THỜI GIAN LÀM VIỆC 24/24
 

HOTLINE : (028) 6270 0119 - (028) 2215 4274
0982 120 908 - 090 371 5529 - 0933 161 985
Cơ sở 1: 245 Bình Quới (1051 Xô Viết Nghệ Tỉnh - số cũ) - P.28 - Q.Bình Thạnh - Tp.HCM
Cơ sở 2: 978 Nguyễn Duy Trinh - P. Phú Hữu - Q.9 - Tp.HCM

TRUNG TÂM ĐIỀU DƯỠNG VÀ CAI NGHIỆN MA TÚY THANH ĐA 
Địa chỉ : 1051 Bình Quới (Xô Viết Nghệ Tĩnh) - P.28 - Q.Bình Thạnh - Tp.HCM
Điện thoại: (08).38986513 - 38986515(Ext:12) - (08).22154274 - MST: 0301910027


Những tổn thất của nước Mỹ trong chiến tranh Việt Nam (1954-1975)

Cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam (1954 – 1975) hay còn gọi là “chiến tranh Đông Dương lần thứ hai” là sự tiếp tục và cao nhất chính sách bành trướng của đế quốc Mỹ. Chính sách này bắt đầu từ thời kì Mỹ thực hiện “học thuyết Tờ-ru-man” (1947) nhằm đảm bảo “an ninh quốc gia” và “bao vây chủ nghĩa cộng sản”. Để thực hiện âm mưu, dã tâm xâm lược của mình, đế quốc Mỹ đã sử dụng bạo lực phản cách mạng đến cao độ, tiến hành một cuộc chiến tranh lớn nhất từ sau thế chiến thứ hai. Tuy nhiên, điều mà Mỹ không bao giờ có thể ngờ tới là cuộc chiến tranh Việt Nam của chúng không những không đạt được mục đích ban đầu mà còn vấp phải những thất bại to lớn cả về sinh mạng lẫn tiền của. Vậy những tổn thất đó lớn đến mức nào và để lại những hậu quả tai hại gì cho cường quốc số 1 thế giới này?

1. Những tổn thất về sinh mạng
Tiến hành cuộc chiến xâm lược Việt Nam, đế quốc Mỹ đã huy động một bộ máy chiến tranh với quy mô khổng lồ. Một lực lượng lớn gồm các nước đồng minh và phụ thuộc đã được Mỹ sử dụng cho mục đích tham chiến của mình. Trong đó có tới 5 nước tham gia trực tiếp và 29 nước tham gia gián tiếp [4; 55]. Bên cạnh đó, Mỹ đã huy động tới 6.000.000 lượt binh sĩ (riêng lính Mỹ chiếm khoảng 3 triệu người) chiếm 68% bộ binh, 60% lính thủy đánh bộ, 32% không quân chiến thuật, 50% không quân chiến lược, 40% hải quân,… chỉ để phục vụ cho riêng chiến tranh Việt Nam [6; 48].

Như vậy, có thể thấy chưa bao giờ nước Mỹ sử dụng lực lượng quân đội đông và mạnh để tham chiến như trong chiến tranh Việt Nam. Tập trung cao độ nguồn nhân lực như vậy, ý đồ của Mỹ là nhanh chóng dẹp yên quân lực “cộng sản”, giành thắng lợi áp đảo. Song, trái với tham vọng đó, chiến tranh Việt Nam không những không mang lại lợi nhuận gì mà còn gây ra nỗi đau dài cho nhân dân Mỹ. Theo thú nhận chính thức của chính phủ Mỹ, con số thương vong của lính Mỹ ở Việt Nam đã cao hơn tất cả các cuộc chiến tranh trong lịch sử nước này, trừ cuộc thế chiến thứ hai. Đó thực sự là món thuế máu nặng nề đối với nhân dân Mỹ. 

