THỜI GIAN LÀM VIỆC 24/24
 

HOTLINE : (028) 6270 0119 - (028) 2215 4274
0982 120 908 - 090 371 5529 - 0933 161 985
Cơ sở 1: 245 Bình Quới (1051 Xô Viết Nghệ Tỉnh - số cũ) - P.28 - Q.Bình Thạnh - Tp.HCM
Cơ sở 2: 978 Nguyễn Duy Trinh - P. Phú Hữu - Q.9 - Tp.HCM

TRUNG TÂM ĐIỀU DƯỠNG VÀ CAI NGHIỆN MA TÚY THANH ĐA 
Địa chỉ : 1051 Bình Quới (Xô Viết Nghệ Tĩnh) - P.28 - Q.Bình Thạnh - Tp.HCM
Điện thoại: (028).38986513 - 38986515(Ext:12) - (028).22154274 - MST: 0301910027

 

Nguyên Bí thư Trung ương Đảng Trần Quốc Hương:

Tư tưởng Hồ Chí Minh

về độc lập và hòa bình

xuyên suốt cuộc hành trình

giải phóng dân tộc

 

Đồng chí Trần Quốc Hương 
Ảnh: N.K.Đ(CATP) 


Đồng chí Trần Quốc Hương, tên thường gọi là Mười Hương, nguyên Bí thư Trung ương Đảng, nguyên Trưởng ban An ninh T4 thời kỳ 1972 - 1975, một trong những cán bộ có quá trình hoạt động lâu dài và đóng góp to lớn cho sự nghiệp giải phóng dân tộc. Ông đã được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Sao Vàng, phần thưởng cao quý nhất của nước ta. Đồng chí Trần Quốc Hương đã từng làm việc bên cạnh Chủ tịch Hồ Chí Minh, Tổng Bí thư Trường Chinh, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh... Ông là nhà lãnh đạo của ngành tình báo cách mạng, là người chỉ huy của nhiều cán bộ tình báo huyền thoại như Phạm Ngọc Thảo, Phạm Xuân Ẩn, Vũ Ngọc Nhạ...

Gần đến ngày kỷ niệm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30-4-1975 - 30-4-2007), tôi được đồng chí Mười Hương cho gọi đến để tâm sự về một vấn đề mà theo ông là “cần phải nói cho rõ hơn” tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập và hòa bình trong quá trình cách mạng giải phóng dân tộc đã được thực hiện trọn vẹn như thế nào.

Mặc dù ở tuổi 83 (ông sinh năm 1924) và đi lại, nói năng có khó khăn sau một cơn bạo bệnh, nhưng đồng chí Trần Quốc Hương vẫn rất minh mẫn và điềm tĩnh. Ông nói chậm rãi, mạch lạc, lời lẽ bình dị, dân dã nhưng rất chuẩn xác. Khi nhắc đến Bác Hồ, đồng chí Trần Quốc Hương không cầm được lòng mình và bật khóc. Ông nói với tôi: - Tư tưởng của Bác rất nhân văn, cậu ạ!Đồng chí Mười Hương kể lại, trong một lần ra Hà Nội, ông có gặp các đồng chí Hoàng Tùng, nguyên Bí thư Trung ương Đảng, Đinh Thế Huynh, hiện là Tổng biên tập Báo Nhân dân. Ý của các đồng chí đó là nhân dịp kỷ niệm ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, cần có một bài viết về cái cách kết thúc “đẹp” cuộc chiến tranh thắng lợi vĩ đại của dân tộc Việt Nam. Thắng lợi ấy đã đạt được nguyện ước và trọn vẹn như tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc và hòa bình.Theo đồng chí Mười Hương, sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, đồng chí được Đảng phân công làm Phó bí thư thường trực Thành ủy thành phố Hồ Chí Minh. Trong một lần tiếp một phái đoàn của Đảng Cộng sản Liên Xô do một Phó ban Tổ chức Trung ương Đảng làm trưởng đoàn tại nhà khách Thành ủy lúc đó ở 74 đường Điện Biên Phủ, đồng chí Mười Hương được bạn hỏi:- Tại sao Việt Nam lại kết thúc cuộc chiến tranh nhanh, gọn, trọn vẹn như thế? Người bạn Liên Xô còn nói thêm: - Từ cổ chí kim, khi chiến tranh kết thúc ở nơi nào thường thì ở nơi đó tan nát cả. Tại Berlin, khi Hồng quân Liên Xô tấn công trận cuối cùng, chỉ còn ba tên lính phát xít Đức đánh lại và thành phố này đã đổ nát trong những ngày kết thúc cuộc chiến tranh thế giới lần thứ II. Còn ở miền Nam Việt Nam, đặc biệt là tại Sài Gòn, các đồng chí cho biết là còn khoảng nửa triệu quân đội chế độ cũ, các binh chủng, vũ khí còn nguyên mà tại sao chúng không kháng cự gì? Tôi đã được các đồng chí Việt Nam cho đi thăm Sài Gòn thì tôi rất ngạc nhiên là thành phố hầu như còn nguyên vẹn...

 

Bức ảnh nhỏ của Nick Út (hãng tin AP) chụp em Kim Phúc bị phỏng bom Napalm của Mỹ trên quốc lộ (Trảng Bàng - Tây Ninh) ngày 8-6-1972 đoạt giải Pulitzer. Bức ảnh lớn cũng do ông chụp Kim Phúc trước khi bị phỏng vài giây (ít được công bố) - NGỌC THIỆN sưu tầm.

