THỜI GIAN LÀM VIỆC 24/24
 

HOTLINE : (028) 6270 0119 - (028) 2215 4274
0982 120 908 - 090 371 5529 - 0933 161 985
Cơ sở 1: 245 Bình Quới (1051 Xô Viết Nghệ Tỉnh - số cũ) - P.28 - Q.Bình Thạnh - Tp.HCM
Cơ sở 2: 978 Nguyễn Duy Trinh - P. Phú Hữu - Q.9 - Tp.HCM

TRUNG TÂM ĐIỀU DƯỠNG VÀ CAI NGHIỆN MA TÚY THANH ĐA 
Địa chỉ : 1051 Bình Quới (Xô Viết Nghệ Tĩnh) - P.28 - Q.Bình Thạnh - Tp.HCM
Điện thoại: (028).38986513 - 38986515(Ext:12) - (028).22154274 - MST: 0301910027

 

Ba vụ thảm sát không thể lãng quên 

(Petrotimes) - Nếu vụ thảm sát hàng trăm dân thường ở Mỹ Lai - Quảng Ngãi (3/1968) do quân đội Mỹ thực hiện có phóng viên chiến trường ghi lại, trở thành một trong những vết nhơ tội ác của quân đội Mỹ ở chiến trường miền Nam Việt Nam thì những vụ giết dân thường vô tội của lính đánh thuê Đại Hàn ở các tỉnh Trung Trung Bộ trước năm 1975, đặc biệt là 3 vụ thảm sát ở xã Hòa Hiệp, Phú Yên trong năm 1966 không có bất cứ một bức hình nào lưu giữ.

Điều còn đọng lại có lẽ là những ký ức kinh hoàng của bao thường dân vô tội và sự dằn vặt ăn năn của các cựu chiến binh Hàn Quốc.

“Tìm và diệt”

Giờ đây khi xem những bộ phim Hàn Quốc, nhiều người lớn tuổi ở Hòa Hiệp vẫn thắc mắc sao lính Đại Hàn hồi qua xứ mình nó đen thủi đen thui mà giờ người nào cũng trắng trẻo, đẹp đẽ vậy. Vì 47 năm trước, những người Đại Hàn đặt chân lên xứ này không để lại một ấn tượng gì tốt đẹp, mà chỉ có tội ác chất chồng tội ác. Trước đó, trong quy định của quân đội Đại Hàn khi sang miền Nam Việt Nam làm lính đánh thuê cho Mỹ là “bình định, hành quân càn quét, bảo vệ các căn cứ quân sự của Mỹ và các đường giao thông chiến lược”; hoạt động chủ yếu ở các tỉnh đồng bằng duyên hải Trung Trung Bộ như Khánh Hòa, Bình Định, Phú Yên, Quảng Ngãi, Quảng Nam.

Chiến lược quân sự mà quân đội Mỹ áp dụng ở Việt Nam lúc đó là “tìm và diệt”. Để phối hợp thực hiện chiến lược này, rút kinh nghiệm đối phó từ cuộc chiến tranh du kích với Bắc Hàn, quân đội Hàn Quốc đã áp dụng chiến lược quân sự “Căn cứ chiến thuật đại đội” - một hệ thống căn cứ phòng thủ tứ phương. Do đó, quân đội Hàn Quốc đã chiến lũy hóa căn cứ cấp đại đội của mình nhằm ngăn chặn sự công kích của đối phương, đồng thời cũng áp dụng chiến thuật tác chiến “xâm nhập ban đêm” để chống lại tình trạng “ban ngày quốc gia, ban đêm cộng sản” trong thế trận “chiến tranh nhân dân” ở nước ta.

Để đáp ứng nhu cầu vật chất cho lính Mỹ và chư hầu tại chiến trường Phú Yên, Mỹ gấp rút xây dựng khu căn cứ hậu cần Vũng Rô - Đông Tác. Lính đánh thuê Hàn Quốc được Mỹ dùng làm lực lượng mũi nhọn trong nhiệm vụ tìm, diệt và bình định.

