lực tĩnh mạch, giãn tĩnh mạch thực quản đôi khi gây vỡ tĩnh mạch thực quản, mất máu cấp và có thể dẫn đến tử vong, cổ chướng, chứng vú to, lách to, viêm tụy, phù chân, có thể dẫn đến ung thư gan.

TÁC HẠI CỦA RƯỢU BIA TRÊN HỆ TIÊU HÓA:

- Rượu gây kích thích, viêm niêm mạc dạ dày, viêm teo dạ dày, loét dạ dày và xuất huyết dạ dày, viêm loét hành tá tràng, trào ngược thực quản gây cảm giác buồn nôn.

Trường hợp nặng có thể thủng bao tử.

- Đường tiêu hoá hấp thu kém, tiêu chảy thường gặp.

TÁC HẠI CỦA RƯỢU BIA TRÊN TUYẾN YÊN:

Gây rối loạn tăng trưởng, rối loạn kinh nguyệt, suy giảm khả năng tình dục.

TÁC HẠI CỦA RƯỢU BIA TRÊN TUYẾN TỤY:

Tuyến tụy giúp tiêu hóa thức ăn và điều hòa quá trình trao đổi chất. Lệ thuộc rượu bia gây tổn thương, xơ hoá, hoại tử tế bào tuyến tuỵ gây sút cân, tiêu chảy, viêm tuỵ cấp, đái tháo đường...

TÁC HẠI CỦA RƯỢU BIA TRÊN XƯƠNG VÀ CƠ:

Rượu bia ảnh hưởng đến sự phối hợp và làm tăng khả năng chấn thương. Sử dụng rượu bia trong thời gian dài có thể dẫn đến teo và yếu cơ, loãng xương (xương mỏng đi) và gãy xương.

TÁC HẠI CỦA RƯỢU BIA TRÊN MIỆNG:

Miệng và cổ họng tiếp xúc với rượu bia ngay sau khi uống. Rượu bia có thể làm hỏng tuyến nước bọt, kích ứng miệng và lưỡi, dẫn đến bệnh nướu răng, sâu răng và thậm chí mất răng. Uống quá nhiều còn gây nói lắp.

TÁC HẠI CỦA RƯỢU BIA ĐẾN SỨC KHỎE TÌNH DỤC:

Sử dụng rượu bia nặng mãn tính có thể dẫn đến rối loạn chức năng cương dương ở nam giới và vô sinh ở nam và nữ. Uống rượu bia quá mức cũng có thể làm tăng nguy cơ sảy thai, sinh non và thai chết lưu ở phụ nữ.

TÁC HẠI CỦA RƯỢU BIA ĐẾN HỆ THỐNG MIỄN DỊCH:

Uống quá nhiều có thể làm suy yếu hệ thống miễn dịch khiến cơ thể khó chống lại bệnh tật hoặc nhiễm trùng. Người uống rượu bia mãn tính có nhiều khả năng mắc các bệnh như viêm phổi, bệnh lao…

TĂNG NGUY CƠ GÂY UNG THƯ:

Rượu bia và chất chuyển hóa của nó (acetaldehyde) là chất gây ung thư. Nguy cơ phát triển ung thư do rượu tăng theo lượng rượu sừ dụng. Sử dụng rượu bia mãn tính có thể làm tăng nguy cơ phát triển nhiều dạng ung thư, bao gồm ung thư miệng, thực quản, cổ họng, gan, tuyến tụy, vú và ruột kết…

Trong văn hóa của con người Việt Nam, việc uống rượu bia đã trở nên quá bình thường trong tập quán dân gian, lễ hội, trong quan hệ hàng ngày, thậm chí còn có quan điểm uống rượu bia là củng cố tình bằng hữu. Số người bị stress, thất bại trong cuộc sống hoặc có nỗi buồn cũng tìm đến rượu bia để tiêu sầu. Đa số các buổi họp mặt, liên hoan phải có rượu, và uống "không say – không về"!

Nhiều người cho rằng, rượu bia chỉ là một thức uống giải trí, không nguy hiểm bằng các chất kích thích bất hợp pháp khác. Tuy nhiên, các chuyên gia y tế khẳng định việc cai nghiện rượu bia có những thách thức và nguy hiểm, thậm chí có mặt còn khó khăn hơn cai nghiện ma tuý. Khi một người nghiện nặng ngưng uống rượu bia đột ngột, cơ thể phản ứng dữ dội hơn rất nhiều so với việc ngưng ma túy.

Nghiện rượu bia làm hệ thần kinh trung ương bị ức chế. Khi cai rượu bia làm mất đi lượng cồn quen thuộc, hệ thần kinh sẽ bị kích thích quá mức gây ra biến chứng sảng run rất nghiêm trọng.

Ngoài ra, cai rượu bia còn gây ra ảo giác kinh hoàng. Người bệnh thường xuyên nhìn thấy hoặc cảm thấy những thứ không có thật như: côn trùng bò trên da, quái vật, hoặc những hình ảnh đe dọa mạng sống... Gây co giật toàn thân: Các cơn co giật kiểu động kinh có thể xảy ra, dễ dẫn đến chấn thương cơ thể hoặc ngạt thở.

Để cai nghiện rượu bia thành công phải trải qua một quá trình không kém khó khăn, phức tạp, đòi hỏi ý chí và sự kiên trì của bệnh nhân và gia đình. Cai nghiện rượu bia cần được thực hiện tại trung tâm cai nghiện nội trú hoặc tại bệnh viện. Cán bộ điều trị cần xác lập một kế hoạch điều trị theo từng đối tượng bao gồm điều trị bằng thuốc, các biện pháp điều trị không dùng thuốc nhằm giúp người nghiện chuyển đổi nhận thức, hành vi, nhân cách và không còn thèm nhớ rượu.

Chưa có chất gây nghiện nào được sử dụng phổ biến và rộng rãi như rượu, bia tại Việt Nam. Việc uống rượu bia thường xuyên, với số lượng lớn và thiếu kiểm soát sẽ dần hình thành thói quen khó bỏ, lâu dài dẫn đến nghiện, gây tổn hại nghiêm trọng đến cả sức khỏe thể chất lẫn tinh thần.

Quá trình cắt cơn nghiện rượu bia bắt buộc phải diễn ra tại các cơ sở y tế có chuyên môn. Không tự ý cai rượu tại nhà. Người nghiện được theo dõi thường xuyên, phát hiện kịp thời các rối loạn về tâm thần và tim mạch để kịp thời điều trị. Trong suốt quá trình điều trị người nghiện rượu bia phải được hỗ trợ tâm lý để vượt qua giai đoạn cai nghiện.

Theo bác sĩ Duy, chương trình điều trị nghiện rượu bia tại bệnh viện hoặc các cơ sở cai nghiện phải được xây dựng bài bản, lâu dài kết hợp với cắt cơn nghiện, chống tái nghiện bằng thuốc và các liệu pháp không dùng thuốc, đồng thời phải điều trị các rối loạn tâm thần và bệnh lý kèm theo do sử dụng rượu bia gây ra.

Giống như cai nghiện ma tuý sau khi cắt cơn là giai đoạn chống tái nghiện rượu bia.

Là một giai đoạn khó khăn và kéo dài từ 1 đến 2 năm.

LIỆU PHÁP DÙNG THUỐC:

1. Thuốc Disulfiram:

- Làm người nghiện khó chịu khi uống rượu bia dù một lượng rất nhỏ. Tác dụng bao gồm: buồn nôn, ói mửa, đỏ bừng mặt, nhức đầu, đau ngực, mắt mờ, ra mồ hôi, khó thở, lo lắng, rối loạn tâm thần nên đa số người nghiện rượu rất sợ không chịu uống thuốc này nữa.

2. Thuốc Naltrexone:

Naltrexone làm người nghiện sử dụng rượu bia không có cảm giác thèm nhớ nữa, thuốc có tác dụng phụ là hại gan, trong khi đa số những người nghiện rượu bia gan bị tổn thương nặng nên khi sử dụng thuốc này phải theo dõi chặt chẽ chức năng của gan để giảm liều hoặc ngưng thuốc.

3. Thuốc Acamprosate:

- Cơ chế tác dụng hiện nay chưa được giải thích rõ ràng, nhưng thuốc có tác dụng làm giảm sự thèm muốn uống rượu bia.

Trên kinh nghiệm của hơn 25 năm điều trị cai nghiện ma tuý chúng tôi nhận thấy rằng các liệu pháp điều trị ngoại trú chống tái nghiện rượu bia bằng thuốc có những giới hạn nhất định, do người nghiện có điều kiện tái sử dụng lại rượu bia do mua bán rượu dễ dàng và hợp pháp. Thường họ không uống thuốc chống tái nghiện rượu đều đặn. Việc tái nghiện rượu bia hầu như là không thể tránh khỏi.

LIỆU PHÁP KHÔNG DÙNG THUỐC:

Người nghiện được điều dưỡng phục hồi nội trú trong một môi trường năng động: Rất khác các cơ sở cai nghiện rượu hiện nay, Trung tâm Cai nghiện Thanh Đa chú trọng nhiều vấn đề điều dưỡng phục hồi chống tái nghiện trong môi trường nội trú để cách ly hẳn với uống rượu bia. Người cai nghiện nội trú được điều trị các bệnh phát sinh, phục hồi sức khoẻ, luyện tập vật lý trị liệu, ăn uống theo chế độ bệnh lý và được tư vấn tâm lý, hát karaoke, vui chơi giải trí, giải quyết những vướng mắc trong cuộc sống và có điều kiện sinh hoạt chung với nhau trong một môi trường lành mạnh. Với thời gian điều nội trú người nghiện được củng cố và tăng cường nhận thức hành vi, quên dần rượu bia

Huân chương lao động và Bằng khen Thủ tướng Chính phủ

Người nghiện rượu bia đa số là người cao tuổi với một thời gian dài hơn 10 năm sử dụng rượu bia nên phát sinh nhiều bệnh tật đã tàn phá nhiều bộ phận cơ thể người nghiện như: hệ thần kinh, tim mạch, gan thận, cơ khớp, tiêu hóa do đó việc chăm sóc sau cắt cơn rất quan trọng. Người nghiện rượu bia cao tuổi ít trách nhiệm trong việc kiếm tiền nuôi sống gia đình, chế độ học tập và quản lý nhẹ nhàng, môi trường cai nghiện thông thoáng, vui vẻ do đó họ yên tâm điều trị.

Học viên điều trị phục hồi chức năng

Tại Thanh Đa sau thời gian cắt cơn đầy khó khăn, người nghiện rượu được tiếp tục điều dưỡng phục hồi chữa trị các bệnh phát sinh do sử dụng rượu bia.

Môi trường sinh hoạt điều dưỡng thoáng mát

Trung tâm đã có sẵn một đội ngũ cán bộ với đủ các chuyên ngành để chăm sóc, theo dõi: thạc sĩ tim mạch, chuyên khoa tâm thần, chuyên khoa lão khoa, chuyên khoa nội khoa, chuyên khoa tâm lý, cử nhân điều dưỡng phục hồi, cử nhân công tác xã hội, dàn cán bộ hầu hết đều tốt nghiệp đại học hoặc trên đại học và đã qua lớp chăm sóc người bệnh.

Khác với các trung tâm cai nghiện ma túy, việc chống thẩm lậu rượu bia vào Trung tâm không phải là vấn đề khó khăn, vấn đề chính là lưu giữ được người nghiện ở lại tiếp tục điều dưỡng phục hồi, cách ly được với môi trường xã hội để quên dần rượu bia.

Để đạt được mục đích trên, Khu điều dưỡng phục hồi cho người nghiện rượu được thành lập bên bờ sông Thanh Đa thoáng mát với phong cảnh đẹp, tao nhã. Vào đây người nghiện rượu được chăm sóc chu đáo, được tư vấn bởi các cháu đoàn viên có trình độ, các cán bộ đủ các vùng miền, nhất là các cựu chiến binh với nhiều kinh nghiệm tiếp cận với người cao tuổi nghiện rượu.

Tận dụng cơ sở vật chất, trang thiết bị phục hồi chức năng, dàn cán bộ phục vụ và chuyên môn - Trung tâm còn là nơi quy tụ được các cựu chiến binh, cựu công an, các tổ chức chính trị xã hội của phường, hội thái cực trường sinh TP.HCM, biến nơi đây thành một môi trường năng động, khiến những người cai nghiện rượu ở đây không còn cảm thấy cô đơn, có bạn tâm tình và hăng hái tập luyện. Họ tiếp cận, nói chuyện với nhau rất vui vẻ, nhiều người cai nghiện đã nói “Chắc tôi ở đây lâu đấy! Về sớm làm khó cả gia đình mà còn dễ uống lại.”./.