Đồng chí Mười Hương kể lại: - Lúc đó tôi chợt tỉnh ra là thắng lợi của chúng ta là vĩ đại thật. Bạn có cái nhìn từ bên ngoài, khách quan, nhưng lại chưa hiểu rõ nguyên nhân thắng lợi vĩ đại của ta. Tôi nghĩ ngay đến nguyên tắc chỉ đạo cuộc kháng chiến của Bác Hồ mà Bác đã từng thể hiện trong một bài thơ chúc Tết năm 1968: “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào / Bắc Nam sum họp xuân nào vui hơn”. Đường lối kháng chiến của ta mà Bác Hồ đã chỉ đạo là chiến tranh nhân dân, với phương châm “hai chân, ba mũi”. Bạn hỏi “hai chân, ba mũi là gì?”. Tôi trả lời, “hai chân” là chính trị và quân sự, quân sự luôn phục tùng sự chỉ đạo của chính trị. Còn ba mũi là chính trị, quân sự và binh vận. Thắng lợi của ta là thắng lợi của tổng hợp các thế mạnh của dân tộc và thời đại. Bạn nghe tôi nói như vậy rồi nhận xét: Hồ Chí Minh thật tuyệt vời!Nhắc đến Bác Hồ, đồng chí Mười Hương lại bật khóc. Ngừng một lát, ông nói tiếp: - Một trong những nỗi đau của Bác Hồ là cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ và tay sai có nhiều đồng chí, đồng bào hy sinh. Thường ngày, Bác Hồ nhắc câu người xưa nói “Nhất tướng công thành vạn cốt khô”. Ý của Bác là chúng ta tiến hành một cuộc chiến tranh chống xâm lược, giải phóng dân tộc, nhưng phải làm thế nào hạn chế đến mức thấp nhất thiệt hại về người cho nhân dân. Đó là tư tưởng Hồ Chí Minh, là nhân văn Hồ Chí Minh! Chúng ta vẫn còn có đồng chí kiêu ngạo đấy!

Đồng chí Mười Hương kể tiếp: - Khi tôi được đồng chí Lê Đức Thọ xin tăng cường cho miền Nam, đồng chí Trường Chinh đồng ý và báo cáo với Bác Hồ. Bác cũng đồng ý với đề nghị của Xứ ủy Nam Bộ. Tôi đến chào Bác trước khi vào Nam. Bác Hồ dặn: - Hương nhớ rằng, Mỹ phát động chiến tranh nhưng nó không thừa nhận là xâm lược. Nước lớn có cái tự ái của nó. Mỹ muốn tạo ra một cuộc nội chiến kiểu “quốc - cộng”. Chú phải lưu ý theo dõi chuyện này. Lúc bấy giờ chúng ta mới giành thắng lợi Điện Biên Phủ. Thắng lợi lớn thật nhưng chưa trọn vẹn. Ký Hiệp định Geneva và đất nước tạm chia đôi làm hai miền. Theo hiệp định, sau hai năm sẽ có tổng tuyển cử. Nhưng Bác Hồ biết điều đó chắc chắn sẽ không xảy ra. Vì Mỹ và Diệm không muốn bị thất bại một lần nữa mà chúng thấy không thể thắng lợi trước uy thế của cách mạng, trước uy tín hầu như tuyệt đối của Hồ Chí Minh trong nhân dân cả nước. Bác Hồ nói với tôi bằng tiếng Pháp, tôi nhớ ý là “Kẻ nào chi tiền thì kẻ ấy làm chủ”. Trong cuộc chiến tranh Pháp - Việt, Mỹ là kẻ chi tiền tới 80% kinh phí cho chiến tranh. Vì vậy, Mỹ sẽ không từ bỏ Việt Nam đâu. Có người không hiểu sự thật và không hiểu lịch sử. Chính Chủ tịch Hồ Chí Minh đã rất muốn tránh một cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn, không muốn cuộc chiến tranh chống xâm lược Mỹ, giải phóng dân tộc lại trở thành một cuộc nội chiến. Tư tưởng của Hồ Chí Minh là phải giành cho được độc lập, nhưng tránh được chiến tranh tàn khốc là tốt nhất. Chính vì vậy, ngay từ trong những ngày sục sôi của cách mạng tháng Tám năm 1945, quyết tâm giành độc lập dân tộc sau hàng nghìn năm nô lệ của phong kiến phương Bắc, gần một trăm năm là thuộc địa của thực dân Pháp, theo Đại tướng Võ Nguyên Giáp nhớ lại, Bác Hồ đã nhấn mạnh: “Dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải giành cho được độc lập!”. Nhưng Bác Hồ và Thường vụ Trung ương Đảng đã chủ trương thành lập một nước Việt Nam mới - nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - với tinh thần hòa bình nhất, không muốn đổ máu. Bác và Thường vụ Trung ương Đảng đã cử một phái đoàn do các đồng chí Trần Huy Liệu và Nguyễn Lương Bằng vào Huế để thuyết phục vua Bảo Đại thoái vị. Đảng ta chủ trương không giết vua như ở đâu đó. Mặt khác, nếu Bảo Đại thoái vị, thì cuộc cách mạng giành chính quyền của ta là hợp pháp, thực dân Pháp không có cớ để can thiệp, gây chiến tranh. Và như lịch sử đã chứng kiến, vua Bảo Đại đã ra chiếu thoái vị, bàn giao ấn kiếm cho đại diện của chính quyền cách mạng. Ông đã có một câu tuyên bố nổi tiếng: “Thà là dân một nước tự do còn hơn làm vua một nước nô lệ”. Sau đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã mời cựu hoàng làm Cố vấn cho Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Tiếc rằng, sau đó Cố vấn Vĩnh Thụy (tức cựu hoàng Bảo Đại) đã không đi cùng với cuộc hành trình giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam... 

Trở lại với câu chuyện về cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, đồng chí Trần Quốc Hương kể: - Năm 1968, khi Mỹ chịu ngồi vào bàn đàm phán Paris với ta, Bác Hồ gọi đồng chí Xuân Thủy là Trưởng đoàn đàm phán của ta dặn dò: Sau hai cuộc chiến tranh thế giới, trong các nước tư bản và đế quốc, chỉ có Mỹ là giàu và mạnh nhất. Đối với Việt Nam, nó phát động cuộc chiến tranh xâm lược, đánh mãi mà không thắng, giờ phải chịu ngồi đàm phán với ta là nó chịu thua. Nhưng nó là nước lớn có cái tư tưởng của nước lớn. Nó không chịu thừa nhận là nó thua. Vì vậy, các chú phải nói sao cho Hariman nghe được, nhân dân Mỹ nghe được. (Hariman là Trưởng đoàn đàm phán của Mỹ tại Hội nghị Paris về Việt Nam).

