TRUNG TÂM CAI NGHIỆN THANH ĐA

  1. TỔ CHỨC CAI NGHIỆN MA TÚY TẠI CỘNG ĐỒNG

  2. XÂY DỰNG MÔI TRƯỜNG TRỊ LIỆU CỘNG ĐỒNG (Treatment Community – TC)

  3. YÊU CẦU VỀ CƠ CẤU - HOẠT ĐỘNG - MỐI QUAN HỆ ĐỂ MỘT MÔI TRƯỜNG TRỊ LIỆU CỘNG ĐỒNG CÓ HIỆU QUẢ

  4. VNExpress - 'Bố già' của hàng nghìn cuộc đời lầm lỡ

  5. Hoạt động Giáo dục Trị liệu

  6. Cai nghiện Ma túy - Điều trị

  7. Hình ảnh hoạt động Trung tâm Cai nghiện Thanh Đa

  8. VTV9 - Qui trình điều trị, giáo dục ...

  9. CAI NGHIỆN MA TÚY - CÔNG VIỆC NHÂN ĐẠO NHỌC NHẰN

 10. VTV6 - Điểm nóng - Thảm họa từ cái chết trắng

 11. Ghi nhận ở Trung tâm điều dưỡng và cai nghiện ma túy Thanh Ða

 12. ĐÓN NHẬN HUÂN CHƯƠNG LAO ĐỘNG HẠNG BA

 13. Công ty điều dưỡng và cai nghiện ma túy Thanh Đa - Tự hào 15 năm góp sức cùng cộng đồng

 14. FBNC - Cai nghiện ma túy

 15. FBNC - Cai nghiện ma túy

 16. Quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

 17. Cuộc chiến chống "cái chết trắng" của 1 cựu điệp báo viên

 18. Bài 2 - Tổng quan về Trung Tâm Điều Dưỡng và Cai Nghiện Ma Túy Thanh Đa

 19. Bài 3 - Quy trình cai nghiện tại Trung Tâm Điều Dưỡng và Cai Nghiện Ma Túy Thanh Đa

 20. HTV9 - CUỘC SỐNG QUANH TA

 21. Cuộc chiến chống "cái chết trắng" của 1 cựu điệp báo viên

 22. Bài 2 - Tổng quan về Trung Tâm Điều Dưỡng và Cai Nghiện Ma Túy Thanh Đa

 23.

 24. Hướng dẫn hỗ trợ điều trị chống tái nghiện ma túy nhóm opiats bằng thuốc Danapha-Natrex

 25. HƯỚNG DẪN ĐIỀU TRỊ THAY THẾ NGHIỆN CÁC CHẤT DẠNG THUỐC PHIỆN BẰNG THUỐC METHADONE

 26. Bác sĩ Nguyễn Hữu Khánh Duy - Giám đốc Công ty TNHH Điều Dưỡng và Cai Nghiện Ma Túy Thanh Đa Người cha của những đứa con lầm lạc

 27. Tổng quan Trung tâm cai nghiện ma túy Thanh Đa

 28. Tổng quan Trung tâm cai nghiện ma túy Thanh Đa

 29. Ex-spy sees continuity in helping people

 30. Nghe chiến sĩ tình báo kể chuyện dùng “vũ khí” tình thương

 31. Nhóm lãnh đạo doanh nghiệp trẻ ASIA đánh giá cao mô hình cai nghiện ma túy của Trung tâm Thanh Đa

 32. VIDEO: NGƯỜI LÍNH GIÀ TRÊN CUỘC CHIẾN MỚI - BÁC SĨ NGUYỄN HỮU KHÁNH DUY

 33. HÃY TRÁNH XA 10 LOẠI MA TÚY ĐANG ĐƯỢC LẠM DỤNG NHIỀU NHẤT THẾ GIỚI

 34. ĐẠI CƯƠNG VỀ LIỆU PHÁP GIÁO DỤC TÂM LÝ – XÃ HỘI

 35. BÁC SĨ NGUYỄN HỮU KHÁNH DUY: NHÀ TÌNH BÁO VÀ CÁI NGHIỆP CHỐNG MA TÚY

 36. ‘Bố Khánh Duy’ - Người cha của những đứa con lầm lạc

 37. NGƯỜI TRÍ THỨC CHIẾN ĐẤU TRÊN MỌI MẶT TRẬN

 38. HÌNH ẢNH HOẠT ĐỘNG TRUNG TÂM THANH ĐA

 39. THÔNG TIN BÁO CHÍ VỀ TRUNG TÂM CAI NGHIỆN MA TÚY THANH ĐA

 40. VTV1 – Người đương thời Nguyễn Hữu Khánh Duy

 41. Phim tài liệu về Trung tâm Điều dưỡng và Cai nghiện Ma túy Thanh Đa

 42. KHEN THƯỞNG

 43. THAM DỰ VÀ BÁO CÁO TẠI CÁC HỘI NGHỊ TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC

 44. ĐOÀN KHÁCH TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC

 45. ĐOÀN KHÁCH TRONG - NGOÀI NƯỚC

 46. SINH HOẠT - HỌC TẬP - VUI CHƠI - GIẢI TRÍ CỦA HỌC VIÊN

 47. Chi bộ công ty

TỔ CHỨC CAI NGHIỆN MA TÚY TẠI CỘNG ĐỒNG

TỔ CHỨC CAI NGHIỆN MA TÚY TẠI CỘNG ĐỒNG


Các Trung tâm sau một thời gian điều trị - phục hồi cho các đối tượng, sẽ trả họ về tại cộng đồng, với gia đình họ cư ngụ và sinh sống. Chính tại nơi đây họ cần được giám sát và tiếp tục điều trị để củng cố những kết quả đã đạt được sau thời gian ở Trung tâm. Mặt khác tại cộng đồng địa phương như tỉnh, quận, xã.... cũng còn những đối tượng nghiện ma túy chưa được điều trị trong các Trung tâm không còn đủ chỗ tiếp nhận.


Việc tổ chức cai nghiện tại cộng đồng trở nên bức thiết hơn bao giờ hết. Các cơ sở cai nghiện tại cộng đồng có thể điều trị cho các đối tượng ngay từ đầu, đồng thời tiếp tục củng cố phục hồi  cho các đối tượng từ Trung tâm trở về hội nhập. Giải pháp cai nghiện ma túy dựa vào cộng đồng đòi hỏi sự tham gia tích cực của tất cả các cư dân trong địa bàn sinh sống. Chỉ khi nào có sự chủ động thực hiện kế hoạch với tất cả tiềm năng của mình, việc giảm cầu ma túy trong từng cộng đồng mới có thể có kết quả.


Việc cai nghiện tại cộng đồng sẽ rất thuận lợi vì nhiều lý do. Đối tượng nghiện luôn có sự gần gũi, hỗ trợ chắc chắn đáng tin cậy của các nhân viên cùng địa phương cư ngụ với mình, cũng như nơi đoàn thể các đối tượng nghiện tồn tại. Thêm nữa, người nghiện vẫn còn được ở trong gia đình, vừa điều trị lại vẫn được tiếp tục đến trường học hoặc công việc sinh sống khác. Các nhân viên điều trị cho họ cũng dễ tiến hành các biệp pháp cần thiết với môi trường gần gũi, được giám sát chặt chẽ. Những sai phạm của đối tượng về nguyên tắc của cuộc sống trong khi anh ta thực hiện nghĩa vụ và trách nhiệm của mình, chắc chắn sẽ được giảm thiểu rất nhiều.


Một mô hình cai nghiện ma túy dựa vào cộng đồng như vậy sẽ phải được tổ chức như thế nào sao cho người nghiện có một chỗ dựa vững chắc gần nơi anh ta cư ngụ trong lúc anh ta được giúp đỡ từ bỏ ma túy một cách hiệu quả. Một khi anh ta đã thật sự thoát ra được, anh ta sẽ có nhiều cơ hội giúp đỡ những người đồng cảnh ngộ mà chưa được điều trị.


Cộng đồng sẽ phải biến thành một môi trường cho những người nghiện sống không lệ thuộc vào ma túy được tiếp tục nâng cao nhận thức, gọt giũa hành vi, đảm bảo có những bước tiến bộ trong  quá trình phục hồi của mình. Trước tiên phải có một cộng đồng mục tiêu được chọn. Các cấp chính quyền lãnh đạo của cộng đồng đó, các ngành y tế, giáo dục, công an, xã hội, cùng các nhân vật có uy tín, những người được cộng đồng tín nhiệm sẽ họp lại để thành lập Ban Chỉ Đạo và Quản Lý Dự Án. Thông quan nhóm kế hoạch, nhiệm vụ của Ban Chỉ Đạo như sau:


I. THU THẬP THÔNG TIN, DỮ KIỆN VỀ:

  • - Số cư dân

  • - Tập quán, tôn giáo, trình độ văn hóa

  • - Kinh tế các thành phần cư dân

  • - Đánh giá nguồn lực, tiềm năng và cơ sở hạ tầng

  • - Đánh giá tình hình ma túy tại cộng đồng

  • - Các số liệu thu thập được phải chính xác và chi tiết bằng những phiếu điều tra trên toàn bộ cư dân, hoặc ít ra cũng qua phỏng vấn một mẫu cư dân đại diện về các lĩnh vực sau:

  • + Số người nghiện 

  •         
  • + Các loại ma túy sử dụng 

  •         
  • + Số người vi phạm luật pháp do sử dụng hoặc bán ma túy

  •       
  • + Số học sinh bỏ học vì nghiện  

  •        
  • + Các tụ điểm "đen" 

     

II. KIẾN NGHỊ:

Sau khi tổng hợp các số liệu Ban Chỉ Đạo và Quản Lý Dự Án sẽ đưa ra những khuyến nghị về biện pháp can thiệp cụ thể dựa trên kết quả đánh giá. Ban Chỉ Đạo và Quản Lý Dự Án cũng đảm bảo nhận việc xây dựng một kế hoạch giảm cầu ma túy tại địa phương, đề ra mục tiêu và hoạt động cụ thể cũng như kinh phí, cơ sở vật chất, trang thiết bị, tư vấn kỹ thuật cùng tiến bộ thực hiện, kế hoạch giám sát và đánh giá thông qua nhóm kế hoạch. Tổ chức cai nghiện dựa vào cộng đồng sẽ là cửa ngõ của sự thành công nếu như Ban Chỉ Đạo và Quản Lý Dự Án:


  • - Phản ánh được tính tập thể trong việc đưa ra quyết định

  • - Giúp đỡ cộng đồng xây dựng mô hình cai cho chính họ

  • - Giúp cộng đồng phân tích và làm rõ vấn đề của họ để làm tốt hơn trong việc thực hiện chiến lược của mình

  • - Giúp cho cộng đồng lấy lại tự tin khi đang bối rối trước cầu ma túy đang tăng cao.


1. CÁC MÔ HÌNH:

Mô hình 1: Thuần túy cộng đồng:



Chú ý khắc phục:

  • 1. Thiếu bộ phận chuyên trách hành chính tập trung

  • 2. Duy trì mọi hoạt động bằng vốn tự lực, sự hỗ trợ về tài chính và kỹ thuật từ bên ngoài có thể rất ít

  • 3. Nếu địa phương có trồng cây anh túc, sẽ có mâu thuẫn vì va chạm quyền lợi


Mô hình 2: Thuần túy địa phương:



Chú ý khắc phục:

  • 1. Khả năng lãnh đạo của người điều phối chương trình (Địa phương) cần giỏi về điều hành, giao tiếp, chuyên khoa, kinh nghiệm quản lý. Tuy khả năng cao nhưng lương lại thấp

  • 2. Duy trì các thành viên cùng kết hợp trong điều kiện tài chính như vậy không phải là điều dễ dàng

  • 3. Rõ ràng cần sự tài trợ của một tổ chức nhân đạo

  • 4. Lương kém sẽ dễ dàng thay đổi nhân sự, điều này đe dọa chất lượng công tác


Mô hình 3: Kết hợp giữa Trung Tâm và cộng đồng:



Chú ý khắc phục:

  • 1. Cần một quy trình thu thập dữ kiện và chẩn đoán ban đầu đầy đủ và hiệu quả để xác định phương thức điều trị thích hợp cho mỗi bệnh nhân.

  • 2. Nhưng khi bệnh nhân trả tiền những tiêu chuẩn phân loại sẽ bị rối loạn

  • 3. Việc duy trì đều đặn chất lượng hoạt động cả hai bên đòi hỏi phải có kiểm tra chặt chẽ của nhân viên có nghiệp vụ cao

  • 4. Việc duy trì một đội ngũ đầy đủ, đa năng giỏi nghiệm vụ cho cả hai nơi rất khó chu toàn: người nghiện thích ở cộng đồng hơn, lý do gần gia đình  


Sự hoạt động của cả hai nơi đều lệ thuộc vào tài chính của Trung Tâm điều phối.

XÂY DỰNG MÔI TRƯỜNG TRỊ LIỆU CỘNG ĐỒNG (Treatment Community – TC)

XÂY DỰNG MÔI TRƯỜNG TRỊ LIỆU CỘNG ĐỒNG (Treatment Community – TC)


Có một vài điều kiện cần phải chú ý để có thể coi một môi trường điều trị là TC. TC là một môi trường điều trị được tạo ra nhờ tác động tương hỗ giữa một vài yếu tố. Những yếu tố chính tạo ra TC bao gồm:

  • 1) Yếu tố con người và những mối quan hệ giữa những người có uy tín trong cộng đồng.

  • 2) Việc sắp xếp lịch sinh hoạt hàng ngày.

  • 3) Những quy định và nguyên tắc cơ bản trong cộng đổng

  • 4) Phương pháp được áp dụng để điều chỉnh hành vi

  • 5) Phương pháp giải quyết các khó khăn, vướng mắc về tâm lý cũng như tăng cường nhận thức bản thân .

  • 6) Nâng cao lòng tự tin và năng lực bản thân.


I/ VAI TRÒ CỦA NHỮNG NGƯỜI CÓ VAI VẾ, UY TÍN TRONG CỘNG ĐỒNG:

    Cộng đồng trị liệu là một môi trường học tập tích cực. Nó trợ giúp một cách hữu hiệu cho việc học tập khi thành viên của nó nhận thức được mối quan hệ chặt chẽ giữa lời nói và việc làm của những người có vai vế, uy tín trong cộng đồng. Thành viên của cộng đồng cũng trông chờ vào việc cán bộ điều trị có tuân thủ các quy tắc và giá trị của cộng đồng hay không . Các quy tắc chi phối quan hệ qua lại giữa các thành viên của cộng đồng. Những thành viên đang trong giai đoạn phục hồi thì đã khá quen với thuật ngữ "nói chuyện tay đôi" và sự mâu thuẫn trong việc áp dụng các quy tắc xã hội trong cuộc sống hàng ngày. Muốn xây dựng được một môi trường điều trị và những hoạt động của nó ta cũng phải có hiểu biết sâu sắc về những mâu thuẫn này. Bất kỳ một mâu thuẫn nào xảy ra giữa lời nói và hành vi sẽ bộc lộ điểm yếu của hệ thống điều trị và có thể sẽ được người nghiện lợí dụng để có những biểu hiện, hành vi không đúng.


    Muốn thực hiện tốt vai trò của mình, người cán bộ điều trị phải nghiên cứu kỹ các quy tắc của cộng đồng. Những người quản giáo thành công nhất, những người luôn được đối tượng xem là tấm gương để học tập, thì cũng chính là người biết sử dụng những ví dụ minh hoạ trong giáo dục người nghiện. Những người chịu trách nhiệm đảm bảo sự tồn tại của "cộng đồng trị liệu" thì có vai trò chính không chỉ trong việc duy trì hoạt động của cộng đồng mà còn phải biến nó thành một môi trường học tập thực sự cho người nghiện ma túy.


    Những thành viên của TC mới ngừng sử dụng ma túy thì sự phục hồi chưa thực sự ổn định. Họ còn chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố bên ngoài trong việc duy trì trạng thái cai nghiện, do đó không nên quá đề cao vai trò của các thành viên đã ngừng sử dụng ma túy lâu năm trước những người mới ngừng sử dụng ma túy. Người đã cai nghiện thành công là hiện thân của niềm hy vọng của người nghiện, đã và đang đấu tranh để vượt qua chính bản thân mình. Họ là bằng chứng sống của việc chiến thắng sự cám dỗ của ma túy và vượt qua được các giai đoạn điều trị. Giá trị của những người này không chỉ nằm ở chỗ là họ đã từng vượt qua sự cám dỗ của ma túy, mà chủ yếu họ là người rất thông hiểu suy nghĩ và cảm xúc của người nghiện. Khả năng của họ trong việc bày tỏ sự thông cảm đối với những người nghiện khác là không gì sánh nổi. Họ đoán trước được những hành vi của người nghiện trong từng hoàn cảnh cụ thể. Điều này biến họ thành những nhân viên điều trị rất có hiệu qủa trong môi trường TC - một môi trường điều trị mà việc thành công hay thất bại có liên quan chặt chẽ với sự thông hiểu những suy nghĩ, thậm chí cả những mánh lới của đối lượng. Cách thức mà TC xử lý tình huống là hoàn toàn dựa vào khả năng đoán trước sự việc xảy ra và những nguyên nhân gây ra sự việc đó.