CHỐNG TÁI NGHIỆN RƯỢU BIA BẰNG LIỆU PHÁP KHÔNG DÙNG THUỐC:

LIỆU PHÁP KHÔNG DÙNG THUỐC:

Người nghiện được điều dưỡng phục hồi nội trú trong một môi trường năng động: Rất khác các cơ sở cai nghiện rượu hiện nay, Trung tâm Cai nghiện Thanh Đa chú trọng nhiều vấn đề điều dưỡng phục hồi chống tái nghiện trong môi trường nội trú để cách ly hẳn với uống rượu bia. Người cai nghiện nội trú được điều trị các bệnh phát sinh, phục hồi sức khoẻ, luyện tập vật lý trị liệu, ăn uống theo chế độ bệnh lý và được tư vấn tâm lý, hát karaoke, vui chơi giải trí, giải quyết những vướng mắc trong cuộc sống và có điều kiện sinh hoạt chung với nhau trong một môi trường lành mạnh. Với thời gian điều nội trú người nghiện được củng cố và tăng cường nhận thức hành vi, quên dần rượu bia

Huân chương lao động và Bằng khen Thủ tướng Chính phủ

Người nghiện rượu bia đa số là người cao tuổi với một thời gian dài hơn 10 năm sử dụng rượu bia nên phát sinh nhiều bệnh tật đã tàn phá nhiều bộ phận cơ thể người nghiện như: hệ thần kinh, tim mạch, gan thận, cơ khớp, tiêu hóa do đó việc chăm sóc sau cắt cơn rất quan trọng. Người nghiện rượu bia cao tuổi ít trách nhiệm trong việc kiếm tiền nuôi sống gia đình, chế độ học tập và quản lý nhẹ nhàng, môi trường cai nghiện thông thoáng, vui vẻ do đó họ yên tâm điều trị.

Học viên điều trị phục hồi chức năng

Tại Thanh Đa sau thời gian cắt cơn đầy khó khăn, người nghiện rượu được tiếp tục điều dưỡng phục hồi chữa trị các bệnh phát sinh do sử dụng rượu bia.

Môi trường sinh hoạt điều dưỡng thoáng mát

Trung tâm đã có sẵn một đội ngũ cán bộ với đủ các chuyên ngành để chăm sóc, theo dõi: thạc sĩ tim mạch, chuyên khoa tâm thần, chuyên khoa lão khoa, chuyên khoa nội khoa, chuyên khoa tâm lý, cử nhân điều dưỡng phục hồi, cử nhân công tác xã hội, dàn cán bộ hầu hết đều tốt nghiệp đại học hoặc trên đại học và đã qua lớp chăm sóc người bệnh.

Khác với các trung tâm cai nghiện ma túy, việc chống thẩm lậu rượu bia vào Trung tâm không phải là vấn đề khó khăn, vấn đề chính là lưu giữ được người nghiện ở lại tiếp tục điều dưỡng phục hồi, cách ly được với môi trường xã hội để quên dần rượu bia.

Để đạt được mục đích trên, Khu điều dưỡng phục hồi cho người nghiện rượu được thành lập bên bờ sông Thanh Đa thoáng mát với phong cảnh đẹp, tao nhã. Vào đây người nghiện rượu được chăm sóc chu đáo, được tư vấn bởi các cháu đoàn viên có trình độ, các cán bộ đủ các vùng miền, nhất là các cựu chiến binh với nhiều kinh nghiệm tiếp cận với người cao tuổi nghiện rượu.

Tận dụng cơ sở vật chất, trang thiết bị phục hồi chức năng, dàn cán bộ phục vụ và chuyên môn - Trung tâm còn là nơi quy tụ được các cựu chiến binh, cựu công an, các tổ chức chính trị xã hội của phường, hội thái cực trường sinh TP.HCM, biến nơi đây thành một môi trường năng động, khiến những người cai nghiện rượu ở đây không còn cảm thấy cô đơn, có bạn tâm tình và hăng hái tập luyện. Họ tiếp cận, nói chuyện với nhau rất vui vẻ, nhiều người cai nghiện đã nói “Chắc tôi ở đây lâu đấy! Về sớm làm khó cả gia đình mà còn dễ uống lại.”./.

CHỐNG TÁI NGHIỆN RƯỢU BIA BẰNG LIỆU PHÁP DÙNG THUỐC:

Là một giai đoạn khó khăn và kéo dài từ 1 đến 2 năm.

LIỆU PHÁP DÙNG THUỐC:

1. Thuốc Disulfiram:

- Làm người nghiện khó chịu khi uống rượu bia dù một lượng rất nhỏ. Tác dụng bao gồm: buồn nôn, ói mửa, đỏ bừng mặt, nhức đầu, đau ngực, mắt mờ, ra mồ hôi, khó thở, lo lắng, rối loạn tâm thần nên đa số người nghiện rượu rất sợ không chịu uống thuốc này nữa.

2. Thuốc Naltrexone:

Naltrexone làm người nghiện sử dụng rượu bia không có cảm giác thèm nhớ nữa, thuốc có tác dụng phụ là hại gan, trong khi đa số những người nghiện rượu bia gan bị tổn thương nặng nên khi sử dụng thuốc này phải theo dõi chặt chẽ chức năng của gan để giảm liều hoặc ngưng thuốc.

3. Thuốc Acamprosate:

- Cơ chế tác dụng hiện nay chưa được giải thích rõ ràng, nhưng thuốc có tác dụng làm giảm sự thèm muốn uống rượu bia.

Trên kinh nghiệm của hơn 25 năm điều trị cai nghiện ma tuý chúng tôi nhận thấy rằng các liệu pháp điều trị ngoại trú chống tái nghiện rượu bia bằng thuốc có những giới hạn nhất định, do người nghiện có điều kiện tái sử dụng lại rượu bia do mua bán rượu dễ dàng và hợp pháp. Thường họ không uống thuốc chống tái nghiện rượu đều đặn. Việc tái nghiện rượu bia hầu như là không thể tránh khỏi.

CAI NGHIỆN RƯỢU BIA KHÓ NHƯ CAI NGHIỆN MA TUÝ

Trong văn hóa của con người Việt Nam, việc uống rượu bia đã trở nên quá bình thường trong tập quán dân gian, lễ hội, trong quan hệ hàng ngày, thậm chí còn có quan điểm uống rượu bia là củng cố tình bằng hữu. Số người bị stress, thất bại trong cuộc sống hoặc có nỗi buồn cũng tìm đến rượu bia để tiêu sầu. Đa số các buổi họp mặt, liên hoan phải có rượu, và uống "không say – không về"!

Nhiều người cho rằng, rượu bia chỉ là một thức uống giải trí, không nguy hiểm bằng các chất kích thích bất hợp pháp khác. Tuy nhiên, các chuyên gia y tế khẳng định việc cai nghiện rượu bia có những thách thức và nguy hiểm, thậm chí có mặt còn khó khăn hơn cai nghiện ma tuý. Khi một người nghiện nặng ngưng uống rượu bia đột ngột, cơ thể phản ứng dữ dội hơn rất nhiều so với việc ngưng ma túy.

Nghiện rượu bia làm hệ thần kinh trung ương bị ức chế. Khi cai rượu bia làm mất đi lượng cồn quen thuộc, hệ thần kinh sẽ bị kích thích quá mức gây ra biến chứng sảng run rất nghiêm trọng.

Ngoài ra, cai rượu bia còn gây ra ảo giác kinh hoàng. Người bệnh thường xuyên nhìn thấy hoặc cảm thấy những thứ không có thật như: côn trùng bò trên da, quái vật, hoặc những hình ảnh đe dọa mạng sống... Gây co giật toàn thân: Các cơn co giật kiểu động kinh có thể xảy ra, dễ dẫn đến chấn thương cơ thể hoặc ngạt thở.

Để cai nghiện rượu bia thành công phải trải qua một quá trình không kém khó khăn, phức tạp, đòi hỏi ý chí và sự kiên trì của bệnh nhân và gia đình. Cai nghiện rượu bia cần được thực hiện tại trung tâm cai nghiện nội trú hoặc tại bệnh viện. Cán bộ điều trị cần xác lập một kế hoạch điều trị theo từng đối tượng bao gồm điều trị bằng thuốc, các biện pháp điều trị không dùng thuốc nhằm giúp người nghiện chuyển đổi nhận thức, hành vi, nhân cách và không còn thèm nhớ rượu.

Chưa có chất gây nghiện nào được sử dụng phổ biến và rộng rãi như rượu, bia tại Việt Nam. Việc uống rượu bia thường xuyên, với số lượng lớn và thiếu kiểm soát sẽ dần hình thành thói quen khó bỏ, lâu dài dẫn đến nghiện, gây tổn hại nghiêm trọng đến cả sức khỏe thể chất lẫn tinh thần.

Quá trình cắt cơn nghiện rượu bia bắt buộc phải diễn ra tại các cơ sở y tế có chuyên môn. Không tự ý cai rượu tại nhà. Người nghiện được theo dõi thường xuyên, phát hiện kịp thời các rối loạn về tâm thần và tim mạch để kịp thời điều trị. Trong suốt quá trình điều trị người nghiện rượu bia phải được hỗ trợ tâm lý để vượt qua giai đoạn cai nghiện.

Theo bác sĩ Duy, chương trình điều trị nghiện rượu bia tại bệnh viện hoặc các cơ sở cai nghiện phải được xây dựng bài bản, lâu dài kết hợp với cắt cơn nghiện, chống tái nghiện bằng thuốc và các liệu pháp không dùng thuốc, đồng thời phải điều trị các rối loạn tâm thần và bệnh lý kèm theo do sử dụng rượu bia gây ra.

Giống như cai nghiện ma tuý sau khi cắt cơn là giai đoạn chống tái nghiện rượu bia.

TÁC HẠI CỦA RƯỢU BIA ĐỐI VỚI TÂM THẦN VÀ THỂ CHẤT

Do sử dụng rượu bia một thời gian dài gây nhiều bệnh lý, người nghiện rượu bia bị tổn thương rất nhiều bộ phận cơ thể. Người nghiện rượu bia mất khả năng lao động về tinh thần cũng như thể chất.

Tác hại rượu bia

Về mặt tinh thần: do phụ thuộc rượu bia, người nghiện rượu bia bị tổn thương hệ thống thần kinh não bộ, rối loạn nhận thức, hành vi, nhân cách, suy giảm trí nhớ và phát sinh nhiều bệnh tâm thần. Thiếu rượu bia người nghiện bị hội chứng cai đôi khi rất nặng dẫn đến tình trạng sảng rượu, hôn mê, có thể dẫn đến tử vong.

- Khác với nhiều người lầm tưởng, rượu bia không phải là chất kích thích mà là một chất làm suy giảm cả hai quá trình hưng phấn và ức chế của hệ thần kinh trung ương. Tuy nhiên, do rượu bia làm sự ức chế giảm mạnh trong lúc sự hưng phấn ít hơn nên gây ra quá trình hưng phấn giả tạo. Người nghiện rượu bia cảm thấy giảm lo âu, hăng hái, nói nhiều, hoạt động nhiều nhưng thiếu chính xác, lời nói không được kiềm chế, xuồng xã hay khoe khoang, tự cao tự đại hoặc xúc phạm người khác. Khi nồng độ rượu bia trong máu trên 0.3% sẽ bị rối loạn tư duy, tri giác, vận động. Khi nồng độ rượu bia từ 0.4% đến 0.5% cả hai quá trình hưng phấn và ức chế bị suy giảm, người uống rượu bia có thể dẫn đến hôn mê. Khi nồng độ rượu bia đến 0,6% đến 0,7% thì người uống rượu có thể bị tử vong.

Về mặt thể chất

- Ngoài việc gây tổn thương hệ thống thần kinh, rượu bia còn gây nên thương tổn về mặt thể chất:

RỐI LOẠN CHUYỂN HOÁ

Rượu bia gây chán ăn cản trở sự hấp thu, rối loạn chuyển hóa các chất dinh dưỡng. Người nghiện bị giảm vitamine B12, acid folic gây thiếu máu, giảm vitamine B1, vitamine B6, gây rối loạn điện giải: nhất là kali, clo, canxi, natri... gây rối loạn nhịp tim, liệt cơ. Đồng thời nghiện rượu bia làm giảm đường máu gây run, co giật, mệt mỏi, viêm dây thần kinh ngoại vi gây liệt mềm, mất trí.

TÁC HẠI CỦA RƯỢU BIA TRÊN HỆ TIM MẠCH:

Hệ thống tim mạch bị ảnh hưởng bởi rượu bia. Tại thời điểm uống, rượu bia có thể gây tăng nhịp tim và huyết áp tạm thời.

Về lâu dài, uống quá nhiều rượu bia có thể dẫn đến nhịp tim tăng liên tục, huyết áp cao, cơ tim yếu và nhịp tim không đều. Tất cả đều có thể làm tăng nguy cơ đau tim và đột quỵ do rượu bia.

TÁC HẠI CỦA RƯỢU BIA TRÊN GAN:

Một lượng lớn rượu bia được chuyển hóa tại gan, do đó gan bị suy yếu, ngộ độc dẫn đến gan dễ bị nhiễm mỡ, vàng da, chán ăn, đau hạ sườn phải và rối loạn tiêu hóa. Người nghiện rượu bia lâu năm có khả năng bị xơ gan, tăng áp lực tĩnh mạch, giãn tĩnh mạch thực quản đôi khi gây vỡ tĩnh mạch thực quản, mất máu cấp và có thể dẫn đến tử vong, cổ chướng, chứng vú to, lách to, viêm tụy, phù chân, có thể dẫn đến ung thư gan.