Ngày 10-3-1968, sau chiến dịch Mậu Thân lịch sử, Bác Hồ đề nghị đồng chí Lê Duẩn và một số ít đồng chí trong Bộ Chính trị bố trí cho Bác “đi thăm” miền Nam, khi “anh em ở trỏng đang chuẩn bị mở màn thứ ba”. Bác dự định sẽ đi bằng đường biển, qua Campuchia và sau đó về miền Nam. Nỗi lòng vì miền Nam ruột thịt không bao giờ nguôi ngoai ở Bác. Nhưng do điều kiện sức khỏe của Bác và những khó khăn của chiến trường, chuyến đi miền Nam của Bác Hồ không thực hiện được như nguyện vọng của Bác.Năm 1968, đồng chí Trần Quốc Hương được Trung ương Cục miền Nam xin vào tăng cường cho Thành ủy Sài Gòn - Gia Định. Lần này ông cùng đi với đoàn cán bộ cao cấp, trong đó có đồng chí Đinh Đức Thiện. Đường đi là từ Hà Nội qua Trung Quốc, bay sang Phnompenh rồi từ đó đi về căn cứ và Sài Gòn.Trước khi trở lại miền Nam, đồng chí Trần Quốc Hương được Bác Hồ và đồng chí Trường Chinh dặn dò: “Chú nhớ nhé, mình là người cộng sản. Đối với công việc, việc nào có lợi cho nước cho dân thì nhỏ mấy cũng làm. Việc gì không có lợi cho dân cho nước thì không nói, không biết, không làm”.Ngày 2-9-1969, nhân dân Việt Nam và bạn bè quốc tế vô cùng đau đớn khi nghe tin Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời. Đồng bào và chiến sĩ cả nước quyết tâm biến đau thương thành hành động cách mạng, ra sức thực hiện mong ước của Người là giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Chủ tịch Hồ Chí Minh là lãnh tụ, là tấm gương đấu tranh giành độc lập dân tộc. Nhiều nhân sĩ, trí thức ở miền Nam lúc đó, dù không công khai ủng hộ cách mạng, nhưng vẫn can đảm thể hiện sự thương tiếc của mình đối với vị lãnh tụ của dân tộc ta. Ở “phía bên kia” chiến tuyến, cũng có những người khâm phục và thương tiếc Bác Hồ... Tư tưởng độc lập dân tộc và hòa bình cho đất nước của Người đã hấp dẫn, lôi cuốn họ đứng về phía cách mạng, về phía chính nghĩa, về phía đông đảo quần chúng nhân dân... Đó là sự lựa chọn lịch sử.Khi vào đến miền Nam, đồng chí Trần Quốc Hương tham gia Thành ủy Sài Gòn - Gia Định với tư cách là ủy viên thường vụ, làm việc bên cạnh đồng chí Nguyễn Văn Linh. Lúc đó đồng chí Nguyễn Văn Linh là Phó Bí thư Trung ương Cục miền Nam, trực tiếp phụ trách khu vực Sài Gòn - Gia Định. Lúc đầu đồng chí Trần Quốc Hương phụ trách Thành đoàn và phong trào nội thành. Đến tháng 4-1972, đồng chí Trần Quốc Hương làm Trưởng ban An ninh T4.

Trên đường tháo chạy của quân đội ngụy (trưa 29-4-1975) - NGỌC THIỆN sưu tầm

Thực hiện sự chỉ đạo của Trung ương Cục miền Nam, tháng 9-1972, đồng chí Trần Quốc Hương và đồng chí Lê Thanh Vân (Sáu Ngọc) lúc đó là Phó ban An ninh T4 phụ trách điệp báo thành lập cụm điệp báo có bí số là A10. An ninh T4 lúc đó đã có một số cụm điệp báo khác như A5, A6... thực hiện nhiệm vụ cài cắm lực lượng vào lòng địch để thu thập tin tức tình báo, xây dựng lực lượng nội ứng. Riêng cụm điệp báo A10 được giao những nhiệm vụ rất quan trọng là phục vụ công tác phản gián, tình báo chiến lược và tấn công chính trị, trong đó có nhiệm vụ tiếp cận, xây dựng lực lượng bí mật hoạt động ở Sài Gòn.Trong thời kỳ này, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đứng đầu là đồng chí Lê Duẩn và tập thể Bộ Chính trị, quân và dân hai miền Nam Bắc liên tục giành những thắng lợi quan trọng. Không giành được thắng lợi ở miền Nam Việt Nam, chính quyền Nixon và tay sai tiến hành cuộc chiến tranh phá hoại ác liệt ra miền Bắc. Đế quốc Mỹ đã điên cuồng dùng máy bay B52 ném bom rải thảm ở Hà Nội và nhiều nơi trên miền Bắc hòng đưa Hà Nội “trở về thời kỳ đồ đá” như một tướng Mỹ đã từng huênh hoang. Nhưng không những không bẻ gẫy được ý chí của dân tộc Việt Nam, Mỹ còn thua đau, bị bắn rơi gần hết số máy bay B52 hiện đại nhất lúc bấy giờ. Thắng lợi của chúng ta được ví là “Điện Biên Phủ trên không”, buộc Mỹ phải ký Hiệp định Paris lập lại hòa bình ở Việt Nam, thừa nhận nước Việt Nam là một quốc gia thống nhất và phải rút quân đội Mỹ về nước. Tất nhiên, Washington không muốn mất tất cả mà muốn chuyển sang thời kỳ “Việt Nam hóa chiến tranh”, dùng người Việt đánh người Việt. Nhận rõ âm mưu của Mỹ và chính quyền Nguyễn Văn Thiệu, chúng ta tiếp tục củng cố vùng giải phóng, chuẩn bị lực lượng để giải phóng miền Nam. Hình thái chiến tranh giải phóng của ta là tấn công và nổi dậy, từ ngoài đánh vào, từ trong nổi dậy để “Mỹ cút, ngụy nhào” như Bác Hồ đã vạch ra.

