TRUNG TÂM ĐIỀU DƯỠNG VÀ CAI NGHIỆN MA TÚY THANH ĐA
Cơ Sở 1 : 245 Bình Quới (1051 Xô Viết Nghệ Tĩnh), Phường 28, Bình Thạnh, Tp.HCM
Cơ Sở 2 : 978 Nguyễn Duy Trinh, P. Phú Hữu - Tp.Thủ Đức, Tp.HCM
Điện thoại: (028) 6270 0119 - (028) 3898 6513 - 0982 120 908 THỜI GIAN LÀM VIỆC 24/24
Trang tin điện tử của Ủy ban Quốc gia phòng, chống AIDS, ma túy, mại dâm
Bị trầm cảm sau cai nghiện, có phục hồi lại được không?
10/02/2020 10:03
Năm nay em 24 tuổi. Em sử dụng ma túy đá tầm khoảng 30 lần trong 6 tháng và hiện em đã cai khoảng 6 tháng rồi. Mới lần đầu tiên cai, em thấy mình rất hay cáu gắt, bực bội, tính tình nóng nảy, mất ngủ, nhưng hiện tại em đỡ nhiều rồi. Giờ em hay bị thức giấc nửa đêm, ít nói và trầm cảm, buồn chán, không còn vui vẻ yêu đời như trước đây nữa. Vậy sau cai, sức khỏe của em có được phục hồi như trước đây không, em có cần phải sử dụng thuốc gì không? Em xin cảm ơn.
Trả lời:
Khi ma túy đá vào cơ thể, nó kích thích tế bào thần kinh trung ương, tăng sinh nồng độ chất dẫn truyền thần kinh một cách cao độ làm nồng độ chất dẫn truyền thần kinh tăng vọt trong máu, đưa người chơi vào trạng thái hưng phấn một cách tột độ. Hậu quả của việc sử dụng ma túy đá lâu dài ảnh hưởng nặng nề tới sức khỏe như mất ngủ, suy nhược, ảo giác, hoang tưởng, vô sinh, ảnh hưởng nhiều đến chức năng tim mạch, gan thận... Do vậy quyết định từ bỏ ma túy đá của em là một quyết định rất đúng đắn và sáng suốt.
Tuy nhiên, người nghiện ma túy đá phải đối mặt với hậu quả suy giảm nhận thức và cảm xúc trầm uất, không tìm được niềm vui trong cuộc sống trong giai đoạn mới ngưng sử dụng. Trí nhớ, khả năng tập trung và khả năng ra quyết định bị tổn thương nghiêm trọng, làm cho việc điều trị trở nên nhiều khó khăn hơn. Phục hồi từ nghiện ma túy đá mất một thời gian dài, và một số tổn thương não có thể không hồi phục hoàntoàn được. Những cải thiện đáng kể có thể đạt được sau 1 hoặc 2 năm.Điều trị nên kéo dài ít nhất 3 tháng cho tới khoảng một năm hoặc lâu hơn. Do vậy em cần quyết tâm cao độ để giành chiến thắng trong cuộc chiến này.
Trong thời gian sau cai là giai đoạn cực kỳ khó khăn. Do đó, nếu em cảm thấy trầm cảm, buồn chán, suy kiệt…, em nên tìm đến sự hỗ trợ của các bác sỹ chuyên khoa trong giai đoạn này. Các điều trị hỗ trợ có thể bằng các liệu pháp tâm lý hoặc thuốc men nếu cần theo chỉ định của bác sỹ chuyên khoa tâm thần, hoặc các vấn đề dinh dưỡng, các bệnh khác em nhé.
Tác giả: Bs. Nguyễn Thế Hùng, Bs. Nguyễn Quang Hưng
1. CÁC THUẬT NGỮ:
– Kích động (agitation), còn gọi là kích động tâm thần vận động, là trạng thái hưng phấn về tâm thần và vận động quá mức, mang tính xung động, không kiểm soát hành vi, và có tính chất phá hoại, gây nguy hiểm cho bản thân và người xung quanh. Kích động có thể biểu hiện dưới nhiều dạng, từ la hét, hăm dọa tới tấn công, đập đồ, tự gây tổn thương.
– Gây hấn (aggression) là trạng thái kích động hướng tới đồ vật, người khác, hoặc chính bản thân (tự sát, tự gây tổn thương). Gây hấn có thể biểu hiện qua ngôn ngữ hay hành vi.
– Bạo lực (violence) là hành vi sử dụng vũ lực hay đe dọa sử dụng vũ lực nhằm chống lại người khác hoặc bản thân.
– Phạm tội (crime) là hành vi bạo lực có liên quan tới pháp luật.
– Sự thù địch (hostility) là thuật ngữ có tính không đồng nhất, ám chỉ nhiều khía cạnh tâm thần khác nhau như gây hấn, kích thích, nghi ngờ, không hợp tác, hay ghen tuông.
2. BỆNH CĂN CỦA KÍCH ĐỘNG:
– Bệnh căn của kích động có thể phân thành bốn nhóm:
Kích động do bệnh lý y khoa chung: bao gồm các bệnh lý như chấn thương đầu, nhiễm trùng, bệnh não (đặc biệt do suy gan hay thận), các rối loạn chuyển hóa (như hạ natri, hạ đường huyết, hạ calci), giảm oxy máu, bệnh lý tuyến giáp, co giật…
Kích động do chất: hội chứng ngộ độc hay cai rượu, ngộ độc hay cai các chất khác.
Kích động do rối loạn tâm thần nguyên phát: bao gồm các rối loạn loạn thần, trạng thái hưng cảm và hỗn hợp, trầm cảm kích động, các rối loạn lo âu, kích động phản ứng hay tình huống (rối loạn thích ứng), các rối loạn nhân cách, rối loạn phổ tự kỉ.
Kích động do nguyên nhân không biệt định: kích động trong tình huống này nên được cho là do bệnh lý y khoa chung tới khi được chứng minh điều ngược lại.
3. BIỂU HIỆN LÂM SÀNG CỦA KÍCH ĐỘNG:
– Các triệu chứng giúp người khám xác định một người bệnh cụ thể có thể có kích động:
Thay đổi về hành vi:
Thái độ hiếu chiến.
Hành vi không phù hợp, không có mục đích rõ ràng.
Không thể ngồi yên.
Tăng phản ứng với kích thích.
Vẻ căng thẳng, tức giận, cáu gắt, thù địch.
Chống đối và/hoặc nhìn chằm chằm.
Nói lớn tiếng, im lặng hay từ chối giao tiếp.
Hung hăng biểu hiện qua lời nói và/hoặc hành động hướng tới người khác hay đồ vật.
Thay đổi về nhận thức:
Ý thức dao động.
Rối loạn định hướng không gian, thời gian.
Khuynh hướng chống đối.
Gặp khó khăn trong phán đoán.
Hoang tưởng và/hoặc ảo giác.