    Một môi trường điều trị lành mạnh và cách ứng xử gương mẫu của các nhân viên điều trị vốn là người nghiện trước kia là những tiêu chuẩn của Cộng đồng trị liệu. Thế còn những nhân viên khác thì sao, những người trước kia không phải đối tượng nghiện ma túy? Liệu họ có thể trở thành chuẩn mực để đối tượng noi theo hay không? Về vấn đề này có thể nói: tất cả mọi người đều có khả năng trở thành nhân viên điều trị gương mẫu bất kể họ có xuất phát điểm như thế nào. Mặc dù ảnh hưởng của những nhân viên điều trị trước kia là người nghiện thì không thể so sánh được, nhưng đối tượng nghiện cũng cần phải có những chuẩn mực khác nữa để làm theo nếu như anh ta muốn trang bị cho mình những kỹ năng xã hội thích hợp. Một người đã từng nghiện ma túy thì có thể sẽ kém hơn những nhân viên điều trị khác về các kỹ năng xã hội cho nên trong giai đoạn cuối của qúa trình phục hồi đòi hỏi phải trang bị cho đốì tượng những kỹ năng cần thiết để họ tái hòa nhập cộng đồng thì vai trò của các nhân viên điều trị chuyên nghiệp là không thể thiếu được.


    II/ NHỮNG NGUYÊN TẮC CƠ BẢN TRONG MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁC NHÂN VIÊN ĐIỀU TRỊ:

    Tinh thần đồng đội (khả năng làm việc theo nhóm) và sự tôn trọng lẫn nhau là nguyên tắc cơ bản của các nhân viên điều trị TC. Điều quan trọng là hai nguyên tắc này cũng phải được những ngươi có vai vế, uy tín trong cộng đồng tôn trọng và lấy đỏ làm gương cho các thành viên khác của cộng đồng. Các đối tượng là thành viên của cộng đồng cũng phải coi hai nguyên tắc đó là nền tảng mối quan hệ trong công việc của mình.


    Khả năng làm việc theo nhóm có nghĩa từng thành viên của nhóm hiểu rõ vai trò và nghĩa vụ của mình. Tinh thần đồng đội, khả năng làm việc nhóm cũng như sự tôn trọng lẫn nhau trong quá trình giao tiếp giữa những người có uy tín với các thành viên của cộng đồng sẽ khuyến khích việc các thành viên giao tiếp với nhau. Để xây dựng được môi trường trị liệu cộng đồng có hiệu quả, các nhân viên điều trị phải có khả năng phối hợp làm việc trên tinh thần tôn trọng lẫn nhau. Việc làm thế nào để tạo ra được một thái độ làm việc như vậy là hoàn toàn nhờ vào uy tín và sự lãnh đạo của những người tổ chức hay đứng đầu cộng đồng trị liệu. Người cán hộ lãnh đạo muốn vậy cũng phải tuân thủ nguyên tắc này trong khi giao tiếp với các nhân viên của anh ta.


    III/ NGUYÊN TẮC CƠ BẢN TRONG MỐI QUAN HỆ GIỮA NHÂN VIÊN ĐIỀU TRỊ VỚI ĐỐI TƯỢNG:

      Mặc dù TC có mục tiêu rõ ràng là tạo ra môi trường phù hợp cho sự điều chỉnh hành vi của đối tượng, nhưng TC cũng có thể sẽ thất bại nếu như thiếu đi lòng quyết tâm của nhà lãnh đạo và những người có uy tín trong cộng đồng. Người ta nhận thấy rằng, lĩnh vực điều trị cai ngiện thu hút đủ loại người. Ta có thể gặp trong môi trường điều trị những người nghiện với những câu chuyện đáng ngạc nhiên về chủ nghĩa anh hùng cá nhân, sự hy sinh bản thân để chăm sóc người thân hay việc lạm dụng sức lao động của những người trong hoàn cảnh tuyệt vọng v.v... Trong ấn bản năm 1989, Maeder - một tác giả đã viết rằng các chuyên gia tư vấn tâm lý và thành viên của cộng đồng tôn giáo (những người mà sau này được gọi là người hàn gắn vết thương) dường như thu hút một lượng lớn những người có trạng thái tình cảm không ổn định. Nhưng điều đáng chú ý là chính những người chuyên đi hàn gắn vết thương này đôi khi không giải quyết được những khó khăn của chính bản thân mình.

       

      Quy luật tương tự như vậy cũng chi phối mối quan hệ giữa cán bộ điều trị và đối tượng nghiện. Cán bộ điều trị, những người được xem là tấm gương sáng để toàn thể cộng đồng noi theo thì luôn phải cư xử với các thành viên của cộng đồng với một thái độ có trách nhiệm. Nhưng cơ chế của TC được thể hiện ở những nghi thức và quy tắc xã hội, có thể giúp ngăn chặn việc vô tình hay cố tình sử dụng sai nguyên tắc sức mạnh và quyền hạn trong mọi tầng lớp đối tượng điều trị tại cộng đồng. Tất nhiên là nếu thiếu sự hướng dẫn tận tình của những người lãnh đạo có trách nhiệm trong một mô hình TC không hoàn chỉnh thì những cơ chế này có thể không được xây dựng và thực hiện đầy đủ.

       

      Nhằm nâng cao những quy tắc chuẩn mực của TC, chúng ta cần phải quan tâm hơn nữa đến việc đào tạo những cán bộ điều trị kể cả các nhân viên chuyên nghiệp lẫn những cán bộ quản giáo trước kia đã từng là người nghiện ma túy. Việc chuyên môn hóa đội ngũ điều trị có thể sẽ giúp cải thiện chất lượng điều trị của cộng đồng nói chung và của những người cán bộ quản giáo nói riêng

       

      IV/ CƠ CẤU CÓ ẢNH HƯỞNG ĐẾN THÁI ĐỘ VÀ HÀNH VI:

      Sở dĩ, môi trường trị liệu TC nổi tiếng là nhờ nó được tổ chức tốt và là môi trường có cơ cấu hoạt động chặt chẽ. Sạch sẽ và thoải mái là 2 nguyên tắc được ưu tiên hàng đầu trong việc sắp xếp cơ sở vật chất của TC. Người ta liên tưởng rằng môi trường điều trị sạch sẽ và dễ chịu sẽ khích lệ những hành vi lành mạnh. Môi trường tự nhiên sẽ phản ánh bản chất của cộng đồng sống trong môi trường đó. Mặc dù có một vài mô hình TC buộc phải thích nghi với cơ sở vật chất sẵn có ví dụ như nhà tù, các khu nhà cũ, cơ sở khám chữa bệnh hay thậm chí một trường học cũ nhưng người ta cũng không quên tái thiết lại môi trường sao cho phù hợp với yêu cầu của một cộng đồng trị liệu.


      Hầu hết các cộng đồng trị liệu ngày nay hoại động trong những cơ sở với trang thiết bị hiện đại nhưng nó vẫn mang dáng dấp một gia đình nhiều hơn là một trung tâm điều trị. Ngay cả ở trong tù hay trong trại cải tạo trẻ em vị thành niên, không khí "nhà tù” cũng không còn nữa. Để thực hiện được điều này, các nhà lãnh đạo TC đã bỏ đi tất cả những gì gợi nên khung cảnh nhà tù với luật rừng và thay vào đó là hệ thống chuẩn mực hành vi trong một khung cảnh mang tính chất gia đình. Nhằm khiến cho TC trở thành một môi trường tin cậy cho việc điều trị - phục hồi. Chúng ta phải tạo ra bằng được sự an toàn cả về thể chất lẫn tinh thần cho đối tượng. Đó phải là chỗ mà đối tượng có thể chịu trách nhiệm về sự lựa chọn và hành vi của chính mình. Trong khi nhà tù tạo ra bầu không khí thiếu an toàn, nơi mà đối tượng muốn sinh tồn thì phải dựa hoàn toàn vào mánh khoé và cái gọi là luật rừng, thì môi trường TC lại tạo ra những hành vi xã hội lành mạnh như tin tưởng và giúp đỡ lẫn nhau trong bầu không khí gia đình.


      Những thành công lớn của TC trong việc duy trì hoạt dộng điều trị - phục hồi có được là nhờ một cơ cấu hoạt động chặt chẽ. Cơ cấu hoạt động này bao gồm cả việc tổ chức tốt lịch sinh hoạt hàng ngày cho các thành viên của cộng đồng kể từ người cũ cho đến người mới tham gia điều trị. Cơ cấu phân bậc các thành viên cũ và mới cho phép hình dung được thể hiện rõ trong lịch sinh hoạt hàng ngày của mỗi thành viên. Tuy nhiên, cho dù mỗi người có một vai trò và nhiệm vụ khác nhau trong cộng đồng nhưng họ đều hiểu được vị trí của mình trong mục tiêu chung là TC đề ra. Hệ thông phân cấp theo vai trò và lịch sinh hoạt hàng ngày được gọi là "cơ cấu hoạt động".


      Chúng ta không cần phải quá chú trọng đến giá trị của cơ cấu hoạt động trong việc cung cấp những điều kiện cần thiết để người nghiện gặt hái được thành công dù là trong những hoàn cảnh có nhiều hạn chế. Điều quan trọng là việc phân cấp cơ cấu tổ chức và lịch sinh hoạt thường ngày cũng là một dạng kỷ luật và nó tạo ra cho người nghiện cảm giác ổn định. Giờ đây cuộc sống của anh ta đi vào khuôn khổ và có kế hoạch cụ thể ngược lại hẳn với cuộc sống trước kia của anh ta ngoài xã hội đầy rẫy những bất trắc - một lốì sống điển hình của người nghiện.


      Cơ cấu hoạt động này còn khuyến khích việc đặt kế hoạch cho sự ổn định lâu dài thay vì tự hài lòng với những điều đạt được trước mắt. Những điều này nghe chừng có vẻ đơn giản và dễ thực hiện. Tuy nhiên, một khi người nghiện đã lệ thuộc vào ma túy thì khả năng nhận thức cuộc sống của anh ta cũng bị hạn chế. Điều này thể hiện ở thói quen có liên quan đến việc sử dụng ma túy, làm thế nào để có ma túy và kiếm ma túy ở đâu? Anh ta không hành động như một người bình thường với những mơ ước, hoài bão là động lực khiến anh ta lên kế hoạch cho mình để có thể biến những ước mơ đó thành hiện thực. Tất cả những người bình thường chúng ta đều hành động theo cách này và ai cũng có một "cơ cấu hoạt động" của riêng mình. Nó cho phép chúng ta cân nhắc việc gì nên ưu tiên làm trước, việc gì làm sau để đạt được những mục đích trước mắt và mục đích lâu dài của bản thân. Nhưng người nghiện thì đánh mất hoặc quên mất cơ cấu hoạt động này và thay vào đó là cơ cấu hoạt động nhằm đạt được trạng thái "phê thuốc". Một trong những yếu tố quyết định sự thành công của việc điều trị cho đối tượng là giúp anh ta có thể quay trở lại áp dụng "cơ cấu hoạt động" bình thường khiến anh ta bước đầu đạt được những thành công nhỏ do chính anh ta dự định trong quá trình phục hồi.


      Tóm lại, có thể nói TC là một môi trường điều trị tích cực , năng động chứ không phải là một môi trường tĩnh. Những thay đổi có ý nghĩa mà người nghiện đạt được chính là kết quả của trạng thái đấu tranh tích cực bên trong bản thân người nghiện nhằm loại bỏ những yếu tố làm suy yếu ý chí con người, những yếu tố thường được người nghiện sử dụng để bảo chữa cho thất bại của mình. Bằng cách loại bỏ những yếu tố này, chúng la còn có thể khiến cho họ học lập những thái độ đúng những hành vi phù hợp. Thêm vào đó, nếu chúng ta thành công trong việc thu hút sự tham gia tích cực của người nghiện vào chương trình điều trị, anh ta sẽ có nhiều cơ hội hơn để phục hồi và lấy lại sự tự tin cho bản thân mình.


      V/ NHỮNG BIỆN PHÁP ĐIỀU CHỈNH HÀNH VI:

      "Hãy tin tưởng vào môi trường sống của bạn"

      Triết lý bất thành văn của TC.


      Những biện pháp điều chỉnh hành vi của TC như kiểm điểm, cạo gáy, giao ban buổi sáng, nhóm đối kháng, họp gia đình hay họp chung v.v.. được xây dựng nhằm sửa đổi những hành vi vi phạm những quy tắc mà TC đề ra. Việc tuân thủ nghiêm ngặt những quy định của cộng đồng hay những quy tắc cốt yếu của TC như không sử dụng ma túy. không có hành vi bạo lực hoặc đe doạ bạo lực, không có hành vi tình dục, không trộm cắp là điều hết sức quan trọng trong việc duy trì sự lành mạnh và sự an toàn của môi trường điều trị. Tuy nhiên chính những thói quen mà người nghiện còn giữ khi anh ta sống ngoài xã hội đã khiến cho anh ta có những hành vi không đúng. Điều này được thể hiện ỏ sự đề phòng và thái độ cảnh giác của người nghiện. Bí quyết của những biện pháp điều chỉnh hành vi là tạo ra cảm giác an toàn nhằm xóa đi thái độ đề phòng, cảnh giác của người nghiện. Không chỉ có vậy, những biện pháp này còn được sử dụng như là công cụ để ngăn chặn, trừng phạt những hành vi làm xói mòn tập quán, sự an toàn và tính lành mạnh của môi trường ví dụ như sự vi phạm những quy tắc cơ bản của cộng đồng.


      Hiệu quả của các biện pháp điều chỉnh hành vi là nằm ở cách áp dụng nó như thế nào. Những biện pháp này cũng có thể bị lạm dụng và gây ra những kết quả trái ngược nếu như rơi vào tay những người không hiểu biết thấu đáo về động lực của cộng đồng trị liệu. Nếu thiếu sự tổ chức môi trường trị liệu TC chuẩn mực và thiếu tinh thần trách nhiệm trong việc áp dụng những biện pháp này thì chúng trở nên có hại nhiều hơn có lợi. Vấn đề sử dụng biện pháp nào với mức độ vi phạm như thế nào được quyết định bởi mức độ điều chỉnh hành vi từ thấp đến cao.


      Nhẹ nhất là biện pháp kiểm điểm và trao đổi (tư vấn trực tiếp) được áp dụng cho những vi phạm nhẹ. Đối với những môi trường trị liệu được tổ chức tốt thì ít khi phải áp dụng những biện pháp mạnh.


      Việc phải tăng cường sử dụng những biện pháp mạnh là dấu hiệu cho thấy môi trường điều trị đó đang có nguy cơ do không được tổ chức tốt đòi hỏi phải xem xét lại trách nhiệm của các thành viên cộng đồng đốì vói những quy tắc và chuẩn mực của TC.


      Những biện pháp điều chỉnh hành vi có hiệu qủa trong môi trường TC. Những biện pháp này nếu được sử dụng đúng thì sẽ làm tăng trách nhiệm của các thành viên đối với việc tuân thủ các quy tắc mà TC đề ra. Khi một đối tượng bị gọi lên kiểm điểm trong một lần giao ban buổi sáng hay bị khiển trách trong một lần cạo gáy để những thành viên khác trong cộng đồng sửa chữa hành vi không đúng của anh ta , thì anh ta vừa nói chuyện vổi cộng đồng và vừa chính với bản thân mình. Trong quá trình áp dụng những biện pháp này thì điều căn bản là phải đảm bảo chỉ lên án những hành vi sai trái chứ không cố gắng đánh vào lòng tự trọng của đối tượng. Do vậy trong các buổi cạo gáy chỉ nên chú trọng vào phân tích sự vi phạm cứa đối tượng và ảnh hưởng của nó tới bản thân anh ta cũng như tới những người khác. Điều này được thể hiện rõ ở cảm giác biết ơn của đối tượng đối với sự quan tâm và tình thương của các thành viên khác dành cho anh ta thông qua việc giúp đỡ anh ta sửa đổi những thái độ, hành vi không đúng.