Sự tuyệt vọng tột cùng của một lính thủy đánh bộ MỹNăm 1973, sau khi Hiệp định Paris về lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký kết, đồng chí Nguyễn Văn Linh được Trung ương gọi ra miền Bắc. Trước lúc lên đường, đồng chí Nguyễn Văn Linh gặp đồng chí Trần Quốc Hương và cho ý kiến: - “Ông” ở lại đây cần chú ý tình hình vẫn còn phức tạp. Mỹ muốn rút khỏi Việt Nam trong danh dự. Mỹ không viện trợ nữa thì Thiệu sẽ đổ. Thiệu thì cứ lay nhay để Mỹ đổ tiền vào. Thiệu hung hăng quá. Chiến tranh tiếp diễn thì máu vẫn đổ. Vì vậy, nếu Dương Văn Minh lên thì có lợi cho cách mạng...Từ sau Hiệp định Paris về Việt Nam, ở Sài Gòn đã hình thành “nhóm Dương Văn Minh” bao gồm một số dân biểu đối lập, lực lượng thứ ba, một số ký giả (trong đó có một số cơ sở do ta xây dựng). Nhóm này đấu tranh đòi thực hiện Hiệp định Paris, thành lập một chính phủ liên hiệp với Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam. Họ đòi Nguyễn Văn Thiệu từ chức, Mỹ không can thiệp vào miền Nam Việt Nam và rút quân. Ông Dương Văn Minh cũng nhất trí với quan điểm đó. Theo tài liệu nghiên cứu của đồng chí Phạm Văn Hùng, nguyên ủy viên Thường vụ, Trưởng ban Tổ chức Thành ủy thành phố Hồ Chí Minh, Ông Dương Văn Minh sinh năm 1916 ở Mỹ Tho, con ông Dương Văn Huề và bà Nguyễn Thị Kỹ. Ông Huề làm nghề dạy học, sau đó làm tri phủ, rồi làm đốc phủ sứ thời Pháp thuộc. Dương Văn Minh là con trai cả, người em trai kế là Dương Văn Nhật. Dương Văn Minh có một người chú tham gia cách mạng là đồng chí Dương Văn Diêu. Trước cách mạng tháng 8-1945, Dương Văn Minh đi lính cho Pháp, đeo lon thiếu úy. Sau cách mạng tháng Tám, cả Dương Văn Minh và Dương Văn Nhật đều theo cách mạng. Khi Pháp đưa quân trở lại, gia đình ông Minh tản cư về chợ Đệm (Tân An). Trong một lần về thăm nhà, ông bị kẹt lại và chưa tìm được đơn vị thì bị quân Pháp bắt, đưa về bót Catinat ở Sài Gòn. Pháp buộc ông trở lại quân đội của họ. Sau đó, lần lượt ông lên đến cấp tá và được đưa sang Pháp học ở trường võ bị, là một trong những sĩ quan đầu tiên của “quân đội Việt Nam Cộng hòa”. Cuối năm 1963, Mỹ tổ chức đảo chính lật đổ và giết anh em Diệm - Nhu, đưa Dương Văn Minh lên làm “tổng thống”. Nhưng chưa được ba tháng, đến tháng 1-1964, Mỹ lại tổ chức “chỉnh lý”, thực chất là một cuộc đảo chính, loại Dương Văn Minh, đưa Nguyễn Khánh lên thay. Lý do Mỹ “chỉnh lý” Dương Văn Minh, theo ông Nguyễn Hữu Hạnh, cựu chuẩn tướng chế độ Sài Gòn và là một cơ sở của Ban binh vận Quân giải phóng, và ông Phùng Văn Mười (Bảy Tuân), thì: Thứ nhất là, Dương Văn Minh không nghe lệnh của Mc Namara và Harkins cho máy bay ném bom sông Hồng ở miền Bắc với lý do “bỏ bom thì còn miểng và người ta biết đó là bom của Mỹ”. Thứ hai là ông Dương Văn Minh cho giải tán “ấp chiến lược”, một kiểu trại tập trung trá hình của Mỹ - Diệm. Ông giải thích “ấp chiến lược” tách rời người dân khỏi mồ mả ông cha, trái với lòng dân. Thứ ba là, Đại sứ Mỹ tại Sài Gòn lúc đó là Cabot Lodge đề nghị ông duyệt kế hoạch đưa biệt kích ra hoạt động phá hoại ở miền Bắc, Dương Văn Minh đã không trả lời. Sau cuộc đảo chính năm 1964, Mỹ buộc Dương Văn Minh sang sống lưu vong ở Thái Lan đến năm 1971 mới cho về...Trong khi đó, Trung ương từ lâu đã nhận định tình hình chính quyền Sài Gòn do Mỹ thao túng, muốn đưa ai lên thì đưa, muốn thay ai thì thay, nghĩa là trước sau gì cũng có chuyện “thay ngựa giữa dòng”. Một trong những nhân vật có khả năng Mỹ sẽ sử dụng là Dương Văn Minh. Và thực tế xảy ra đúng như thế. Theo thiếu tướng Võ Văn Thời, nguyên Cục trưởng Cục binh vận thuộc Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam, những năm 1960 - 1961, Cục binh vận nhận chỉ thị của Trung ương điều động em trai ông Dương Văn Minh là đồng chí Dương Văn Nhật, đã từng tham gia kháng chiến chống Pháp là đại tá quân đội ta về cục để làm công tác địch vận. Đồng chí Dương Văn Nhật được bồi dưỡng về chính trị, nghiệp vụ, lái xe, điện báo để khi cần thì hoạt động đơn tuyến. Sau khi vào miền Nam, đồng chí Dương Văn Nhật công tác ở Ban binh vận miền. Thông qua cô em gái ở Pháp và con gái đang được Dương Văn Minh nuôi, đồng chí Dương Văn Nhật gợi ý: Nếu anh Minh không có điều kiện đi với cách mạng thì nên làm gì cho cách mạng theo khả năng của mình...