Thay đổi về các thông số cơ thể:
Sốt
Tim nhanh
Thở nhanh
Đổ mồ hôi
Run
Các dấu hiệu thần kinh như đi lại khó khăn
– Kích động là nhóm các triệu chứng lâm sàng thay đổi liên tục; tuy nhiên, hiện tại không có tiêu chuẩn chẩn đoán kích động hay phân loại độ nặng được thống nhất trong các nghiên cứu hay y văn. Trên lâm sàng, cách phân loại mức độ kích động thường được sử dụng là kích động nhẹ, vừa và nặng. Người bệnh kích động nhẹ thường có khả năng tự kiểm soát được hành vi kích động của mình; người bệnh kích động nặng mất hoàn toàn khả năng kiểm soát và thường cần sự hỗ trợ từ nhân viên y tế hay người khác; còn kích động vừa bao gồm các trường hợp nằm giữa hai cực nhẹ và nặng. Việc xác định độ nặng kích động chủ yếu dựa vào quan sát, kinh nghiệm và phán đoán lâm sàng, với mục đích chính là đưa ra lựa chọn điều trị phù hợp với từng người bệnh cụ thể.
4. XÁC ĐỊNH VÀ ĐÁNH GIÁ KÍCH ĐỘNG:
– Mục tiêu của đánh giá kích động là để (1) loại trừ nguyên nhân thực thể, (2) ổn định nhanh tình trạng của người bệnh, (3) tránh các biện pháp xử trí ép buộc, (4) bảo đảm phương thức can thiệp quản lý ít giới hạn nhất, (5) thiết lập liên minh điều trị với bệnh nhân, và (6) đưa ra kế hoạch chăm sóc phù hợp.
– Khi nghi ngờ người bệnh có kích động, khuyến cáo bước đầu tiên trong quá trình đánh giá là đảm bảo an toàn: người bệnh nên được chuyển tới môi trường an toàn, ở đó người khám có thể giảm thiểu tối đa nguy cơ đối với bản thân người bệnh, người khám, và người xung quanh, đồng thời người khám có thể đánh giá nhanh trạng thái kích động và nguy cơ tăng tiến triệu chứng. Đánh giá ban đầu nên bao gồm việc xét tới sự hiện diện của các yếu tố nguy cơ dẫn tới/tăng nặng kích động, như yếu tố nhân khẩu học (nam, < 40 tuổi, học vấn thấp…), yếu tố tâm lý xã hội (tiền sử có xung đột với nhân viên hoặc đồng bệnh, sự kiện cuộc sống căng thẳng, vào viện không tự nguyện…), và yếu tố lâm sàng (tiền sử bản thân hay gia đình có kích động, lo âu, sợ, lạm dụng chất, tuân thủ điều trị kém). Ngoài ra, người khám có thể xác định và ghi nhận các triệu chứng gợi ý trạng thái kích động cũng như đánh giá độ nặng kích động trong quá trình đánh giá nhanh.
– Bên cạnh việc đánh giá nhanh trạng thái hiện tại của bệnh nhân, người khám nên hỏi về tiền sử y khoa, độc chất, tâm thần và tiền sử sử dụng thuốc của người bệnh. Các biến cố đưa người bệnh tới bệnh viện có thể giúp ích trong việc xác định các yếu tố thúc đẩy đợt kích động hiện tại. Đánh giá lâm sàng – cận lâm sàng nên bao gồm sinh hiệu, đường huyết, bão hòa oxy máu, chức năng gan thận, và xét nghiệm nước tiểu tầm soát chất. Có thể thực hiện thêm các xét nghiệm như ECG, X-quang ngực, chọc dò tủy sống, thử thai (đối với nữ trong độ tuổi sinh đẻ) tùy theo tình huống lâm sàng.
– Bước tiếp theo của quy trình xác định và đánh giá kích động là thiết lập chẩn đoán phân biệt, từ đó giúp người khám xác định nguyên nhân của đợt kích động và chiến lược xử trí phù hợp. Nếu trạng thái của người bệnh chưa cho phép chẩn đoán xác định, người khám nên cho rằng kích động là do nguyên nhân y khoa chung cho tới khi có chứng cứ phủ định. Kích động do nguyên nhân y khoa chung thường có khởi phát cấp tính hay bán cấp, thường xảy ra ở người bệnh tuổi cao, không có tiền sử tâm thần, và có diễn tiến dao động; những người bệnh này thường có ý thức dao động, rối loạn định hướng, và có thay đổi thông số cơ thể (mồ hôi, tim nhanh, thở nhanh, sốt…). Ảo giác, hoang tưởng cũng như suy giảm nhận thức có thể rõ. Do đó, sự hiện diện của trạng thái lú lẫn, suy giảm nhận thức, và hội chứng ngộ độc hay cai chất nên được xét tới trước khi chẩn đoán rối loạn tâm thần. Kích động do nguyên nhân tâm thần thường không thay đổi ý thức, người bệnh có tiền sử bệnh tâm thần và đợt kích động nằm trong đợt tái phát cấp của rối loạn tâm thần. Để hỗ trợ điều trị, khuyến cáo phân biệt kích động có loạn thần và kích động không có loạn thần.
– Nếu nghi ngờ kích động do nguyên nhân y khoa chung, việc đánh giá và xử trí nên được thực hiện tại khoa cấp cứu nội khoa.
5. CAN THIỆP TRONG ĐỢT KÍCH ĐỘNG:
a) Điều chỉnh môi trường:
– Các biện pháp xử trí này có thể có ích trong giai đoạn sớm của kích động, giảm thiểu khả năng tăng nặng triệu chứng. Điều chỉnh môi trường nhắm tới việc đảm bảo sự thoải mái về thể chất cho người bệnh và giảm kích thích ngoại cảnh (các yếu tố như ánh sáng chói, tiếng ồn, hay các luồng không khí nóng hoặc lạnh). Người khám cần chú ý loại bỏ các đồ vật có khả năng gây nguy hiểm và tôn trọng không gian cá nhân của người bệnh.
b) Xoa dịu bằng lời nói:
– Xoa dịu bằng lời nói là một kỹ thuật tương tác phức tạp, qua đó người bệnh được định hướng tới trạng thái bình tĩnh, đồng thời thiết lập liên minh điều trị. Nó giúp giảm kích động và nguy cơ tăng nặng triệu chứng, cũng như giảm việc sử dụng các biện pháp ép buộc. Mục tiêu gồm: (1) tái thiết lập sự tự kiểm soát của người bệnh; (2) xác định rõ các giới hạn hành vi; (3) đảm bảo an toàn cho người bệnh, nhân viên và người xung quanh; (4) thiết lập liên minh điều trị; (5) đảm bảo sự tham gia của bệnh nhân trong quá trình điều trị; và (6) giảm thù địch, kích động và ngăn ngừa tái cơn. Khi tiếp cận người bệnh kích động, khuyến cáo tiến hành theo đội ngũ, tuy nhiên chỉ một người tương tác trực tiếp với bệnh nhân khi thực hiện xoa dịu bằng lời nói.
– Các thành phần quan trọng của kỹ thuật xoa dịu bằng lời nói:
Dùng ngôn ngữ đơn giản và câu ngắn, lặp lại khi cần.
Trung thực và chính xác.
Nói rõ rằng người bệnh có thể duy trì sự tự kiểm soát và nhân viên có thể hỗ trợ thêm.
Diễn giải lời bệnh nhân nói; trấn an rằng người khám hiểu rõ.
Sử dụng câu hỏi mở.
Xác lập giới hạn đồng thời đưa ra cho người bệnh những cơ hội thực tế để cải thiện tình trạng hiện tại.