TÁC HẠI CỦA RƯỢU BIA TRÊN HỆ TIÊU HÓA:

- Rượu gây kích thích, viêm niêm mạc dạ dày, viêm teo dạ dày, loét dạ dày và xuất huyết dạ dày, viêm loét hành tá tràng, trào ngược thực quản gây cảm giác buồn nôn.

Trường hợp nặng có thể thủng bao tử.

- Đường tiêu hoá hấp thu kém, tiêu chảy thường gặp.

TÁC HẠI CỦA RƯỢU BIA TRÊN TUYẾN YÊN:

Gây rối loạn tăng trưởng, rối loạn kinh nguyệt, suy giảm khả năng tình dục.

TÁC HẠI CỦA RƯỢU BIA TRÊN TUYẾN TỤY:

Tuyến tụy giúp tiêu hóa thức ăn và điều hòa quá trình trao đổi chất. Lệ thuộc rượu bia gây tổn thương, xơ hoá, hoại tử tế bào tuyến tuỵ gây sút cân, tiêu chảy, viêm tuỵ cấp, đái tháo đường...

TÁC HẠI CỦA RƯỢU BIA TRÊN XƯƠNG VÀ CƠ:

Rượu bia ảnh hưởng đến sự phối hợp và làm tăng khả năng chấn thương. Sử dụng rượu bia trong thời gian dài có thể dẫn đến teo và yếu cơ, loãng xương (xương mỏng đi) và gãy xương.

TÁC HẠI CỦA RƯỢU BIA TRÊN MIỆNG:

Miệng và cổ họng tiếp xúc với rượu bia ngay sau khi uống. Rượu bia có thể làm hỏng tuyến nước bọt, kích ứng miệng và lưỡi, dẫn đến bệnh nướu răng, sâu răng và thậm chí mất răng. Uống quá nhiều còn gây nói lắp.

TÁC HẠI CỦA RƯỢU BIA ĐẾN SỨC KHỎE TÌNH DỤC:

Sử dụng rượu bia nặng mãn tính có thể dẫn đến rối loạn chức năng cương dương ở nam giới và vô sinh ở nam và nữ. Uống rượu bia quá mức cũng có thể làm tăng nguy cơ sảy thai, sinh non và thai chết lưu ở phụ nữ.

TÁC HẠI CỦA RƯỢU BIA ĐẾN HỆ THỐNG MIỄN DỊCH:

Uống quá nhiều có thể làm suy yếu hệ thống miễn dịch khiến cơ thể khó chống lại bệnh tật hoặc nhiễm trùng. Người uống rượu bia mãn tính có nhiều khả năng mắc các bệnh như viêm phổi, bệnh lao…

TĂNG NGUY CƠ GÂY UNG THƯ:

Rượu bia và chất chuyển hóa của nó (acetaldehyde) là chất gây ung thư. Nguy cơ phát triển ung thư do rượu tăng theo lượng rượu sừ dụng. Sử dụng rượu bia mãn tính có thể làm tăng nguy cơ phát triển nhiều dạng ung thư, bao gồm ung thư miệng, thực quản, cổ họng, gan, tuyến tụy, vú và ruột kết…

TÁC HẠI CỦA VIỆC SỬ DỤNG RƯỢU BIA CHO XÃ HỘI

Thống kê cho thấy hơn 33% các vụ bạo lực gia đình xuất phát từ việc sử dụng rượu bia

Trong dự thảo tờ trình dự án LUẬT PHÒNG, CHỐNG TÁC HẠI CỦA RƯỢU, BIA, Bộ Y tế đã chỉ ra tác hại của rượu bia đối với những vấn đề kinh tế, xã hội.

Theo Bộ Y tế, bên cạnh những vấn đề về kinh tế, sức khỏe, an toàn giao thông, sử dụng rượu, bia còn là tác nhân gây bạo lực gia đình, tội phạm, mất an ninh trật tự. Khoảng gần 30% số vụ gây rối trật tự xã hội, 33,7% các vụ bạo lực gia đình có nguyên nhân xuất phát từ việc sử dụng rượu, bia. Sử dụng rượu, bia còn ảnh hưởng đến tâm lý, sức khoẻ của những người xung quanh, gia đình và cộng đồng. Đồng thời, những tổn thất do bị xói mòn về văn hóa, lối sống, đạo đức và chất lượng giống nòi bởi sử dụng rượu, bia gây ra là những gánh nặng xã hội nghiêm trọng không thể so sánh và rất khó lượng hóa.

Tác hại rượu bia

Một số không ít gia đình có trẻ em bị người thân uống rượu bia đánh đập, phải chứng kiến bạo lực nghiêm trọng liên quan đến rượu, bia trong gia đình, bị bỏ mặc, thiếu sự chăm sóc bảo vệ của người lớn, gia đình không còn tiền để chi cho các nhu cầu thiết yếu cho trẻ do thành viên hộ gia đình sử dụng rượu bia gây ra.

Trong số các hộ gia đình có người uống rượu bia, hộ gia đình phải đối mặt với các vấn đề: bạo lực gia đình liên quan đến rượu, bia, mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình bị ảnh hưởng; người uống rượu bia không muốn hoặc không đủ sức khỏe để lao động, kiếm sống, để đảm đương các công việc gia đình.

Tình trạng bạo lực gia đình và thành viên hộ gia đình bị chấn thương liên quan đến rượu bia xảy ra phổ biến.

Tác hại rượu bia
Đối tượng Mai Văn Khanh giết người trong lúc say rượu, lãnh án 07 năm tù

Có thể nói, tác hại do sử dụng rượu, bia gây ra đối với sức khỏe và kinh tế - xã hội ở nước ta đang ngày càng trầm trọng và gia tăng tỷ lệ thuận với mức độ gia tăng tiêu thụ rượu, bia.

Cả nước có đến 20% tai nạn giao thông do sử dụng rượu bia

Cục Cảnh sát giao thông thống kê từ năm 2022 - 2024, cả nước có đến 20% số vụ tai nạn giao thông xảy ra liên quan đến việc người điều khiển phương tiện có sử dụng rượu, bia. Theo đó, cứ có 5 người chết hoặc bị thương trong các vụ tai nạn giao thông thì có 1 người chết hoặc bị thương do lái xe có sử dụng rượu, bia. Riêng TP.HCM, năm 2024 xảy ra 1.459 vụ tai nạn giao thông làm chết 472 người và 863 người bị thương. Trong đó có 352 vụ (24,12%) tai nạn giao thông có liên quan nồng độ cồn, làm 132 người chết và 265 người bị thương.

Trong 20% vụ tai nạn giao thông trên, có 34% nạn nhân tử vong có liên quan tới rượu, bia

Theo báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới, tại Việt Nam, mỗi năm có tới 34% số ca tử vong do va chạm giao thông đường bộ ở Việt Nam có liên quan đến rượu bia. Con số này tăng cao vào các ngày lễ, Tết.

Tác hại rượu bia

VÌ SAO CAI NGHIỆN RƯỢU BIA KHÓ NHƯ CAI NGHIỆN MA TUÝ

Bác sĩ Nguyễn Hữu Khánh Duy: VÌ SAO CAI NGHIỆN RƯỢU BIA KHÓ NHƯ CAI NGHIỆN MA TUÝ

Vào cái tuổi 80 xưa nay hiếm, nhưng với tấm lòng nhiệt huyết, người Cựu Công an Nguyễn Hữu Khánh Duy vẫn luôn nóng bỏng, say mê và đầy trách nhiệm đối với xã hội mà trong đó không thể thiếu những người nghiện rượu bia và ma tuý. Thời trẻ, ông từng là một Bác sĩ – Cụm phó cụm Điệp báo chính trị A10, Ban An ninh Sài Gòn Gia Định hoạt động bí mật trong Sư đoàn Thuỷ quân Lục chiến quân đội Việt Nam Cộng Hoà, một đơn vị sừng sỏ nhất với việc uống rượu bia như uống nước nên ông đã chứng kiến biết bao tệ hại do uống rượu bia gây nên. Sau giải phóng, ông công tác trong lực lượng Công an TPHCM. Năm 1999 khi về hưu, ông cùng các cựu chiến binh lập ra Trung tâm cai nghiện Ma túy Thanh Đa và đến nay đã điều trị hơn hai chục ngàn người nghiện rượu bia và ma tuý. Trung tâm cai nghiện Thanh Đa được đánh giá là một trong những trung tâm cai nghiện rượu bia và ma tuý tốt nhất cả nước.

Rượu bia là một loại ma tuý hợp pháp, thời gian dài sử dụng người nghiện rượu đã gây ra nhiều hệ lụy cho cá nhân, gia đình và xã hội. Nhận thấy công tác phòng chống và điều trị nghiện rượu bia là quan trọng: ngày 11/10/2024, THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ đã ký Quyết định số 1169/QĐ-TTg phê duyệt ĐỀ ÁN TRUYỀN THÔNG PHÒNG, CHỐNG TÁC HẠI CỦA RƯỢU, BIA đến năm 2030.

Vấn đề lạm dụng rượu, bia đã trở thành mối quan tâm lớn của toàn xã hội - nếu không được can thiệp kịp thời, người nghiện rượu bia có thể gặp các biến chứng thần kinh, tim mạch và nhiều loại tổn thương khác dẫn đến tử vong.

Rượu bia được coi là một loại ma tuý hợp pháp, đa số người sử dụng rượu với liều lượng vừa phải và uống trong những dịp lễ hội, tuy nhiên vẫn có một số không ít đã sử dụng rượu bia với liều cao một thời gian rất dài trên nhiều năm và hàm lượng rượu bia tăng dần làm tổn thương rất nhiều bộ phận trong cơ thể gây ra nhiều vấn đề về sức khoẻ và trật tự - an toàn xã hội.

NGUYÊN NHÂN SỬ DỤNG RƯỢU BIA RẤT ĐA DẠNG:

Buồn cũng uống, vui cũng uống – thành công cũng uống, thất bại cũng uống; đám cưới cũng uống, đám ma cũng uống – sáng uống, trưa uống, chiều uống, tối uống.

Người nghèo uống rượu đế, nhâm nhi vài con sò, con ốc, trái cóc, trái xoài, người giàu uống rượu tây trong các nhà hàng sang trọng. Thanh niên uống la hét, người già uống nhâm nhi, ngẫm nghĩ sự đời. Chưa có một chất gây nghiện đặc biệt nào được sử dụng nhiều như rượu ở nước ta.

Đa số rượu bia được sản xuất thủ công từ bột gạo, bột nếp đến vỏ cây, bã mía, củ sắn, lá rừng… Nhiều nhà biết cách làm rượu. Do đó giá rượu bia rẻ, thậm chí rất dễ kiếm, vì vậy việc tìm kiếm rượu bia không khó khăn như tìm kiếm ma tuý.

Lạm dụng rượu bia lâu ngày đưa đến chứng nghiện rượu bia, để lại nhiều tác hại cho cá nhân, gia đình và xã hội:

TÁC HẠI CỦA VIỆC SỬ DỤNG RƯỢU BIA

Thống kê cho thấy hơn 33% các vụ bạo lực gia đình xuất phát từ việc sử dụng rượu bia

Trong dự thảo tờ trình dự án LUẬT PHÒNG, CHỐNG TÁC HẠI CỦA RƯỢU, BIA, Bộ Y tế đã chỉ ra tác hại của rượu bia đối với những vấn đề kinh tế, xã hội. Theo Bộ Y tế, bên cạnh những vấn đề về kinh tế, sức khỏe, an toàn giao thông, sử dụng rượu, bia còn là tác nhân gây bạo lực gia đình, tội phạm, mất an ninh trật tự. Khoảng gần 30% số vụ gây rối trật tự xã hội, 33,7% các vụ bạo lực gia đình có nguyên nhân xuất phát từ việc sử dụng rượu, bia. Sử dụng rượu, bia còn ảnh hưởng đến tâm lý, sức khoẻ của những người xung quanh, gia đình và cộng đồng. Đồng thời, những tổn thất do bị xói mòn về văn hóa, lối sống, đạo đức và chất lượng giống nòi bởi sử dụng rượu, bia gây ra là những gánh nặng xã hội nghiêm trọng không thể so sánh và rất khó lượng hóa.

Một số không ít gia đình có trẻ em bị: người thân uống rượu bia đánh đập, phải chứng kiến bạo lực nghiêm trọng liên quan đến rượu, bia trong gia đình, bị bỏ mặc, thiếu sự chăm sóc bảo vệ của người lớn, gia đình không còn tiền để chi cho các nhu cầu thiết yếu cho trẻ do thành viên hộ gia đình sử dụng rượu bia gây ra.

Trong số các hộ gia đình có người uống rượu bia, hộ gia đình phải đối mặt với các vấn đề: bạo lực gia đình liên quan đến rượu, bia, mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình bị ảnh hưởng; người uống rượu bia không muốn hoặc không đủ sức khỏe để lao động, kiếm sống, để đảm đương các công việc gia đình.