Hậu quả đầu tiên là số người chết trong chiến tranh ngày một tăng. Tính chung cả cuộc chiến tranh, con số thống kê công khai cho biết từ 1961 đến 1974 có tới 57.259 người Mỹ đã chết ở Việt Nam trong đó có gần 37.000 người (64%) không quá 21 tuổi. Riêng năm 1970, gần 70% số thương vong là những lính quân dịch trẻ. [6; 98] 

Tuy nhiên, cái chết chưa phải là tất cả, chiến tranh Việt Nam còn để lại những hậu quả khôn lường cho những binh lính Mỹ sống sót trở về. Nó đã “mở ra” một thời kì “sau Việt Nam” đầy đen tối cho nước Mỹ. 

Đầu tiên có thể thấy, đi liền với chết chóc là thương vong, bệnh tật. Cũng theo con số chính thức, có 303.704 người đã bị thương trong chiến đấu. Trong số này có 153.329 người bị thương nặng phải nằm bệnh viện dài ngày còn 150.343 người mang những vết thương đã được chữa khỏi. Lầu Năm Góc cũng thừa nhận có đến 20.000 người Mỹ chắc chắn đã nhiễm chất da cam ở Việt Nam [5; 35]. Ngoài ra còn có gần 350.000 cựu binh khác (15% tổng số) bị giải ngũ một cách không vinh dự [8; 52] không được bảo đảm việc làm, không được tôn trọng và tin cậy sau khi về nước. 

Đi liền với cái chết, thương tật và những di chứng, binh lính Mỹ còn gặp phải nỗi ám ảnh mang tên “hội chứng Việt Nam”. Đó là những chấn động lớn về tâm lý và tình cảm của người Mỹ nói chung và các cựu chiến binh Mỹ nói riêng. Nó khiến cho hầu hết lính Mỹ tham chiến ở Việt Nam đều nghiện một chất gì đó ví dụ: rượu, thuốc lá,… thậm chí cả heroin. Theo số liệu thống kê có khoảng 1/5 số lính Mỹ từng tham gia chiến tranh Việt Nam trong những năm 70 đã nghiện ma túy. [3; 49]. Bên cạnh đó, những tổn thương về tâm lý ở họ còn biểu hiện rõ ràng là thường xuyên trong trạng thái lo lắng, căng thẳng. Hàng chục năm sau chiến tranh Việt Nam, những triệu chứng bệnh đó vẫn còn tồn tại. Đó là cái giá quá đắt mà nước Mỹ phải trả cho cuộc chiến “định mệnh” của chúng ở Việt Nam. 

2. Những tổn thất về tài chính và sự suy yếu về địa vị kinh tế
Đối với bất cứ cuộc chiến tranh nào, kinh tế - tài chính bao giờ cũng là một trong những vấn đề quan trọng hàng đầu. Đặc biệt, “trong điều kiện bọn đế quốc tiến hành một cuộc chiến tranh xâm lược phi nghĩa… khả năng đeo đuổi chiến tranh phụ thuộc phần lớn ở việc tập trung tài chính vào tay chính phủ đế quốc” [11; 84]. 

Khi mới mở rộng chiến tranh xâm lược Việt Nam, các nhà thống kê tài chính của Mỹ cho rằng: tỉ lệ chi phí cho chiến tranh Việt Nam chỉ chiếm khoảng 3%. Và theo cách tính toán đó, cuộc chiến tranh Việt Nam không thấm vào đâu so với sức mạnh kinh tế vô địch của Mỹ. Tuy nhiên, thực tế đã chứng minh cái gọi là “cuộc chiến tranh ba phần trăm” đã gây ra cho nước Mỹ những vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội gay go, phức tạp hơn tất cả những cuộc chiến tranh lớn mà Mỹ đã từng tham gia trước kia.