      Hiệu quả của các biện pháp điều chỉnh hành vi trong việc thay đổi cách ứng xử của các nhân viên điều trị chuyên nghiệp được thể hiện ở việc áp dụng thành công giao ban buổi sáng trong khóa tập huấn, thường diễn ra trong vòng một tuần và ngay từ ngày đầu tiên các giảng viên cùng với các học viên xây dựng nên những quy tắc phải tuân thủ trong quá trình học tập. Hiệu quả là từ các thành viên của cuộc tập huấn, chúng ta đã hình thành được một cộng đồng con tương tự TC. Việc kiểm điểm trong các buổi giao ban buổi sáng nhìn chung đã giải quyết được sự vi phạm quy tắc của các học viên. Khi những quy tắc này được bảo đảm, việc học tập cũng trở nên thuận lợi và đạt kết qủa tốt.


      Những khóa tập huấn của chúng tôi thường đạt tỷ lệ tham gia đúng giờ và duy trì học tập cao là nhờ có giao ban buổi sáng. Nếu một học viên đã từng bị kiểm điểm vì đến muộn tại giao ban buổi sáng thì anh ta hay chị ta thường ít khi lặp lại hành vi đó lần nữa. Các học viên dường như cũng cảm thấy quan tâm nhiều đến hình thức này. Trong 10 năm vừa qua tôi chưa từng gặp trường hợp các thành viên tham gia hay toàn bộ khóa tập huấn đạt tỷ lệ thành công thấp trong giao ban buổi sáng. Thay vào đó, các học viên đều nói rằng bên cạnh những kiến thức mà họ có được từ bài giảng , họ còn nhận thức thêm được nhiều điều từ chính bản thân mình.


      QUY TẮC TRONG GIA ĐÌNH : XÂY DỰNG GIỚI HẠN HÀNH VI VÀ HÀNH VI THEO QUY TẮC

      Một trong những điều mà người mới tham gia điều trị trong môi trường TC thường phàn nàn đó là có quá nhiều quy tắc được áp dụng. Những quy tắc quan trọng nhất cần được áp dụng đó là:

      • 1)  Không sử dụng ma túy.

      • 2)  Không có hành vi bạo lực hay đe dọa sử dụng bạo lực.

      • 3)  Không có hành vi tình dục.

      • 4)  Không trộm cắp.


      Việc các thành viên của cộng đồng phải triệt để tuân thủ các quy tắc này là điều bắt buộc. Bất kỳ hành vi vi phạm nào đều được coi là đe dọa đối với sự ổn định và lành mạnh của môi trường điều trị và sẽ phải có cách xử lý thích hợp. Thông thường, những người vi phạm quy tắc nếu không bày tỏ sự hối hận, ăn năn về hành vi của mình và tiếp tục gây hại cho người khác thì sẽ bị trục xuất ra khỏi cộng đồng. Trước khi chính thức kết nạp một thành viên mới vào cộng đồng, người ta sẽ giải thích cặn kẽ cho anh ta hiểu những quy tắc của cộng đồng và anh buộc phải có trách nhiệm tuân thủ tuyệt đối nếu muốn tham gia điều trị.


      Nhờ việc xây dựng các giới hạn hành vi mà các cán bộ quản giáo có thế duy trì một môi trường điều trị an toàn và lành mạnh. Các biện pháp điều chỉnh hành vi được sử dụng như là công cụ củng cố và nhắc nhở các thành viên nhớ tới kết cục của việc vi phạm các quy tấc đề ra hay không tuân thủ các quv tắc này.


      VI/ CÁC BIỆN PHÁP HÀN GẮN, XOA DỊU VẾT THƯƠNG:

      "Bạn sẽ không thể chịu đựng nổi nó trừ khi bạn chia sẻ với người khác"

      Triết lý bất thành văn của TC

      Những biện pháp điều chỉnh hành vi chỉ là bước đầu trong quá trình kiểm soát, quản lý hành vi của thành viên cộng đồng. Hiệu quả của những biện pháp này hoàn toàn mang tính tạm thời và chủ yếu dựa vào những tập quán quy tắc do cộng đồng xây dựng. Nhằm đạt được sự ổn định trong việc thay đổi hành vi cần phải chú ý phân tích nguyên nhân sâu xa để xây dựng mối liên hệ cần thiết giữa giá trị của hành vi mới với mục tiêu của lối sống đúng mực.


      Những biện pháp điều chỉnh hành vi đóng vai trò ngăn cản yếu tố khiến cho đối tượng không thể có một cuộc sống bình thường. Còn những biện pháp hàn gắn, xoa dịu vết thương giúp cho đối tượng có được nhận thức sâu sắc hơn về bản thân mình.


      Hai biện pháp này bổ sung, hỗ trợ lẫn nhau. Việc quá chú trọng vào một biện pháp cụ thể nào đó cũng không cho kết quả tốt hơn là tiến hành cả hai biện pháp song song hỗ trợ lẫn nhau. Nói một cách khác, nếu như chúng ta chỉ áp dụng các biện pháp điều chỉnh hành vi một cách đơn thuần, thi các đối tượng của chúng ta sẽ cư xử không khác gì người gỗ. Đồng ý là họ sẽ có hành vi đúng trong môi nường cuộc sống tập thể nhưng những hành vi đó sẽ mất đi một khi họ rời khỏi môi trường điều trị.


      Tư vấn trong môi trường TC:

      Tư vấn cho dù là nhóm hay cá nhân đều đem lại cho đối tượng cơ hội khám phá quá khứ, tiền sử cá nhân có liên quan đến việc sử dụng ma túy của anh ta. Việc một người nghiện ma túy phủ nhận sự thật sẽ càng được củng cố theo năm tháng, bề dày của quá trình anh ta sử dụng ma túy. Xóa tan sự phủ nhận này cũng đồng nghĩa với việc bắt anh ta phải đôi đầu với sự thật phũ phàng của cuộc đời mà bấy lâu nay anh ta vẫn thường né tránh. Một phần của sự phủ nhận thể hiện ở việc anh ta thường hợp lý hoá thất bại của mình trong việc từ bỏ ma túy. Việc tháo gỡ cho đối tượng những vướng mắc loại này cũng tương tự như khi chúng ta bóc vỏ hành từng lớp một. Biện pháp tư vấn điển hình được áp dụng trong môi trường TC là biện pháp đối diện trực liếp, nó thử thách niềm tin và trách nhiệm cá nhân của mỗi người nghiện.


      Nhóm định hướng, nhóm điều tra, nhóm mở rộng và nhóm marathon:

      Cộng đồng trị liệu TC đã xây dựng một số liệu pháp nhóm từ đơn giản đến phức tạp nhầm nâng cao chất lượng của việc điều trị cai nghiện. Mỗi loại nhóm nhằm giải quyết một khía cạnh khác nhau. Có những mục tiêu nhất định mà người nghiện buộc phải đạt được trước khi chuyển sang điều trị ở nhóm khác. Ví dụ như, một người mới tham gia chương trình điều trị cai nghiện cần phải tham gia sinh hoạt nhóm định hướng hàng tuần nhằm giải quyết những mục tiêu trước mắt hay phát hiện những lĩnh vực của cuộc sống mà họ đang gặp khó khăn và cần phải học hỏi để vượt qua trở ngại, khó khăn đó.


      Nhóm điều tra là bước tiếp theo ngay sau đó với yêu cầu cao hơn nhằm giúp đối tượng tự cởi mở về cuộc sống cá nhân, đặc biệt là những phạm trù tế nhị như yếu tố tâm lý tình dục có liên quan đến tiền sử nghiện của đốì tượng. Khi tham gia nhóm điều tra, đối tượng được khuyến khích bàn luận những vấn đề có liên quan đến đời sống tình dục của anh ta, ảnh hưởng của nó đến nhận thức của cá nhân anh ta. Nhóm mở rộng và nhóm marathon là hai nhóm phức tạp nhất trong các biện pháp nhóm trị liệu. Việc tham gia sinh hoạt 2 nhóm này có thể kéo dài cả ngày hay thậm chí 2 ngày trong phòng điều trị cách biệt. Vấn đề được đưa ra thảo luận là khía cạnh tiền sử của đối tượng có liên quan đến kế hoạch giải quyết các khó khăn, trở ngại cùa anh la như thế nào. Hai nhóm này đòi hỏi đối tượng phải có sự cởi mở và trung thực khá cao cùng một số nhận thức nhất định về bản thân.


      Nhìn chung, đối tượng của chúng ta thường vấp phải khó khăn khi tâm sự một cách cởi mở bởi lẽ họ thiếu sự tin cậy vào người khác. Thông thường, việc thiếu tin tưởng vào những người xung quanh có liên quan đến cảm giác tự ti và thiếu tự trọng. Một khi đối tượng biết gạt bỏ đi sự phủ nhận, quay lại đối diện với thực tại, anh ta sẽ thấy rằng những ngày tháng vừa qua của anh ta trong nghiện ngập là thực sự đáng tiếc. Ngược lại, những người mới tham gia chương trình điều trị thì cảm thấy dường như xung quanh anh ta đâu cững là điều xấu. Chúng ta không thể trông đợi ở việc một người mới tham gia chương trình mà lại có thể có lòng tự tin và sự cởi mở ngay được. Tuy nhiên, có nhiều cách để giúp cho một người thành viên của cộng đồng đối diện với thực lại và cởi mở nói ra sự thật về cuộc đời anh ta. Cuộc sống tập thể trong cộng đồng TC giúp cho người nghiện lấy lại được sự kiểm soát cuộc đời anh ta và nhất định anh ta sẽ thành công nếu như cộng đồng đó có cơ hội giúp đỡ anh ta.


      Nhóm đối kháng:

      Nhóm đối kháng được tổ chức ít nhất tuần 2 buổi nhằm ra cơ hội cho các thành viên cộng đồng bày tỏ thái độ khó chịu mà bấy lâu nay họ phải kìm nén trong mình. Việc tỏ thái độ khó chịu, tức giận đối với những người không tham gia nhóm đối kháng là hoàn toàn bị cấm. Quá trình sinh hoạt nhóm được diễn ra dưới sự giám sát chặt chẽ của các nhân viên, cán bộ điều trị giàu kinh nghiệm. Những nguyên tắc chặt chẽ được áp dụng nhằm điều chỉnh các hành vi của đối tượng tham gia nhóm đôi kháng. Việc diễn giải bằng lời những khó chịu, tình cảm tiêu cực trong một môi trường được giám sát chặt chẽ sẽ mang lại hiệu quả hàn gắn và tạo ra cơ hội cho các thành viên hiểu rõ hơn suy nghĩ của người khác dành cho mình và qua đó tăng cường nhận thức về bản thân. Những đối tượng có khả năng lợi dụng hình thức sinh hoạt nhóm này để giải tỏa cảm giác bực bội cũng thường gặt hái được nhiều thành công hơn trong quá trình phục hồi. Mặc dầu các thành viên được khuyến khích để biểu lộ thái độ, quan điểm về nhau nhưng không được sử dụng những từ ngữ mang tính chất xúc phạm nhau. Điều không kém phần quan trọng trong qúa trình bày tỏ thái độ của đối tượng là khả năng nhận thức được tại sao người đó lại làm mình khó chịu và nhận thức đó ảnh hưởng đến cảm giác của bản thân anh ta như thế nào. Thông thường, việc nói ra được cảm giác của bản thân sẽ xây dựng nên những thông tin cá nhân về các thành viên trong nhóm và những thông tin đó có thể được sử dụng trong sinh hoạt các nhóm khác.


      Nếu một chương trình điều trị có thể áp dụng thành công sinh hoạt nhóm đối kháng thì cũng sẽ dễ dàng thành công trong việc tiến hành các nhóm trị liệu khác của TC . Những chương trình trị liệu loại này có xu hướng giáo dục được những thành viên tốt hơn trong một môi trường trị liệu ổn định hơn. Những thành công mà đối tượng gặt hái được sau khi tham gia nhóm đối kháng, đặc biệt là về nhận thức bản thân giúp cho họ có được sự chuẩn bị tốt hơn khi bước sang sinh hoạt ở nhóm khác. Tuy nhiên, muốn đạt được thành công nhất định từ các biện pháp trị liệu nhóm, đối tượng phải sẵn sàng chấp nhận thử thách thông qua việc cởi mở bản thân mình.


      VII/ NHỮNG BIỆN PHÁP NHẰM NÂNG CAO NĂNG LỰC BẢN THÂN

      "Lao động khiến cho con người trưởng thành" - Khalil Gibran

      Cộng đồng trị liệu coi lao động là yếu tố quan trọng giúp đối tượng phục hồi nhanh chóng từ tình trạng nghiện. Lao động có liên quan đến nhận thức của một người về vai trò của anh ta trong cộng đồng. Suy cho cùng lao động giúp anh ta ở vị trí nào trong bậc thang xã hội. Một người khi biết rằng anh ta là thành viên có ích cho xã hội thì anh ta không mấy khi lại dính líu tới những hành vi sai trái. Điều này giúp chúng ta hiểu được vai trò của lao động trong đời sống xã hội của con người cũng như trong quá trình phục hồi của đối tượng được điều trị tại môi trường TC. Tất cả mọi thành viên đều đóng góp sức mình vào công việc hàng ngày nhằm duy trì chương trình điều trị, duy trì cơ sở vật chất và hoạt động của cộng đồng.


      Cơ cấu tổ chức của TC: Cộng đồng trị liệu được tổ chức theo một cơ cấu chặt chẽ dựa trên nguyên lý cấp bậc trách nhiệm tăng dần do các thành viên của cộng đồng đảm nhiệm, những người ở giai đoạn khác của chương trình điều trị. Để có được một vị trí trong cộng đồng, đối tượng phải có nhận thức đúng đắn về tầm quan trong hoạt động hàng ngày. Cơ cấu tổ chức này đảm bảo công việc được hoàn thành đúng lúc dưới sự giám sát chặt chẽ.


      Cơ cấu tổ chức của TC là một hệ thống phân công lao động rất hiệu quả. Nó khiến cho TC có thể tự sản tự tiêu bằng cách tận dụng được tối đa nguồn nhân lực dồi dào của cộng đồng. Cơ cấu này còn cho phép tập trung vào một yếu tố kỹ thuật trong việc điều hành một chương trình điều trị hơn là triển khai những hoạt động vụn vặt, lẻ tẻ. Hệ thống này khuyến khích các thành viên phấn đấu để đạt được những vị trí nhât định ưong cộng đồng, khuyến khích tinh thần tự lập...


      Mặc dầu vậy, những người quản lý TC thường không quan tâm đến việc xây dựng một lịch lao động sát sao đến từng phút như việc chuẩn bị bữa ăn, dọn dẹp vệ sinh v.v... nhưng họ giám sát rất chặt chẽ thái độ và hành vi của thành viên TC. Trong cơ cấu tổ chức này, mọi thông tin đều rõ ràng. Dựa trên những thông tin phản hồi về điều đã và đang xảy ra trong cộng đồng, các vụ việc sẽ lần lượt được nâng cấp bậc trong cộng đồng xử lý. Những vụ việc có thể gây hại nghiêm trọng cho sức khỏe của thành viên cộng đồng hay sự an toàn của môi trường điều trị như sự xuất hiện thẩm lậu ma túy trong cộng đồng ngay lập tức sẽ được cấp cao nhất của cộng đồng quan tâm xử lý.


      Sự thăng cấp và giáng cấp trong hệ thống phân công công việc của TC:

      Nhằm giáo dục đối tượng trở thành một thành viên có ích của cộng đồng, TC chú trọng vào việc giúp đỡ đối tượng trước hết hiểu thêm về chính bản thân mình, hiểu được nhược điểm của mình ví dụ như cảm giác tự ti trong một hoàn cảnh xã hội nào đó. Giả sử, một người không dám làm việc ở một vị trí đang đòi hỏi phải có năng lực lãnh đạo, phải biết quyết định ... Vị trí làm việc đó khiến cho anh ta luôn luôn phải lo lắng. Để có thể giúp anh ta vượt qua sự lo sợ ta phải khuyến khích anh ta chấp nhận sự thử thách của công việc. Muốn giao cho đối tượng một công việc ta phải cân nhắc kỹ thái độ, hành vi và đặc biệt là khả năng chấp nhận thử thách của anh ta. Vì nói cho cùng, lao động cũng là một trong những biện pháp trị liệu cho nên ở một số chương trình điều trị, thất bại là sử dụng đốì tượng điều trị như một dạng nhân công rẻ mạt cho sản xuất.


      Những đối tượng tích cực trong công việc và có thái độ đúng đắn đối với lao động thì thường có xu hướng coi trọng công việc mà họ đang làm và vị trí của họ trong công việc. Như vậy không có nghĩa là cứ làm việc tốt là đủ. Đối tượng phải có thái độ và hành vi đúng với quá trình làm việc. Việc không tuân thủ những quy tắc mà TC đề ra trong lao động thường dẫn đến sự giáng cấp trong hệ thòng phân công công việc của TC. Việc luân chuyển, thay đổi công việc diễn ra thường xuyên trong TC cho phép các đôi tượng có cơ hội tiếp xúc vơi nhiều loại vị trí công việc trong môi trường.