Khi đối diện với nguy cơ bạo lực: cảnh báo rằng bạo lực không được chấp nhận, đề xuất đối thoại, đề nghị sử dụng thuốc, thông báo về khả năng cố định thể chất nếu cần thiết.
Cân nhắc tăng số lượng nhân viên hoặc bảo vệ khi cần thiết.
c) Điều trị thuốc:
– Mục tiêu chính là xoa dịu nhanh mà không gây mê. Trong suốt quá trình, người khám vẫn duy trì xoa dịu bằng lời nói và điều chỉnh môi trường.
– Tất cả nhân viên y tế nên quen thuộc với các phương pháp điều trị và được huấn luyện để sử dụng phù hợp với từng trường hợp. Khi có thể, sử dụng thuốc ít xâm lấn, đơn trị liệu, tác dụng nhanh, và bệnh nhân được tham gia lựa chọn.
– Nếu kích động do triệu chứng loạn thần: ưu tiên sử dụng thuốc chống loạn thần (CLT).
– Nếu kích động không do loạn thần: có thể cân nhắc benzodiazepine (BZD).
– Trong trường hợp cần CLT tác dụng nhanh và người bệnh hợp tác: có thể cân nhắc chế phẩm đường hít (loxapine) hoặc dùng đường uống/ dưới lưỡi (olanzapine, risperidone, asenapine, aripiprazole, quetiapine, ziprasidone, haloperidol).
– Nếu người bệnh không hợp tác: xem xét CLT tiêm bắp (haloperidol, olanzapine, ziprasidone, aripiprazole, levomepromazine).
– Với kích động do bệnh lý y khoa chung hoặc nguyên nhân không biệt định: nên khởi đầu với CLT.
– Với bệnh nhân Parkinson hoặc hội chứng giống Parkinson: tránh CLT điển hình.
– Với kích động sau cơn co giật: ưu tiên BZD.
– Với kích động liên quan ngộ độc rượu/BZD: thận trọng nguy cơ suy hô hấp khi dùng thuốc xoa dịu; nên cân nhắc CLT để tránh tăng huyết áp và suy hô hấp.
– Với cai rượu: cân nhắc BZD để giảm nguy cơ co giật và sảng run. Thêm vitamin B giúp phòng ngừa biến chứng nghiêm trọng ở bệnh nhân sử dụng rượu.
– Với ngộ độc cocaine và chất tổng hợp: cân nhắc dùng BZD khởi đầu thay vì CLT để giảm nguy cơ co giật.
d) Cách ly và cố định:
– Các biện pháp này chỉ nên coi là lựa chọn cuối cùng để kiểm soát người bệnh kích động nặng, không hợp tác và nguy hiểm. Cần sử dụng phòng cách ly thiết kế phù hợp với tường, cửa được bảo vệ và giảm kích thích.
– Cố định thể chất là quy trình giới hạn di chuyển vật lý bằng dụng cụ kềm giữ cơ học; chỉ dùng khi người bệnh có hành vi nguy hiểm và không kiểm soát được bằng thuốc hoặc cần cố định tạm thời để tiêm thuốc. Đây là giải pháp cuối cùng do có thể gây ra nguy cơ như ngạt, hít sặc, chấn thương, tiêu cơ vân, huyết khối, sang chấn tâm lý.
– Trước khi cố định, cần xem xét trạng thái lâm sàng hiện tại của người bệnh. Không nên cố định nếu người bệnh mới trải qua phẫu thuật mắt hoặc phẫu thuật thần kinh (có nguy cơ tăng nhãn áp hoặc tăng áp lực nội sọ).
– Khi quyết định cố định: loại bỏ đồ nguy hiểm, chuẩn bị dụng cụ cố định tại giường, đặt giường ở mức thấp; không dùng lời nói xoa dịu trong quá trình cố định; thông báo cho người bệnh hoặc gia đình; có một người hỗ trợ điều phối, nếu người bệnh hợp tác thì dùng hai người giữ nách và cổ tay đưa người bệnh đến giường; nếu không hợp tác thì năm người giữ vai, cánh tay, chân, đầu, chân, trong đó một người giữ đầu; đặt dụng cụ cố định tại bụng, chi trên và chi dưới.
– Do nguy cơ cao từ cố định, cần theo dõi liên tục: quan sát trực tiếp người bệnh mỗi 15 phút trong hai giờ đầu, sau đó mỗi giờ cho đến khi bỏ cố định; nếu dùng thuốc tiêm bắp, theo dõi mỗi 30 phút trong hai giờ đầu và mỗi hai giờ sau đó. Đánh giá ý thức, tư thế, nhu cầu bệnh nhân như ăn uống, đi tiêu tiểu, sức khỏe thể chất & cảm xúc, riêng tư và giao tiếp.
– Cố định nên chấm dứt sớm nhất có thể. Khi bỏ cố định cần thực hiện từng bước và giải thích cho người bệnh về hành vi được chấp nhận, với ít nhất hai chuyên gia chăm sóc sức khỏe có mặt.
6. SAU ĐỢT KÍCH ĐỘNG:
– Sau đợt kích động, tóm tắt toàn bộ quá trình với đội ngũ điều trị, người bệnh và gia đình. Trình bày từ đánh giá, xác định nguyên nhân đến điều trị, giúp đội ngũ hiểu rõ diễn biến, chia sẻ nhận xét để cải tiến quy trình.
– Nên thảo luận về trải nghiệm chủ quan của người bệnh, suy nghĩ và cảm xúc của bệnh nhân về sự kiện, từ đó giúp họ kiểm định thực tế. Quy trình này hỗ trợ bệnh nhân nhận thức các dấu hiệu trước cơn kích động và học cách tìm hỗ trợ khi cần.
– Người khám cần giải thích cho người bệnh vai trò của điều trị thuốc trong việc phòng ngừa tăng nặng triệu chứng, giảm tác động của tiêm bắp cấp cứu hoặc cố định thể chất và giảm nguy cơ kích động tái phát. Một liên minh điều trị vững chắc giữa bệnh nhân và đội ngũ giúp kiểm soát dài hạn các đợt kích động.
7. CA LÂM SÀNG:
– Bệnh nhân (NB) nam 49 tuổi nhập viện vì đút tay vào ổ điện.
– Năm 2019, bệnh nhân nhập Bệnh viện Chợ Rẫy với chẩn đoán hạ natri máu và tai biến mạch máu não, sau đó nói khó nghe, thấy “ma quỷ”, kích động đập phá ở nhà. Có điều trị tại Bệnh viện Tâm thần TPHCM với chẩn đoán F06, dùng amisulpride, quetiapine, olanzapine. Bệnh nhân không uống thuốc từ tháng 10/2019.
– Trong 10 ngày qua, bệnh nhân gây gổ với người nhà và thường xuyên đưa tay vào ổ điện. Có uống thuốc bác sĩ tư không rõ loại. Trong 1 tuần gần đây, bệnh nhân gồng người, nhắm mắt, không tiếp xúc được và được đưa đến Bệnh viện Chợ Rẫy.
– Tại bệnh viện này, bệnh nhân thường la hét, lắc giường, gây hấn xung quanh làm phiền nhân viên và đồng bệnh, bí tiểu, không chịu ăn. Chẩn đoán F06, điều trị natri valproate 1g/ngày, diazepam 15mg/ngày và olanzapine 10mg/ngày nhưng tình trạng không ổn định, sau đó bệnh nhân được chuyển qua Bệnh viện Tâm thần TPHCM.