Tình trạng bạo lực gia đình và thành viên hộ gia đình bị chấn thương liên quan đến rượu bia xảy ra phổ biến.

Đối tượng Mai Văn Khanh giết người trong lúc say rượu, lãnh án 07 năm tù

Có thể nói, tác hại do sử dụng rượu, bia gây ra đối với sức khỏe và kinh tế - xã hội ở nước ta đang ngày càng trầm trọng và gia tăng tỷ lệ thuận với mức độ gia tăng tiêu thụ rượu, bia.

Cả nước có đến 20% tai nạn giao thông do sử dụng rượu bia

Cục Cảnh sát giao thông thống kê từ năm 2022 - 2024, cả nước có đến 20% số vụ tai nạn giao thông xảy ra liên quan đến việc người điều khiển phương tiện có sử dụng rượu, bia. Theo đó, cứ có 5 người chết hoặc bị thương trong các vụ tai nạn giao thông thì có 1 người chết hoặc bị thương do lái xe có sử dụng rượu, bia.

Riêng TP.HCM, năm 2024 xảy ra 1.459 vụ tai nạn giao thông làm chết 472 người và 863 người bị thương. Trong đó có 352 vụ (24,12%) tai nạn giao thông có liên quan nồng độ cồn, làm 132 người chết và 265 người bị thương.

Trong 20% vụ tai nạn giao thông trên, có 34% nạn nhân tử vong có liên quan tới rượu, bia

Theo báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới, tại Việt Nam, mỗi năm có tới 34% số ca tử vong do va chạm giao thông đường bộ ở Việt Nam có liên quan đến rượu bia. Con số này tăng cao vào các ngày lễ, Tết.

Do sử dụng rượu bia một thời gian dài gây nhiều bệnh lý, người nghiện rượu bia bị tổn thương rất nhiều bộ phận cơ thể. Người nghiện rượu bia mất khả năng lao động về tinh thần cũng như thể chất.

Về mặt tinh thần: do phụ thuộc rượu bia, người nghiện rượu bia bị tổn thương hệ thống thần kinh não bộ, rối loạn nhận thức, hành vi, nhân cách, suy giảm trí nhớ và phát sinh nhiều bệnh tâm thần. Thiếu rượu bia người nghiện bị hội chứng cai đôi khi rất nặng dẫn đến tình trạng sảng rượu, hôn mê, có thể dẫn đến tử vong.

- Khác với nhiều người lầm tưởng, rượu bia không phải là chất kích thích mà là một chất làm suy giảm cả hai quá trình hưng phấn và ức chế của hệ thần kinh trung ương. Tuy nhiên, do rượu bia làm sự ức chế giảm mạnh trong lúc sự hưng phấn ít hơn nên gây ra quá trình hưng phấn giả tạo. Người nghiện rượu bia cảm thấy giảm lo âu, hăng hái, nói nhiều, hoạt động nhiều nhưng thiếu chính xác, lời nói không được kiềm chế, xuồng xã hay khoe khoang, tự cao tự đại hoặc xúc phạm người khác. Khi nồng độ rượu bia trong máu trên 0.3% sẽ bị rối loạn tư duy, tri giác, vận động. Khi nồng độ rượu bia từ 0.4% đến 0,5% cả hai quá trình hưng phấn và ức chế bị suy giảm, người uống rượu bia có thể dẫn đến hôn mê. Khi nồng độ rượu bia đến 0,6% đến 0,7% thì người uống rượu có thể bị tử vong.

Về mặt thể chất: Ngoài việc gây tổn thương hệ thống thần kinh, rượu bia còn gây nên thương tổn về mặt thể chất:

RỐI LOẠN CHUYỂN HOÁ

Rượu bia gây chán ăn cản trở sự hấp thu, rối loạn chuyển hóa các chất dinh dưỡng. Người nghiện bị giảm vitamine B12, acid folic gây thiếu máu, giảm vitamine B1, vitamine B6, gây rối loạn điện giải: nhất là kali, clo, canxi, natri... gây rối loạn nhịp tim, liệt cơ. Đồng thời nghiện rượu bia làm giảm đường máu gây run, co giật, mệt mỏi, viêm dây thần kinh ngoại vi gây liệt mềm, mất trí.

TÁC HẠI CỦA RƯỢU BIA TRÊN HỆ TIM MẠCH:

Hệ thống tim mạch bị ảnh hưởng bởi rượu bia. Tại thời điểm uống, rượu bia có thể gây tăng nhịp tim và huyết áp tạm thời. Về lâu dài, uống quá nhiều rượu bia có thể dẫn đến nhịp tim tăng liên tục, huyết áp cao, cơ tim yếu và nhịp tim không đều. Tất cả đều có thể làm tăng nguy cơ đau tim và đột quỵ do rượu bia.

TÁC HẠI CỦA RƯỢU BIA TRÊN GAN:

Một lượng lớn rượu bia được chuyển hóa tại gan, do đó gan bị suy yếu, ngộ độc dẫn đến gan dễ bị nhiễm mỡ, vàng da, chán ăn, đau hạ sườn phải và rối loạn tiêu hóa. Người nghiện rượu bia lâu năm có khả năng bị xơ gan, tăng áp lực tĩnh mạch, giãn tĩnh mạch thực quản đôi khi gây vỡ tĩnh mạch thực quản, mất máu cấp và có thể dẫn đến tử vong, cổ chướng, chứng vú to, lách to, viêm tụy, phù chân, có thể dẫn đến ung thư gan.

TÁC HẠI CỦA RƯỢU BIA TRÊN HỆ TIÊU HÓA:

  • Rượu gây kích thích, viêm niêm mạc dạ dày, viêm teo dạ dày, loét dạ dày và xuất huyết dạ dày, viêm loét hành tá tràng, trào ngược thực quản gây cảm giác buồn nôn. Trường hợp nặng có thể thủng bao tử.
  • Đường tiêu hoá hấp thu kém, tiêu chảy thường gặp.

TÁC HẠI CỦA RƯỢU BIA TRÊN TUYẾN YÊN:

Gây rối loạn tăng trưởng, rối loạn kinh nguyệt, suy giảm khả năng tình dục.

TÁC HẠI CỦA RƯỢU BIA TRÊN TUYẾN TỤY:

Tuyến tụy giúp tiêu hóa thức ăn và điều hòa quá trình trao đổi chất. Lệ thuộc rượu bia gây tổn thương, xơ hoá, hoại tử tế bào tuyến tuỵ gây sút cân, tiêu chảy, viêm tuỵ cấp, đái tháo đường...

TÁC HẠI CỦA RƯỢU BIA TRÊN XƯƠNG VÀ CƠ:

Rượu bia ảnh hưởng đến sự phối hợp và làm tăng khả năng chấn thương. Sử dụng rượu bia trong thời gian dài có thể dẫn đến teo và yếu cơ, loãng xương (xương mỏng đi) và gãy xương.

TÁC HẠI CỦA RƯỢU BIA TRÊN MIỆNG:

Miệng và cổ họng tiếp xúc với rượu bia ngay sau khi uống. Rượu bia có thể làm hỏng tuyến nước bọt, kích ứng miệng và lưỡi, dẫn đến bệnh nướu răng, sâu răng và thậm chí mất răng. Uống quá nhiều còn gây nói lắp.

TÁC HẠI CỦA RƯỢU BIA ĐẾN SỨC KHỎE TÌNH DỤC:

Sử dụng rượu bia nặng mãn tính có thể dẫn đến rối loạn chức năng cương dương ở nam giới và vô sinh ở nam và nữ. Uống rượu bia quá mức cũng có thể làm tăng nguy cơ sảy thai, sinh non và thai chết lưu ở phụ nữ.

TÁC HẠI CỦA RƯỢU BIA ĐẾN HỆ THỐNG MIỄN DỊCH:

Uống quá nhiều có thể làm suy yếu hệ thống miễn dịch khiến cơ thể khó chống lại bệnh tật hoặc nhiễm trùng. Người uống rượu bia mãn tính có nhiều khả năng mắc các bệnh như viêm phổi, bệnh lao…

TĂNG NGUY CƠ GÂY UNG THƯ:

Rượu bia và chất chuyển hóa của nó (acetaldehyde) là chất gây ung thư. Nguy cơ phát triển ung thư do rượu tăng theo lượng rượu sử dụng.

Sử dụng rượu bia mãn tính có thể làm tăng nguy cơ phát triển nhiều dạng ung thư, bao gồm ung thư miệng, thực quản, cổ họng, gan, tuyến tụy, vú và ruột kết…

CAI NGHIỆN RƯỢU BIA KHÓ NHƯ CAI NGHIỆN MA TUÝ

Trong văn hóa của con người Việt Nam, việc uống rượu bia đã trở nên quá bình thường trong tập quán dân gian, lễ hội, trong quan hệ hàng ngày, thậm chí còn có quan điểm uống rượu bia là củng cố tình bằng hữu. Số người bị stress, thất bại trong cuộc sống hoặc có nỗi buồn cũng tìm đến rượu bia để tiêu sầu. Đa số các buổi họp mặt, liên hoan phải có rượu, và uống "không say – không về"!

Nhiều người cho rằng, rượu bia chỉ là một thức uống giải trí, không nguy hiểm bằng các chất kích thích bất hợp pháp khác. Tuy nhiên, các chuyên gia y tế khẳng định việc cai nghiện rượu bia có những thách thức và nguy hiểm, thậm chí có mặt còn khó khăn hơn cai nghiện ma tuý. Khi một người nghiện nặng ngưng uống rượu bia đột ngột, cơ thể phản ứng dữ dội hơn rất nhiều so với việc ngưng ma túy.

Nghiện rượu bia làm hệ thần kinh trung ương bị ức chế. Khi cai rượu bia làm mất đi lượng cồn quen thuộc, hệ thần kinh sẽ bị kích thích quá mức gây ra biến chứng sảng run rất nghiêm trọng.

Ngoài ra, cai rượu bia còn gây ra ảo giác kinh hoàng. Người bệnh thường xuyên nhìn thấy hoặc cảm thấy những thứ không có thật như: côn trùng bò trên da, quái vật, hoặc những hình ảnh đe dọa mạng sống... Gây co giật toàn thân: Các cơn co giật kiểu động kinh có thể xảy ra, dễ dẫn đến chấn thương cơ thể hoặc ngạt thở.

Để cai nghiện rượu bia thành công phải trải qua một quá trình không kém khó khăn, phức tạp, đòi hỏi ý chí và sự kiên trì của bệnh nhân và gia đình. Cai nghiện rượu bia cần được thực hiện tại trung tâm cai nghiện nội trú hoặc tại bệnh viện. Cán bộ điều trị cần xác lập một kế hoạch điều trị theo từng đối tượng bao gồm điều trị bằng thuốc, các biện pháp điều trị không dùng thuốc nhằm giúp người nghiện chuyển đổi nhận thức, hành vi, nhân cách và không còn thèm nhớ rượu.

Chưa có chất gây nghiện nào được sử dụng phổ biến và rộng rãi như rượu, bia tại Việt Nam. Việc uống rượu bia thường xuyên, với số lượng lớn và thiếu kiểm soát sẽ dần hình thành thói quen khó bỏ, lâu dài dẫn đến nghiện, gây tổn hại nghiêm trọng đến cả sức khỏe thể chất lẫn tinh thần.

Quá trình cắt cơn nghiện rượu bia bắt buộc phải diễn ra tại các cơ sở y tế có chuyên môn. Không tự ý cai rượu tại nhà. Người nghiện được theo dõi thường xuyên, phát hiện kịp thời các rối loạn về tâm thần và tim mạch để kịp thời điều trị. Trong suốt quá trình điều trị người nghiện rượu bia phải được hỗ trợ tâm lý để vượt qua giai đoạn cai nghiện.

Theo bác sĩ Duy, chương trình điều trị nghiện rượu bia tại bệnh viện hoặc các cơ sở cai nghiện phải được xây dựng bài bản, lâu dài kết hợp với cắt cơn nghiện, chống tái nghiện bằng thuốc và các liệu pháp không dùng thuốc, đồng thời phải điều trị các rối loạn tâm thần và bệnh lý kèm theo do sử dụng rượu bia gây ra.

Giống như cai nghiện ma tuý sau khi cắt cơn là giai đoạn chống tái nghiện rượu bia.

CHỐNG TÁI NGHIỆN RƯỢU BIA

Là một giai đoạn khó khăn và kéo dài từ 1 đến 2 năm. Có hai liệu pháp chống tái nghiện rượu bia

LIỆU PHÁP DÙNG THUỐC:

1. Thuốc Disulfiram:

- Làm người nghiện khó chịu khi uống rượu bia dù một lượng rất nhỏ. Tác dụng bao gồm: buồn nôn, ói mửa, đỏ bừng mặt, nhức đầu, đau ngực, mắt mờ, ra mồ hôi, khó thở, lo lắng, rối loạn tâm thần nên đa số người nghiện rượu rất sợ không chịu uống thuốc này nữa.