Những viên đạn còn sót lại trong mộ được các gia đình tìm thấy khi di dời

Nằm trong chiến lược “tìm và diệt”, kể từ khi đến Việt Nam cho đến năm 1969, quân đội Hàn Quốc đã thực hiện 474 cuộc hành quân từ cấp tiểu đoàn trở lên và 264.335 cuộc hành quân thông thường. Cùng với những cuộc hành quân, càn quét là những vụ thảm sát dân thường Việt Nam của binh lính Hàn Quốc mà chủ yếu tập trung vào năm 1966-1967, khi chúng thực hiện càn quét, dồn dân nhằm lập vành đai trắng khủng bố tâm lý đối với Việt cộng vì hoạt động của họ mà thường dân bị sát hại; còn đối với dân thường, nếu chứa chấp Việt cộng thì bị trừng phạt nặng nề.

Tôi quay lại Vũng Tàu thuộc xã Hòa Hiệp Nam, nơi còn “Bia căm thù” cao sừng sững. Cách đây 47 năm, ngày 2/1/1966, khi quân Đại Hàn vừa đặt chân đến đây, nghi có cộng sản nằm vùng, chúng đã dồn dân vào một khu đất và xả súng giết chết 37 người, trong đó có một cụ già tên là Đào Khánh, còn lại là phụ nữ và trẻ em. Chị Lương Thị Phơi bụng mang dạ chửa, bị bắn gãy chân. Vết thương hành hạ cùng nỗi hoảng sợ, chị đã sinh con ngay trên vũng máu.

Anh Nguyễn Kỳ Tuấn (Phó chủ tịch phụ trách văn hóa - xã hội của xã Hòa Hiệp Nam) cho biết, trong 4 người còn sống sót sau vụ thảm sát này có Nguyễn Thị Trưng, hiện đang định cư tại Mỹ, bà Lê Thị Hạnh (dì ruột của anh Tuấn) hiện sống ở thành phố Hồ Chí Minh, còn anh và chị Nguyễn Thị Liền đều cư ngụ tại địa phương.

Anh còn nhớ cảnh nằm lẫn lộn giữa người chết và người bị thương. Chiều xuống khi lính Đại Hàn rút đi hết, du kích xã về tìm người còn sống và bị thương đưa đi trốn ở hang Xã, núi Cấm, Vũng Tàu (hang được đào từ nửa quả núi dưới thời chống Pháp, giờ đang chờ đợi để xây dựng thành khu di tích lịch sử - PV) còn người chết thì tiến hành chôn cất. Sau này, phát hiện dân cư ngụ trong hang Xã, lính Đại Hàn xịt hơi cay vào, mọi người bị ngộp chui ra và chúng đưa đi.

Tiếp sau đó, quân đội Hàn Quốc thảm sát 42 dân thường vô tội ở núi Một, xóm Soi, thôn Thọ Lâm vào ngày 14/5/1966, trong số đó gia đình ông Phạm Trung chịu đau thương nhất. Giờ đây đã 86 tuổi nhưng trí óc vẫn còn minh mẫn, ông kể mà ánh mắt như đầy lửa. Hôm đó, tên phiên dịch Ngô Tải dẫn một tiểu đội Đại Hàn ra núi Một để tìm cộng sản. Chúng bắt vợ của một chiến sĩ cộng sản nằm vùng (bà Lê Thị Thỡi) ra chỉ hầm bí mật: “Hầm bí mật của chồng mày nằm là hầm nào”. Viên phiên dịch Ngô Tải hỏi. Bà Thỡi nói không biết, chúng vả liên tiếp vào mặt bà, máu miệng chảy ra.