– Xét nghiệm MRI cho thấy tổn thương võ não rải rác vùng trán đính hai bên, đầu nhân đuôi, nhân bèo hai bên, nghi ngờ thiếu máu não và thiếu oxy.
– Khi chuyển tuyến: bệnh nhân mở mắt tự nhiên, hiểu y lệnh chậm, thở khí trời tự nhiên, sinh hiệu ổn định, có sonde tiểu. Khi nhập viện, bệnh nhân định hướng lực đúng, nói chậm, nói đớ, hiểu câu hỏi nhưng trả lời không đúng, tư duy nghèo nàn, có ảo giác nhìn thấy chuột màu đen và một người màu đen ngồi trên giường. Điều trị: natri valproate 500mg × 1 viên, diazepam 5mg × 2 viên.
– Trong 5 ngày đầu: bệnh nhân có mẹ và người giúp chăm sóc. Bệnh nhân hiểu câu hỏi của bác sĩ, nói một số từ nhưng không thành câu, thực hiện y lệnh đơn giản, nhận biết đồ vật, nhìn đồng hồ nhưng trả lời sai thời gian. Thường chống đối không uống thuốc, có lúc đánh người nhà khi không vừa ý, thỉnh thoảng đi dầm nước và ngủ rất ít.
– Thuốc điều trị tăng lên: natri valproate 1500mg/ngày, diazepam 10mg/ngày. Bệnh nhân nhiều lần phun thuốc vì nói rằng bác sĩ ở nhà cho thuốc uống làm không nói được nên không chịu uống. Khi cần tiêm, có cố định tạm thời và sau đó bỏ cố định để người nhà hỗ trợ giữ. Một lần xử trí với haloperidol 0.5%/1ml (dùng thuốc tiêm bắp) do kích động chống đối. Sau đó, bệnh nhân bị run tay và nói khó hơn.
– Từ ngày thứ 6 trở đi, bệnh nhân ổn định cảm xúc hơn. Có thể hiểu câu hỏi, trả lời từng từ, kèm ra dấu, không ghi nhận ảo giác hay hoang tưởng, thực hiện y lệnh, hành vi yên. Bệnh nhân chia sẻ rằng trước đây bác sĩ ở nhà cho thuốc uống khiến không nói được nên không chịu uống thuốc, hiện tại bệnh nhân đã đồng ý uống thuốc.
– Bệnh nhân xuất viện sau 14 ngày điều trị với chẩn đoán rối loạn tâm thần thực tổn. Thuốc khi xuất viện: encorate 1500mg/ngày.
Bàn luận:
Bệnh nhân trên có biểu hiện kích động tại nhà và đã sử dụng thuốc chống loạn thần, tuy nhiên vẫn không giảm kích động, kèm biểu hiện ngoại tháp và bí tiểu; tình trạng kích động có xu hướng gia tăng. Cần cân nhắc tác dụng phụ từ thuốc chống loạn thần. Triệu chứng gồng người, rối loạn ý thức, triệu chứng thần kinh đi kèm cùng hình ảnh tổn thương não nên nghi ngờ rối loạn tâm thần nguyên nhân thực tổn, không loại trừ cơn động kinh. Việc sử dụng diazepam và natri valproate đã giúp cải thiện tình trạng kích động và ý thức. Cố định chỉ được thực hiện khi cần tiêm và rất hạn chế. Người bệnh và gia đình được hướng dẫn cách chăm sóc và theo dõi. Sau xuất viện, bệnh nhân đồng ý uống thuốc và tái khám định kỳ dù trước đó từng từ chối điều trị.
Tổng kết:
Việc sử dụng thuốc chống loạn thần trong điều trị kích động cần thận trọng—một số biểu hiện kích động có thể là tác dụng phụ của thuốc. Cố định thể chất chỉ là biện pháp cuối cùng và nên chấm dứt sớm. Xoa dịu không dùng đến thuốc và điều chỉnh môi trường đóng vai trò quan trọng giúp thiết lập liên minh điều trị. Đội ngũ điều trị gồm nhân viên y tế, bệnh nhân và người nhà cần thảo luận thường xuyên trong quá trình điều trị để đạt hiệu quả tốt nhất.
8. NGUỒN THAM KHẢO:
Hướng dẫn NICE 2018 về xử trí kích động ngắn hạn
Hội nghị chuyên gia quốc tế lần thứ nhất về kích động: Mô hình xử trí hiện tại và lý tưởng (2018)
Tuyên bố chung của Hiệp hội Tâm thần Mỹ về cấp cứu tâm thần (2012)
Quy trình xử trí người bệnh tâm thần có kích động tâm thần vận động (2017)
TRẠNG THÁI KÍCH ĐỘNG
TS. Nguyễn Trọng Đạo – Khoa Tâm thần, Bệnh viện Quân y 103
1. NGUYÊN NHÂN
Say rượu, say ma túy.
Cai rượu, cai ma túy.
Bệnh tâm thần phân liệt, rối loạn cảm xúc (hưng cảm và trầm cảm), động kinh, chậm phát triển tâm thần.
2. TRIỆU CHỨNG
Kích động ngôn ngữ: Kích động ngôn ngữ là tình trạng hưng phấn ngôn ngữ vô cùng mạnh mẽ, không thể kiểm soát. Bệnh nhân la hét, chửi bới, gào thét.
Tư duy phi tán: nói chưa hết chuyện này đã chuyển sang chuyện khác (hưng cảm).
Tư duy lập lại: chỉ trả lời một nội dung cho tất cả các câu hỏi. Ví dụ hỏi bệnh nhân: anh tên là gì, bệnh nhân trả lời: tôi tên là Nam; hỏi: anh bao nhiêu tuổi? trả lời: tôi tên là Nam; hỏi: anh làm nghề gì? trả lời: tôi tên là Nam. Tư duy kiên định trong kích động căng trương lực.
Tư duy lặp lại: bệnh nhân lặp lại câu hỏi mà ta đặt cho. Ví dụ một bệnh nhân có tư duy lặp lại như sau: hỏi: anh tên là gì? trả lời: anh tên là gì? hỏi: anh bao nhiêu tuổi? trả lời: anh bao nhiêu tuổi? Tư duy lặp lại trong kích động căng trương lực.
Kích động vận động: Kích động vận động là tình trạng hưng phấn vận động quá mức, không thể kiểm soát. Bệnh nhân có các hành vi đập phá, đốt nhà, đánh người, giết người. Kích động vận động ở bệnh nhân trầm cảm thể hiện bằng các hành vi rất nguy hiểm như tấn công người khác, giết người, đốt nhà. Họ tỏ ra rất lạnh lùng và tàn nhẫn.
Kích động ở bệnh nhân hưng cảm thường diễn ra trong không gian rộng. Bệnh nhân chạy nhảy, phá phách, gây rối trật tự công cộng. Tuy nhiên, hiếm khi bệnh nhân tấn công người, đốt nhà.
Kích động căng trương lực diễn ra trong một không gian hẹp (trong phòng bệnh) với các hành vi bất thường và không thể lường trước. Sau kích động căng trương lực, bệnh nhân có thể chuyển sang bất động.