Cái gay go, phức tạp ấy thể hiện rõ nét nhất qua khoản chi phí khổng lồ mà nước Mỹ phải hứng chịu. Những nguồn thông tin và cách tính khác nhau đã đưa đến những số liệu khá đa dạng cơ bản dao động từ 515 tỷ đến 1647 tỷ đôla [4; 55 - 56]. Những con số đó dù không trùng khít nhưng đã chững tỏ chiến tranh Việt Nam là cuộc chiến vô cùng hao người tốn của, nó đã “rút ruột” từ ngân sách Mỹ một khoản tiền khổng lồ. Khoản tiền ấy lớn hơn bất kì cuộc chiến tranh nào trong lịch sử nước Mỹ trừ cuộc đại chiến thế giới thứ hai. 

Có thể nói chính chi phí khổng lồ trên đã làm suy yếu đế quốc Mỹ. Tham vọng ban đầu của chúng là dựa vào tiềm lực mạnh để thống trị thế giới. Tuy nhiên, chính chiến tranh Việt Nam đã làm tiêu cực hóa nền kinh tế của chúng. Bởi lẽ, để có thể nuôi dưỡng bộ máy chiến tranh, đầu tư cho các khoản chi kể cả trực tiếp lẫn gián tiếp, Mỹ đều phải “bòn rút” từ ngân khố quốc gia, “bóp nặn” từng đồng xu của nhân dân Mỹ. Đồng thời để huy động mọi nguồn lực cho chiến tranh Việt Nam, Mỹ còn buộc phải tiết giảm các khoản đầu tư chính đáng khác. Theo tính toán của Lầu Năm Góc, chi phí cho chiến tranh Việt Nam gấp 2,6 lần giá trị toàn bộ hệ thống đường sá giữa các bang Hoa Kỳ (số liệu năm 1972), gấp 2,5 lần tiền Mỹ viện trợ cho tất cả các nước kém phát triển trong 25 năm, ngốn 70% tiền chuẩn chi cho quốc phòng Mỹ từ 1967 đến 1972. [2, 798] Như vậy, có thể thấy chi phí cho chiến tranh Việt Nam là một con số “rợn người” và chính nó đã đẩy nền kinh tế Mỹ lâm vào một cuộc khủng hoảng tài chính sâu sắc.

Biểu hiện của cuộc khủng hoảng tài chính trước hết là ngân sách. Để phục vụ cho nhu cầu chiến tranh, chính phủ Johnson đã yêu cầu Quốc hội chuẩn chi ngày càng cao, nhanh chóng đạt tới rồi vượt 10% ngân sách toàn liên bang: từ 10 tỷ đô-la năm 1966 đã lên đến 26 tỷ năm 1968. [5]
Thậm chí có năm Mỹ phải chi đến 30 tỷ đô-la (nếu chỉ tính theo các khoản chi mà Bộ Quốc phòng Mỹ phải gánh chịu) và lên tới 50 tỷ đô-la (nếu tính cả các khoản chi phí khác) để phục vụ cho cuộc chiến này. Đến năm 1967, chiến tranh Việt Nam đã ngốn của nước Mỹ trung bình 25 tỷ đô-la một năm. Khoản tiền này đã tạo ra sự thâm hụt ngân sách khổng lồ cho kinh tế Mỹ. [7; 1089]

Tiếp đó, chiến tranh Việt Nam còn làm cho kinh tế Mỹ lâm vào cảnh lạm phát nặng nề. Trong những năm 1966 – 1969, thời kì Mỹ tăng cường chiến tranh Việt Nam, lạm phát tăng nhanh từ 2.8% lên 4.8% (1969) [4; 58 ].Các nhà sử học đã tính được rằng “lạm phát của 5 năm sau những năm 60 tăng gấp ba lần lạm phát của 5 năm đầu những năm 60” (1; 38). Nhìn chung trong suốt thời kì Mỹ tham chiến tại Việt Nam tỉ lệ lạm phát tăng mức 12,2% hàng năm . Đây được coi là nạn lạm phát lớn nhất trong lịch sử nước Mỹ. 