Để huy động lực lượng to lớn của nhân dân, sau Tết Mậu Thân 1968, lúc Bác Hồ còn sống, Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình Việt Nam được thành lập ở miền Nam Việt Nam do luật sư Trịnh Đình Thảo làm Chủ tịch. Đây là chủ trương của Bác Hồ và Đảng ta nhằm tập hợp đông đảo quần chúng, trí thức yêu nước, các công chức trong bộ máy chế độ Sài Gòn có tinh thần dân tộc vì những lý do khác nhau chưa tham gia Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam. Có rất nhiều trí thức là luật sư, kỹ sư, bác sĩ, cử nhân, nhà văn, nhà báo, tư sản dân tộc... quá hiểu chế độ Sài Gòn như thế nào, họ bất mãn và chống đối vì từ chính quyền Diệm - Nhu cho đến chính quyền Nguyễn Văn Thiệu thực chất chỉ là công cụ của đế quốc Mỹ.  Vì vậy khi có Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình Việt Nam, họ đã tích cực tham gia, tạo nên những làn sóng chống Thiệu ngay trong lòng chế độ “Việt Nam cộng hòa”. Phải kể đến những nhân vật tuy không trực tiếp tham gia Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam hay Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình Việt Nam, nhưng có lòng yêu nước, có tinh thần dân tộc, không theo Mỹ, thậm chí là chống Mỹ, chống Thiệu. Thực tế của xã hội miền Nam những năm trước 1975 là như vậy. Họ cũng là lực lượng mà cách mạng hướng tới nhằm tập hợp làm nên sức mạnh tổng hợp để giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

Xe tăng quân giải phóng tiến vào Dinh Độc lập vào sáng 30-4-1975Theo lời kể của các nhân chứng và tài liệu còn lưu giữ được của Cụm điệp báo A10, vào khoảng tháng 6-1974, đồng chí Huỳnh Huề (Ba Hoàng) thay mặt Cụm điệp báo A10 báo cáo với lãnh đạo Ban An ninh T4 về tình hình hoạt động của Cụm và tin tức ta nắm được trong chính trường Sài Gòn. Đầu năm 1975, đồng chí Trần Quốc Hương và đồng chí Lê Thanh Vân giao cho Cụm A10 nhiệm vụ thâm nhập sâu vào “nhóm Dương Văn Minh” vì đã có một số cán bộ điệp báo và cơ sở của ta làm ở báo Điện Tín, một tờ báo của lực lượng đối lập, được coi là “cơ quan ngôn luận” của nhóm này, trong đó có đồng chí Huỳnh Bá Thành (tức họa sĩ Ớt đã nổi tiếng trong làng báo chí Sài Gòn lúc đó) để thực hiện ý đồ chiến lược của ta như ý kiến chỉ đạo của đồng chí Nguyễn Văn Linh. Đồng chí Trần Quốc Hương đã xin Trung ương Cục một số tiền gửi vào cho nhóm họa sĩ Ớt qua giao liên của Cụm điệp báo A10 là má Hai để có tiền làm báo, hoạt động...

Đến đầu năm 1975, những thắng lợi quân sự to lớn của ta ở Phước Long, Tây Nguyên... đã tạo nên một khí thế cách mạng mạnh mẽ chưa từng có, làm cho quân thù khiếp sợ, lo lắng và phải lui về thế thủ. Nội bộ chính quyền Thiệu rối bời. Đồng thời, các mũi tấn công chính trị mà Thành ủy Sài Gòn - Gia Định tổ chức, thúc đẩy từ năm 1974 với những khẩu hiệu là hòa bình, độc lập, dân chủ, cải thiện dân sinh... Các tổ chức công khai được thành lập như Mặt trận nhân dân cứu đói, phong trào “ký giả ăn mày”, “Ủy ban hành động cho công bằng xã hội”... hoạt động ngày càng diễn ra mạnh mẽ, gây áp lực không nhỏ đối với chính quyền Nguyễn Văn Thiệu, làm cho chúng hoang mang, mâu thuẫn, mất tin tưởng lẫn nhau. Thiệu đàn áp phe đối lập thẳng tay, đóng cửa một số tờ báo chống chính quyền Thiệu, trong đó báo Điện Tín bị đình bản từ tháng 2-1975. Thậm chí, trước đó, dân biểu Nguyễn Văn Hàm, Tổng thư ký Mặt trận nhân dân cứu đói bị quân của chính quyền Thiệu tổ chức ám sát. Khi nghe tin này, đồng chí Trần Quốc Hương đã gửi một ít sâm Cao Ly cho ông Nguyễn Văn Hàm qua cơ sở của ta ở nội thành Sài Gòn. Số sâm ít ỏi đó là khi vào Nam, đồng chí Đinh Đức Thiện đưa cho đồng chí Mười Hương để dùng khi đau ốm. 