Kích động hỗn hợp: Vừa kích động ngôn ngữ, vừa kích động vận động. Kích động hỗn hợp gặp trong bệnh nhân tâm thần phân liệt, say rượu, say ma túy nhóm kích thần, hội chứng cai rượu, hội chứng cai heroin.
3. XỬ LÝ
- Phối hợp với các lực lượng chức năng bắt và cố định bệnh nhân vào giường. Nếu bệnh nhân có vũ khí (gậy, dao, gạch, đá) thì chúng ta không được cố gắng bắt giữ. Hãy kiên nhẫn chờ đợi thời điểm thích hợp, đánh lạc hướng hoặc giả thỏa thuận với bệnh nhân để họ bỏ vũ khí, tốt nhất là mời công an, bảo vệ đến bắt giữ bệnh nhân; sau đó, cố định bệnh nhân tại giường bằng 3 hoặc 4 sợi dây to bản. Luôn luôn trông chừng, không để bệnh nhân hoặc người khác cởi dây cố định cho bệnh nhân. Ngay sau đó thì tiêm thuốc như sau:
Dùng thuốc chung cho mọi dạng kích động (trừ say rượu):
(1) Haloperidol 5mg x 4 ống
(2) Pipolphen 50mg x 2 ống
(3) Aminazin 25mg x 10 ống
Trộn 3 loại thuốc trên vào trong cùng 1 xilanh, tiêm bắp sâu, chia làm 2 lần mỗi ngày (sáng, tối).
(4) Diazepam 10mg x 2 ống, tiêm bắp (sáng, tối).
Lưu ý: chỉ được cởi dây cố định cho bệnh nhân khi bệnh nhân đã ngủ sâu.
Tiêm thuốc như trên từ 3 – 5 ngày bệnh nhân sẽ hết kích động.
Với kích động do say rượu:
Cố định bệnh nhân vào giường.
Vitamin B1 0,025 x 10 ống, tiêm bắp.
Chờ bệnh nhân ngủ sâu hay cởi dây cố định. Sau 12 giờ, lượng rượu thải trừ hết, bệnh nhân sẽ hết kích động.
Với kích động do cai rượu:
Cố định bệnh nhân vào giường.
Tiêm thuốc:
(1) Diazepam 10mg x 2 ống/tiêm bắp (sáng, tối)
(2) Vitamin B1 0,025 x 10 ống/tiêm bắp (sáng, tối)
(3) Ringer lactat 500mL x 2 chai, truyền tĩnh mạch 40 giọt/phút.
Dùng thuốc 5 ngày, bệnh nhân sẽ hết hội chứng cai rượu.
TS. NGUYỄN TRỌNG ĐẠO
Khoa Tâm thần – Bệnh viện Quân y 103
Vui cũng uống, buồn cũng uống. Thành công cũng uống, thất bại cũng uống; đám cưới cũng uống, đám ma cũng uống. Sáng uống, trưa uống, chiều uống, tối cũng uống. Nghèo thì rượu đế, nhâm nhi vài con sò, con ốc, trái cóc, trái xoài, khá giả thì chơi rượu tây trong các nhà hàng sang trọng. Thanh niên uống la hét, người già uống nhâm nhi, ngẫm nghĩ sự đời. Có thể nói, chưa có một chất gây nghiện đặc biệt nào được sử dụng nhiều như rượu ở nước ta.
CCB BS. Nguyễn Hữu Khánh Duy- Giám đốc Trung tâm Điều dưỡng và Cai nghiện ma túy Thanh Đa
Trước hết, do môi trường văn hóa – tâm lý – xã hội là một trong những nguyên nhân dẫn đên lạm dụng rượu. Nhiều người quan niệm, việc hiếu hỉ, khen thưởng, thi đua, thậm chí chiêu đãi tại các hội nghị, khánh thành cơ sở… là phải có rượu. Lý do để uống rượu trở nên quá bình thường trong đời sống, lễ hội, trong quan hệ hàng ngày. Không chỉ có mặt trong các buổi họp mặt, liên hoan mà cả đau buồn, thất bại trong cuộc sống người ta cũng uống rượu tiêu sầu.
Nhiều người tin rằng, rượu là một chất bổ, nhất là khi dùng rượu ngâm với các loại thảo dược, bộ phận động vật để tăng cường sinh lực, bổ thận, tráng dương… nên được phổ biến trên nhiều phương tiện truyền thông đại chúng.
Hầu như mọi nhà đều có thể biết cách làm rượu, nên cũng có thể xem loại thức uống này là một dạng “ma túy” hợp pháp, vì nó được sản xuất thủ công từ gạo, nếp đến vỏ cây, bã mía, củ sắn, lá rừng… Tuy nhiên lạm dụng rượu lâu ngày đưa đến chứng nghiện rượu, để lại nhiều tác hại.
- Về cơ thể: rượu gây tổn thương hệ thống thần kinh, tim mạch, viêm loét dạ dày, dẫn đến xơ gan, ung thư gan và tổn thương nhiều bộ phận khác.
- Về mặt tâm thần: do phụ thuộc rượu, người nghiện rượu bị tổn thương hệ thống thần kinh não bộ, rối loạn nhận thức, hành vi, nhân cách, mất trí, phát sinh nhiều bệnh tâm thần.
Ngoài gây tác hại trên hệ thống thần kinh não bộ, rượu còn ảnh hưởng trên hệ tim mạch, hô hấp, tiêu hóa và ảnh hưởng rất nặng nề trên gan, tuyến yên và tuyết tụy,… Phụ nữ nghiện rượu có thể sinh non bé nhẹ cân và dị dạng. Rượu còn gây nguy cơ ung thư vòm hầu, thanh quản và gan.
Người say rượu mức độ nhẹ thì phản ứng chậm chạp, kém nhạy bén, thiếu vận động, giảm nhiều kỹ năng lao động.Uống nhiều thì dẫn đến tình trạng hưng phấn, khí sắc tăng, khoái cảm thô lỗ, nói năng đùa cợt không phù hợp. Đến lúc say thì hay cường điệu hóa vụ việc, ưa khoe khoang về mình, ưa công kích người khác. Ngoài ra người say rượu ưa chấp nhặt, hay gây sự. Say rượu nhẹ có thể giải tỏa bản năng tình dục dễ dẫn đến hành vi thô bạo với người khác giới.
Còn say rượu ở mức độ “trung bình” thường liên tưởng hỗn độn, không kiềm chế được cảm xúc, dễ tức giận, nổi nóng dù những nguyên do không đáng kể. Trường hợp quá say, người uống thường nôn nhiều, vã mồ hôi, tăng tiết nước bọt, tiểu ra quần, có thể dẫn đến hôn mê, mạch nhanh, thở nhanh, hạ huyết áp và có thể dẫn đến tử vong. Người nghiện rượu cần được theo dõi ở cơ sở y tế.
Rượu gây rất nhiều rối loạn về tâm thần: làm người nghiện rối loạn khí sắc, khoan khoái dễ chịu, nói năng luyên thuyên, khoác lác, hay đùa cợt, xàm sỡ, cáu gắt, công kích dọa nạt, chửi bới tấn công người khác. Trong một số người có thể thay đổi từ vui nhộn, khoan khoái với những câu bông đùa vô duyên, quá xàm sỡ chuyển sang quấy rầy, nổi khùng, cau có, gây gổ, độc ác.