Quy luật kinh tế dễ nhận thấy là, lạm phát cao sẽ thúc đẩy nhập siêu và nhập siêu lại gây ra lạm phát cao. Chính lạm phát và thâm hụt ngoại tệ trầm trọng, kéo dài của Mỹ đã đưa đến cuộc khủng hoảng về đồng đô-la và khủng hoảng vàng bắt đầu từ tháng 3 năm 1968. Trước tình hình này, ngày 15/08/1971, tổng thống Mỹ quyết định hủy bỏ chế độ chuyển đổi đồng đô-la với tỷ giá cố định sang thả nổi. Quyết định này đã làm sụp đổ hệ thống tiền tệ thế giới lập ra năm 1944 ở Bretton Woods. Có thể nói rằng cuộc chiến tranh Việt Nam đã “kết liễu” hệ thống tiền tệ thế giới do Mỹ thống trị gần 30 năm. [1; 35]

Bên cạnh đó, chiến tranh Việt Nam còn làm suy giảm vị trí siêu cường Mỹ trên trường quốc tế. Nếu vào năm 1945, thế giới chỉ có một trung tâm kinh tế duy nhất đó là Mỹ (lúc đó nền kinh tế Mỹ chiếm 52% nền kinh tế thế giới lớn hơn tất cả các nước khác cộng lại) thì tới năm 1971, chính Nixon phải thừa nhận rằng, trên thế giới lúc này có tới 5 trung tâm kinh tế lớn: Mỹ, Tây Âu, Nhật Bản, Trung Quốc. [1; 36]

Như vậy, có thể thấy chiến tranh Việt Nam đã gây ra một cuộc khủng hoảng trầm trọng đối với kinh tế Mỹ. Và để cứu vớt nền kinh tế này, đế quốc Mỹ đã không ngần ngại trút “gánh nặng” lên vai nhân dân mình.

Trước hết, để bù đắp nạn lạm phát, thâm hụt ngân sách, những người đứng đầu Nhà Trắng đã đẩy giá sinh hoạt lên cao chưa từng thấy. Từ 1966 đến 1972, giá sinh hoạt ở Mỹ tăng 32%, năm 1974, giá tiêu dùng tăng 12,2%. Riêng giá lương thực tăng 21%. Một số mặt hàng như đường và dầu tăng 400%. Các nhà kinh tế Mỹ đã chỉ ra rằng, từ sau chiến tranh thế giới thứ hai, kể cả thời kì sau chiến tranh Triều Tiên, chưa bao giờ giá sinh hoạt Mỹ lại tăng nhanh như giai đoạn 1960 – 1975. [11; 203].

Những nạn nhân chủ yếu của nạn sinh hoạt đắt đỏ không ai khác chính giai cấp công nhân, nhân dân lao động Mỹ. Giá sinh hoạt tăng cao đã ảnh hưởng trực tiếp tới đời sống hàng ngày của họ. Do vậy, tâm trạng lo lắng và thái độ bất bình ngày càng gia tăng trong nhân dân Mỹ. Và đó cũng là lí do những giai cấp, tầng lớp đáy của xã hội Mỹ đã kết hợp cuộc đấu tranh mạnh mẽ bảo vệ quyền lợi của mình với cuộc đấu tranh đòi chấm dứt chiến tranh xâm lược Việt Nam.

Đồng hành với việc tăng giá sinh hoạt, giới cầm quyền Mỹ còn tìm cách cắt xén tiền lương của giai cấp công nhân song lại bắt họ đóng thuế cao hơn một cách phi lí. Tính chung, số tiền thuế mà người dân Mỹ phải đóng đã tăng 60% so với trước khi Mỹ đưa quân vào xâm lược Việt Nam. Trước tình cảnh này, báo “Tin Mỹ và thế giới” đã bình luận: “Người dân phải chịu thuế ở Mỹ đang phải chịu đựng sức ép từ tất cả mọi phía. Một đợt tăng thuế mới đang tràn qua các bang, các thành phố và các quận ở Mỹ” [11; 98]. 