      Bởi lẽ quan điểm của TC là đối tượng phải:

      Tìm hiểu về chính bản thân anh ta trước. Điều chỉnh thái độ và hành vi cho đúng.

      Sau đó lao động tích cực để có được một vị trí trong cộng đồng cho nên những chương trình giáo dục dạy nghề của TC thường đạt tỷ lệ thành công cao với thời gian ngắn và chi phí thấp . Chương trình giáo dục dạy nghề thường không chính thức dành cho những thành viên mới của TC, những người cần phải có thời gian để điều chính thái độ hành vi trước khi được tham gia lao động học tập. Cộng đồng trị liệu quan niệm rằng chỉ có thái độ đúng với công việc mới có thể đảm bảo cho đốì tượng có việc làm ổn định khi đối tượng trở lại cộng đồng. Quá trình thăng cấp và giáng cấp trong hệ thống phân công công việc của TC là một quá trình học tập hữu ích cho những đối tượng vốn không có thói quen duy trì một việc làm ổn định trong một thời gian dài.


      Chuấn bi tái hoà nhập cộng đồng:

      Thu nhận được một hệ thống kiến thức sau khi tham gia điều trị — phục hồi và áp dụng những kiến thức đó vào thực tiễn công tác hàng ngày đòi hỏi phải có sự nhận thức sâu sắc về bản thân và mong muốn duy trì một cuộc sống lành mạnh không có ma túy. Giá trị của những gì đối tượng thu nhận được trong quá trình điều trị sẽ được kiểm chứng lại khi anh ta tái hoà nhập cộng đồng, trở về với cuộc sống thực tại. Khó có thể tưởng tượng được rằng một người nghiện rượu lâu năm, sau khi điều trị quay trở lại cộng đồng làm việc tại một quầy rượu lại vẫn có thể duy trì một cuộc sống lành mạnh không uống rượu.


      Trong giai đoạn cuối của chương trình điều trị, TC sẽ cho người nghiện dần dần thoát ly môi trường có kiểm soát và tiếp xúc ngày một nhiều với môi trường xã hội. Đối tượng có thể tự đi tìm việc, trở lại nhà trường hay tham gia các hoạt động có ích khác. Đối tượng sẽ tự sắp xếp thời gian cho những hoạt động bên ngoài cộng đồng TC nhưng vẫn đảm bảo tham gia sinh hoạt nhóm tư vấn, chăm sóc sau cai của các chuyên gia về tái hoà nhập cộng đồng. Họ phải hoàn tất khóa học về phòng chống tái nghiện và chứng tỏ những kỹ năng xử lý tình huống có nguy cơ dẫn đến tái nghiện. Họ cũng có thể tham gia giúp đỡ nhừng thành viên khác của cộng đồng thực hiện các hoạt động điều trị.


      Khả năng tìm được và duy trì một việc làm ổn định, hòa nhập được với gia đình, tiếp tục làm việc và duy trì trạng thái phục hồi là mục tiêu chính của giai đoạn này. Đối tượng lúc này nhận được sự giúp đỡ cả từ phía nhân viên điều trị và từ gia đình. Nếu tái nghiện xảy ra trong giai đoạn này, đối tượng có thể sẽ phải quay lại TC và được trang bị thêm những biện pháp can thiệp cho đến khi anh ta thực sự đủ khả năng duy trì trạng thái phục hồi.


      VIII/ YẾU TỐ TINH THẦN TRONG PHƯƠNG PHÁP CỘNG ĐỒNG TRỊ LIỆU

      Trong bất cứ cuộc thảo luận nào về yếu tố tinh thần trong cộng đồng trị liệu hầu như người ta không tránh khỏi việc nói lạc sang chủ đề tôn giáo và tín ngưỡng. Phần lớn trong số chúng ta cũng không cho rằng những chủ đề này có gì khác nhau, thậm chí đôi khi chúng ta còn có thể hoán vị chúng với nhau. Nhằm tránh việc nhầm lẫn giữa yếu tố tinh thần và khái niệm tôn giáo, tinh thần trong cộng đồng trị liệu được định nghĩa là : "bất kỳ hành động hay hoạt động nào thể hiện, phản ánh lòng tốt của con người". Đây là một định nghĩa khái quát, nó bao gồm rất nhiều loạt hoạt động của con người kể cả hoạt động tôn giáo hay những việc làm có ích giúp tăng cường nhận thức của con người.


      TRIẾT LÝ CỘNG ĐỒNG

      Chúng ta từ nhiều nơi sum họp về đây dù mỗi người có cá tính và hoàn cảnh khác nhau.

      Chính nơi đây tôi đã gặp được ánh mắt, trái tim bạn bè.

      Chính nơi đây tôi đã được dìu dắt bởi tấm lòng yêu thương của thầy cô và của cả cộng đồng.

      Tôi đã cô đơn vì luôn sợ người khác biết về mình vì thế tôi càng không hiểu mình và cũng chẳng hiểu ai.

      Tôi đã không ngừng lẩn trốn nhưng đến nay tôi đã nhận ra bản thân mình.

      Tôi không còn cảm thấy bất an vì tôi đã chia sẻ những bí mật của đời mình với người khác.

      Chính tại nơi đây tôi đã tìm thấy tấm gương để soi rọi mình.

      Chính tại nơi đây nhờ gia đình nhờ mọi người cuối cùng tôi đã hiểu rõ về chính mình.

      Tôi không phải người hùng trong những giấc mơ và không còn thấp hèn trong những cơn hoảng sợ.

      Tôi đã biết phải kiềm chế những cám dỗ để làm chủ bản thân để tâm hồn bình an và thanh thản.

      Tôi sẽ trở thành một thành viên của tập thể góp phần mình cùng xây dựng mục đích chung.

      Tôi sẽ không còn cô đơn như trong cõi chết mà đang sống một cuộc sống cho mình và cho mọi người.

      Chính tại nơi đây tôi mọc rễ đâm chồi và vươn lên. Có sự yêu thương của thầy cô, có sự giúp đỡ của bạn bè để cùng nhau tiến bộ. Tôi phải đi đến được mục đích cuối cùng là giải phóng được bản thân tôi.


      IX/ HỆ THỐNG NIỀM TIN TRONG CỘNG ĐỒNG TRỊ LIỆU

      Niềm tin vào sự tồn tại của lòng tốt:

      Cho dù một người gặp bất hạnh như thế nào trong cuộc đời thì anh ta cũng không nên đeo đẳng mã những suy nghĩ về những điều đã xảy ra. Khi chúng ta giúp đỡ anh ta đối diện với sự thật, nói ra những điều bí mật mà anh ta dấu diếm trong lòng cũng như tìm các học hỏi từ những vấp váp mà anh ta đã từng gặp phải. Chúng ta không đánh giá con người qua những việc mà anh ta đã làm trong quá khứ mà thái độ trung thực của anh ta tại thời điểm này trong việc sửa chữa những sai lầm của quá khứ. Người nghiện có thể thay đổi nhưng chỉ khi anh ta thực sự mong muốn mình thay đổi. Nếu như anh ta cố gắng nỗ lực không ngừng thì nhất định cuối cùng anh ta cũng duy trì được một lối sống lành mạnh. Đó chính là điều mà cộng đồng trị liệu tin tưởng ở con người.


      Niềm tin vào khả năng hối cải và phục thiện của con người:

      Có một thời gian khá dài cả xã hội đều tin chắc một điều rằng "người nghiện thì mãi mãi sẽ là người nghiện". TC đã bác bỏ điều này bằng cách đưa ra ví dụ thực tiễn, những người đã từng tham gia điều trị, đã vượt qua được sự cám dỗ của ma túy và nay đang sông một cuộc sống lành mạnh. Không ít người trong số họ vẫn đang tiếp tục cuộc chiến chống lại nguy cơ tái nghiện, tái sử dụng rượu và ma túy. Những ai không bỏ cuộc thì nhất định cuối cùng sẽ có một cuộc sống bình thường và ổn định. Khi một người nghiện mới tham gia môi trường điều trị TC thì điều làm anh ta ngạc nhiên đó là anh chỉ nhận được sự giúp đỡ vừa đủ để anh ta có thể tự giúp chính bản thân mình. Người ta không buộc anh ta phải hối tiếc về những điều sai trái dù lớn, dù nhỏ mà anh ta đã làm. Những người xung quanh cư xử với anh ta như một con người bình thường. Không ai giám sát anh ta nhưng tất cả mọi người đều quan tâm chăm sóc xem anh ta tiến triển như tbế nào. TC tạo ra một môi trường tự nhiên đến nỗi một người mới đến hầu như không thể tin được rằng thậm chí anh ta có thể tự do đi lại mà không có camera theo dõi 24/24, điều này nghe có vẻ hơi vô lý, nhưng có một điều rõ ràng là người nghiện sẽ dần nhận thức được: cuối cùng, chính tại nơi đây, TC cho anh ta một cơ hội giành được một chỗ đứng dưới ánh sáng mặt trời.


      Niềm tin vào việc giúp người khác cũng là giúp chính bản thân mình:

      Một trong những phẩm phất quý báu mà đổì tượng sau khi điều trị ở môi trường TC có được đó là việc luôn sẵn lòng giúp đỡ những ai cần sự giúp đỡ. Khái niệm "cho” hầu như trở nên quen thuộc đối với mọi người. Đối tượng muốn duy trì một lôi sống lành mạnh thì anh ta phải biết chia sẻ những gì mà anh ta nhận được, anh ta mới là người sở hữu thực sự của chúng. Có một câu nói rất hay mô tả được hết ý nghĩa của khái niệm "cho" trong môi trường trị liệu TC: Bạn sẽ không thể chịu đựng nổi nó trừ khi bạn chia sẻ với người khác.


      Niềm tin vào những điều lớn lao, vĩ đại hơn cả cá nhân con người:

      Về vấn đề đức tin. Một khi đã là người nghiện, trong con người họ không còn chỗ dành cho Đức Chúa hay lòng nhân từ. Việc tin tưởng vào Chúa hay những điều răn trong kinh thánh có thể làm tăng mặc cảm phạm tội ở người nghiện. Vai trò của đức tin hay có niềm tin vào những điều lớn lao vĩ đại hơn cả cá nhân con người là yếu tố quan trọng trong việc vượt qua sự tự mãn vốn dĩ đã ăn sâu vào suy nghĩ của người nghiện. Có một điều gì đó hối thúc bên trong , biến chuyển tự nhiên khiến cho người nghiện từ bỏ suy nghĩ tự mãn, tự phụ để tìm đến niềm an ủi trong niềm tin vào Chúa hay Đấng sáng tạo.


      Niềm tin vào phẩm giá của con người:

      Có một phẩm chất đạo đức của con người mà ta luôn luôn phải coi trọng đó chính là phẩm giá hay giá trị của con người. Cộng đồng trị liệu TC sử dụng thuật ngữ phẩm giá để miêu tả khái niệm giá trị của con người thay vì thuật ngữ "Niềm tự hào về phẩm chât". Theo quan điểm của TC, người nghiện có niềm tự hào về phẩm giá của mình thường tích cực tham gia vào chương trình điều trị - phục hồi vì đó là biện pháp giúp họ nhanh chóng chuyển đổi thái độ và hành vi, nhằm lấy lại những gì mà họ đã mất.


      Thành viên của TC thì phải có một cuộc sống mẫu mực, tuân thủ những quy tắc nhất định về thái độ, hành vi và phải có trách nhiệm đốì với hành vi đó. Thành viên nào vốn đã có niềm tự hào về phẩm chất thì thường tỏ ra là một công dân tốt của cộng đồng, tuân thủ các quy lắc về trách nhiệm đối với thái độ, hành vi của mình. Duy trì được niềm tự hào về phẩm chất trong lối sống sẽ giúp con người tránh xa ma túy và tránh xa được cả những yếu tố tiêu cực luôn đi kèm theo nó.


      X/ QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG YẾU TỐ TINH THẦN TRONG TC:

      Như chúng ta đã biết, TC không phải là một chương trình thuần túy nói về yếu tố tinh thần. Yếu tố tinh thần chỉ được sử dụng với khía cạnh giúp cho quá trình thay đổi, phục hồi của người nghiện thông qua việc nhìn nhận cuộc sống dưới một góc độ khác. Điều tôi sẽ trình bày ở đây là một quá trình điều trị nhằm tăng cường nhận thức về yếu tố tinh thần cho người nghiện trong giai đoạn phục hồi.


      Giai đoạn 1:

      Cuộc sống trong TC là một cuộc sống tập thể. Cuộc sống tập thể ở đây có một ý nghĩa khác với điều mà mọi người vẫn nghĩ về nó. TC tạo ra những điều kiện cần thiết cho người nghiện ma túy để họ có thể nhanh chóng phục hồi trong môi trường có định hướng rõ ràng về "mục đích và kết quả". Chúng ta không mấy ngạc nhiên khi một người nghiện cho dù nặng nhẹ thế nào nhưng nếu đã từng có một thời quá khứ tốt thì sẽ không gặp nhiều khó khăn trong việc thích nghi với cuộc sống kỷ luật của TC. Tuy nhiên, những người có lý lịch không tốt như bỏ nhà, sống bụi đời hay không có tuổi thơ thì thường gặp khó khăn hơn. Họ cần phải biết được thế nào là hành vi đúng trước khi có thể bước vào qúa trình phục hồi. Đây chính là một thử thách lớn không chỉ với họ mà còn với tất cả các nhân viên điều trị của TC.


      Trong môi trường mới, người nghiện bắt đầu học cách thích nghi và học những khái niệm cơ bản của TC. Quá trình học hỏi này được tiến hành từ đơn giản đến phức tạp. Tất cả những điều người nghiện cần phải học đều được đơn giản hóa đến mức tối đa. Thông thường, trong giai đoạn này. đối tượng chưa cần phải hiểu cặn kẽ những gì mình được học. Đối tượng chỉ cần nhập tâm và tạm chấp nhận những khái niệm được đưa ra. Tóm lại, đối tượng có thể được giới thiệu về hệ thống điều trị của TC nhưng anh ta chưa cảm giác hay chưa thực sự hiểu về nó. Đây chỉ là giai đoạn chuẩn bị cho người nghiện bước sang giai đoạn thứ hai là giai đoạn bước vào chuyển đổi thái độ hành vi để dần dần phục hồi trong môi trường điều trị TC.


      Giai đoạn 2:

      Trong giai đoạn 2, nếu như người nghiện đà vượt qua giai đoạn 1, anh ta sẽ bắt đầu chủ động tìm kiếm cơ hội để tự điều chỉnh chính bản thân mình. Anh ta tham gia vào các hình thức sinh hoạt nhóm khác nhau để chia sẻ và tâm sự với người khác về quá khứ của mình. Việc này sẽ động chạm đến những vấn đề gai góc nhất của cuộc đời anh ta.


      Trong giai đoạn này, đối tượng đã quen với quy tắc thường nhật của TC. Môi trường an toàn và lành mạnh, cách xa những cám dỗ của ma túy sẽ giúp anh ta có thời gian suy ngẫm lại cuộc đời mình. Thông thường đây là giai đoạn khó khăn trong quá trình điều trị bởi vì người nghiện phải đối diện với tất cả những nỗi đau, sự xấu hổ, mất mát của cuộc đời mà bấy lâu nay anh ta thường né tránh. Một khi đối tượng đã vứt bỏ được sự mặc cảm, sự tự lừa dối mình, anh ta sẽ đạt được sự kiểm soát cuộc đời anh ta. Anh ta phát hiện được sức mạnh tiềm ẩn bên trong và nhận thấy rằng anh ta có thể điều khiển cuộc đời theo ý mình. Anh ta cũng nhận thức được một phần về cái tôi của mình và đó là điều cần thiết để anh ta tiếp tục trên con đường điều trị - phục hồi. Anh ta hiểu rằng không phải nghiện là vô vọng mà với sự giúp đỡ của những người xung quanh, anh ta có thể vượt qua những trở ngại trong điều trị. Anh ta cũng hiểu được rằng : Một mình bạn có thể làm được điều đó nhưng bạn sẽ không thành công nếu làm việc đó một mình”.