Người nghiện ngày càng trở nên ích kỷ, mất đi những thích thú cũ, lãnh đạm với người thân. Giảm sút tình cảm đạo đức. Đối với công việc, năng suất công việc giảm. Đối với xã hội, mối quan hệ bị thu hẹp dần, người bệnh mất dần những bạn bè thân thích, chỉ còn những bạn rượu chia sẻ thú vui uống rượu nhất thời, dẫn đến mất tư cách đạo đức, thậm chí là vi phạm pháp luật.
Đặc biệt. người nghiện rượu có thể thể dẫn đến các triệu chứng, hành vi nguy hiểm tương tự như… nghiện ma túy, có thể bị ảo giác, ảo thanh, ảo thị, ảo xúc, ảo khứu, ảo vị, hoang tưởng, rối loạn cảm xúc và hành vi. Điển hình như, thoạt đầu những ý tưởng ghen tuông chỉ có trong khi say, dần dần mới trở nên nhiều hơn và xuất hiện cả những khi không uống rượu. Từ chỗ nghi ngờ đi đến khẳng định vợ mình không chung thủy. Lúc này, bệnh nhân – người nghiện, cho rằng “kẻ thứ ba” thường là người quen biết. Sự phức tạp của loạn thần có thể diễn ra theo hai hướng chính: Hoặc lả hoang tưởng ghen tuông; hoặc là hoang tưởng bị thiệt hại vật chất (như vợ lấy tiền cho người yêu, đầu độc bệnh nhân để có thể tự do với người yêu). Ngoài ra người nghiện còn hoang tưởng bị theo dõi, bị hại. Một số thống kê nhận thấy hoang tưởng ghen tuông gặp ở bệnh nhân loạn thần do rượu với hoang tưởng và ảo giác chiếm ưu thế. Ngoài các triệu chứng hành vi trên, người nghiện còn rối loạn cảm xúc, bệnh nhân thường bị ức chế, đôi khi trở nên cau có, giận dữ, hành vi có khi thẫn thờ, cảm giác không lối thoát.
Vì bị tổn thương hệ thống não bộ, người nghiện phải được điều trị nội trú một thời gian về tâm thần, điều chỉnh phục hồi nhận thức, hành vi, nhân cách, tư vấn tâm lý trị liệu, và các loại hình hoạt động trị liệu khác. Khi điều trị ngoại trú người nghiện phải được uống thuốc chống tái nghiện.
Do những loại thuốc có tác dụng phụ nên việc uống thuốc phải được cơ sở y tế theo dõi thường xuyên kèm với liệu pháp tư vấn và tâm lý.
Trung tâm Điều dưỡng và Cai nghiện ma túy Thanh Đa là một trong rất ít trung tâm cai nghiện ma túy được phép cai nghiện rượu của Sở Y tế thành phố Hồ Chí Minh. Trung tâm có 7 bác sĩ chuyên khoa tâm thần và cai nghiện ma túy trên 20 năm.
Nghiện rượu tuy tác hại về tâm thần chậm hơn các loại ma túy khác nhưng ảnh hưởng trên não bộ. Bên cạnh những rối loạn tâm thần kể trên người nghiện còn bị teo não rất khó phục hồi và còn bị tổn thương trên rất nhiều bộ phân khác, do đó không thể coi thường tác hại của loại “ma túy” này được.
Bác sĩ Nguyễn Hữu Khánh Duy, nguyên Cụm Phó Cụm Điệp báo A10 - Ban An ninh Sài Gòn Gia Định, Giám đốc Trung tâm Điều dưỡng & Cai nghiện Ma túy Thanh Đa được biết đến là "Người Điệp báo A10 năm xưa".
<
"Đ/c Trần Quốc Hương – Nguyên Bí thư Trung ương Đảng Trưởng Ban Nội chính Trung ương, Trưởng Ban An ninh Sài Gòn Gia Định tặng hoa cho Bs Nguyễn Hữu Khánh Duy..."
Ông tên thật là Nguyễn Hữu Khánh Duy, bí danh Năm Quang, sinh năm 1947 Quê ở Nghệ An nhưng sinh ra và lớn lên ở Sài Gòn trong một gia đình Nho giáo, với sự giáo dục của gia đình và ảnh hưởng tư tưởng Phật giáo nên trong ông tình yêu quê hương, đất nước là trên hết.
Năm 1963, ông tham gia phong trào đấu tranh chống Ngô Đình Diệm đàn áp Phật giáo. Năm 1966, ông thi đỗ vào trường Đại học Y khoa Sài Gòn và tham gia các hoạt động của Tổng hội sinh viên. Thông qua nghiên cứu sách báo, tiếp cận với hoạt động thực tế, ông dần giác ngộ hiểu được bản chất của cuộc chiến ở Miền Nam Việt Nam và chiều hướng phát triển tất yếu của đất nước, với những hoạt động hàng ngày phản chiến tranh, ông trở thành người của cách mạng lúc nào không hay.
Ông tham gia và giữ nhiều chức vụ trong các Ủy ban tranh đấu chống đàn áp học sinh, sinh viên, chống quân sự học đường, qua đó ông được sinh viên tín nhiệm bầu làm Chủ tịch các Ủy ban tranh đấu, Trưởng ban đại diện sinh viên Y khoa, Đoàn trưởng đoàn Công tác Y tế sinh viên Y - Nha - Dược, Đoàn trưởng Đoàn văn nghệ sinh viên Y - Nha.
Năm 1971, ông tham gia An ninh vũ trang, năm 1972 là Cụm phó Cụm Điệp báo A10 - Ban An ninh Sài Gòn - Gia Định”. Nhiệm vụ của Cụm điệp báo A10 là xây dựng cơ sở bí mật trong lòng địch, thu thập tin tức, nắm ý đồ, thủ đoạn và tổ chức hoạt động của chính quyền ngụy Sài Gòn; tấn công chính trị, tác động và phân hóa hàng ngũ địch; xây dựng lõi căn cứ chính trị trong quần chúng nhân dân phục vụ cho đấu tranh cách mạng, thời gian đầu bị địch đánh phá gần như tê liệt.
Trước tình hình khó khăn của các phong trào đô thị, theo chỉ thị của lãnh đạo cụm điệp báo A10, ông thành lập đoàn công tác Y tế sinh viên Y - Nha - Dược và các trường đại học khác để tạo địa bàn hoạt động cho sinh viên, đồng thời thực hiện nhiệm vụ và mục tiêu của Ban An ninh T4. Trên cương vị là Chủ tịch Ban đại diện sinh viên Y khoa, với vai trò là Đoàn trưởng Đoàn công tác, ông đã xây dựng cương lĩnh hoạt động, ngụy trang làm công tác y tế - xã hội thuần túy, nên được Hiệu trưởng và Chủ tịch Ban đại diện ba trường đồng ý, thông qua đó đoàn quy tụ được nhiều sinh viên hợp pháp, dễ dàng.