Chúng đe dọa: “Nếu hôm nay mày không chỉ thì mày chết”, bà Thỡi sợ quá chỉ hầm bí mật rồi dẫn con đi. Vừa chỉ xong tên phiên dịch Ngô Tải đến kéo nắp hầm lên thì ăn phải quả lựu đạn của hai chiến sĩ cộng sản bên dưới và chết tại chỗ, một tên lính Đại Hàn đứng gần bị đứt mất bộ phận sinh dục. Ngay sau đó, chúng gọi trực thăng đến chở người bị nạn đi băng bó rồi cho rải quân bắt hết dân trong làng không phân biệt già - trẻ, trai - gái dồn vào một đám đất vuông khoảng 150m2.

"Bia căm thù” được đặt tại xóm Vũng Tàu, thôn Đa Ngư, xã Hòa Hiệp Nam, nơi ghi dấu tội ác thảm sát của lính Hàn Quốc

Hai chiến sĩ cộng sản thì bung nắp hầm bỏ chạy nhưng không thể trốn chạy trước một tiểu đội lính Hàn Quốc được trang bị đầy đủ súng ống. Nên sau một hồi rượt đuổi, hai chiến sĩ cộng sản đã bị chúng xả đạn giết chết. Không dừng lại ở đó, trong cơn tức giận, chúng quay ra xả đạn giết hết dân trong làng. Sau trận xả đạn đầu tiên vẫn còn một số đàn bà, trẻ em bị thương bò lết ra xung quanh nhưng chúng quay lại lần nữa và xả đạn giết sạch.

Cuộc thảm sát đó, gia đình ông Phạm Trung mất tất cả 10 người gồm cha, mẹ, vợ, 4 đứa con, hai đứa em ruột, một đứa cháu. Lúc tiếng đạn bắn nghe rát mặt thì ông đang ở bên kia sông, cách nơi xảy ra vụ thảm sát khoảng 4 cây số. “Sáng đó tôi còn ra đồng cuốc đất, cuốc bờ làm ruộng, tát nước và khi mặt trời lên được hai cây sào thì về nhà uống nước. Gần đến nhà thì thấy tụi Đại Hàn tràn xuống, tôi lánh ra đồng trốn luôn. Ai có ngờ”. Nói đến đây, giọng ông nghẹn lại. “Cứ ngỡ chúng đi tìm cộng sản thôi chứ ai ngờ đâu chúng dồn hết dân thường và giết sạch, trong đó có 10 người thân trong gia đình tôi. Thật quá nhẫn tâm”.

Được sống và kể lại

Chiến tranh, trong sự tang thương chết chóc vẫn có những điều kỳ diệu, anh Nguyễn Kỳ Tuấn sống sót qua vụ thảm sát ở Vũng Tàu là nhờ tình mẫu tử. Mẹ ông lấy thân mình che đứa con trai 7 tuổi để hứng làn đạn oan nghiệt và chết trước mắt con mình. Anh còn nghe các chú du kích kể lại, chiều hôm đó còn có bé Liền vẫn ngậm vú mẹ trong khi mẹ đã chết và thật kỳ diệu em vẫn sống sót.

“Hồi nhỏ tôi hay đội mũ tai bèo, trước khi mất, mẹ tôi xé cái mũ ra và bỏ 800 đồng vào và nói khi nào con gặp người quen thì hãy đưa còn gặp người lạ thì đừng đưa. Rồi mẹ tôi chết. Tôi đi lang thang sau đó du kích xã về, đưa tôi xuống hang Xã ẩn náu, tay tôi vẫn ôm khư khư cái mũ cho đến khi gặp được cậu tôi. Hôm sau, chúng bắt trẻ em đưa lên Đông Tác - Phú Lâm giam vì cho rằng, chúng tôi là con của cộng sản. Một ngày sau được thả về, mặt mày, tay chân tôi vẫn còn dính máu”, anh Tuấn như đang sống trong những ngày tháng tuổi thơ dữ dội đó. Trong gia đình anh, ngoài mẹ, còn có mợ và con của cậu trạc tuổi anh đều bị giết, còn lại là hơn 30 gia đình, mỗi nhà mất 1 đến 2 người.