      Giai đoạn 3:

      Đến giai đoạn này, người nghiện bắt đầu tự sắp xếp lại những mảnh vỡ của cuộc đời anh ta. Những gì mà anh ta học được ở giai đoạn 2 thì bây giờ được đem ra áp dụng để tái thiết tại cuộc đời của anh ta. Trong giai đoạn này, người nghiện đã thực sự thích nghi với môi trường điều trị. Anh ta cảm thấy thoải mái với chính mình cũng như với những người xung quanh. Anh ta nhận thức rõ được những cảm giác của mình và đôi khi còn phát hiện ra những cảm giác mới mà trước đây anh ta chưa bao giờ có. Đây cũng là giai đoạn của sự thể nghiệm bản thân đối tượng, là giai đoạn đi tìm câu trả lời cho câu hỏi về mục đích sống của đời người. Khao khát muốn tìm hiểu có khi còn mạnh mẽ hơn cả nhu cầu tìm kiếm ma túy. Đối với những người có thiên hướng tôn giáo thì câu hỏi làm họ phải băn khoăn suy nghĩ đó là mối liên hệ giữa con người và Đức Chúa. Đôi khi cảm giác xấu hổ, mặc cảm tội lỗi trước Chúa được thay bằng cảm giác được sự bao dung, che chở trong tình yêu của Chúa. Việc đối tượng tìm kiếm câu trả lời về mục đích cuộc sống trong giai đoạn này có thể giúp anh ta hoạch định được một kế hạch để sống sao cho có ích trong tương lai.


      Giai đoạn 4:

      Sau khi đã tìm lại được chính bản thân mình, người nghiện bắt đầu quá trình học hỏi những gía trị của cuộc sống, hệ thống niềm tin trong TC, mối quan hệ xã hội, định hướng nghề nghiệp nhằm hướng tới một cuộc sống lành mạnh, không có ma túy . Sự thay đổi lớn lao trong thái độ của đối tượng ở giai đoạn này là rất đáng chú ý. Anh ta tỏ ra có triển vọng và trở nên đáng tin cậy nhờ có tinh thần trách nhiệm trong lao động và hành vi ứng xử. Anh ta có cuộc sống thăng trầm chìm nổi nhưng anh ta đã biết chấp nhận thực sự, biết kiểm soát nó và tìm kiếm sự giúp đỡ khi cần thiết. Anh ta hiểu rằng cuộc chiến chống lại cám dỗ của ma túy vẫn chưa chấm dứt và anh ta vẫn còn phải rèn luyện thêm những điều đã học để có thể duy trì một cuộc sống lành mạnh lâu dài. Anh ta hiểu, nghiện không đơn thuần là sự phụ thuộc vào ma túy mà còn là sự lệ thuộc vào quá khứ cùng những yếu tố xã hội đi liền với quá khứ ấy. Quay trở lại quá khứ cũng đồng nghĩa với việc đùa giỡn với lửa. Anh ta có thể đốt thành tro tất cả những nỗ lực bấy lâu nay nhằm đạt được sự phục hồi. Tránh mọi mối liên quan dẫn đến quá khứ tội lỗi đó là yếu tố tiên quyết để duy trì cuộc sống lành mạnh không còn ma túy.


      Để duy trì được những gì mà anh ta được học, anh ta phải biết cách chia sẻ đúng cho người khác. Đối tượng đã hoàn tất giai đoạn này, phải biết cách dạy lại những thành viên mới bằng chính ví dụ cuộc đời anh ta. Vai trò của anh ta trong cộng đồng bây giờ là dạy lại nhừng điều mình được học . Chỉ có như vậy anh ta mới thực sự hiểu hết ý nghĩa của mọi vấn đề đã học và có trách nhiệm hơn đối với hệ thống niềm tin trong cộng đồng trị liệu TC.


      XI/ PHỎNG VẤN BAN ĐẦU TRONG CỘNG ĐỒNG TRỊ LIỆU TC:

      Ngay từ khi mới ra đời, cộng đồng trị liệu TC đã có một chương trình phỏng vấn mà bất kỳ người nghiện nào khi mới tham gia vào cộng đồng đều phải trải qua. Phỏng vấn trước khi gia nhập cộng đồng trị liệu là loại phỏng vấn đặc biệt. Nó không hoàn toàn tuân theo trình tự và nội dung của một cuộc thăm hỏi tiền sử bệnh hay trắc nghiệm tâm lý. Thay vì phỏng vấn kiểu tay đôi giữa người được phỏng vấn và cán bộ tiếp đón, đối tượng có nguvện vọng tham gia cộng đồng trị liệu được một nhóm những người nghiện sau cai cùng đặt câu hỏi và buộc phải trả lời trung thực về quá khứ của mình. Sẽ không ai trong số những người phỏng vấn ghi chép gì. Nhưng bất kỳ một biểu hiện dối trá nào nhằm né tránh hay từ chối trả lời sẽ bị người phỏng vấn phát hiện và được nhắc nhở để người nghiện phải nói ra sự thật. Hình thức phỏng vấn này trong TC còn được gọi là phỏng vấn cảm xúc. Mục đích của phỏng vấn cảm xúc không phải là để thu thập thông tin về tâm lý xã hội của người nghiện mà nhằm đánh giá mức độ nhận thức về động cơ của người nghiện. Chính vì vậy việc sử dụng thông tin thu được để điền vào một mẫu đánh giá là không cần thiết. Việc có trách nhiệm đối với cuộc sống của chính mình và có động cơ điều trị đúng là yếu tố rất quan trọng quyết định việc đối tượng có đủ khả năng tham gia và duy trì điều trị hay không. Phương pháp phỏng vấn của TC nhằm buộc người nghiện phải thực sự quyết tâm để thay đổi. Nó giúp người nghiện lột bỏ bức màn che giấu, phủ nhận sự thực và học cách tìm kiếm giúp đỡ trong cộng đồng.


      Phương pháp phỏng vấn ban đầu của TC:

      Ngoài việc sàng lọc đối tượng đủ điều kiện tham gia cộng đồng trị liệu, phỏng vấn ban đầu còn có nhiệm vụ xây dựng kế hoạch điều trị cho đối tuợng và dự kiến những điều kiện cần để việc thay đổi nhận thức hành vi có thể xảy ra. Kinh nghiệm cho thấy rằng, những thông tin mà người nghiện đưa ra trong lần phỏng vấn đầu tiên thì nói chung không đáng tin cho lắm. Nguyên nhân của nó một phần là do người nghiện hầu như không bao giờ thừa nhận là họ gặp khó khăn, phần còn lại là do những khó khăn đó coi như là đã chấm dứt kể từ khi đối tượng bắt đầu tham gia chương trình điều trị. Mà nói chung, ngay cả những đối tượng mà ta xếp vào loại tình nguyện thì họ cũng gặp những vấn đề không khác gì so với đối tượng cưỡng chế, cũng là áp lực của gia đình của trường học, của công việc hay của cả ba yếu tố trên. Để làm rõ hơn về phương pháp phỏng vấn củaTC tôi xin tóm lược một số nét như sau :


      Có năm mục tiêu mà người phỏng vấn phải đảm bảo đạt được trong lần phỏng vấn ban đầu:

      • 1) Tạo mối quan hệ

      • 2) Khai thác thông tin

      • 3) Đưa ra thông tin

      • 4) Xây dựng dự thảo về thoả thuận điều trị

      • 5) Lên kế hoạch bước tiếp theo.


      Những mục tiêu này là cơ sở để người phỏng vấn bám vào xây dựng chương trình phỏng vấn xoay quanh những vấn đề đó. Tuy nhiên, chỉ những mục tiêu này đơn thuần thì không đảm bảo cho sự thành công của phỏng vấn. Bằng cách áp dụng một số kỹ năng đặc biệt của phỏng vấn cảm xúc, người phỏng vấn giúp củng cố quyết tâm của đối tượng, giúp họ ý thức được trách nhiệm cá nhân đối với sự thay đổi và đó là yếu tố quan trọng để có thể suy trì tham gia điều trị - phục hồi.


      • 1. Tạo mối quan hệ: Việc tạo lập được mối quan hệ và chiếm được thiện cảm của đối tượng ngay lúc ban đầu là hết sức quan trọng để tạo ra sự cởi mở trong giao tiếp. Theo phương pháp phỏng vấn cảm xúc truyền thông của TC, những người nghiện sau cai đóng vai trò người phỏng vấn chủ yếu dựa vào kinh nghiệm của họ khi họ còn là người nghiện để xóa bỏ sự đề phòng của đối tượng. Một vài kỹ năng tư vấn khác như: lắng nghe, thông cảm, phê phán ... cũng sẽ rất hữu ích cho người phỏng vấn. Ấn tượng ban đầu, bài trí tại điểm phỏng vấn cùng là yêu tố cần chú ý đến để tạo hiệu quả cao nhất.


      • 2. Khai thác thông tin từ người nghiện: Người phỏng vấn phải rất khéo léo tế nhị trong việc khai thác thông tin từ người nghiện. Tôt nhất là đặt câu hỏi một cách từ tốn, tránh hiện tượng hỏi dồn đập hay thúc bách nếu không muốn tạo ra sự khủng hoảng tâm lý đối với người nghiện. Thông tin ban đầu là quan trọng nhưng lấy được thông tin chính xác thì không phải là dễ. Thông tin chính xác phải bao gồm tiểu sử cá nhân, tình trạng tâm lý, nguyên nhân nội tại và nguyên nhân bên ngoài tác động khiến đối tượng đến với điều trị, quá trình sử dụng ma túy, hoàn cảnh gia đình, công ăn việc làm và cả những lý do cơ bản dẫn trến stress từ đó có thể xây dựng một kế hoạch can thiệp thích hợp.


      • 3. Cung cấp thông tin cho người nghiện: Những thông tin cơ bản về cơ sở điều trị và triết lý cộng đồng cần phải được cung cấp đầy đủ cho đối tượng. Thông thường, đốì tượng chỉ được nghe sơ bộ hay những thông tin không đầy đủ về bản chất cùa khó khăn mà anh ta đang vấp phải cùng như cách giải quyết nó. Nếu ta giải thích rõ cho đối tượng được hiểu thì có thể giúp anh ta diều chỉnh lại được mục tiêu và nguyện vọng điều trị của mình.


      • 4. Xây dựng dự thảo bản thoả thuận điều trị: Nếu như người phỏng vấn thành công trong việc cùng có được quyết tâm điều trị của đôi tượng thì phải tiến hành dự thảo một văn bản trong đó đối tưựng bày tỏ sự đồng ý quyết tâm tham gia điều trị. Văn bản đó được gọi là "thỏa thuận điều trị". Trong văn bản ghi rõ yêu cầu và mục tiêu điều trị của đối tượng. Để đạt được những mục tiêu, yêu cầu này, đối tượng cần nhận thức được tầm quan trọng của yếu tố tập thể, cộng đồng và những gì mà cộng đồng đòi hỏi ở anh ta.


      • 5. Lên kế hoạch cho bước tiếp theo: Nhằm giúp đỡ người nghiện duy trì được quyết tâm tham gia điều trị, chúng ta cần phải giải thích rõ với anh ta về những bước tiếp theo. Nếu như những biện pháp phỏng vấn thông thường có hiệu qủa thì tại thời điểm này đối tượng đã hầu như sẵn sàng để tham gia điều trị. Mức độ phủ nhận cũng như phản ứng của anh ta đối với hiện tại cũng đã được giảm đi nhiều.


      Các giai đoạn và quá trình thay đổi của người nghiện ma túy áp dụng trong phỏng vấn:

      Đối tượng nghiện đến với điều trị vì nhiều lý do và hoàn cảnh khác nhau. Chính những yếu tố đó quyết định động cơ điều trị của từng đối tượng. Để đánh giá được chính xác động cơ điều trị của đối tượng, người phỏng vân phải nắm được lý thuyết về các giai đoạn và quá trình thay đổi của người nghiện ma túy.


      Có 5 giai đoạn lần lượt là:

      • 1)  Giai đoạn chưa có dự định thay đổi.

      • 2)  Giai đoạn có dự định thay đổi.

      • 3)  Giai đoạn chuẩn bị.

      • 4)  Giai đoạn hành động.

      • 5)  Giai đoạn duy trì.


      Trong giai đoạn 1, đối tượng chưa có dự định thay đổi hành vi trong một tương lai gần. Anh ta không nhận thức được hoặc nhận thức không rõ ràng về khó khăn mà anh ra đang vấp phải. Khi đó, thái độ của anh ta đối với những khó khăn đó là phủ nhận và giấu giếm và anh ta hầu như không nghĩ gì đến sự thay đổi.


      Trong giai đoạn dự định, đối tượng bắt đầu nhận thức được khó khăn của mình và cũng đã suy nghĩ tìm giải pháp để vượt qua nhưng chưa thực sự bắt tay vào bất kỳ một hành động nào, cần phải có sự cân nhắc nghiêm túc để tìm ra một giải pháp hợp lý trong giai đoạn này. Trong giai đoạn chuẩn bị, đối tượng nhận thức rõ được khó khăn của mình và giải pháp khắc phục. Anh ta đang đánh giá lại tất cả những phương án mà anh ta có. Tóm lại, đối tượng đã sẵn sàng cho sự thay đổi.


      Giai đoạn hành động là giai đoạn đối tượng tiến hành điều chỉnh lại hành vi, điều chỉnh lại môi trường nhằm vượt qua những khó khăn cản trở. Trong giai đoạn này đối tượng không chỉ sẵn sàng thay đổi mà còn thực sự giải quyết những vấn đề tồn tại của chính mình.


      Giai đoạn cuối cùng, giai đoạn duy trì là thời điểm mà đối tượng phải học cách phòng ngừa tái nghiện, duy trì những gì anh ta đã đạt được trong giai đoạn hành động. Kinh nghiệm cho thấy rằng, thông thường đối tượng đến với chúng ta khi họ ở giai đoạn 1. Thông qua qua trình phỏng vấn, người phỏng vấn có thể giúp đôi tượng nâng cao lòng quyết tâm sang giai đoạn 2 nhằm tăng cường sự sẵn sàng của đối tượng với việc thay đổi hành vi thông qua điều trị.


      Hướng dẫn tổ chức tiến trình phỏng vấn

      Phỏng vấn là điều kiện tiên quyết trước khi một đối tượng mới được chấp nhận tham gia cộng đồng trị liệu TC. Nó được tổ chức ngay vào ngày đầu tiên đối tượng đến xin tham gia điều trị. Mục tiêu đầu tiên của cuộc phỏng vấn là đánh giá động cơ điều trị của đối tượng. Bởi lẽ hầu hết các đối tượng không tự giác muốn tham gia điều trị, họ thường đến với chúng ta bởi vì áp lực của gia đình, sự cưỡng chế của pháp luật ... cho nên vấn đề là phải tổ chức phỏng vấn sao cho đối tượng quyết tâm tình nguyện ở lại điều trị trong môi trường TC. Cuộc phỏng vấn nhất định phải đạt được mục tiêu đề ra này bằng không đối tượng sẽ vấp phải khó khăn ngay trong giai đoạn đầu của điều trị.


      Sàng lọc đối tượng

      Trong quá trình sàng lọc, khi đối tượng gọi điện đến cơ sở điều trị hay đến hỏi về thủ tục gia nhập cộng đồng trị liệu, anh ta phải tự mình bày tỏ rằng: dự định tham gia điều trị là sự lựa chọn của chính anh ta chứ không phải của bố mẹ, của cán bộ pháp luật... Anh ta phải chứng tỏ rằng anh ta thực sự nghiêm túc trong việc kêu gọi sự giúp đỡ của cộng dồng. Người phỏng vấn cũng không làm bất cứ điều gì can thiệp vào quyết định của đối tượng ngoài việc nhắc nhở anh ta phải nghiêm túc và có trách nhiệm với dự định của mình. Đối tượng sẽ được hẹn đến ngày để tham gia phỏng vấn thực sự.


      Quá trình phỏng vấn:

      Quá trình phỏng vấn phải được diễn ra trong một căn phòng biệt lập, tránh xa mọi yếu tố làm phân tán tư tưởng. Trước hết, đối tượng sẽ giới thiệu về bản thân mình trước các thành viên của nhóm phỏng vấn.


      Sau đó trưởng nhóm phỏng vấn sẽ tự giới thiệu về mình tiếp theo đó là các thành viên còn lại của nhóm. Khi các thành viên tự giới thiệu về mình họ cũng cần nói vắn tắt luôn về lý do khiến họ đến với TC cũng như vai trò hiện tại của từng người trong cộng đồng. Mục đích của việc giới thiệu này là giúp đốì tượng nắm được thông tin sơ bộ về nhóm phỏng vấn. Quá trình phỏng vấn sau đó sẽ phải gồm những nội dung sau:

      • 1) Gây dựng được lòng tin nơi đối tượng để anh ta sẵn sàng kể lại một cách trung thực khó khăn tồn tại mà anh ta đang vấp phải.

      • 2) Giúp cho đối tượng thể hiện được trách nhiệm của mình đối với những khó khăn kể trên bằng cách gạt bỏ sự phủ nhận thực tại, sự trốn tránh trách nhiệm, sự hợp lý hóa nhằm biện minh cho những sai lầm của anh ta.