Từng bước một đoàn thành lập các ban văn nghệ, y tế, xã hội, và báo chí, trong các buổi sinh hoạt hát bằng nhạc yêu nước, nhạc của sinh viên tranh đấu, viết những bài báo chống chiến tranh, kêu gọi hòa bình, chống tham nhũng, đòi dân sinh, dân chủ, chống đàn áp sinh viên, học sinh. Đoàn tổ chức khám bệnh, phát thuốc và làm công tác xã hội giúp người nghèo ở các xóm lao động nghèo. Thuốc xin từ các xí nghiệp Dược vừa sử dụng cho công tác xã hội, vừa tiếp tế cho học sinh, sinh viên, cán bộ bị địch bắt giam và một số thuốc cần thiết gửi vào chiến khu, đã bị cảnh sát mật vụ theo dõi rất kỹ, nhưng chúng chỉ thấy Đoàn khám bệnh, phát thuốc, khám răng, dựng nhà cho dân, mà không biết được dưới sự chỉ đạo của Trung ương cục và ông, các sinh viên Y - Nha - Dược thuộc các tổ chức cách mạng như Ban An ninh T4 - Thành đoàn - Liên Quận - quần chúng nòng cốt đến từng hộ gia đình, tiếp cận từng người dân để làm công tác tư tưởng, vận động đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ, chống bắt lính, kể khổ, tố khổ, chống chế độ thối nát, đòi hòa bình, phân loại tâm tư nguyện vọng, xây dựng mạng lưới cơ sở, nâng cao nhận thức của quần chúng và phát hiện các phần tử ác ôn, chống phá cách mạng.
Để tấn công chính trị, phân hóa hàng ngũ địch, ông đã xây dựng cơ sở nồng cốt là đồng chí Huỳnh Bá Thành (Họa sĩ Ớt) - Giám đốc kỹ thuật kiêm Thư ký tòa soạn báo Điện tín của nhóm Dương Văn Minh. Dưới sự chỉ đạo của ông, anh Thành và các cơ sở đã sử dụng báo Điện tín thực hiện ý đồ của ta là định hướng dư luận quần chúng có lợi cho cách mạng. Phân hóa hàng ngũ địch, tổ chức lôi kéo các lực lượng tiến bộ - hòa bình - dân tộc, tập hợp thành lực lượng chống đối Nguyễn Văn Thiệu. Tác động các phóng viên viết bài đấu tranh dân sinh, dân chủ, chống tham nhũng, ta thán chiến tranh, kêu gọi hòa bình, thực hiện nghiêm chỉnh Hiệp định Paris, thành lập chính phủ ba thành phần, thực hiện hòa hợp, hòa giải trên cơ sở pháp lý và hiệp định Paris mà Mỹ - Thiệu đã ký.
Năm 1973, ông tốt nghiệp bác sĩ và bị tổng động viên vào Quân đội Sài Gòn. Chấp hành mệnh lệnh của tổ chức, ông tham gia quân đội để có điều kiện tiếp tục chỉ đạo mạng lưới điệp báo tại Sài Gòn, đồng thời hoạt động trong hàng ngũ địch với cương vị Trung úy Bác sĩ Trưởng Tiểu đoàn 6 (Thần Ưng Quyết Tử) Sư đoàn Thủy quân Lục chiến. Trên cương vị của một bác sĩ, ông có một lợi thế rất lớn là sử dụng quyền hạn của mình.
Nhằm làm giảm ý chí chiến đấu và tiêu hao sinh lực địch bằng nhiều nội dùng hình thức khác nhau, ông ra điều kiện cứ một người lính bị thương phải có từ 10 - 20 người lính khác cho máu với lượng 10cc/người. Những người lính cho máu được miễn trực gác chốt tiền tiêu và được thưởng lương khô, làm cho lính gác bị thiếu hụt, có lợi cho quân đội ta. Chưa đầy 6 tháng sau ông được thăng chức từ bác sĩ trưởng tiểu đoàn 6 lên làm bác sĩ trưởng Lữ đoàn 258. Trong vai trò là bác sỹ, ông đã kết thân với nhiều sỹ quan quân đội Việt Nam Cộng hòa, qua đó khai thác nhiều tin tức quan trọng trong quân đội như: Thiếu hụt vũ khí, quan trang quân dụng, các chiến thuật, chiến lược, kế hoạch tác chiến,... kịp thời báo về cho cách mạng.
Ông đã hoàn thành xuất sắc vai trò của mình trong lòng địch, đem về cho tổ chức nhiều tư liệu quí giá. Tuy nhiên, đằng sau những chiến công vang dội đó, ông đã chịu không ít tủi nhục, chịu đựng những lời chê trách của người thân, bạn bè, thậm chí của cả người yêu, những người đã từng một thời cùng ông tham gia sôi nổi trong các hoạt động của sinh viên, học sinh. Ông không giải thích một lời để hoàn thành nhiệm vụ một cách bí mật.
Tháng 4/1975 ông và mạng lưới cơ sở cụm điệp báo A10 đã tác động ông Dương Văn Minh, góp phần thúc đẩy Tổng thống cuối cùng của chế độ Việt Nam Cộng hòa lựa chọn con đường đầu hàng Quân giải phóng, nhằm cứu Sài Gòn thoát khỏi cuộc đổ nát bởi trận chiến giãy chết cuối cùng.
Tháng 5 năm 1975 khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, vì nhiệm vụ ông được giới thiệu đi… ”học tập, cải tạo” như một sĩ quan quân đội Sài Gòn nhằm che giấu hoạt động của mình để nắm tình hình trong trại cải tạo, qua đó ông phát hiện một số đối tượng che giấu lý lịch và âm mưu chống phá trại, giúp ta ngăn chặn kịp thời. Hơn nửa năm hoạt động trong trại cải tạo, ông được chuyển về khối Bảo vệ Chính trị thuộc Ban An ninh Nội chính thành phố Hồ Chí Minh.
Năm 1976, Bác sĩ Nguyễn Hữu Khánh Duy công tác tại trại giam Chí Hòa, điều trị cho hàng ngàn bệnh nhân nghiện ma túy, ông phải tự học tập, tiếp cận và tìm hiểu về ma túy. Những năm 1980, ông chuyển về công tác tại Phòng An ninh Văn hóa - Tư tưởng, phụ trách lĩnh vực y tế, xã hội, khoa học, kỹ thuật, giáo dục và bảo vệ cơ quan Dân - Chính - Đảng. Từ năm 1995 đến năm 2000, ông làm Hội thẩm Tòa án Nhân dân thành phố Hồ Chí Minh, đã xét xử nhiều vụ án liên quan đến may túy, ông thấy rằng: Ma túy thực sự là hiểm họa của toàn xã hội, nó hủy hoại nhân cách, đạo đức của con người. Ông quyết định: “Phải đấu tranh với ma túy”. Ông xây dựng một trung tâm cai nghiện ma túy để cứu sống những người lầm lạc.
"Bác sỹ Nguyễn Hữu Khánh Duy được Chủ tịch nước tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Ba.”
Trung tâm cai nghiện ma túy Thanh Đa được xây dựng trên một địa thế rộng rãi, thoáng mát ven sông Sài Gòn, với đầy đủ trang thiết bị cần thiết phục vụ cho công tác cai nghiện như: phòng cắt cơn, phòng điều dưỡng, phòng tập thể dục thể hình, phòng tắm hơi, mat- xa, thậm chí còn có cả phòng hát karaoke, bể bơi, thư viện, sân bóng chuyền,… Ngoài ra, ở Trung tâm Thanh Đa còn có các xưởng dạy những nghề thông dụng như: may mặc, mộc, trồng cây cảnh, cơ khí, điện,… tất cả tạo nên một mô hình cai nghiện tiến bộ và hiện đại.