2. Thuốc Naltrexone:

Naltrexone làm người nghiện sử dụng rượu bia không có cảm giác thèm nhớ nữa, thuốc có tác dụng phụ là hại gan, trong khi đa số những người nghiện rượu bia gan bị tổn thương nặng nên khi sử dụng thuốc này phải theo dõi chặt chẽ chức năng của gan để giảm liều hoặc ngưng thuốc.

3. Thuốc Acamprosate:

- Cơ chế tác dụng hiện nay chưa được giải thích rõ ràng, nhưng thuốc có tác dụng làm giảm sự thèm muốn uống rượu bia.

Trên kinh nghiệm của hơn 25 năm điều trị cai nghiện ma tuý chúng tôi nhận thấy rằng các liệu pháp điều trị ngoại trú chống tái nghiện rượu bia bằng thuốc có những giới hạn nhất định, do người nghiện có điều kiện tái sử dụng lại rượu bia do mua bán rượu dễ dàng và hợp pháp. Thường họ không uống thuốc chống tái nghiện rượu đều đặn. Việc tái nghiện rượu bia hầu như là không thể tránh khỏi.

LIỆU PHÁP KHÔNG DÙNG THUỐC:

Người nghiện được điều dưỡng phục hồi nội trú trong một môi trường năng động: Rất khác các cơ sở cai nghiện rượu hiện nay, Trung tâm Cai nghiện Thanh Đa chú trọng nhiều vấn đề điều dưỡng phục hồi chống tái nghiện trong môi trường nội trú để cách ly hẳn với uống rượu bia. Người cai nghiện nội trú được điều trị các bệnh phát sinh, phục hồi sức khoẻ, luyện tập vật lý trị liệu, ăn uống theo chế độ bệnh lý và được tư vấn tâm lý, hát karaoke, vui chơi giải trí, giải quyết những vướng mắc trong cuộc sống và có điều kiện sinh hoạt chung với nhau trong một môi trường lành mạnh. Với thời gian điều nội trú người nghiện được củng cố và tăng cường nhận thức hành vi, quên dần rượu bia

Người nghiện rượu bia đa số là người cao tuổi với một thời gian dài hơn 10 năm sử dụng rượu bia nên phát sinh nhiều bệnh tật đã tàn phá nhiều bộ phận cơ thể người nghiện như: hệ thần kinh, tim mạch, gan thận, cơ khớp, tiêu hóa do đó việc chăm sóc sau cắt cơn rất quan trọng. Người nghiện rượu bia cao tuổi ít trách nhiệm trong việc kiếm tiền nuôi sống gia đình, chế độ học tập và quản lý nhẹ nhàng, môi trường cai nghiện thông thoáng, vui vẻ do đó họ yên tâm điều trị.

Tại Thanh Đa sau thời gian cắt cơn đầy khó khăn, người nghiện rượu được tiếp tục điều dưỡng phục hồi chữa trị các bệnh phát sinh do sử dụng rượu bia.

Trung tâm đã có sẵn một đội ngũ cán bộ với đủ các chuyên ngành để chăm sóc, theo dõi: thạc sĩ tim mạch, chuyên khoa tâm thần, chuyên khoa lão khoa, chuyên khoa nội khoa, chuyên khoa tâm lý, cử nhân điều dưỡng phục hồi, cử nhân công tác xã hội, dàn cán bộ hầu hết đều tốt nghiệp đại học hoặc trên đại học và đã qua lớp chăm sóc người bệnh.

Khác với các trung tâm cai nghiện ma túy, việc chống thẩm lậu rượu bia vào Trung tâm không phải là vấn đề khó khăn, vấn đề chính là lưu giữ được người nghiện ở lại tiếp tục điều dưỡng phục hồi, cách ly được với môi trường xã hội để quên dần rượu bia.

Để đạt được mục đích trên, Khu điều dưỡng phục hồi cho người nghiện rượu được thành lập bên bờ sông Thanh Đa thoáng mát với phong cảnh đẹp, tao nhã. Vào đây người nghiện rượu được chăm sóc chu đáo, được tư vấn bởi các cháu đoàn viên có trình độ, các cán bộ đủ các vùng miền, nhất là các cựu chiến binh với nhiều kinh nghiệm tiếp cận với người cao tuổi nghiện rượu.

Tận dụng cơ sở vật chất, trang thiết bị phục hồi chức năng, dàn cán bộ phục vụ và chuyên môn - Trung tâm còn là nơi quy tụ được các cựu chiến binh, cựu công an, các tổ chức chính trị xã hội của phường, hội thái cực trường sinh TP.HCM, biến nơi đây thành một môi trường năng động, khiến những người cai nghiện rượu ở đây không còn cảm thấy cô đơn, có bạn tâm tình và hăng hái tập luyện. Họ tiếp cận, nói chuyện với nhau rất vui vẻ, nhiều người cai nghiện đã nói “Chắc tôi ở đây lâu đấy! Về sớm làm khó cả gia đình mà còn dễ uống lại.”

NGUYÊN NHÂN SỬ DỤNG RƯỢU BIA RẤT ĐA DẠNG:

NGUYÊN NHÂN SỬ DỤNG RƯỢU BIA

Rượu bia là một loại ma tuý hợp pháp, thời gian dài sử dụng người nghiện rượu đã gây ra nhiều hệ lụy cho cá nhân, gia đình và xã hội. Nhận thấy công tác phòng - chống và điều trị nghiện rượu bia là quan trọng: ngày 11/10/2024, THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ đã ký Quyết định số 1169/QĐ-TTg phê duyệt ĐỀ ÁN TRUYỀN THÔNG PHÒNG, CHỐNG TÁC HẠI CỦA RƯỢU, BIA đến năm 2030.

Vấn đề lạm dụng rượu, bia đã trở thành mối quan tâm lớn của toàn xã hội - nếu không được can thiệp kịp thời, người nghiện rượu bia có thể gặp các biến chứng thần kinh, tim mạch và nhiều loại tổn thương khác dẫn đến tử vong.

Rượu bia được coi là một loại ma tuý hợp pháp, đa số người sử dụng rượu với liều lượng vừa phải và uống trong những dịp lễ hội, tuy nhiên vẫn có một số không ít đã sử dụng rượu bia với liều cao một thời gian rất dài trên nhiều năm và hàm lượng rượu bia tăng dần làm tổn thương rất nhiều bộ phận trong cơ thể gây ra nhiều vấn đề về sức khoẻ và trật tự - an toàn xã hội.

Buồn cũng uống, vui cũng uống – thành công cũng uống, thất bại cũng uống; đám cưới cũng uống, đám ma cũng uống – sáng uống, trưa uống, chiều uống, tối uống. Người nghèo uống rượu đế, nhâm nhi vài con sò, con ốc, trái cóc, trái xoài, người giàu uống rượu tây trong các nhà hàng sang trọng. Thanh niên uống la hét, người già uống nhâm nhi, ngẫm nghĩ sự đời. Chưa có một chất gây nghiện đặc biệt nào được sử dụng nhiều như rượu ở nước ta.

Tác hại rượu bia

Đa số rượu bia được sản xuất thủ công từ bột gạo, bột nếp đến vỏ cây, bã mía, củ sắn, lá rừng… Nhiều nhà biết cách làm rượu. Do đó giá rượu bia rẻ, thậm chí rất dễ kiếm, vì vậy việc tìm kiếm rượu bia không khó khăn như tìm kiếm ma tuý.

Lạm dụng rượu bia lâu ngày đưa đến chứng nghiện rượu bia, để lại nhiều tác hại cho cá nhân, gia đình và xã hội:

NGHIỆN MA TÚY

NGHIỆN MA TÚY


Nghiện nói chung và nghiện ma túy nói riêng (hợp pháp và bất hợp pháp) do nhiều nguyên nhân phức tạp kết hợp chặt chẽ với nhau gây ra làm cho công tác điều trị và dự phòng gặp nhiều khó khăn và trở ngại.


A. NGUYÊN NHÂN NGHIỆN MA TÚY:

Hiện nay có 3 nguyên nhân chủ yếu thường được nhắc đến:

  • - Có tác nhân gây nghiện

  • - Có đối tượng có khuynh hướng lạm dụng các chất gây nghiện

  • - Có môi trường "gia đình và xã hội thuận lợi".

Ba nguyên nhân này kết hợp chặt chẽ với nhau theo mô hình sau


I. CHẤT GÂY NGHIỆN:

Ngoài những tác nhân gây nghiện đã mặc nhiên tồn tại, trên thế giới ngày càng ra đời nhiều loại chất gây nghiện mới làm cho công tác phòng chống lạm dụng chất gây nghiện đã khó nay càng khó hơn. Công tác triệt phá việc sản xuất, tàng trữ và buôn bán chất gây nghiện cũng diễn biến hết sức phức tạp. Theo báo cáo của cơ quan cảnh sát phòng chống chất gây nghiện, chúng ta mới khám phá thu giữ được khoảng 5%-10% lượng chất gây nghiện hợp pháp tiêu thụ trên thị trường.


Điều này có nhiều lý do:

  • - Do lợi nhuận quá cao của mặt hàng này nên không ít kẻ vẫn liều lĩnh buôn bán, sản xuất, tàng trữ. Thậm chí chúng lôi kéo gia đình, dòng họ, lợi dụng cả người già và trẻ em vào đường buôn bán chất gây nghiện này. Chúng không từ bất cứ thủ đoạn nào, từ mua chuộc các cơ quan chức năng tới việc chống trả quyết liệt khi bị phát hiện. Mặc dù hình phạt dành cho loại tội phạm này rất nghiêm khắc (tử hình) nhưng cũng không ngăn cản được lòng tham của chúng.


  • - Do đặc điểm địa lý của nước ta thuận lợi cho việc buôn lậu các chất gây nghiện: đó là nước ta nằm cạnh vùng tam giác vàng (Thái Lan, Lào, Miến Điện), một trong những trung tâm sản xuất chất gây nghiện lớn trên thế giới. Chúng ta có đường biên giới rất dài và nhiều cửa khẩu trên bộ, trên biển và hàng không với nhiều nước trên khu vực và thế giới, trong khi lực lượng phòng chống chất gây nghiện còn mỏng, trang thiết bị hiện đại còn thiếu, nên chất gây nghiện dễ dàng thẩm lậu vào nước ta.


  • - Do giao lưu quốc tế mở rộng, du lịch phát triển, mạng lưới thương mại rông khắp, hàng hóa xuất nhập khẩu, trung chuyển ngày càng gia tăng, đòi hỏi thời gian thông quan nhanh làm cho việc kiểm soát chất gây nghiện gặp nhiều khó khăn, nhất là khi chúng ta còn thiếu thông tin chính xác, kịp thời về loại hình tội phạm này.


  • - Việc toàn cầu hóa là một thuận lợi nhưng cũng là một thách thức to lớn trong công cuộc phòng chống chất gây nghiện. Nhiều loại chất gây nghiện mới không chỉ thâm nhập mà còn được sản xuất trong nước thông gia những chỉ dẫn trên mạng internet quốc tế như các điều chế, cách sử dụng... thậm chí được truyền bá bởi các khách du lịch quốc tế vào nước ta.


Những khó khăn chủ yếu nêu trên của nước ta đồng thời cũng là những khó khăn của các nước khác trên thế giới. Vì vậy đã có nhiều hiệp định song phương và đa phương giữa lực lượng công an nước ta với các nước trong khu vực và trên thế giới nhằm hợp lực đấu tranh với loại tội phạm liên quan tới chất gây nghiện. Tuy nhiên, triệt phá đường dây cung cấp chất gây nghiện không hề dễ dàng và đơn giản. Một thí dụ rõ nhất là Hoa Kỳ: cơ quan phòng chóng chất gây nghiện quốc gia được đầu tư rất nhiều tiền của, phương tiện hiện đại, huy động cả các cơ quan tình báo, thậm chí cả quân đội vào công tác này nhằm triệt phá các trung tâm sản xuất ma túy không chỉ ở trên đất Mỹ mà còn ở các nước hữu quan khác như Colombia, Apganistan, Panama, Mehico... Các chiến dịch này đã thu được nhiều kết quả: phá hủy nhiều trung tâm sản xuất chất gây nghiện, phát hiện và bắt giữ nhiều đường dây buôn lậu chất gây nghiện vào nước Mỹ và các nước khác. Tuy nhiên số lượng người Mỹ lạm dụng chất vẫn không giảm. Theo số liệu dịch tễ của Mỹ [Manual ò Therapeuties for Addictions 1997] có 16% dân Mỹ nghiện rượu (28% ở nam, 8% ở nữ), 8% nghiện ma túy (19% nam, 5% ở nữ), 30%-84% những người nghiện sử dụng rượu cùng với các loại chất khác như cần sa, cocaine, các chất dạng thuốc phiện...