      • 3) Giúp cho đối tượng thể hiện sự trung thực bằng tập trung mọi vấn đề xung quanh anh ta thay vì đổ lỗi cho người khác gây ra khó khăn cho mình.

      • 4) Giúp đối tượng thừa nhận sai lầm, nhận thức được nhu cầu cần sự giúp đỡ và có khả năng tìm kiếm giúp đỡ đó.

      • 5) Thuyết phục đối tượng sẵn sàng chấp nhận các quy tắc của cộng đồng nhằm tham gia điều trị. Thuyết phục đối tượng chấp nhận những gợi ý điều trị mà cán bộ điều trị cho là thích hợp với anh ta.


      Sau khi kết thúc phỏng vấn đối tượng phải có khả năng để:

      • 1) Có thể đủ tin tưởng vào nhóm phỏng vấn để tâm sự về khó khăn trong cuộc đời anh ta.

      • 2) Có thể cởi mở hơn và thừa nhận những tồn tại trong thái độ, hành vi mà nhóm phỏng vấn chỉ ra cho anh ta.

      • 3) Có thể thừa nhận sai lầm, sẵn sàng chịu trách nhiệm về hành vi của mình thay vì đổ lỗi cho người khác.

      • 4) Nhận thức được rằng mình cần giúp đỡ và bày tỏ mong muốn nhận được sự giúp đỡ.

      • 5) Quyết tâm sửa đổi, thể hiện mình sẵn sàng phối hợp với chương trình điều trị thông qua việc tuân thủ các quy tắc của cộng đồng, chấp nhận những gợi ý điều trị của nhân viên chuyên nghiệp.


      Sau khi phỏng vấn kết thúc, trưởng nhóm phỏng vấn sẽ yêu cầu đối tượng đợi nhóm họp trong giây lát. Nếu như ý kiến chung là chấp nhận đối tượng, trưởng nhóm phỏng vấn sẽ thông báo cho đối tượng và chúc mừng anh ta gia nhập cộng đồng. Nếu như vẫn còn ý kiến cho rằng anh đối tượng chưa đủ điều kiện tham gia, chưa thể hiện rõ quyết tâm điều trị thì phải đợi tham khảo ý kiến của lãnh đạo cộng đồng trước khi chấp nhận đốì tượng. Nếu đốì tượng không thỏa mãn các yêu cầu gia nhập TC, anh ta sẽ được giới thiệu đến một chương trình điều trị khác thích hợp hơn hoặc được hẹn phỏng vấn lại vào một thời điểm khác khi anh ta đã củng cố được quyết tâm và động lực điều trị.


      Nếu đối tượng được chấp nhận thì ngay buổi đầu tiên anh ta sẽ được giới thiệu trước cộng đồng và được cộng đồng chào đón như một thành viên mới.

YÊU CẦU VỀ CƠ CẤU – HOẠT ĐỘNG – MỐI QUAN HỆ ĐỂ MỘT MÔI TRƯỜNG TRỊ LIỆU CỘNG ĐỒNG CÓ HIỆU QUẢ

YÊU CẦU VỀ CƠ CẤU - HOẠT ĐỘNG - MỐI QUAN HỆ ĐỂ MỘT MÔI TRƯỜNG TRỊ LIỆU CỘNG ĐỒNG CÓ HIỆU QUẢ

  I/ HỆ THỐNG TỔ CHỨC:

1/ SƠ ĐỒ TỔ CHỨC:



2/ NHIỆM VỤ CỦA NGƯỜI LÃNH ĐẠO: Là vô cùng quan trọng đòi hỏi phải có TRÌNH ĐỘ và NHẠY BÉN trong công việc:

  • + Điều chỉnh cơ cấu cho phù hợp.

  • + Điều chỉnh các dịch vụ điều trị.

  • + Điều chỉnh vai trò các cán bộ điều trị.

  • + Phân công nhiệm vụ của cán bộ điều trị và nhân viên tư vấn phù hợp.

  • + Xây dựng kế hoạch bồi dưỡng kiến thức và kinh nghiệm cho tập thể CBNV để có thể triển khai chương trình điều trị.

  • + Lập kế hoạch xây dựng chương trình điều trị

  • + Phục hồi dựa vào trung tâm và dựa vào cộng đồng.

  • + Tổng kết tiến độ triển khai các chương trình từng giai đoạn.


3/ NHIỆM VỤ CỦA CÁC PHÒNG BAN CHỨC NĂNG: Cơ bản gồm 4 bộ phận chính:

  • + Y tế.

  • + Giáo dục.

  • + Quản lý.

  • + Phục vụ.

Tất cả các bộ phận trên đều phải tác nghiệp trên một thể thống nhất nhằm vào công tác điều trị, điều chỉnh, phục hồi nhận thức – hành vi – nhân cách cho đối tượng cai nghiện, nhưng nhiệm vụ ai người đó làm. Tổ chức như trên nhằm mục tiêu:

  • + Đảm bảo sức khỏe cho đối tượng cai nghiện

  • + Phát hiện và ngăn chặn kịp thời các bệnh cơ hội – dịch bệnh – bệnh mắc phải.

  • + Sử dụng các phương pháp điều trị không dùng thuốc thông qua tư vấn – liệu pháp tâm l‎ý – liệu pháp giáo dục – liệu pháp xã hội,…

  • + Theo dõi tiến độ của học viên thông qua các hoạt động của cá nhân, nhóm, tổ chức, huấn nghiệp trị liệu, lao động trị liệu, sản xuất trị liệu, ….

  • + Đảm bảo môi trường điều trị an toàn.

  • + Tạo một môi trường sẵn sàng đáp ứng kịp thời cho công tác cai nghiện (xây dựng cơ sở vật chất – vệ sinh môi trường – chuẩn bị cho công tác quản l‎ý cũng như phục vụ cho mọi hình thức trị liệu, …).


II/ NHIỆM VỤ THỰC HIỆN:
  • - Xác định nhiệm vụ rõ ràng cho từng cá nhân, từng nhóm, từng tổ chức của học viên và người phụ trách.

  • - Xác định nhiệm vụ người giám sát.

  • - Xác định nhiệm vụ của điều phối viên.


III/ PHÂN CÔNG CÔNG VIỆC:
    • - Sắp xếp công việc cụ thể cho từng đối tượng.

    • - Cho phép đối tượng đăng ký với cán bộ điều trị nhận công việc cho mình, tất nhiên sự lựa chọn phải dựa vào khả năng từng người và tiến độ điều trị.

    • - Trách nhiệm của từng người trong công việc được giao, nếu như không đáp ứng được yêu cầu cần làm rõ vì những lý do bệnh lý hoặc lý do hành vi.


    IV/ LỊCH SINH  HOẠT HẰNG NGÀY:

    Mục đích của việc bố trí lịch sinh hoạt là để điều hành hoạt động của Trung tâm, tạo cho đối tượng ‎có ý‎ thức tổ chức kỷ luật, hình thành thói quen tốt và nhận thức tốt. Một ví dụ của lịch sinh hoạt:

    6 :00  Thức dậy/ dọn giừơng/ vệ sinh phòng ngủ/ điểm danh.

    6 :30  Thể dục buổi sáng/ tắm rửa.

    7 :00  Ăn sáng.

    8 :00  Giao ban buổi sáng (là không thể thiếu được).

    8 :45  Cán bộ họp giao ban/ Họp nhóm đối tượng/ Sinh hoạt cộng đồng.

    9 :30  Lao động trị liệu – Huấn nghiệp trị liệu.

    11 :30 Tắm rửa.

    12 :00 Ăn trưa – nghỉ trưa.

    14 :00 Sinh hoạt nhóm điều trị.

    15 :30 Lao động trị liệu.

    17 :00 Hoạt động trị liệu.

    18 :00 Tắm rửa.

    18 :30 Ăn tối.

    19 :30 Tư vấn, họp nhóm, giải trí…

    21 :00 Họp toàn thể cộng đồng/ thông báo chung.

    22 :00 Điểm danh tối/ đi ngủ.

    Lịch sinh hoạt này thay đổi tùy theo từng giai đoạn điều trị và điều kiện của từng đơn vị.


    V/ NHỮNG NGUYÊN TẮC TRONG MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁC NHÂN VIÊN ĐIỀU TRỊ:

    Tình đồng đội và sự tôn trọng lẫn nhau là nguyên tắc cơ bản của các nhân viên điều trị trong cộng đồng. Các đối tượng là thành viên của cộng đồng cũng phải coi hai nguyên tắc đó là nền tảng mối quan hệ trong công việc của mình. Để xây dựng được môi trường trị liệu cộng đồng có hiệu quả, các nhân viên điều trị phải có khả năng phối hợp làm việc trên tinh thần tôn trọng lẫn nhau. Để tạo ra được một thái độ làm việc như vậy, những người lãnh đạo tổ chức phải là tấm gương của cộng đồng trị liệu. Người cán bộ lãnh đạo phải tuân thủ nguyên tắc này trong khi giao tiếp với các nhân viên của mình.


    VI/ NHỮNG NGUYÊN TẮC TRONG MỐI QUAN HỆ GIỮA NHÂN VIÊN ĐIỀU TRỊ VỚI ĐỐI TƯỢNG:

    Cộng đồng có mục tiêu là tạo một môi trường cho sự điều chỉnh nhận thức – hành vi – nhân cách của đối tượng. Cộng đồng sẽ thất bại nếu như thiếu đi lòng quyết tâm của những người lãnh đạo và những người có uy tín trong cộng đồng. Môi trường cộng đồng trị liệu bao gồm nhiều thành phần khác nhau: Có những đối tượng ích kỷ, mang chủ nghĩa anh hùng cá nhân, nhưng cũng có những sự hy sinh bản thân để giúp đỡ các đối tượng khác.


    Đa số người cai nghiện có trạng thái tình cảm không ổn định, nhưng điều đáng chú ý là chính những cán bộ điều trị chuyên đi hàn gắn vết thương này đôi khi không giải quyết được những khó khăn của chính bản thân mình. Tuy nhiên dù tình huống nào, người cán bộ điều trị, những người được xem là tấm gương sáng để toàn thể cộng đồng noi theo, luôn luôn phải cư xử với các thành viên của cộng đồng với một thái độ có trách nhiệm. Những cơ chế của cộng đồng được thể hiện ở những nghi thức và quy tắc xã hội, có thể giúp ngăn chặn việc vô tình hay cố tình sử dụng sai nguyên tắc về sức mạnh và quyền hạn trong mọi đối tượng điều trị tại cộng đồng.


    Nhằm nâng cao những quy tắc, chuẩn mực của cộng đồng, cần phải quan tâm đến việc đào tạo những cán bộ điều trị trở thành những nhân viên chuyên nghiệp có trình độ. Việc chuyên môn hóa đội ngũ điều trị có thể sẽ giúp cải thiện chất lượng điều trị của cộng đồng nói chung và của những người cán bộ quản lý nói riêng.


    VII/ CƠ CẤU CÓ ẢNH HƯỞNG ĐẾN THÁI ĐỘ VÀ HÀNH VI ĐỐI TƯỢNG:

    Môi trường cộng đồng trị liệu nổi tiếng là nhờ nó được sự tổ chức tốt, có nguyên tắc, có cơ sở vật chất đầy đủ các yếu tố trên sẽ khích lệ những hành vi lành mạnh. Môi trường sẽ phản ánh bản chất của cộng đồng sống trong môi trường đó. Mặc dù có một vài mô hình cộng đồng buộc phải thích nghi với cơ sở vật chất sẵn có ví dụ như là nhà tù, các khu nhà cũ, cơ sở khám chữa bệnh thiếu thốn nhưng chúng ta phải quyết tâm từng bước nâng cấp môi trường sao cho phù hợp với yêu cầu của một môi trường cộng đồng trị liệu.


    Cộng đồng trị liệu phải mang dáng dấp một gia đình nhiều hơn là một trung tâm điều trị. Ngay cả ở trong tù hay trong trại cải tạo, trại giáo dưỡng trẻ em vị thành niên: không khí “nhà tù” cũng không còn nữa, nhằm khiến cho cộng đồng trở thành một môi trường nhẹ nhàng, tin cậy cho việc điều trị – phục hồi, an toàn cả về thể chất lẫn tinh thần cho đối tượng: Đó phải là chỗ mà đối tượng có thể chịu trách nhiệm về sự lựa chọn và hành vi của chính mình. Trong khi nhà tù tạo ra không khí thiếu an toàn, nơi mà đối tượng muốn sinh tồn thì phải dựa hoàn toàn vào mánh khoé và luật rừng, thì môi trường cộng đồng tạo ra những hành vi xã hội lành mạnh như tin tưởng và giúp đỡ lẫn nhau trong bầu không khí gia đình.


    Những thành công lớn của môi trường cộng đồng trị liệu có được là nhờ một cơ cấu hoạt động chặt chẽ. Cần tổ chức tốt lịch sinh hoạt hàng ngày của cộng đồng tùy theo người cũ hay ngườimới tham gia điều trị. Tuy nhiên, mọi đối tượng cai nghiện đều phải hiểu được trách nhiệm của mình và các mục tiêu chung do cộng đồng đề ra.

VNExpress – ‘Bố già’ của hàng nghìn cuộc đời lầm lỡ

TP HCM - Sáng tháng 9, bác sĩ Nguyễn Hữu Khánh Duy nheo mắt theo dõi từng chút động tĩnh của các phòng điều trị qua màn hình camera giám sát. Bỗng cửa bật mạnh kèm theo một giọng nói gấp gáp: "Bác Duy ơi, có ca cấp cứu". Người đàn ông 76 tuổi giật mình, sải bước tiến về phòng bệnh. Đó là một cô gái trẻ, đang điều trị tại Trung tâm cai nghiện Thanh Đa (quận Bình Thạnh).   30 phút sau, ông trở ra giải thích: "Con bé tăng huyết áp, có tiền sử bệnh tim. Giờ đã ổn rồi". Ông kể, những ca bệnh như này xảy ra hàng ngày tại trung tâm. "Nhiều thanh niên giả bệnh để trốn trại nhưng không thể qua mắt được tôi", bác sĩ Khánh Duy, giám đốc trung tâm vừa nói vừa cởi chiếc áo blouse trắng, đặt ống nghe xuống bàn.
Bác sĩ Nguyễn Hữu Khánh Duy theo dõi những buồng bệnh nơi các học viên cai nghiện đang ngủ trưa
Bác sĩ Nguyễn Hữu Khánh Duy theo dõi những buồng bệnh nơi các học viên cai nghiện đang ngủ trưa hôm 15/9. Ảnh: Minh Tâm.

23 năm nay, ông đã chữa trị cho hàng nghìn thanh niên sa ngã vào con đường nghiện ngập và được họ gọi bằng những cái tên thân thương như "bố già", "ông ngoại" hay chỉ đơn giản là "bố". Cơ duyên đưa ông đến với nghề này xuất phát từ chính nỗi ám ảnh trong quá khứ khi còn là một chiến sĩ điệp báo A10 trong thời kỳ chống Mỹ.

 

Bác sĩ Duy quê ở Nghệ An nhưng sinh ra và lớn lên ở miền Nam. Năm 1973, ông tốt nghiệp Đại học Y khoa Sài Gòn và tham gia Ban An ninh Sài Gòn - Gia Định với bí danh Năm Quang. Dù đang là Cụm phó cụm điệp báo A10, ông được cấp trên giao nhiệm vụ đăng lính của chính quyền Sài Gòn để giữ nhân thân hợp pháp, tiếp tục hoạt động theo yêu cầu của Ban An ninh T4. Ông trở thành bác sỹ trưởng quân y của Lữ đoàn 258 lính thủy đánh bộ của quân đội Sài Gòn.

 

Đời người chiến sỹ tình báo đơn tuyến, hoạt động trong lòng địch, bác sĩ Duy thường chứng kiến những người lính sử dụng ma túy như "thần dược" để quên đi sự cô đơn, nỗi sợ hãi nơi chiến trường. "Khi đó, người lính trở nên hung tợn và tàn ác. Chứng kiến cảnh dân thường vô tội chết trước họng súng của địch đang phê thuốc khiến tôi căm thù ma túy", ông kể.

 

Sau năm 1975, ông Năm Quang trở lại với tên thật Khánh Duy, công tác tại nhiều vị trí từ Phòng chống phản gián, Phòng chính trị nội bộ, bác sĩ trưởng trại giam Chí Hòa rồi đến Hội thẩm nhân dân. Tưởng rằng khi đã hòa bình, bom đạn lùi xa, chết chóc sẽ không còn, nhưng 9 năm làm việc ở khám Chí Hòa ông đã phải điều trị cho hàng trăm người nghiện ma túy. Khi đảm nhận chức vụ hội thẩm dự nhiều vụ án liên quan đến ma túy, ông mới hiểu ma túy đang trở thành "kẻ địch mới" tàn phá thế hệ trẻ.