Với mô hình cai nghiện tiến bộ đó, từ 30 học viên trong thời gian đầu, đến nay, công ty đã điều trị cho hơn 25.000 lượt học viên. Và số lượng học viên đang cai nghiện tại trung tâm hiện nay gần 400 học viên, trong đó gần một nữa là học viên điều trị ngoại trú. Đặc biệt, trung tâm còn thu hút nhiều kiều bào từ khắp nơi trên thế giới về cai nghiện và cả người nước ngoài. Những con người khi đến đây đều mang mặc cảm trong mình, nhưng chỉ sau vài tháng điều trị, họ đã lấy lại được tinh thần và có thể sống bình thường như bao con người khác. Đó là niềm mong ước của Bác sĩ Khánh Duy và cả tập thể cán bộ ở đây.
Mỗi trung tâm có một mô hình riêng, nhưng điều đặc biệt của Trung tâm cai nghiện Thanh Đa là chú trọng đến giáo dục, gọt dũa, điều chỉnh, phục hồi nhận thức, hành vi, nhân cách cho học viên. Cùng với sự hướng dẫn tận tình, sự tận tụy, chân tình, của những cán bộ ở đây khiến cho học viên không còn mặc cảm, mà coi đây là một đại gia đình.
Trước những đóng góp không nhỏ cho xã hội, ngày 21 tháng 12 năm 2011 Chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đã tặng Huân chương Lao động hạng Ba cho Bác sỹ Nguyễn Hữu Khánh Duy, Giám đốc Công ty trách nhiệm hữu hạn Điều dưỡng và cai nghiện ma túy Thanh Đa, thành phố Hồ Chí Minh đã có thành tích xuất sắc trong công tác điều dưỡng và cai nghiện ma túy từ năm 2006 đến 2010, góp phần vào sự nghiệp xây dựng Chủ nghĩa xã hội và bảo vệ tổ quốc.
- CS1: PHÒNG KHÁM HỖ TRỢ ĐIỀU TRỊ CAI NGHIỆN MA TÚY
Giấy phép số 09228/HCM-GPHĐ-Sở Y Tế
- CS2: PHÒNG KHÁM NỘI TỔNG HỢP
Giấy phép số 10472/HCM-GPHĐ-Sở Y Tế
NỘI DUNG ĐIỀU TRỊ
- Điều trị nghiệnRƯỢU.
- Xác định tình trạng nghiệnMA TÚY.
- Chẩn đoán và điều trị nghiện các chấtMA TÚY:nhóm OMH (Á phiện, Heroine, Methadone…), các chất Kích thích (Cocaine, Amphetamine, Ecstasy, thuốc lắc, hàng đá ...), các chất gây ảo giác LSD, cần sa, cỏ Mỹ, tinh dầu …) các thuốc giải lo âu, gây ngủ … các loại chất, khí gây rối loạn, loạn thần …
- Điều trịCHỐNG TÁI NGHIỆNbằngNaltrexon.
- Điều trịTRẠNG THÁI KÍCH ĐỘNG, RỐI LOẠN TÂM THẦN.
a) Người đang thực hiện cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng hoặc tại cơ sở cai nghiện thì tiếp tục thực hiện cai nghiện ma túy tự nguyện đến hết thời hạn đã đăng ký theo quy định của Luật Phòng, chống ma túy số 23/2000/QH10 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 16/2008/QH12 và bị quản lý sau cai nghiện ma túy theo quy định của Luật này;
b) Người đang bị quản lý sau cai nghiện ma túy thì tiếp tục chấp hành quyết định quản lý sau cai nghiện ma túy đến hết thời hạn quản lý sau cai nghiện theo quy định của Luật Phòng, chống ma túy số 23/2000/QH10 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 16/2008/QH12. Trường hợp người đang trong thời gian quản lý sau cai nghiện ma túy đủ 18 tuổi kể từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành mà tái nghiện thì áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc;
c) Người đang chấp hành quyết định cai nghiện ma túy bắt buộc tại cộng đồng theo quy định của Luật Phòng, chống ma túy số 23/2000/QH10 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 16/2008/QH12 thì được đăng ký cai nghiện tự nguyện theo quy định của Luật này. Thời gian đã chấp hành quyết định cai nghiện ma túy bắt buộc tại cộng đồng được tính vào thời hạn cai nghiện ma túy tự nguyện;
d) Người thuộc trường hợp phải đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định của Luật Phòng, chống ma túy số 23/2000/QH10 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 16/2008/QH12 đang trong quá trình lập hồ sơ đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thì thực hiện việc cai nghiện ma túy theo quy định của Luật này;
đ) Giấy phép liên quan đến hoạt động hợp pháp liên quan đến ma túy đã được cấp tiếp tục được sử dụng đến hết thời hạn ghi trên giấy phép.
2. Trong thời hạn 02 năm kể từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành, cơ sở cai nghiện ma túy bắt buộc được thành lập theo quy định của Luật Phòng, chống ma túy số 23/2000/QH10 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 16/2008/QH12 phải đáp ứng đủ điều kiện của cơ sở cai nghiện ma túy công lập theo quy định của Luật này.
Các cơ sở khác về cai nghiện ma túy theo quy định của Luật Phòng, chống ma túy số 23/2000/QH10 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 16/2008/QH12 đã được cấp giấy phép hoạt động trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành được tiếp tục hoạt động cho đến khi hết thời hạn của giấy phép.
1. Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.
2. Luật Phòng, chống ma túy số 23/2000/QH10 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 16/2008/QH12 hết hiệu lực kể từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành.
Nhà nước Việt Nam thực hiện yêu cầu chuyển giao hàng hóa có kiểm soát trên cơ sở điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên để phát hiện và truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội về ma túy. Việc quyết định áp dụng và tiến hành biện pháp này thực hiện theo thỏa thuận giữa cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam và của nước có liên quan.
Nhà nước Việt Nam thực hiện chính sách hợp tác quốc tế đa phương và song phương trong lĩnh vực phòng, chống ma túy trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền quốc gia với các nước; khuyến khích tổ chức quốc tế, tổ chức, cá nhân nước
ngoài hợp tác với cơ quan, tổ chức của Việt Nam hỗ trợ lẫn nhau về cơ sở vật chất, tăng cường năng lực pháp luật, thông tin, công nghệ đào tạo và y tế cho hoạt động phòng, chống ma túy.
1. Nhà nước Việt Nam thực hiện điều ước quốc tế về phòng, chống ma túy và điều ước quốc tế khác có liên quan mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và các bên cùng có lợi; hợp tác với các nước, tổ chức quốc tế, tổ chức, cá nhân nước ngoài trong hoạt động phòng, chống ma túy.
2. Trên cơ sở điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên, quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan, thỏa thuận quốc tế đã ký kết, cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam thực hiện chương trình hợp tác về phòng, chống ma túy với cơ quan có liên quan của các nước, tổ chức quốc tế, tổ chức, cá nhân nước ngoài.