Người Mỹ tranh nhau rút khỏi Sài Gòn ngày 29-4-1975Trong khi đó, mặc dù không ưa Dương Văn Minh, nhưng Nguyễn Văn Thiệu không dám triệt hạ ông vì Mỹ không bật đèn xanh. Tư dinh của Dương Văn Minh có hai mặt tiền là 98 Hồng Thập Tự (nay là đường Nguyễn Thị Minh Khai) và 3 Trần Quý Cáp (nay là đường Võ Văn Tần). Ngôi biệt thự có khuôn viên rộng này còn được gọi là dinh Hoa Lan. Trong thời kỳ này, dinh Hoa Lan là nơi ra vào, ẩn náu an  toàn cho lực lượng đối lập chống Mỹ - Thiệu, trong đó có cả các cán bộ, cơ sở điệp báo của ta. Để chuẩn bị toàn diện cho cuộc Tổng tấn công và nổi dậy mùa xuân năm 1975 giành được thắng lợi trọn vẹn, các mũi tấn công chính trị được thực hiện tích cực đồng thời với sự chuẩn bị về quân sự. Một trong những “mũi” tấn công nhằm vào “nhóm Dương Văn Minh” là Cụm điệp báo VĐ2 thuộc Phòng tình báo chiến lược - bí số M22, Cục Tham mưu quân giải phóng miền Nam. Thông qua kỹ sư Tô Văn Cang và ông Nguyễn Văn Diệp, Cụm này cũng đã vận động nội các Dương Văn Minh hành động theo hướng có lợi cho cách mạng trong những ngày cuối cùng của chế độ Sài Gòn. Cựu chuẩn tướng quân đội Sài Gòn Nguyễn Hữu Hạnh, người từ lâu đã làm việc cho Ban binh vận Miền, sau này là “phụ tá” tổng thống Dương Văn Minh cũng góp phần trong việc kêu gọi quân đội Sài Gòn hạ vũ khí, theo lệnh của tổng thống Dương Văn Minh...Ở phía lực lượng điệp báo an ninh, từ cuối tháng 4 đến ngày 15-3-1975, đồng chí Huỳnh Bá Thành (thuộc Cụm điệp báo A10) bí mật rời Sài Gòn vào căn cứ Thành ủy ở Long Khánh báo cáo với đồng chí Mai Chí Thọ và đồng chí Lê Thanh Vân về tình hình phong trào cách mạng ở đô thị, tình hình lực lượng thứ ba và “nhóm Dương Văn Minh”. Sau khi nghe báo cáo, đồng chí Mai Chí Thọ và đồng chí Lê Thanh Vân chỉ đạo Cụm A10 và đồng chí Huỳnh Bá Thành tiếp tục tuyên truyền công khai, thu thập tin tức, tác động chính trị đối với nhóm Dương Văn Minh. Các đồng chí lãnh đạo Thành ủy Sài Gòn - Gia Định và Ban An ninh T4 còn nhấn mạnh: Nếu quân ta đánh “tràn đồng” thì phải nghe theo đài Hà Nội và đài Giải phóng để có hành động, đồng thời phải bằng mọi cách tấn công chính trị, tác động để Dương Văn Minh thay Nguyễn Văn Thiệu, rồi bàn giao chính quyền cho cách mạng. Đó là chủ trương của Đảng ta nhằm tránh đổ máu trong những ngày cuối cùng khi chiến tranh kết thúc. Một trong những tình tiết mà lâu nay ít ai được biết là Phan Xuân Huy, cơ sở của Cụm điệp báo A10, con rể đồng chí Dương Văn Nhật (lúc đó vẫn được coi là con rể của Dương Văn Minh) đã trực tiếp lái xe ra chân cầu Sài Gòn để ngăn chặn việc đánh sập cầu... 

Cố Giám đốc CATP Hồ Chí Minh Lê Thanh Vân (Sáu Ngọc), tiễn ông Dương Văn Minh lên đường sang Pháp chữa bệnh

Trước khí thế của cách mạng và bị thua đau về quân sự ở các chiến trường, chính quyền Thiệu - Khiêm dần dần sụp đổ. Ngày 4-4-1975 Trần Thiện Khiêm từ chức “thủ tướng”, ngày 14-4 Nguyễn Bá Cẩn lên thay Khiêm. Ngày 21-4, Nguyễn Văn Thiệu vừa khóc vừa tuyên bố từ chức, sau đó không lâu thì được CIA đưa ra sân bay Tân Sơn Nhất chuồn sang Đài Loan. Phó tổng thống Trần Văn Hương lên thay Thiệu. Mặc dù già cả, nhưng bề ngoài Hương cũng hung hăng không kém gì Thiệu và muốn bám quyền lực. Chính trường Sài Gòn rối ren. Quân đội Sài Gòn như rắn mất đầu, tan rã dần, chỉ còn một số đơn vị còn có khả năng kháng cự...

Ngày 26-4-1975, lưỡng viện quốc hội Sài Gòn họp biểu quyết truất quyền Trần Văn Hương và trao quyền “Tổng thống Việt Nam cộng hòa” cho Dương Văn Minh. Ngày 27-4, Trần Văn Hương mới chịu từ chức. Nhưng đến ngày 28-4, lễ “tấn phong” Tổng thống Dương Văn Minh mới được thực hiện. Ông Lý Quý Chung kể lại, trong nhóm Dương Văn Minh có một “thầy bói nghiệp dư” là bác sĩ Hồ Văn Minh chọn ngày 30-4 là “ngày tốt” để nội các Dương Văn Minh ra mắt!

Nhưng chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử giải phóng Sài Gòn, giải phóng hoàn toàn miền Nam đã đến ngày toàn thắng! Ngày 30-4-1975, chính là “ngày tốt” của dân tộc Việt Nam! Chính trong ngày 30-4-1975, Tổng thống “Việt Nam Cộng hòa” Dương Văn Minh đã tuyên bố đầu hàng không điều kiện. Nhưng sự “đầu hàng” đó là kết quả tất yếu của một quá trình vận động của lịch sử, của cách mạng giải phóng dân tộc, của cuộc đấu tranh giành độc lập và lập lại hòa bình.

Tối 2-5-1975, Chủ tịch Ủy ban Quân quản Sài Gòn - Gia Định Cao Đăng Chiếm (sau này là thượng tướng, Thứ trưởng Bộ Nội vụ, nay là Bộ Công an - hiện đã nghỉ hưu) chủ trì buổi lễ trả tự do cho các quan chức chính quyền Dương Văn Minh. Tại buổi lễ này, ông Dương Văn Minh phát biểu: “...Ngày hôm nay, đại diện cho các anh có mặt tại đây, tôi nhiệt liệt hoan nghênh sự thành công của Chính phủ Cách mạng trong công cuộc vãn hồi hòa bình cho đất nước. Với kỷ nguyên mới này, tôi mong rằng tất cả anh em có mặt tại đây, cũng như các tầng lớp đồng bào, sẽ có dịp đóng góp tích cực cho công cuộc xây dựng đất nước. Riêng cá nhân tôi, hôm nay tôi rất hân hoan khi được 60 tuổi, trở thành một công dân của nước Việt Nam độc lập”...