 

"Tôi có cơ hội tiếp cận với người nghiện, hiểu được nhiều hoàn cảnh, lý do sa ngã của họ và tự nhủ với lòng, mình cần phải giúp những phận đời trẻ thoát khỏi cái chết trắng", bác sĩ Duy nhớ lại. Cuối năm 1999 khi mới 52 tuổi, ông xin về hưu, kêu gọi đồng đội chung tay xây dựng nên Trung tâm điều dưỡng và cai nghiện ma túy Thanh Đa.

 

Ông đưa tay nhấp nhấp chuột di chuyển trên màn hình camera quan sát từng phòng rồi bật bộ đàm gọi bảo vệ: "Còn một vài đứa ngồi bên ngoài, chú nhắc mấy con vào phòng nghỉ trưa".

 

Những học viên vào đây ngoài trị liệu cắt cơn, giải độc, vẫn phải thực hiện nếp sống kỷ luật giống trong doanh trại quân đội như thức dậy, tập thể dục đúng giờ, dọn dẹp nơi sinh hoạt sạch sẽ, học tập và lao động đúng quy định... Tất cả những điều này chủ yếu giúp người nghiện tái lập những thói quen lành mạnh.

 

Nhưng để xây dựng được một thói quen tốt cho các con như hôm nay, ông đã gặp khó khăn trong khoảng 5 năm đầu, vì chưa có kinh nghiệm chuyên môn. Ông kể, khi ấy trung tâm chỉ mới tiếp nhận khoảng 15-20 học viên nhưng quản không nổi. "Các con lên cơn rồi chửi bới, đánh nhau. Từng cán bộ phải chạy ra ôm học viên can ngăn. Anh bạn đồng hành với tôi hoảng quá xin nghỉ luôn", ông nhớ lại.

 

Lúc bấy giờ tài liệu về ma túy rất hiếm, bác sĩ Duy phải đi tìm kiếm khắp nơi, chỗ nào có hội nghị thì tới tham gia xin tài liệu, gặp người nước ngoài để học hỏi.

 

Ông dành hầu hết thời gian để tìm tòi, học hỏi, nghiên cứu các tài liệu liên quan đến ma túy và cai nghiện, đặc biệt là các liệu pháp về tâm lý. Nhờ kiến thức từ trường đại học y khoa và nghiên cứu sau này nên ông đọc, hiểu và nhớ tài liệu về cai nghiện ma túy rất nhanh.

 

Sau đó, ông tổng hợp lại thành một tập tài liệu bài bản rồi chia sẻ cho các đồng nghiệp khác. Hướng đi của ông dần cho kết quả như mong đợi. Đến nay, trung tâm đã cai nghiện và điều trị cho hơn 20.000 học viên nhưng các bác sĩ hiếm khi phải giải quyết xung đột. Việc điều trị cho người nghiện ma túy cũng cho những kết quả khả quan.

Những lúc không nghiên cứu tài liệu, bác sĩ Duy lại tìm các học viên để tâm sự, động viên
Những lúc không nghiên cứu tài liệu, bác sĩ Duy lại tìm các học viên để tâm sự, động viên. Ảnh Minh Tâm.

23 năm gần gũi với các con, giúp người bác sĩ hiểu được nhiều cảnh đời hơn. Ông nhớ, có những người cha già khóc ròng khi đến gặp ông. Họ giao đứa con nghiện cho ông, như giao cả một sứ mệnh để thay đổi. Có những bậc cha mẹ tuyệt vọng vì con đi cai nghiện quá nhiều lần mà vẫn tái nghiện. Có những đứa con đã từng gí dao vào cổ mẹ để lột những đồng tiền cuối cùng đem nướng vào ma túy.

 

"Những cảnh đời não nùng và thương tâm đến tận cùng. Và chính những điều ấy đã buộc tôi không được dừng lại", ông tâm sự.

 

Một ngày đầu năm 2021, có một học viên tên Trinh vào trung tâm khi vừa tròn tuổi 18. Mồ côi cả mẹ lẫn cha, sống cùng anh trai nhưng cô bé bị nghiện bóng cười. "Thời gian đầu con bé không chịu hợp tác, luôn nói là mình bình thường nhưng lên cơn là đập phá đồ đạc. Biết con bé không ba mẹ, tui luôn gần con tâm sự", bác sĩ Duy nhớ lại.

 

Sau hơn một năm điều trị, Trinh hồi phục và được cho về. Trước khi rời đi, cô nhiều lần xin được ở lại trung tâm để hỗ trợ "bố" cùng các thầy cô nhưng bị khước từ.

 

"Không riêng Trinh, nhiều em muốn vào trung tâm thăm bạn cũ, xin làm việc, song tôi bảo con hãy quên quá khứ ở nơi này đi. Ký ức hồi tưởng đối với người nghiện ma túy rất nguy hiểm, tôi không muốn các con lại ngựa quen đường cũ", ông nói.

 

Anh Lê Hoàng Sơn, 39 tuổi, ở quận Tân Phú đã vào trung tâm gần chục lần vì tái nghiện. Anh kể, mỗi lần cai khoảng bốn tháng trở lên, hồi phục và được về. Nhưng khi hòa nhập cộng đồng anh không cưỡng lại cám dỗ và tái nghiện. Nơi đây dần trở thành nhà của anh. Anh gọi bác sĩ Duy là "ông ngoại".

 

"Ông ngoại khó tính lắm nhưng rất tình cảm. Từ đại ca lớn nhất ở đây ai cũng thương hết. Mỗi lần đánh nhau, ông ngoại lớn tuổi vậy mà cũng ráng la lên rồi xông vào can ngăn mọi người. Mình rất nể", anh Sơn tâm sự.

 

Đến nay, ngôi nhà chung của những đứa con lầm lỡ được nâng cấp như một khu nghỉ dưỡng sinh thái với cây xanh, hồ bơi. Đặc biệt, trong phác đồ cai nghiện còn có mục vui chơi, giải trí như phòng karaoke, máy chơi games, bóng bàn, phòng chiếu phim... Theo bác sĩ Duy, giải trí là cách giúp người nghiện giải toả những cơn stress kéo dài, là cách phục hồi đời sống tinh thần vốn bị những cơn mê của ma tuý đánh mất.

 

76 tuổi, bác sĩ Duy hàng ngày vẫn dành hết thời gian cho trung tâm. Ông thường về nhà sau khi những "đứa con" của mình đã vào phòng đi ngủ và trở lại trung tâm khi chúng chưa thức giấc. Đêm đến, hệ thống camera tại nhà ông vẫn luôn sáng đèn. "Mình phải theo dõi từng hành động của tụi nhỏ, lỡ có chuyện gì xảy ra tui vẫn xử lý kịp", ông nói.

 

Ông tâm sự, mình cùng lắm chỉ gắn bó với tụi nhỏ thêm 4 năm nữa. Ông đã dành 10 năm chuyển giao từ từ cho thế hệ mới nối nghiệp, song ông vẫn chưa hết băn khoăn với nghề.

 

Với ông, nghề này đã trở thành cái nghiệp. Để cai nghiện thành công đòi hỏi nhiều chi phí, nhưng đa phần người nghiện đều có hoàn cảnh khó khăn. Làm sao có thể giúp hết được các con thoát khỏi "vũng lầy" này, đó là điều ông luôn trăn trở.

 

"Tui mong sẽ có nhà hảo tâm đứng ra hỗ trợ, cùng chung tay giúp đỡ những hoàn cảnh khó khăn. Tôi sẽ dừng làm việc khi cảm thấy sức khỏe không cho phép bởi niềm vui của tôi là khi cảm thấy mình sống có ích và vẫn được làm việc mỗi ngày", vị bác sĩ già nói.

 

Minh Tâm

Nguồn: https://vnexpress.net/bo-gia-cua-hang-nghin-cuoc-doi-lam-lo-4513368.html

Hoạt động Giáo dục Trị liệu

HUẤN NGHIỆP  - LAO ĐỘNG TRỊ LIỆU

LỚP TƯ DUY TÍCH CỰC - GIÁ TRỊ SỐNG

LỚP TƯ DUY TÍCH CỰC - LÀM CHỦ BẢN THÂN

TƯ VẤN TÂM LÝ CÁ NHÂN

SINH HOẠT NHÓM - TƯ VẤN NHÓM

LỚP MỸ NGHỆ

23-01.jpg - 48.48 kB

THƯ VIỆN

11.jpg - 57.97 kB

TẬP THÁI CỰC TRƯỜNG SINH

12.jpg - 54.79 kB

HỌC VIÊN TT ĐIỀU DƯỠNG & CAI NGHIỆN THANH ĐA
THAM GIA HỘI THI THÁI CỰC TRƯỜNG SINH CÁC TỈNH PHÍA NAM

13.jpg - 35.27 kB

LỚP THIỀN ĐỊNH

13-03.jpg - 51.64 kB

TƯ DUY TÍCH CỰC

14.jpg - 43.54 kB

TƯ VẤN CÁ NHÂN

18.jpg - 50.46 kB

SINH HOẠT NHÓM

16.jpg - 39.66 kB

TƯ VẤN GIA ĐÌNH

17.jpg - 27.85 kB

SINH HOẠT CÁ NHÂN

19.jpg - 43.49 kB

SINH HOẠT GIA ĐÌNH

20.jpg - 39.27 kB

TƯ VẤN BỆNH LÝ VÀ SỨC KHỎE CHO HỌC VIÊN

21.jpg - 46.12 kB

TƯ VẤN ĐIỀU TRỊ CHO GIA ĐÌNH HỌC VIÊN

22.jpg - 45.97 kB

TƯ VẤN ĐIỀU TRỊ CHỐNG TÁI NGHIỆN CHO GIA ĐÌNH & HỌC VIÊN

24.jpg - 50.65 kB

LỚP NGOẠI NGỮ

25.jpg - 51.91 kB

LỚP HỘI HỌA

26.jpg - 60.14 kB

TRANH VẼ CỦA HỌC VIÊN LỚP HỘI HỌA

27.jpg - 43.48 kB

LỚP MỸ THUẬT

28.jpg - 48.94 kB

LỚP THANH NHẠC

29.jpg - 39.36 kB

HỒ BƠI TRUNG TÂM

30.jpg - 52.98 kB

LỚP BƠI LỘI

31.jpg - 43.43 kB

PHÂN XƯỞNG MỘC - ĐỒ GỖ MỸ NGHỆ

32.jpg - 41.95 kB

PHÂN XƯỞNG MỘC - ĐỒ GỖ MỸ NGHỆ

33.jpg - 43.46 kB

LỚP ĐIỆN LẠNH

34.jpg - 46.39 kB

LỚP ĐIỆN CƠ

35.jpg - 46.05 kB

LỚP ĐIỆN GIA DỤNG

36.jpg - 53.18 kB

LỚP CƠ KHÍ

37.jpg - 54.4 kB

LỚP TIỆN 

38.jpg - 46.66 kB

LỚP PHAY

39.jpg - 42.79 kB

LỚP MÁY CÔNG CỤ

40.jpg - 44.44 kB

BIDA

41.jpg - 49.03 kB

BIDA LỖ

42.jpg - 49.38 kB

BIDA BĂNG (3 BI)