Ông Phạm Trung (86 tuổi) có 10 người thân bị giết trong vụ lính Đại Hàn thảm sát dân thường ở xóm Soi làm 42 người chết

Còn vụ thảm sát ở núi Một, xóm Soi, Thọ Lâm, Hòa Hiệp Nam thì có 42 người bị giết hại, cũng đa số là phụ nữ và trẻ em. Nhà ông Phạm Trung có 10 người bị sát hại nhưng may mắn là ông còn đứa con trai tròn 6 tuổi, nhờ núp sau lùm tre dày mà sống sót, ngày đó anh Phạm Thảo sợ hãi khóc đến không còn nước mắt. “Chúng bắn xong rồi đến khi mặt trời lặn thì rút đi, tôi quay về làng để tìm người thân nhưng không còn ai. Tranh thủ chôn trong đêm rồi sáng mai rút đi chứ đâu dám ở lại làng, mà làng có còn gì đâu, chúng đốt sạch rồi”, ông Phạm Trung nhớ lại.

Dường như tội ác thấu cả trời xanh nên khoảng 10 giờ trưa hôm ấy, trời đổ cơn mưa giông rất to giữa trưa hè oi bức. Nước mưa quyện với máu của bao thường dân vô tội chảy tràn cả mặt ruộng. Tanh không thể tả nổi. Ông còn nhớ: “May mà sau khi chúng giết mọi người, 3 ngày sau tự nhiên làng tôi không một tiếng súng nên bọn tôi mới về chôn hết tất cả mọi người. Hồi đó, vợ tôi mới sinh con được 4 tháng, bắn rồi, con tôi leo lên bụng mẹ tìm vú bú chứ nó nhỏ quá có biết gì đâu, thế mà chúng lại xả súng bắn lần hai làm con tôi chết mà miệng còn ngậm vú mẹ. Chúng ác lắm”. Cứ thế ông lẩm bẩm. “Ác lắm. Chúng ác lắm”.

Giữa tháng 3, đất đồng khô nẻ mà đào 44 huyệt mộ chôn cất trong trạng thái lo lắng là lính Đại Hàn có thể ập đến bất cứ lúc nào. Cứ thế, từng huyệt mộ được đào một cách vội vã thì từng ấy con người còn trong trạng thái bê bết máu nằm xuống mãi mãi ở núi Một, xóm Soi, Thọ Lâm, Hòa Hiệp.

Anh Nguyễn Kỳ Tuấn là 1 trong 4 đứa trẻ sống sót sau vụ thảm sát ở Vũng Tàu làm 37 người chết

Ngoài đứa con trai Phạm Thảo của ông Phạm Trung may mắn sống sót thì có hai mẹ con bà Nồng, nhờ nhanh trí mà ngã xuống trước khi chúng xả súng nên hai mẹ con bà đều sống. Nhưng mẹ bà Nồng đã mất cách đây mấy năm, còn cô gái ngày ấy 2 tuổi được mẹ lấy máu trét lên đầy người để đánh lừa tụi lính đánh thuê Đại Hàn tôi không có may mắn gặp trong dịp này.

Hỏi ra mới biết, ông Phạm Trung là một chiến sĩ cộng sản kiên trung nằm vùng tại cơ sở nhưng đến tháng 2/1971 thì bị lộ và bị bắt đưa đi đày ở Côn Đảo, mãi sau khi hòa bình lập lại mới được trở về quê hương. Tôi lặng người trước câu chuyện của gia đình ông. Một câu chuyện chưa có hồi kết. Nó còn dai dẳng và ám ảnh nhiều cuộc đời, nhiều số phận sau chiến tranh mà ông là một trong những nhân chứng sống còn lại.