Ở Việt Nam, đầu thập kỷ 90 thế kỷ 20, chúng ta đã thành công trong việc triệt phá các cánh đồng trồng cây anh túc (cây thuốc phiện) nhưng ngay lập tức heroin tràn vào nước ta và những người nghiện thuốc phiện trước kia nay chuyển sang nghiện heroin (một loại chất được tinh chế từ thuốc phiện) mạnh hơn và nguy hiểm hơn thuốc phiện. Vì vậy chúng ta phải thùa nhận rằng mọi nỗ lực của chúng ta chỉ mới có thể làm giảm được lượng chất gây nghiện trên thị trường chứ chưa thể loại trừ được hoàn toàn chất gây nghiện (mới giảm được cung chứ chưa loại được cung).

Do vậy chủ trương của nhiều nước trên thế giới là đi đôi với giảm cung cần có các giải pháp giảm cầu hữu hiệu, nghĩa là tác động vào những người có nguy cơ cao và đã nghiện từ bỏ việc sử dụng các chất gây nghiện.


II. YẾU TỐ CÁ NHÂN:

Đa số những người bắt đầu đi vào con đường nghiện ma túy ở nước ta phụ thuộc vào lứa tuổi thanh thiếu niên, lứa tuổi của giai đoạn khủng hoảng trong quá trình phát triển tâm lý và hoàn thiện nhân cách.


Thanh thiếu niên có thể đi vào con đường nghiện ma túy do tính tò mò và mạo hiểm của lứa tuổi, muốn thử trải nghiệm những cảm giác kỳ lạ của chất gây nghiện (do bạn bè kể lại) bất chấp sự ngăn cản của gia đình và xã hội, bất chấp những kiến thức tiếp thu về tác hại của chất gây nghiện qua thông tin truyền thông ở nhà trường, gia đình và xã hội cũng như trên các phương tiện thông tin truyền thông ở nhà trường, gia đình và xã hội cũng như trên các phương tiện thông tin đại chúng, bất chấp những hậu quả nghiêm trọng mà bản thân cũng nhận thấy ở những người nghiện khác.


Một số thanh thiếu niên sử dụng các chất gây nghiện như một phương thức khẳng định mình, tự cho mình đã trưởng thành, được quyền chọn hành vi độc lập tùy thích.


Những thanh thiếu niên có những vấn đề bất mãn với gia đình và cộng đồng có thể sử dụng chất gây nghiện như một phản ứng chống đối.


Cũng có thể thanh thiếu niên tìm đến chất gây nghiện như một phương thức lẩn tránh khỏi tác động của các stressrất đa dạng trong đời sống hiện đại: stress trong gia đình (mâu thuẫn giữa các thế hệ, cha mẹ bất hòa, ly thân, ly hôn, mất người thân gắn bó với họ, bị bạo lực trong gia đình, bị lạm dụng tình dục, bố. mẹ hoặc anh chị em khác lạm dụng các chất gây nghiện...), stress trong môi trường học tập (thi hỏng, bị thi hành kỷ luật,...), stress trong tình yêu, stress trong công việc...


Một số do yếu tố sinh học và di truyền: thường gặp trong rối loạn liên quan tới rượu được phản ánh qua các nghiên cứu mối liên quan giữa con cái và cha mẹ nghiện rượu, sinh đôi cùng trứng và khác trứng, con nuôi...


Thường gặp nhất và nguy hại nhất trong thời đại hiện nay là thanh thiếu niện sử dụng chất gây nghiện do ảnh hưởng hay áp lực của các bạn đã nghiện trong cùng bằng nhóm theo các qui luật "hoặc đồng hóa theo nhóm hoặc bị loại trừ ra khỏi nhóm". Mà đặc điểm tâm lý của lứa tuổi thanh thiếu niên là không muốn và không thể sống lẻ loi ngoài nhóm.


Một số thanh thiếu niên tìm đến các chất gây nghiện do các trạng thái bệnh tâm lý tâm thần nhất thời hay trường diễn. Thường gặp nhất là các trạng thái lo âu, trầm cảm, rối loạn stress sau sang chấn, tâm thần phân liệt, rối loạn cảm xúc lưỡng cực hay nhân cách bệnh lý. Lo âu có thể do thất bại trong cuộc sống, chán nản với hoàn cảnh, không tìm được mô hình lý tưởng để theo... Trầm cảm lúc đầu có thể do các stress gây ra và thanh thiếu niên tưởng nhầm là các chất gây nghiện khác có thể giúp thanh toán được các trạng thái trầm cảm của mình. Và những nhân cách bệnh lý, nhất là nhân cách bệnh chống xã hội, thưởng có khuynh hướng lạm dụng các chất gây nghiện. Và cũng có những người tuy chưa phải là nhân cách bệnh lý nhưng cũng có khuynh hướng lạm dụng chất.


Như vậy thầy thuốc tâm thần có vai trò quan trọng trong chẩn đoán và điều trị nghiện, đặc biệt những thầy thuốc có thể áp dụng được nhiều liệu pháp tâm lý, giúp đối tượng loại trừ ảnh hường của các tác nhân tâm lý đa dạng đã gây ra hay thúc đầy nghiện và/hoặc tái nghiện.


III. YẾU TỐ GIA ĐÌNH VÀ XÃ HỘI:

Gia đình, trường học và địa bàn sinh sống (khu phố, cụm dân cư...) chứa đựng nhiều nhân tố có nguy cơ gây nghiện, duy trì nghiện và tạo điều kiện thuận lợi cho tái nghện ma túy.

Môi trường chính là cầu nối hay chất xúc tác cho sự gặp gỡ giữa con người có khuynh hướng nghiện với các tác nhân gây nghiện.


1. Nguyên nhân môi trường gia đình:

Phần lớn thanh thiếu nhiên nghiện ma túy thuộc về các gia đình lơ là trong nhiệm vụ giáo dục, chăm sóc và quản lý con em của mình. Không ít gia đình chỉ biết con em của mình bị nghiện hoặc phạm pháp sai khi chúng có vấn đề với cơ quan hành pháp.


Những gia đình có con em nghiện ma túy thường là những gia đình hoặc không có thái độ phê phán nghiêm khắc với con em khi chúng bắt đầu sử dụng chất gây nghiện hoặc mất cảnh giác cho chúng nhiều tiền để tự do tiêu xài, đua đòi cùng bạn bè hoặc không kiểm tra xem con em mình có sử dụng tiền đúng mục đích hay không.


Đặc biệt nguy hại là những gia đình do sĩ diện hay do nuông chiều con cái không dám thừa nhận với cộng đồng là chúng đã bị nghiện, không dám đưa chúng đi điều trị ở các cơ sở cai nghiện và chịu áp lực thường xuyên phải cung cấp tiền để chúng mua chất gây nghiện.


Một số gia đình bố. mẹ cũng nghiện chất như nghiện rượu, nghiện thuốc lá... Đa số thanh thiếu niên trước khi nghiện ma túy đã lạm dụng rượu hay thuốc lá một thời gian và tiếp sau đó là nghiện chất bất hợp pháp.


Một số gia đình thiếu kinh nghiệm trong giáo dục con cái như thiếu kiên quyết, quá nóng giận hoặc hay trừng phạy không phù hợp với mức độ và hoàn cảnh, sợ con cái tức giận bỏ đi, sợ tan vỡ gia đình... cũng là nhân tố thúc đẩy.


Như phần trên đã đề cập đến, các stress xuất hiện do nội bộ gia đình có nhiều xung đột thường xuyên cũng là nhân tố thúc đẩy con em mình đi vào con đường nghiện chất, được chúng xem như là một phương thức để thoát khỏi bầu không khí căng thẳng, nặng nề phải chịu đựng hằng ngày.


Như vậy trong quá trình điều trị, việc thầy thuốc thiết lập được mối quan hệ mật thiết và thường xuyên với gia đình và người bệnh có tầm quan trọng đặc biệt trong khâu phát hiện và khắc phục nguyên nhân. Nếu tiến hành được liệu pháp đình hệ thống thì kết quả chống nghiện và chống tái nghiện sẽ cao hơn và bệnh vững hơn.


2. Nguyên nhân môi trường xã hội:

Hiện nay có thể nói, chúng ta đang phải sống trong một môi trường xã hội bị ô nhiễm chất gây nghiện: các ổ nhóm và tuh điểm tiêm chích chất gây nghiện vẫn con tồn tại ở nhiều nơi, người nghiện vẫn có thể tìm mua chất gây nghiện tương đối dễ dàng.


Tình trạng này có nhiều nguyên nhân. Cơ chế thị trường và sự tăng trưởng kinh tế nhanh đã kéo theo nhiều biến đổi xã hội cả tích cực lẫn tiêu cực. Sự phân hóa giàu nghèo đang diễn ra, tốc độ đô thị hóa cũng gia tăng nhanh chóng. Trình độ nhận thức của một bộ phận xã hội không theo kịp sự phát triển kinh tế, sự thay đổi của xã hội làm không ít người, không ít gia đình đã bị mất phương hướng, lâm vào khủng hoảng bởi mất cân bằng nội môi.


Mặt khác, các chuẩn mực đạo đức xã hội cũng ít nhiều bị biến đổi, xói mòn. Một nguyên nhân xã hội nữa là việc tôn trọng và thực thi pháp luật chưa được nghiêm túc. Bọn tội phạm liên quan tới chất gây nghiện không ngừng tấn công vào các tầng lớp thanh thiếu niên, nhưng ở nhiều nơi chính quyền và các cơ quan chức năng chưa huy động được sức mạnh toàn dân trong cuộ chiến chống chất gây nghiện.


Hiện nay môi trường học đường từ tiểu học đến đại học đã và đang bị ma túy xâm nhập. Sức ép trong học tập cũng được coi như những stress quá lớn đối với một bộ phận học sinh không theo kịp, làm chúng chán nản và bỏ học và đi đến nghiện chất và các loại tệ nạn khác.


Những nguyên nhân xã hội nêu trên đã làm cho đội ngũ những người nghiện chất ngày càng đông hơn và trẻ hơn.


B. ĐẶC TÍNH CỦA NGHIỆN MA TÚY:

I. NGHIỆN MA TÚY LÀ MỘT BỆNH NGUYÊN PHÁT:

Trước hết các rối loạn liên quan đến lạm dụng ma túy được phân loại vào mục F11 phần các rối loạn tâm thần của bảng phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 của Tổ chức Y tế thế giới (1992) và trong sách thống kê chuẩn đoán các rối loạn tâm thần của hội Tâm thần học Mỹ (1994).


Nghiện ma túy không phải là một bệnh thứ phát sau một bệnh cơ thể hay tâm thần mà là một bệnh nguyên phát do chất gây nghiện gây ra, có 3 nguyên nhân (có chất gây nghiện, con người và môi trường).


Đã là bệnh thì trước tiên cần phải được điều trị. Có điều trị khỏi thì các vấn đề khác mới được cải thiện (sức khỏe, việc làm, quan hệ xã hội...).


II. NGHIỆN MA TÚY LÀ MỘT BỆNH MÃN TÍNH:

Nghiện ma túy không thể chữa khỏi nhanh chóng được. Môi trường xung quanh còn có khả năng cung cấp chất gây nghiện thì đối tượng còn có nguy cơ tái nghiện và bệnh còn kéo dài (mạn tính). Chỉ khi nào liệu pháp sinh học làm cho hết thèm nhớ và liệu pháp tâm lý phát huy tác dụng, đối tượng rèn luyện có kết quả, có đầy đủ quyết tâm và nghị lực từ bỏ chất gây nghiện suốt đời thì bênh mới có thể xem như khỏi hẳn.


III. NGHIỆN MA TÚY LÀ MỘT BỆNH TIẾN TRIỂN

Nghiện ma túy càng để lâu không điều trị thì bệnh tiến triển ngày càng xấu hơn do lượng chất gây nghiện vào cơ thể ngày càng cao gây nghiễm độc mạn tính, gây rối loạn hoạt động chức năng của não, gây rối loạn hành vi, gây suy kiệt cơ thể, mắc các bệnh khác...


IV. NGHIỆN MA TÚY LÀ MỘT BỆNH CÓ THỂ GÂY CHẾT NGƯỜI

Nếu không được điều trị, nghiện ma túy có thể gây tử vong không phải chỉ do tác động của chất gây nghiện vào các cơ quan nội tạng mà còn do những rối loạn tâm thần và hành vi do chất gây nghiện gây ra như tai nạn giao thông, lao động, do hoang tưởng ảo giác chi phối, tự sát, lây nhiễm các bệnh qua đường tiêm chích hoặc quan hệ tình dục không an toàn (HIV, viêm gan B, C, nhiễm trùng máu, tim, phổi...).


V. NGHIỆN MA TÚY LÀ MỘT BỆNH CÓ THỂ CHỮA ĐƯỢC:

Nghiện ma túy là một bệnh khó chữa khỏi nhưng vẫn có thể chữa khỏi nếu có chiến lược điều trị thích hợp, đem lại lòng tin cho đối tượng, đưa dần đối tượng đến chỗ quyết tâm sửa chữa (không dùng chất gây nghiện nữa). Ngoài ra nếu có sự động viên giúp đỡ của gia đình và cộng đồng về các mặt (tài chính, việc làm, không kỳ thị...) thì điều trị có kết quả nhiều hơn.