Hơn ba mươi năm đã trôi qua, một vấn đề được giới nghiên cứu bàn luận là quanh việc đầu hàng của chính quyền Dương Văn Minh. Và những “tồn tại” của lịch sử đã được làm sáng tỏ hơn. Theo một tài liệu của nhà nghiên cứu Trần Bạch Đằng, thì hình thái kết thúc chiến tranh Việt Nam là “đặc sắc”. Thành phố Sài Gòn, trung tâm đầu não của chế độ “Việt Nam Cộng hòa” vẫn nguyên vẹn. Có những ý kiến cho rằng Dương Văn Minh và những cộng sự của ông đã chọn cách kết thúc góp phần giữ cho Sài Gòn không bị đổ nát. Điều này cũng chỉ đúng một phần. Vì thực ra, trong những ngày cuối cùng của chế độ Sài Gòn, trong tình thế cách mạng mạnh như vũ bão, vừa tấn công (quân sự, chính trị) vừa nổi dậy, lại có sự tác động của lực lượng nội ứng của ta từ bên trong chính quyền và quân đội Sài Gòn, Mỹ thì đã rút nên chính quyền Sài Gòn do Mỹ dựng lên đã phải sụp đổ. Việc tổng thống cuối cùng của chế độ Sài Gòn ra lệnh quân đội Sài Gòn buông súng và đầu hàng vô điều kiện là do có sự tác động nhiều chiều, trong đó có lực lượng điệp báo an ninh. Sau này, khi đồng chí Lê Đức Thọ gặp và hỏi Dương Văn Minh rằng, có nhiều nhóm tác động đến ông để đi tới quyết định cuối cùng thì nhóm nào có ảnh hưởng nhất? Ông Dương Văn Minh trả lời là nhóm họa sĩ Ớt (tức đồng chí Huỳnh Bá Thành). Mặt khác, có một thực tế là các lực lượng vũ trang của ta đã tiến vào giải phóng Sài Gòn với tinh thần rất hòa bình, không bắn phá bừa bãi mà một đội quân chiến thắng dễ thực hiện trong trận chiến cuối cùng. 

Sau ngày giải phóng miền Nam, Tổ quốc được độc lập, thống nhất, nhiều cán bộ, cơ sở điệp báo tiếp tục công tác và đóng góp tích cực cho công cuộc tái thiết đất nước để xây dựng nước ta “đàng hoàng hơn, to đẹp hơn” như Bác Hồ hằng mong muốn.

Từ năm 2000, khi làm phim Điệp báo miền Nam, cuộc chiến thầm lặng cho hãng phim Người bảo vệ, tôi đã gặp khá nhiều người là “nhân chứng lịch sử” gồm một số cán bộ lãnh đạo lực lượng an ninh, cán bộ trong các Cụm điệp báo A5, A6, A10... và cả một số nhân sĩ, trí thức “lực lượng ba”. Anh Mười Thắng, tức Nguyễn Minh Trí, chính là Cụm trưởng Cụm điệp báo A10, hiện nay là luật gia, đang làm việc tại thành phố Hồ Chí Minh. Còn Ba Hoàng, tức đồng chí Huỳnh Huề, Cụm phó Cụm điệp báo A10, hiện là thiếu tướng, Cục trưởng Cục An ninh Tây Bắc... Tôi cũng đã thu thập được một số tài liệu, tư liệu quý báu về hoạt động của lực lương điệp báo an ninh trong thời kỳ kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược. Khi đó, đồng chí Lê Thanh Vân (Sáu Ngọc), nguyên Giám đốc Công an TP. Hồ Chí Minh, nguyên Phó trưởng Ban an ninh T4 đã trao một bức ảnh chụp đồng chí đến gặp Dương Văn Minh trước ngày ông Minh và vợ sang Pháp chữa bệnh...

Đã có nhiều sách, báo, phim ảnh thể hiện những hoạt động, chiến công hào hùng hay thầm lặng của những chiến sĩ, cơ sở điệp báo trong lòng địch. Trong cuộc sống đời thường, hay trong phim ảnh, tiểu thuyết, những tấm gương các chiến sĩ tình báo hoạt động trong lòng địch được ca ngợi và cũng dễ dàng được bạn đọc khâm phục. Nhưng không phải những hoạt động bí mật hay “công khai” của các cán bộ, chiến sĩ và cơ sở điệp báo trong cuộc kháng chiến chống Mỹ xâm lược, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc đã được nói hết. Vì những lý do này hay lý do khác, nhiều câu chuyện vẫn còn là bí mật. Sự hy sinh của lực lượng anh hùng này là rất to lớn. Có người dám xả thân hy sinh về tính mạng, có người phải hy sinh danh dự chịu những điều tai tiếng là “tay sai, bán nước” để đi vào lòng địch hoạt động cho cách mạng vì lý tưởng độc lập dân tộc và hòa bình cho quê hương xứ sở mà Chủ tịch Hồ Chí Minh là tấm gương sáng để noi theo, để hành động.

Khi nói về chuyện này, đồng chí Trần Quốc Hương rất trăn trở. Ông nói:

- Anh Ba (đồng chí Lê Duẩn) có một câu nói rất đúng và theo tôi đó là quan điểm của Đảng ta là: “Thắng lợi này là của toàn dân”. Cuộc kháng chiến này là cuộc chiến tranh nhân dân, nhiều tầng lớp nhân dân đóng góp theo sức của mình. Ai cũng có quyền tự hào về những gì mà mình đã đóng góp vào thắng lợi vĩ đại của dân tộc. Và chúng ta cần phải quan tâm đến những người đã đóng góp vào thắng lợi ấy.

Nói đến đấy, đồng chí Mười Hương lại xúc động, dường như nghẹn lời. Cuối cuộc gặp, ông Trần Quốc Hương khẳng định:

- Với Bác Hồ, độc lập dân tộc, thống nhất đất nước, làm cho nhân dân được ấm no, hạnh phúc là mục tiêu xuyên suốt quá trình hoạt động cách mạng của Người và của dân tộc Việt Nam. Hồ Chí Minh còn nhiều điều để nói về tư tưởng độc lập và hòa bình trong hành trình giải phóng dân tộc. Để thực hiện được mục tiêu giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc, Bác Hồ và Trung ương Đảng ta đã đề ra đường lối huy động tổng hợp sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân. Người khẳng định: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công!”. Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước có công lao của nhiều người, nhiều giới, những người dân Việt Nam yêu nước, yêu hòa bình.