Tiếp sau đó là vụ thảm sát đẫm máu tại Cồn Rẫy, thôn Đa Ngư, gần 40 đồng bào đang đi làm ăn trên sông Bàn Thạch bị chúng xả đạn giết hết. Nguyên nhân của các vụ thảm sát đẫm máu này, theo ông Trần Văn Ngãi, một du kích địa phương thời chống Mỹ cho rằng: “Hồi đó chủ trương của mình là làm cách mạng thì bám vào dân. Phải có dân ở lại làng để giấu cán bộ cách mạng nên khi bị lính Đại Hàn phát hiện thì lực lượng du kích địa phương nổ súng chống lại chúng. Rồi chúng kết luận là dân ở đây chứa chấp cộng sản nên chúng tập trung dân lại, đánh đập, giết hại…”.

Khi gặp ông Đào Duy Ngừa, bộ đội thoát ly ra Bắc năm 1954, năm 1963 bí mật về Nam hoạt động cách mạng thì biết thêm nguyên do đưa đến những vụ thảm sát dân thường đẫm máu ở Hòa Hiệp liên tục trong năm 1966 vì cách đó không xa, khoảng 10km là khu vực núi Đá Bia. Đây là cơ sở cách mạng, trong đó có lực lượng vũ trang, lực lượng bán vũ trang, lực lượng chính trị, tiếp đến là khu Bãi Xép, rồi qua một con sông (giờ có cây cầu Đà Nông bắc qua con sông này, nối liền tuyến đường từ sân bay Đông Tác xuống khu di tích Vũng Rô. Nơi đây, trước năm 1975 là bến đậu của các con tàu không số của đường mòn Hồ Chí Minh trên biển) là đến các thôn Phú Lạc, Đa Ngư, Thọ Lâm nên người dân ở vùng này luôn nằm trong tình trạng bị nghi ngờ là cộng sản nằm vùng hay che chở cho Việt cộng.

Anh Phạm Thảo - đứa con duy nhất còn sống sót của ông Phạm Trung (thương binh 4/4)

Hằng năm, khi tiết trời bắt đầu oi ả, những cánh đồng đã gặt xong, chỉ còn trơ lại rạ khô, người dân ở hai thôn Thọ Lâm, Đa Ngư nhớ lại những thảm cảnh ngày xưa trong các đám giỗ tập thể. Ngày 24/3 âm lịch, ông Phạm Trung giỗ cha, mẹ và vợ, còn người con trai duy nhất của ông thì giỗ chị gái và ba đứa em. Anh Thảo còn nói: “Thương nhất là cả nhà bà dì tôi đều bị giết hết nên giờ mỗi lần giỗ chị và các em đều mời cả dì và 6 người con của dì về cùng”.

Nói về cảm xúc những ngày ấy, anh Thảo cũng như bao người dân ở Hòa Hiệp đều cho rằng: “Chiến tranh qua rồi. Giờ có thù ghét, có trả thù cũng đâu có được gì. Sau chiến tranh, có lần tụi Hàn Quốc về làng, rồi chính quyền địa phương xin tiền để xây bức tường xung quanh núi Một, xóm Soi, ghi lại ngày tháng, tên tuổi những người bị thảm sát. Tụi nó gật đầu xong rồi đi luôn đến giờ”. Anh còn cho biết thêm là, trước đó có Bí thư xã Ngô Văn Sơn nói để làm khu di tích chiến tranh nhưng rồi sau chẳng thấy ai nói gì nữa cả. Cũng đáng tiếc, giờ thì đất đai quanh khu này được ủi làm các đìa tôm hết rồi. Mồ mả người thân cũng dời ra nghĩa trang.