43.jpg - 41.18 kB

BANH BÀN

44-06.jpg - 62.55 kB

THI ĐẤU CẦU LÔNG

44.jpg - 49.91 kB

THI ĐẤU BÓNG BÀN

45.jpg - 49.22 kB

THI ĐẤU BÓNG CHUYỀN

46-06.jpg - 31.74 kB

PHÒNG TẬP THỂ DỤC THỂ HÌNH

46.jpg - 46.56 kB

PHÒNG TẬP THỂ DỤC THỂ HÌNH

47.jpg - 46.72 kB

MÁY GAME XBOX 360

48.jpg - 49.82 kB

TRÒ CHƠI ĐIỆN TỬ X-BOX 360

49-01.jpg - 42.65 kB

PHÒNG CHIẾU PHIM 3D

49-06.jpg - 46.25 kB

PHÒNG GAME INTERNET

49.jpg - 28.5 kB

PHÒNG CHIẾU PHIM

50-06.jpg - 39.18 kB

PHÒNG KARAOKE

50.jpg - 69.56 kB

VĂN NGHỆ MỪNG ĐẢNG - MỪNG XUÂN

51.jpg - 59.02 kB

VUI TẾT

53.jpg - 49.57 kB

VĂN NGHỆ KỶ NIỆM NGÀY GIỖ TỔ HÙNG VƯƠNG

54.jpg - 59.28 kB

HỌC VIÊN TẬP VĂN NGHỆ

55.jpg - 37.04 kB

MÙA BÁO HIẾU - ƠN NGHĨA SINH THÀNH

56.jpg - 57.01 kB

THI CẮM HOA MỪNG NGÀY QUỐC TẾ PHỤ NỮ

57.jpg - 56.13 kB

HỘI THI NẤU ĂN NGÀY QUỐC TẾ PHỤ NỮ

58.jpg - 48.3 kB

THI NẤU BÁNH CHƯNG

59.jpg - 51.56 kB

HỘI THI KÉO CO

60.jpg - 49.27 kB

THI ĐẤU BÓNG NƯỚC

61.jpg - 50.02 kB

THI BƠI TIẾP SỨC

62.jpg - 47.89 kB

GIAO LƯU VỚI ĐẠI HỌC CẢNH SÁT NHÂN DÂN
- BỘ CÔNG AN

63.jpg - 43.78 kB

GIAO LƯU VỚI KHOA PHÒNG CHỐNG TỘI PHẠM MA TÚY
ĐẠI HỌC CẢNH SÁT NHÂN DÂN - BỘ CÔNG AN

64.jpg - 51.95 kB

GIAO LƯU VỚI TRUNG ĐOÀN GIA ĐỊNH

65.jpg - 56.24 kB

GIAO LƯU VỚI TT BỒI DƯỠNG NGHIỆP VỤ
CÔNG AN TP HỒ CHÍ MINH

66.jpg - 54.14 kB

GIAO LƯU VỚI THANH NIÊN TÌNH NGUYỆN MÙA HÈ XANH

67.jpg - 48.63 kB

GIAO LƯU VỚI THANH NIÊN TÌNH NGUYỆN MÙA HÈ XANH

68.jpg - 53.28 kB

GIAO LƯU VỚI
 TRUNG TÂM TƯ VẤN VÀ CAI NGHIỆN MA TÚY

69.jpg - 47.4 kB

GIAO LƯU VỚI TT CAI NGHIỆN MA TÚY- TỔNG ĐỘI 1 TNXP

70-01.jpg - 42.35 kB

GIAO LƯU VỚI TRƯỜNG 3 TNXP

72.jpg - 53.58 kB

ĐI DU THUYỀN TRÊN SÔNG SÀI GÒN

73.jpg - 56.92 kB

ĐI DU THUYỀN TRÊN SÔNG SÀI GÒN

74.jpg - 33.02 kB

ĐÊM LỬA TRẠI PHAN THIẾT

75.jpg - 79.44 kB

VIẾNG ĐỀN LIỆT SỸ CĂN CỨ MINH ĐẠM - VŨNG TÀU

76.jpg - 61.57 kB

THAM QUAN MẬT KHU MINH ĐẠM - VŨNG TÀU

77.jpg - 60.61 kB

DU LỊCH DÃ NGOẠI TẠI HÒN RƠM - BÌNH THUẬN

78.jpg - 62.27 kB

THĂM CỒN PHỤNG - CỒN THÁI SƠN

79.jpg - 27.78 kB

TRANH HÙNG TẠI BÃI BIỂN LONG HẢI

80.jpg - 39.13 kB

LỄ HỘI THẢ DIỀU QUỐC TẾ TẠI VŨNG TÀU

81.jpg - 52.67 kB

THĂM KHU DI LỊCH SUỐI KHOÁNG NÓNG - 
BÌNH CHÂU

82.jpg - 42.74 kB

CHIẾN THẮNG ĐỒI CÁT - PHAN THIẾT

83.jpg - 51.49 kB

DU LỊCH KẾT HỢP SINH HOẠT NHÓM TẠI KHU DU LỊCH ĐẠI NAM - BÌNH DƯƠNG

84.jpg - 65.74 kB

VIẾNG ĐỀN BẾN DƯỢC - CỦ CHI

85.jpg - 67.67 kB

THAM GIA LÀM ĐƯỜNG P.28 QUẬN BÌNH THẠNH

86.jpg - 42.72 kB

HĂM TT NUÔI DƯỠNG NGƯỜI GIÀ NEO ĐƠN THẠNH LỘC

87.jpg - 52.11 kB

HỌC VIÊN TT THANH ĐA THĂM VÀ TẶNG QUÀ CHO THƯƠNG BỆNH BINH NĂNG TẠI TRUNG TÂM ĐIỀU DƯỠNG LONG ĐẤT

88.jpg - 58.66 kB

GIAO LƯU VỚI TRẺ EM KHUYẾT TẬT CÂM ĐIẾC VÀ NHIỄM CHẤT ĐỘC DA CAM THIÊN PHƯỚC

Cai nghiện Ma túy – Điều trị

CAI NGHIỆN MA TÚY: KHÁM BỆNH-CHẨN ĐOÁN-ĐIỀU TRỊ

05.jpg - 40.9 kB

KHÁM TỔNG QUÁT - SÀN LỌC BỆNH

06.jpg - 39.9 kB

ĐO ĐIỆN TIM HỌC VIÊN CAI NGHIỆN MA TÚY

07.jpg - 33.7 kB

PHÒNG X-QUANG

08.jpg - 46.26 kB

PHÒNG XÉT NGHIỆM

09.jpg - 79.03 kB

MASSGE THƯ GIÃN

10.jpg - 62.39 kB

PHÒNG XÔNG HƠI

TƯ VẤN Y TẾ CHO CÁ NHÂN HỌC VIÊN ĐIỀU TRỊ

TƯ VẤN Y TẾ CHO GIA ĐÌNH HỌC VIÊN

THAM VẤN - TƯ VẤN TÂM LÝ CHO HỌC VIÊN CAI NGHIỆN

THAM VẤN - TƯ VẤN CHO GIA ĐÌNH HỌC VIÊN CAI NGHIỆN

THAM VẤN NHÓM

THIỀN ĐỊNH

TƯ VẤN GIA ĐÌNH

VTV9 – Qui trình điều trị, giáo dục …

 VIDEO VTV 9 - QUY TRÌNH ĐIỀU TRỊ, GIÁO DỤC 

NHẰM ĐIỀU CHỈNH, PHỤC HỒI NHẬN THỨC,

HÀNH VI, NHÂN CÁCH - NÂNG CAO SỨC KHỎE -

CHỐNG TÁI NGHIỆN CHO NGƯỜI NGHIỆN MA TÚY

TẠI TRUNG TÂM CAI NGHIỆN THANH ĐA 

CAI NGHIỆN MA TÚY – CÔNG VIỆC NHÂN ĐẠO NHỌC NHẰN

CAI NGHIỆN MA TÚY - CÔNG VIỆC

NHÂN ĐẠO NHỌC NHẰN

TRẦN VIỆT TRUNG

Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và Trợ giúp

cộng đồng phòng, chống HIV/AIDS

           

      Những năm gần đây, tệ nạn ma tuý đã và đang gây ra những nguy hại và hiểm họa không chỉ đối với một số quốc gia mà đó mang tính toàn cầu. Phòng, chống ma tuý đó trở thành trách nhiệm và công việc của Cộng đồng Quốc tế và của từng quốc gia vì lợi ích chung của cả nhân loại cũng như của mỗi dân tộc. Trong cuộc đấu tranh với loại tệ nạn nguy hiểm này, giảm cung và giảm cầu là hai trận tuyến hết sức quan trọng, cùng quyết liệt, phức tạp và cam go mà mỗi thành công, kết quả ở đây dù là nhỏ bé cũng phải mất rất nhiều công sức, mồ hôi, thậm chí cả máu đổ của những người làm trực tiếp trong lĩnh vực công tác này. Trong đó, cai nghiện cho những người nghiện ma tuý là công việc mang tính nhân đạo, nhân văn nhưng cũng hết sức nhọc nhằn.

I.  SỰ NGỘ NHẬN NGUY HIỂM

      Cũng như nhiều quốc gia khác trong khu vực, sự gia tăng chúng mặt tệ nghiện ma tuý ở nước ta đã trở thành niềm lo lắng của nhiều gia đình, phường, xã và hơn nữa còn là nỗi nhức nhối hàng ngày của toàn dân, toàn xã hội. Ma tuý như cơn dịch hạch đã lây lan, phát triển rất nhanh. Người nghiện ma tuý ở nước ta có nhiều lứa tuổi khác nhau, với các thành phần, trình độ và hoàn cảnh khác nhau. Mỗi người trong số đó đi đến với con đường nghiện khác nhau nhưng phần lớn đều có chung một số phận: gia đình lục đục hoặc ly tán, hạnh phúc bị phá vỡ, kinh tế khuynh gia bại sảnbản thân người nghiện lâm vào bệnh tật, trong đó nhiều người đã mắc phải căn bệnh thế kỷ HIV/AIDS. Trong tổng số khoảng 171.000 người nghiện hiện nay có hồ sơ quản lý của cả nước, lứa tuổi thanh thiếu niên chiếm từ 70 - 80%. Tỷ lệ cao trên đây do nhiều nguyên nhân. Bên cạnh sự tò mò, tính hiếu thắng, thích khám phá và ưa tìm cảm giác mạnh cùng với sự đua đòi ăn chơi thái quá của lứa tuổi, một yếu tố không kém phần quan trọng là nhận thức và hiểu biết về ma túy, về tác hại và bản chất quá trình nghiện ma túy của nhiều người còn hạn chế, lệch lạc. Không ít người nghiện do suy nghĩ giản đơn là thử cho biết và như vậy mới là ăn chơi “sành điệu”!? Một số khác lại lấy ma tuý làm “cứu cánh” để giúp họ xoa dịu hoặc quên lãng những đau đớn về tinh thần, tình cảm khi có va vấp, khủng hoảng, hụt hẫng hoặc gặp thất bại nào đó trong cuộc sống. Họ đâu biết như vậy là họ đã “gửi trứng cho ác” và càng không hiểu rằng với ma túy, làm quen sử dụng thì dễ nhưng từ bỏ nó thì cực kỳ khó khăn.

II. GIẢI PHÁP NÀO CHO NGƯỜI NGHIỆN?

      Luật pháp của các nước trên thế giới xử lý người nghiện ma túy theo nhiều cách khác nhau. Một số nước coi người nghiện là tội phạm và nếu bị bắt (khi đang sử dụng hoặc mang trên người ma túy) sẽ bị đưa ra toà xét xử tù giam hoặc đưa vào các trung tâm cai nghiện và cưỡng bức lao động. Một số nước khác khuyến khích người nghiện nhẹ cai nghiện tự nguyện tại các trung tâm của nhà nước và cơ sở của tư nhân, tổ chức phi chính phủ hoặc tổ chức tôn giáo; nếu phát hiện người nghiện nặng sẽ cưỡng chế cai tập trung từ 2 đến 3 năm và khi về cộng đồng bị giám sát, quản thúc 3 năm tiếp theo. Với Việt Nam, chúng ta coi đa số người nghiện là lầm lỡ, sa ngã và họ là những nạn nhân đáng thương cần được xã hội cứu vớt khỏi con đường lầm lạc. Theo quan điểm của Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống ma tuý năm 2000 (được Kỳ họp thứ 3 của Quốc hội khóa XII thông qua) có thể coi ngư­ời nghiện ma tuý là ngư­ời bệnh, đồng thời cũng là ngư­ời có hành vi vi phạm pháp luật. Vì vậy, trước hết cần động viên, khuyến khích người nghiện tự nguyện đi cai với các hình thức cai tự nguyện khác nhau. Khi họ đi cai tự nguyện, luật pháp không coi họ là đối tượng bị xử lý hành chính. Nếu họ không tự nguyện, cần áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính cai bắt buộc tại các Trung tâm Chữa bệnh - Giáo dục - Lao động xã hội. Chúng ta đang có hướng sẽ thay các quyết định bắt buộc đi cai của cơ quan chính quyền bằng phán quyết của Tòa án dân sự như một số nước trên thế giới đang áp dụng.

      Trong Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống ma tuý có một chương riêng (Chương IV) về công tác cai nghiện cho người nghiện ma túy với các hình thức và biện pháp đa dạng, phong phú. Các chính sách và nguyên tắc áp dụng việc cai nghiện đối với ngư­ời nghiện ma tuý được thể hiện rõ trong Luật: khuyến khích ngư­ời nghiện ma tuý cai nghiện tự nguyện, đồng thời Nhà nư­ớc tổ chức các cơ sở cai nghiện bắt buộc và áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc đối với những ngư­ời không tự nguyện cai nghiện; Cai nghiện có thể tại gia đình, tại cộng đồng, tại các cơ sở tập trung của nhà nước hoặc của tư nhân; Hỗ trợ việc cai nghiện ma tuý và quản lý sau cai nghiện; Đa dạng hóa và xã hội hóa các hình thức cai nghiện… Cai nghiện phục hồi cho những người nghiện ma túy trở thành một trong những nhiệm vụ trọng tâm của công tác phòng, chống tệ nạn ma túy không chỉ trong giai đoạn trước mắt mà còn lâu dài trong chương trình phát triển kinh tế-xã hội của đất nước từng thời kỳ. Chính sách của Đảng, Nhà nước ta đối với người nghiện là tuyên truyền, giáo dục và động viên, khuyến khích họ đi cai nghiện đồng thời tạo điều kiện thuận lợi để người nghiện được học tập, rèn luyện, tham gia vào hoạt động lao động sản xuất, được hướng nghiệp dạy nghề, tham gia các hoạt động văn nghệ, thể thao để từng bước giúp họ thoát khỏi bàn tay ác độc của ma túy. Đó là chính sách nhân đạo, nhân văn của Đảng, Nhà nư­ớc ta đối với người nghiện ma tuý. Người nghiện như đứng chênh vênh giữa khoảng tối và sáng, rất dễ từng bước đi chệch sâu từ con đường lương thiện sang tội lỗi. Họ đang rất cần những bàn tay nhân ái, rộng lượng của cả cộng đồng và xã hội giúp đỡ. Đương nhiên luật pháp cũng sẽ xử lý nghiêm khắc với những kẻ cố tình tái phạm, không chịu học tập, rèn luyện để tiến bộ.

III.    MỘT QUÁ TRÌNH ĐỒNG BỘ VÀ TỔNG HỢP:

      Nghiện ma túy là một loại “bệnh” đặc biệt bởi vì người nghiện đồng thời bị lệ thuộc cả về sinh lý, tâm lý và cơ thể vào ma túy. Mặt khác cũng vì ma túy và do ma túy mà người nghiện có những sai lệch về nhận thức, hành vi và nhân cách. Theo quan điểm khoa học, người nghiện ma tuý cần đư­ợc xem xét dư­ới 3 góc độ: là ngư­ời bệnh (bị một loại bệnh tác động cả về sinh lý và tâm lý do sử dụng ma tuý), ngư­ời có hành vi vi phạm pháp luật (do sử dụng trái phép chất ma tuý) đồng thời là ng­ười sa ngã vào tệ nạn xã hội (bị lệch lạc về nhân cách, hành vi). Cai nghiện, phục hồi là đồng thời chữa trị cả 2 loại bệnh: xử lý sự ngộ độc mãn tính bằng các biện pháp y tế giải quyết những vấn đề về tâm lý, nhận thức, hành vi, nhân cách bằng các biện pháp giáo dục, tư vấn, tâm lý trị liệu và rèn luyện phục hồi sức khoẻ, năng lực lao động, sửa đổi hành vi và nhân cách. Tách rời các giải pháp đồng bộ nói trên hoặc chỉ nhấn mạnh, coi trọng một phía, hiệu quả công tác cai nghiện không cao, thậm chí thất bại. Vì thế, cai nghiện ma tuý phải là một quy trình áp dụng tổng hợp các ph­ương pháp, biện pháp đảm bảo xử lý đồng bộ cả 3 khía cạnh về y tế, pháp luật và xã hội nhằm phục hồi và trợ giúp cho ngư­ời nghiện từ bỏ được ma tuý, rời bỏ con đ­ường lầm lỗi trở lại thành ngư­ời bình thư­ờng. Đó cũng là cơ sở để xác định quy trình, nội dung các hoạt động và thời gian cai nghiện ma tuý trong mỗi hình thức cai nghiện, quản lý sau cai nghiện. Cai nghiệngiải quyết các vấn đề sau cai nghiệnmột quy trình đồng bộ, chặt chẽliên tục với các hoạt động đa dạng, tổng hợp được tiến hành tại trung tâm như cắt cơn giải độc, phục hồi sức khoẻ; giáo dục, phục hồi hành vi nhân cách; tư vấn, tâm lý trị liệu; dạy nghề hướng nghiệp; tổ chức lao động sản xuất; sinh hoạt văn hóa, thể thao... Trong đó, giữ vai trò ý nghĩa quyết định kết quả công tác cai nghiện là khâu quản lý, giám sát, giúp đỡ người nghiện sau cai lâu dài tại cộng đồng. Đây là giai đoạn có nhiều khó khăn phức tạp vì người nghiện vừa đi cai tập trung với thời gian 1-2 năm vẫn còn nhiều khả năng tái nghiện. Nếu người đã cai không tiếp tục rèn luyện, quyết tâm và thiếu sự hỗ trợ, quản lý, giám sát của gia đình, cộng đồng thì thành quả công tác cai nghiện khó bền vững. Mặt khác, người nghiện đã cai tái hoà nhập cộng đồng nhưng bị bỏ rơi, buông lỏng hoặc bị hắt hủi thì rất dễ bị lôi kéo trở lại với ma túy và điều nguy hại hơn là khi tái nghiện, mức độ nghiện của họ thường nặng hơn. Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống ma tuý năm 2000 đã bổ sung một bước trong quy trình cai nghiện, phục hồi cho người nghiện ma tuý là quy định thêm hoạt động quản lý sau cai nghiện đối với những người bị cai nghiện bắt buộc tại các Trung tâm cai nghiện mà có nguy cơ tái nghiện cao sau khi hoàn thành thời gian cai quy định với 2 hình thức: quản lý tại nơi cư trú và quản lý tại cơ sở quản lý sau cai nghiện. Đây là công đoạn mới của quy trình cai nghiện nhưng có ý nghĩa và tầm quan trọng, thậm chí là quyết định sự thành công hoặc thất bại của công tác này trong thực tế.

IV. NHỮNG NHÂN TỐ QUYẾT ĐỊNH SỰ THÀNH CÔNG:

      Thực tế đã chỉ rõ, nơi nào các cấp uỷ Đảng, Chính quyền nhận thức đúng tình hình, thấy rõ trách nhiệm trước dân, thực sự vào cuộc, có những nghị quyết, chương trình mục tiêu và các giải pháp cụ thể, động viên toàn dân tham gia tích cực phối hợp đồng bộ, chặt chẽ hoạt động của các cơ quan chức năng, các đoàn thể, cộng đồng dân cư thì nơi đó triển khai công tác cai nghiện vững chắcđạt kết quả rõ rệt. Mặt khác, công tác cai nghiện phục hồi chỉ mang lại hiệu quả cao khi áp dụng đầy đủ, nghiêm ngặt qui trình cai nghiện, phục hồi đi đôi với lồng ghép với các chương trình phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, địa bàn. Đồng thời tăng cường và mở rộng công tác xã hội hoá và đa dạng hoá lĩnh vực công tác này, huy động cao độ nguồn lực từ xã hội nói chung, mỗi gia đình nói riêng và rộng hơn là sức mạnh tổng hợp từ hệ thống chính trị của xã hội ta.

     Song song với công tác giảm cầu phải kết hợp đồng bộ, chặt chẽ với các hoạt động giảm cung làm trong sạch môi trường; truy quét, triệt phá mạnh các ổ nhóm, tổ chức buôn bán ma túy, đặc biệt là mạng lưới bán lẻ ma túy ở những địa bàn trọng điểm phức tạp; tích cực xây dựng xã phường lành mạnh không có tệ nạn xã hội, trong đó trọng tâm là tệ nạn ma túy. Đồng thời quan tâm giúp đỡ, tìm kiếm việc làm ổn định cho người nghiện sau cai khi tái hoà nhập cộng đồng, xoá bỏ sự phân biệt đối xử với người đã cai nghiện để họ vui vẻ, quyết tâm làm lại cuộc đời, đoạn tuyệt với ma túy.

      Cai nghiện ma túy là công việc nhân đạo, nhân văn nhưng hết sức khó khăn, phức tạp, đòi hỏi lòng từ tâm, nhân ái và tính kiên trì, bền bỉ của những người làm công tác phòng, chống ma túy nói chung, trực tiếp làm công tác cai nghiện phục hồi nói riêng. Trong lĩnh vực công tác này, mọi việc làm, đóng góp to nhỏ của mỗi người đều có ý nghĩa cao đẹp bởi vì như một phương châm của đạo Phật ở Phương Đông chúng ta vẫn khuyên nhủ mọi người là:"Cứu được một người, phúc đẳng hà sa"./.