VI. NGHIỆN MA TÚY KHÓ ĐIỀU TRỊ DO TÂM LÝ TỪ CHỐI CHỮA BỆNH CỦA ĐỐI TƯỢNG:

Từ chối chữa bệnh là một đặc điểm tâm lý rất phổ biến của những đối tượng nghiện ma túy. Có nhiều lý do:

  • - Trước hết đối tượng không muốn và không thể từ bỏ cảm giác sảng khoái do chất gây nghiện đem lại.

  • - Đối tượng nghiện không chịu đựng nổi những phản ứng của gia đình và cộng đồng, những khó khăn của cuộc sống, tìm cách ngày càng lẩn trốn vào chất gây nghiện, không muốn và không dám điều trị để trở lại thực tại mà đối tượng không thích nghi được nữa.

  • - Nếu đối tượng cảm nhận được sự dung túng của người thân thì càng từ chối mạnh hơn và dai dẳng hơn.

  • - Chính sự từ chối chữa bệnh của đối tượng (và sự dung túng của người thân trong một số trường hợp) đã hình thành và duy trì phương thức điều trị bắt buộc ở nhiều nước trên thế giới hiện nay.


VII. NGHIỆN MA TÚY TIẾN TRIỂN XẤU DO HÀNH VI DUNG TÚNG CỦA NGƯỜI THÂN:

Người thân ở đây bao gồm các thành viên trong gia đình, bạn bè thân cận và bạn đồng nghiệp của đối tượng nghiện.

Hành vi dung túng là những hành vi giúp cho người nghiện tiếp tục sử dụng chất gây nghiện mà không bị phê phán, lên án hoặc tránh bị rắc rối (phạt) bởi cơ quan hành pháp.

Hành vi dung túng rất đa dạng, bao gồm sử dụng nhiều loại như:

- Gia đình bảo lãnh cho con em mình khỏi phải đi điều trị bắt buộc, khỏi bị truy tố về những hành vi phạm pháp.

- Gia đình không theo dõi, kiểm tra những hành vi có liên quan đến sử dụng ma túy của con em mình, không nghiêm khắc phát hiện và đối chất với những lời nói dối của con em mình, vẫn cung cấp nhiều tiền cho chúng tiêu xài.

- Bạn đồng nghiệp che dấu hành vi sử dụng chất gây nghiện của đối tượng ở công sở.

- Bạn thân làm chứng giả cho những lời nói dối của đối tượng.


Như vậy, ta thấy rõ một nhiệm vụ quan trọng của liệu pháp gia đình là phát hiện và giúp sửa chữa những hành vi dung túng của các thành viên trong gia đình có người nghiện ma túy.


C. NGHIỆN MA TÚY KÈM THEO CÁC RỐI LOẠN TÂM THẦN:

Theo DSM IV, ở Mỹ (1991) có 76% nam, 65% nữ được chẩn đoán lạm dụng hoặc nghiện ma túy có thêm một chẩn đoán rối loạn tâm thần.


Các rối loạn tâm thần khác thường kết hợp với lạm dụng ma túy là: nhân cách bệnh chống xã hội, lo sợ ám ảnh và các rối loạn lo âu khác, trầm cảm nội sinh và tâm sinh.


Tính chất đồng bệnh lý tâm thần và lạm dụng ma túy thường gặp ở lạm dụng chát dạng thuốc phiện, cocain và marijuana.


90% người nghiện ma túy dạng thuốc phiện có thêm một chẩn đoán rối loạn tâm thần: 1/3-1/2 những người nghiện hoặc lạm dụng ma túy dạng thuốc phiện có kèm theo trầm cảm.


40% những người lạm dụng hoạc nghiện rượu có đủ tiêu chuẩn chuẩn đoán rối loạn trầm cảm điển hình vào một thời điểm trong cuộc sống của họ.


25-50% rối loạn liên quan tới rượu có đủ tiêu chuẩn chuẩn đoán rối loạn lo âu (thường gặp rối loạn lo sợ và hoảng sợ).


Có một tỉ lệ rất cao các bệnh nhân tâm thần hút thuốc lá: 50% bệnh nhân tâm thần ngoại trú, 70% bệnh nhân rối loạn cảm xúc lưỡng cực I ngoại trú, 90% bệnh nhân tâm thần phân liệt ngoại trú. Gần 1/2 doanh số bán thuốc lá hàng năm ở Mỹ (256 triệu USD/ năm) do bệnh nhân tâm thần tiêu thụ.


Lạm dụng ma túy cũng là một nhân tố thúc đẩy tự sát. Nguy cơ tự sát ở người lạm dụng ma túy cao hơn gần 20 lần so với dân số chung. Khoảng 15% người lạm dụng hoặc nghiện rượu nói họ đã toan tự sát (thường do thiếu trợ giúp tâm lý xã hội, bị các bệnh cơ thể, không có việc làm, sống độc thân). Tỉ lệ tự sát ở người lạm dụng hoặc nghiện chất đứng thứ hai sau tỉ lệ tự sát ở bệnh nhân trầm cảm.

NGHIỆN RƯỢU

NGHIỆN RƯỢU

I. KHÁI NIỆM:

Buồn cũng uống, vui cũng uống – thành công cũng uống, thất bại cũng uống; đám cưới cũng uống, đám ma cũng uống – sáng uống, trưa uống, chiều uống, tối uống. Người nghèo uống rượu đế, nhâm nhi vài con sò, con ốc, trái cóc, trái xoài, người giàu uống rượu tây trong các nhà hàng sang trọng. Thanh niên uống la hét, người già uống nhâm nhi, ngẫm nghĩ sự đời. Chưa có một chất gây nghiện đặc biệt nào được sử dụng nhiều như rượu ở nước ta.

 

Rượu là một loại ma túy hợp pháp, sử dụng đặc biệt rất nhiều ở các vùng núi, vùng sâu, vùng xa và đặc biệt là trong các nghi lễ văn hóa, trong ma chay, cưới hỏi, giỗ tết…. Đa số rượu được sản xuất thủ công từ bột gạo, bột nếp đến vỏ cây, bã mía, củ sắn, lá rừng… Hầu như mọi nhà đều biết cách làm rượu. Chính phủ lại không kiểm soát được việc sản xuất rượu vì chưa có chính sách quốc gia phòng chống lạm dụng rượu, người dân chưa thấy hết tác hại của việc lạm dụng rượu và một phần do rào cản văn hóa, phong tục – tập quán, thiếu hiểu biết nên thậm chí nhiều người có trách nhiệm phòng chống ma túy, vạch định chính sách cũng lạm dụng rượu.

 

Lạm dụng rượu lâu ngày đưa đến chứng nghiện rượu, để lại nhiều tác hại cho cá nhân, gia đình và xã hội:

- Về cơ thể: rượu gây tổn thương hệ thống thần kinh, gây bệnh tim mạch, viêm loét dạ dày, gây suy gan dẫn đến xơ gan và thậm chí dẫn đến ung thư gan và tổn thương nhiều bộ phận khác trong cơ thể.

- Về mặt tâm thần: do phụ thuộc rượu, người nghiện rượu bị tổn thương hệ thống thần kinh não bộ, rối loạn nhận thức, hành vi, nhân cách, mất trí và phát sinh nhiều bệnh tâm thần. Thiếu rượu người nghiện bị hội chứng cai đôi khi rất nặng dẫn đến tình trạng sảng rượu, hôn mê.

 

Ngoài ra do sử dụng rượu người nghiện rượu bị mất khả năng lao động về trí tuệ cũng như thể chất.

 

II. NGUYÊN NHÂN NGHIỆN RƯỢU:

 

1. Nhiều người tin rằng rượu là một chất bổ dưỡng:

Nhất là khi dùng rượu ngâm với các loại thảo dược, bộ phận động vật để tăng cường năng lực, bổ thận, tráng dương. Chính phủ lại chưa có chính sách quốc gia, chưa kiểm soát được nguồn cung cũng như quản lý nhu cầu về rượu. Thậm chí nhiều quảng cáo rượu còn được phổ biến trên nhiều phương tiện truyền thông đại chúng. Nhiều loại rượu được ngâm với các loại lá cây, bộ phận động vật mà chưa xác định được độc tính.

 

2. Môi trường văn hóa – tâm lý – xã hội:

Nhiều quan niệm phải sử dụng rượu trong việc hiếu hỉ, khen thưởng, thi đua, thậm chí chiêu đãi tại các hội nghị, khánh thành cơ sở… Việc uống rượu trở nên quá bình thường trong tập quán dân gian, lễ hội, trong quan hệ hàng ngày, thậm chí còn có quan điểm uống rượu là củng cố tình bằng hữu. Số người bị stress, thất bại trong cuộc sống hoặc có lắm nỗi buồn cũng uống rượu tiêu sầu. Đa số các buổi họp mặt, liên hoan phải có rượu, uống "không say – không về"…

 

3. Di truyền và sinh học:

+ Trẻ có cha mẹ nghiện rượu có nguy cơ nghiện rượu cao hơn con những người không nghiện rượu.

+ Tiền sử những gia đình nghiện rượu, con cái họ có nguy cơ nghiện rượu nhiều hơn những gia đình không có người nghiện rượu.

 

4. Tính chất sinh lý:

Người có tư tưởng hay chống đối xã hội, rối loạn cảm xúc, rối loạn lo âu, trầm cảm, thiếu sự trợ giúp tâm lý – xã hội, thất bại trong cuộc sống, mất việc làm, buồn chán việc riêng, hoàn cảnh công việc, nhân cách cá nhân yếu có nguy cơ bị nghiện rượu.

 

III. DỊCH TỄ HỌC:

 

Ở nước ta các bệnh lý tâm thần do nghiện rượu chưa nhiều bằng một số các nước khác, các công trình nghiên cứu về nghiện rượu cũng rất ít. Khoảng hơn 20 năm gần đây do có một số trường hợp loạn thần do nghiện rượu phải vào điều trị tại các cơ sở điều trị tâm thần nên chúng ta mới bắt đầu nghiên cứu. Kết quả theo dõi sau đó cho thấy bệnh lý do nghiện rượu tăng một tỷ lệ đáng quan tâm. Theo PGT- Tiến sĩ Trần Viết Nghị, bệnh lý tâm thần do nghiện rượu, năm 1990 chiếm 0,31% bệnh nhân nằm viện. Năm 1994 tăng lên 6,99% gấp 22 lần. Theo một số tại địa phương tỷ lệ nghiện rượu tăng khoảng 2% mỗi năm trên tổng số bệnh nhân bị tâm thần nhập viện.

 

Ở Pháp bệnh lý tâm thần do nghiện rượu chiếm 22%; loạn thần do nghiện rượu chiếm 20% (TS Tancuchiev 1988).

 

Tại Nam Tư số bệnh nhân nằm bệnh viện tâm thần là 23,1% (D. Heroitic 1991).

 

Ở Mỹ 10% nữ, 20% nam lạm dụng rượu: 3% – 5% nữ, 10% nam chẩn đoán nghiện rượu. Khoảng 200.000 người tử vong hàng năm liên quan trực tiếp đến lạm dụng rượu. (DSM III R).

  IV. TÁC DỤNG DƯỢC LÝ CỦA RƯỢU:  

Rượu là một loại ma túy thiên nhiên hợp pháp. Rượu tác động vào hệ thần kinh trung ương. Hội chứng cai rượu phụ thuộc vào tâm thần và cả cơ thể.

 

1. HẤP THU:

 

Công thức hóa học của rượu là Ethanol là : CH3 – CH2 – OH. Rượu được sử dụng với nồng độ rượu khác nhau, tên gọi khác nhau và có hương vị khác nhau… Sau khi uống, khoảng 10%  – 20% rượu được hấp thu tại dạ dày, phần còn lại hấp thu tại ruột non. Rượu hấp thu nhanh khi bụng đói và hấp thu chậm khi bụng no. Nồng độ rươu hấp thu trong máu cao nhất thông thường từ 40 đến 60 phút sau khi uống. Để bảo vệ chống tăng nồng độ rượu cơ thể có cơ chế tự điều chỉnh. Khi nồng độ rượu quá cao trong dạ dày, dạ dày sẽ tiết dịch nhày làm giảm sự hấp thu rượu và đóng van môn vị lại gây hiện tượng nôn ói, hạn chế lượng rượu xuống ruột non, ngăn cản bớt sự hấp thu rượu, nên giảm lượng rượu hấp thu vào máu. Thức ăn chất đạm và chất béo làm chậm sự hấp thu rượu, trái lại nước uống làm tăng sự hấp thu rượu. Rượu vào máu và được phân bổ toàn cơ thể. Rượu hòa tan trong nước nên ở tất cả các mô, do đó gây nguy cơ nhiễm độc cao.

 

2. CHUYỂN HÓA:

 

Khoảng 90% rượu được hấp thu, chuyển hóa ở gan, 10% bài tiết ở thận qua nước tiểu và và qua hơi thở ở phổi.