Như vậy, để phục vụ chiến tranh Việt Nam, đế quốc Mỹ đã ra sức bòn rút ngân sách, tạo ra tình trạng lạm phát, tăng thuế để “thò tay móc túi” nhân dân. Điều đó càng làm sâu sắc thêm mâu thuẫn gay gắt giữa chính quyền và nhân dân Mỹ. Đồng thời đó cũng là lí do làm xuất hiện các cuộc đình công của công nhân đòi tăng lương, giảm giá hàng và các quyền lợi sống còn hàng ngày khác.
Bên cạnh đó, chiến tranh Việt Nam còn tác động tới các chính sách xã hội khác và làm rối loạn tình hình chính trị, xã hội nước Mỹ.

Năm 1965, khi mới lên nắm quyền, chính quyền Johnson cam kết tiến hành hai cuộc chiến tranh cùng một lúc: chiến tranh Việt Nam và chiến tranh chống nghèo khó. Tuy nhiên trên thực tế, chính sách đó bị biến thành một ảo tưởng. Gánh nặng tài chính của chiến tranh đã làm cho chương trình “xã hội vĩ đại” của Johnson hiện nguyên hình là một lời hứa rỗng tuếch. Và chính sách “cả đại bác lẫn bơ” về cơ bản chỉ còn là “chính sách đại bác”. 

Nếu vào năm 1964, theo số liệu chính thức của nước Mỹ có 36,4 triệu người nghèo khổ (bằng 20% dân số) thì đến năm 1968, số người nghèo đói kinh niên vẫn còn ở mức 10 – 14 triệu người [1; 393]. Quả thực, cuộc chiến tranh Việt Nam không khác gì một thanh gươm ác nghiệt đã chặt phăng cái đầu của chương trình “xã hội vĩ đại”. 

Đi liền với đói nghèo là tình trạng thất nghiệp. Thực tế đã cho thấy, Mỹ càng đẩy nhanh tốc độ chiến tranh xâm lược Việt Nam thì số người thất nghiệp càng tăng. Nếu vào tháng 9 năm 1960 cả nước Mỹ mới có 3.232 người thất nghiệp thì tới tháng 12 năm 1974, số người thất nghiệp đã lên tới 5.079 người gấp 2,3 lần. [10; 243]

Mặc dù chính phủ Mỹ đã cố tình làm giảm ý nghĩa của sự tổn thất to lớn về tài nguyên của nước Mỹ bằng cách biện bạch trắng trợn rằng: chi phí cho chiến tranh chỉ chiếm một tỉ lệ nhỏ trong tổng sản lượng quốc gia. Nhưng điều mà họ không giải thích được hoặc cố tình lảng tránh là tại sao cái “tỉ lệ nhỏ” ấy lại làm đảo lộn hoàn toàn đời sống kinh tế nước Mỹ? Tại sao nhiều chương trình trong nước của Mỹ buộc phải gác lại hoặc bị cắt xén “đến xương tủy”? Thủ đoạn biện bạch quanh có đó cuối cùng đã bị hàng triệu người Mỹ đập lại. Chẳng hạn, thượng nghị sĩ Venxo Hác-cơ tuyên bố: “Nếu nói với nhân dân Mỹ tổn phí trong cuộc chiến tranh Việt Nam không đáng kể thì là nói láo” [11; 368].

Từ thực tế ấy, nhân dân Mỹ nhận thức rõ rằng việc chống nghèo đói, thoát khỏi cảnh bị áp bức, bóc lột nói chung không thể tách khỏi cuộc đấu tranh chống chính quyền Mỹ xâm lược Việt Nam.

Đó là lí do tại sao phản đối cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam đã trở thành khẩu hiệu đấu tranh nhằm bảo vệ sinh mạng và lợi ích trong cuộc sống hàng ngày của nhân dân Mỹ. Nó giống như tiếng kèn thôi thúc, tập hợp đại đa số nhân dân Mỹ không phân biệt màu da, tôn giáo, nghề nghiệp, chính kiến, ngoài xã hội cũng như trong giới cầm quyền với nhiều hình thức đấu tranh đa dạng mà nước Mỹ chưa hề chứng kiến.
 

Đang xem 769

Hôm nay 1,877

Tổng lượt xem 15,456,930