Nguyễn Khắc Đức

SỰ THẬT VỀ QUAN HỆ VIỆT NAM & TRUNG QUỐC

  1. TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐỘC LẬP VÀ HÒA BÌNH XUYÊN SUỐT CUỘC HÀNH TRÌNH GIẢI PHÓNG DÂN TỘC
  2. ĐỒNG CHÍ B NÓI VỀ ÂM MƯU CHỐNG VIỆT NAM CỦA BÈ LŨ PHẢN ĐỘNG TRUNG QUỐC
  3. SỰ THẬT VỀ QUAN HỆ VIỆT NAM - TRUNG QUỐC - NXB SỰ THẬT
  4. SỰ THẬT VỀ QUAN HỆ VIỆT NAM & TRUNG QUỐC - SACHHIEM.NET
  5. HỘI ĐÀM CẤP CAO VIỆT - TRUNG TẠI BẮC KINH
  6. NHỮNG ĐIỀU KHÔNG THỂ KHÔNG NÓI RA
  7. CHIẾN TRANH NĂM 1979 VÀ CUỘC ĐẤU TRÍ CÂN NÃO GIỮA TRUNG QUỐC - VIỆT NAM - HOA KỲ (PHẦN 1)
  8. CHIẾN TRANH NĂM 1979 VÀ CUỘC ĐẤU TRÍ CÂN NÃO GIỮA TRUNG QUỐC - VIỆT NAM - HOA KỲ (PHẦN 2 VÀ HẾT)
  9. CUỘC CHIÊN TRANH BIÊN GIỚI PHÍA BẮC VIỆT NAM: GÓC NHÌN THẲNG!
  10. 35 NĂM CUỘC CHIẾN BIÊN GIỚI PHÍA BẮC
  11. BIÊN GIỚI THÁNG 2 NĂM 1979
  12. 37 NĂM NGÀY TỔNG ĐỘNG VIÊN CHỐNG QUÂN TRUNG QUỐC XÂM LƯỢC
  13. VIDEO: 37 NĂM NGÀY TỔNG ĐỘNG VIÊN CHỐNG QUÂN TRUNG QUỐC XÂM LƯỢC
  14. VIDEO: VỤ THẢM SÁT 43 PHỤ NỮ, TRẺ EM TRONG CHIẾN TRANH BIÊN GIỚI PHÍA BẮC
  15. VIDEO: CUỘC CHIẾN CHỐNG QUÂN TRUNG QUỐC XÂM LƯỢC TRONG KÝ ỨC CỰU BINH
  16. 'CUỘC ĐỜI HỒI SINH' CỦA CÔ BỘ ĐỘI TRONG BỨC ẢNH 37 NĂM TRƯỚC
  17. VIDEO: NỖI ĐAU NGƯỜI Ở LẠI SAU CUỘC CHIẾN BIÊN GIỚI VIỆT - TRUNG
  18. VIDEO: CUỘC ĐỐI ĐẦU VIỆT - TRUNG TRÊN BIỂN ĐÔNG 15 NĂM QUA
  19. ĐIỀU KỲ DIỆU SAU CUỘC TẤN CÔNG - LỜI NHẮC NHỞ CHO KẺ NÀO LĂM LE TẤN CÔNG DÂN TỘC NÀY
  20. TRUNG QUỐC Ở HỘI NGHỊ GENÈVE NĂM 1954 - 60 NĂM NHÌN LẠI
  21. HIỆP ĐỊNH GIƠNEVƠ - MỘT SỐ PHẬN?
  22. LIÊN XÔ 1979: CHẶN BÀN TAY XÂM LƯỢC VIỆT NAM
  23. BÁO ĐỨC TỐ CÁO TÀU TRUNG QUỐC ĐÂM CHÌM TÀU CÁ VIỆT NAM
  24. CHIẾC MẶT NẠ "TRỖI DẬY HÒA BÌNH" ĐÃ RƠI
  25. TRUNG QUỐC ĐÃ NGĂN CẢN NHÂN DÂN VIỆT NAM ĐẤU TRANH THỐNG NHẤT ĐẤT NƯỚC
  26. TRUNG QUỐC BA LẦN HỌ PHẢN BỘI VIỆT NAM, LẦN SAU ĐỘC ÁC, BẨN THỈU HƠN LẦN TRƯỚC!
  27. MÂU THUẪN, XUNG ĐỘT TRONG QUAN HỆ VIỆT – TRUNG VÀ CHIẾN TRANH BIÊN GIỚI THÁNG 2 – 1979
  28. THỦ TƯỚNG NGUYỄN XUÂN PHÚC THĂM CHÍNH THỨC TRUNG QUỐC
  29. THỦ TƯỚNG NGUYỄN XUÂN PHÚC NHẮC LẠI LẬP TRƯỜNG BIỂN ĐÔNG VỚI TRUNG QUỐC
  30. TỔNG BÍ THƯ NGUYỄN PHÚ TRỌNG THẢO LUẬN VỀ BIỂN ĐÔNG VỚI CHỦ TỊCH TRUNG QUỐC
  31. TRUNG QUỐC BẮN 21 PHÁT ĐẠI BÁC CHÀO ĐÓN TỔNG BÍ THƯ NGUYỄN PHÚ TRỌNG
  32. NHỮNG KHU CẤM ĐỊA ĐỐI VỚI TRUNG QUỐC
  33. TRUNG QUỐC CHỐNG CHẾ TRƯỚC DƯ LUẬN VÀ LÁO XƯỢC CHỈ TRÍCH VIỆT NAM
  34. VIỆT, TRUNG RA THÔNG CÁO CHUNG, NHẤT TRÍ KIỂM SOÁT BẤT ĐỒNG TRÊN BIỂN
  35. CHUYỆN ÍT BIẾT VỀ QUAN HỆ VIỆT - TRUNG THỜI CHỐNG MỸ
  36. (CÒN TIẾP)