Tại gan rượu bị oxy hóa khoảng 15mg/dl/giờ. Ở người uống rượu thường xuyên hiện tượng chuyển hóa nhanh hơn. Rượu được chuyển hóa nhờ enzym là Alcohol Dehydrogenase (ADH) biến đổi rượu thành acetaldehyde là một chất độc hại. Acetaldehyde được Enzym Aldehyde Dehydrogenase xúc tác chuyển đổi thành Acid Acetic. Ở phụ nữ lượng ADH thấp hơn nam giới nên dễ bị nhiễm độc hơn.

  V. TÁC HẠI CỦA RƯỢU TRÊN CƠ THỂ:  

1. TÁC ĐỘNG CỦA RƯỢU TRÊN HỆ THỐNG NÃO BỘ:

 

- Khác với nhiều người lầm tưởng, rượu không phải là chất kích thích mà là một chất làm suy giảm cả hai quá trình hưng phấn và ức chế của hệ thần kinh trung ương. Tuy nhiên do rượu làm sự ức chế giảm mạnh trong lúc sự hưng phấn giảm ít hơn nên gây ra quá trình hưng phấn giả tạo. Vì vậy người nghiện rượu cảm thấy giảm lo âu, hăng hái, nói nhiều, hoạt động nhiều nhưng thiếu chính xác, lời nói không được kiềm chế, xuồng xã hay khoe khoang, tự cao tự đại hoặc xúc phạm người khác. Khi nồng độ rượu trong máu trên 0.3% sẽ bị rối loạn tư duy, tri giác, vận động, khi nồng độ rượu từ 0.4% đến 0,5% cả hai quá trình hưng phấn và ức chế bị suy giảm, người uống rượu có thể dẫn đến hôn mê. Khi nồng độ rượu đến 0,6 đến 0,7% người uống rượu có thể bị tử vong.

 

- Người uống rượu bị rối loạn cảm xúc, rối loạn lo âu, có tư tưởng chống đối cũng như tư tưởng tự sát, có thể bị liệt mềm mất trí. Gần 40% số người nghiện rượu bị trầm cảm.

 

2. TÁC ĐỘNG CỦA RƯỢU TRÊN HỆ TIM MẠCH – HÔ HẤP:

 
  • - Tăng huyết áp, mạch nhanh.

  • - Bệnh cơ tim trên người nghiện nặng.

  • - Thở nhanh, nông, hồi hộp

  • - Chán ăn, phù, dễ dẫn đến hội chứng suy tim.

 

3. TÁC ĐỘNG CỦA RƯỢU TRÊN HỆ TIÊU HÓA:

 
  • - Rượu gây kích thích, viêm niêm mạc dạ dày, viêm teo dạ dày, loét dạ dày và xuất huyết dạ dày, viêm loét hành tá tràng.

  • - Hiện tượng trào ngược thực quản do viêm cơ vòng thượng vị. Người nghiện cảm thấy nóng rát sau xương ức, cảm giác nôn, có thể gây ói. Trường hợp nặng có thể thủng bao tử ở vùng co thắt.

  • - Nếu bệnh nhân bị ngộ độc gan gây tăng áp lực tĩnh mạch sẽ bị giãn tĩnh mạch thực quản đôi khi gây vỡ tĩnh mạch thực quản gây chảy máu và có thể dẫn đến tử vong.

  • - Hấp thu kém, tiêu chảy thường gặp ở người nghiện rượu do rối loạn co bóp của dạ dày, bào mòn dịch nhày, rối loạn vận chuyển các vitamine và ion.

 

4. TÁC ĐỘNG CỦA RƯỢU TRÊN GAN:

 

Một lượng lớn rượu được chuyển hóa tại gan, do đó gan bị suy yếu, ngộ độc dẫn đến gan dễ bị nhiễm mỡ, có thể gây xơ gan do rượu. Viêm gan do rượu, người nghiện có hiện tượng vàng da, vàng mắt, chán ăn, đau hạ sườn phải và rối loạn tiêu hóa. Người nghiện rượu lâu năm bị xơ gan có dấu hiệu thường gặp là sút cân, mệt mỏi, chán ăn. Trường hợp nặng người nghiện rượu bị vàng da, lách to, cổ chướng, gan to hoặc teo nhỏ, teo tinh hoàn, phù…., chứng vú to. Xét nghiệm cho thấy Albumine máu giảm, Globuline máu tăng, men gan có thể tăng hoặc giảm.

 

5. TÁC ĐỘNG CỦA RƯỢU TRÊN TUYẾN YÊN:

 

Gây rối loạn tăng trưởng, rối loạn kinh nguyệt, rối loạn chuyển hóa iron, nước, muối khoáng.

 

6. TÁC ĐỘNG CỦA RƯỢU TRÊN TUYẾN TỤY:

 

Còn có thể viêm tụy mãn, đau bụng và nôn nhiều. Trường hợp tế bào đảo tụy do viêm mãn tính người nghiện có thể bị tiểu đường hoặc tăng đường huyết.

 

7. CÁC BIỂU HIỆN VỀ DINH DƯỠNG:

 
  • - Rượu cản trở sự hấp thu, chuyển hóa các chất dinh dưỡng

  • - Người nghiện rượu bị giảm acid folic gây thiếu máu.

  • - Giảm vitamine B1, vitamine B6, các ion, nhất là ion kẽm.

  • - Thiếu các vitamine hòa tan trong mỡ như vitamine A, vitamine D, vitamine H…

  • - Giảm đường máu gây run, co giật, mệt mỏi

  • - Viêm đây thần kinh ngoại vi gây liệt mềm, mất trí.

 

8. PHỤ NỮ NGHIỆN RƯỢU Có thể sinh non, trẻ nhẹ cân, dị dạng.

 

9. TĂNG NGUY CƠ GÂY UNG THƯ Vòm hầu, họng, thanh quản, thực quản và gan.

  VI. NHIỄM ĐỘC RƯỢU:  

Nhiễm độc rượu còn được gọi là say rượu, có 2 loại nhiễm độc rượu:

- Nhiễm độc (say rượu) thông thường

- Nhiễm độc (say rượu) bệnh lý

 

1. SAY RƯỢU THÔNG THƯỜNG:

 

Say rượu thông thường còn gọi là say rượu cấp ở những người lạm dụng rượu uống quá ngưỡng, dẫn đến những thay đổi hành vi, cảm xúc kèm theo trạng thái rối loạn ý thức.

Tùy theo lượng rượu uống, lượng hấp thu rượu, thời gian uống kéo dài bao lâu, uống lúc no hay đói và khả năng dung nạp của từng cá thể. Tình trạng say rượu có thể được biểu hiện ở 3 mức độ:

 

1.1 SAY RƯỢU MỨC ĐỘ NHẸ:

- Người say rượu nhẹ có tư duy chậm chạp, kém nhạy bén, thiếu chính xác vận động, giảm khéo léo, giảm nhiều kỹ năng lao động.Tình trạng hưng phấn tùy thuộc vào lượng rượu uống, khí sắc tăng nhẹ, cảm giác hưng phấn quá mức, khoái cảm thô lỗ, nói năng đùa cợt không phù hợp. Người say rượu thường cường điệu hóa vụ việc, ưa khoe khoang về mình, ưa công kích người khác. Ngoài ra người say rượu ưa chấp nhặt, hay gây sự, kiếm chuyện làm tăng khả năng xung đột với người xung quanh.

- Say rượu nhẹ có thể giải tỏa bản năng tình dục dễ dẫn đến hành vi thô bạo với người khác giới.

 

1.2 SAY RƯỢU TRUNG BÌNH:

- Liên tưởng hỗn độn, không kiềm chế được cảm xúc, dễ tức giận, nổi nóng dù những nguyên do không đáng kể.

- Người say rượu mức trung bình thường mất tế nhị, mất lịch sự có những hành vi thô bạo, nói to, ồn ào, ưa la hét, khó thực hiện các động tác đòi hỏi khéo léo, đi đứng xiêu vẹo.

 

1.3 SAY RƯỢU NẶNG:

- Thường biểu hiện nôn nhiều, vã mồ hôi, rối loạn thực vật, tăng tiết nước bọt, đái ra quần, ngã vật, nếu lượng rượu uống nhiều có thể dẫn đến hôn mê, mạch nhanh, thở nông, hạ huyết áp có thể dẫn đến tử vong.

  *Xử trí:  

- Các trường hợp ngộ độc rượu cấp thể nhẹ sau giai đoạn ngủ sâu, tự hồi phục.

- Trong những trường hợp ngộ độc cấp nặng (say rượu nặng) có các biểu hiện như:

  • + Hôn mê

  • + Suy hô hấp nặng

  • + Mạch nhanh, tụt huyết áp, hạ đường huyết.

Phải thực hiện, phác đồ cấp cứu ở các trung tâm cấp cứu gần nhất.

  • + Nếu đến sớm nên rửa dạ dày.

  • + Có suy hô hấp: đặt nội khí quản, thở oxy qua máy.

  • + Nếu hạ đường huyết, tụt huyết áp: truyền glucose 20 – 30%

  • + Nên có toan chuyển hóa truyền Natribicarbonate 1,4%

  • + Nếu bệnh nhân ngộ độc rượu cấp (say rượu nặng) có hiện tượng tăng Creatimin máu, tăng K+ máu dẫn đến  suy thận cấp, phải truyền dịch từ 400ml – 5000 ml ngày, cho lợi tiểu Lasix để duy trì lượng nước tiểu 3000 ml/24 giờ.

  • + Có chế độ theo dõi cấp cứu chăm sóc toàn diện, thích hợp.

 

2. SAY RƯỢU BỆNH LÝ:

 

2.1 KHÁI NIỆM:

 

- Say rượu bệnh lý là một trạng thái ngộ độc rượu cấp rất đặc biệt, hiếm gặp, có thể xảy ra ở những người uống lượng rượu không lớn.

– Theo Corsacop X.X và Xerbski V.P say rượu bệnh lý là tình trạng loạn thần cấp, diễn ra trong một thời gian ngắn, nhất thời với những triệu chứng bệnh lý rối loạn ý thức sâu sắc kiểu mù mờ, kèm theo những trạng thái căng thẳng cảm xúc do hoang tưởng và ảo giác.

 

2.2 ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG CỦA SAY RƯỢU BỆNH LÝ:

 

- Rượu chỉ là một tác nhân dẫn đến say rượu bệnh lý trong số nhiều yếu tố khác cần được kể đến như: Sự mệt nhọc, lo âu, sợ sệt, căng thẳng, thiếu ngủ, đói ăn, suy kiệt, nóng quá mức, khác quá mức, bệnh nhiễm trùng.

- Say rượu bệnh lý phát sinh sau uống rượu không phụ thuộc vào số lượng và loại rượu uống.

- Khởi phát có thể nhanh từ vài phút đến một giờ (ít khi xuất hiện muộn sau nhiều giờ).

- Khác với say rượu thông thường, người say rượu bệnh lý bị ngay những rối loạn ý thức trầm trọng, mất định hướng, không duy trì được sự tiếp xúc với người xung quanh.

- Trong say rượu bệnh lý phối hợp vận động vẫn còn tốt, người say rượu bệnh lý vẫn duy trì được thăng bằng, khả năng di chuyển.

- Trạng thái say rượu bệnh lý thường kéo dài khoảng một giờ đôi khi vài giờ kết thúc bằng giấc ngủ sâu.

- Thường phát sinh cảm xúc bất an, lo âu, hoảng sợ, đạt tới mức khủng khiếp; cảm xúc không thoải mái về quá khứ.

- Các nét đặc trưng khác với say rượu đơn thuần, lượng rượu uống vào ít hay rất ít. Thường gặp ở những người có trạng thái phụ thuộc vào rượu rõ rệt. Những người có nhân cách yếu.

- Cơn xảy ra đột ngột, bất ngờ với nhiều rối loạn hành vi, và có rối loạn ý thức (thường lú lẫn).

 

 3. LẠM DỤNG RƯỢU (ALCOHOL ABUSE)

 

- Một người uống rượu chưa hẳn đã nghiện, nhưng vẫn có thể làm hại đến sức khỏe của họ.

- Nhận thức được ý nghĩa này, mục đích để nhằm ngăn chặn sớm tác hại của rượu, nâng cao cảnh giác cho mọi người hiểu rằng nhiều khi vì thói quen, tuân thủ tập tục, dễ dàng biện hộ cho những hành vi mang tính chất lễ nghi quên mất rằng mình “lạm dụng rượu” trong giao tiếp, hội hè, ăn nhậu sẽ bị tác hại rất nhiều đến sức khỏe.

 

4. NGHIỆN RƯỢU MÃN TÍNH:

 

- Nghiện rượu mãn tính xảy ra khi dùng rượu dài ngày, dần dần thường xuyên phải tìm rươu, uống rượu. Tuy nhiên không phải mọi trường hợp uống rượu thường xuyên đều có thể coi là nghiện rượu mãn tính.

- Nghiện rượu mãn tính là một bệnh lý mà đối tượng sử dụng rượu bị lệ thuộc vào thể chất và tâm thần. Người nghiện rượu bị các triệu chứng sau:

  • + Hội chứng nghiện.

  • + Hội chứng cai rượu.

  • + Sự thay đổi khả năng dung nạp rượu.

  • + Rối loạn tâm thần.

  • + Biến đổi nhân cách.