Anh Nguyễn Kỳ Tuấn cũng cho rằng: “Chiến tranh thì phải chấp nhận thôi chứ có ai muốn vậy đâu. Có đòi hỏi quyền lợi thì có được gì. Thế hệ cha anh nó làm chứ tụi nó có làm đâu mà đòi tụi nó. Hàn Quốc thì đánh thuê cho Mỹ”. Anh Tuấn còn nhớ năm 2003, khi tổ chức khánh thành Công viên Hòa Bình Hàn - Việt, họ có nhờ ông cung cấp danh sách và mời tất cả những gia đình có thân nhân bị giết trong 3 vụ thảm sát đến dự lễ. Thế hệ sau hối lỗi và tạ tội thay cho thế hệ trước vì những lỗi lầm đã gây ra trong quá khứ.

Những lời xin lỗi muộn mằn

Tháng 2/2012, tôi có dịp gặp nhà nghiên cứu về Nhật Bản và Hàn Quốc, GS.TS Mun Woong-lee, Đại học Khoa học xã hội, Đại học Quốc gia Seoul tại ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn TP HCM trong lần đầu tiên đến Việt Nam. Ông rất tự hào khi nói rằng, chính “văn hóa cơm trộn” đã tạo nên sự thần kỳ của Hàn Quốc trong thời đại mới nhưng ông cũng không quên “xin lỗi” dân tộc Việt Nam. Và ông cũng thừa nhận một điều chua xót rằng, chính nhờ cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam mà Hàn Quốc được hưởng rất nhiều lợi ích về kinh tế.

Sự xin lỗi của GS.TS Mun Woong-lee chỉ là một trong hàng trăm nghìn lời xin lỗi trong phong trào “Thành thật xin lỗi Việt Nam” mà nhân dân Hàn Quốc muốn nói. Sau nhiều thập niên bị bắt phải im lặng bởi các nhà cầm quyền thì mãi đến năm 2000, những bằng chứng trên truyền thông - báo chí Hàn Quốc, đặc biệt là trong loạt bài phóng sự của nhà báo Ku Su-jeong về cuộc thảm sát của quân đội Hàn Quốc tại Việt Nam trên tờ Hankyoreh 21 - một tờ báo cấp tiến có uy tín ở Hàn Quốc, cùng bài viết “Nhớ lại các oan hồn Việt Nam” đã gây chấn động cả nước Hàn Quốc. Và phong trào “Thành thật xin lỗi Việt Nam” đã kéo theo nhiều công dân trẻ của đất nước Hàn Quốc hằng năm đến Việt Nam để xin hàn gắn vết thương xưa.

 

Nhà báo Ku Su-jeong (đầu tiên, bên trái) và các thành viên Tổ chức "Tôi và chúng ta" tưởng niệm các nạn nhân trong vụ thảm sát tại Bình An, Tây Sơn, Bình Định

Khi làm luận án thạc sĩ và bảo vệ năm 2000 với đề tài “Hàn Quốc và sự can dự trong chiến tranh của Mỹ tại Việt Nam”, nhà báo Ku Su-jeong đã đi điền dã khắp các tỉnh Duyên hải miền Trung, đến nơi những gia đình có nạn nhân bị thảm sát. 45 ngày đêm, cô vác balô đi một mình để tìm ra sự thực về những cuộc thảm sát mà cô đã đọc qua sách báo, tài liệu. Bước chân Ku Su-jeong trải qua từng thôn Đa Ngư, Thọ Lâm ở Hòa Hiệp Nam (Phú Yên), trải dài qua Bình An, Tây Sơn, Tây Vinh, Diên An (Bình Định) và đến Diên Niên, Hà Tây, Phước Bình, Sơn Tịnh (Quảng Ngãi)…

Sự thật đã được phơi bày và chính Ku Su-jeong phải hứng chịu nhiều búa rìu dư luận của các cựu chiến binh Hàn Quốc. Vì thế năm 2000, khi cô bảo vệ luận văn thạc sĩ cũng là năm cô phải ra hầu tòa vì một số cựu chiến binh Hàn Quốc kiện cô đã vu cáo và phỉ báng họ. Tòa soạn Báo Hankyoreh 21 bị cựu chiến binh Hàn Quốc đập phá. Nhà cha mẹ nhà báo Ku Su-jeong bị ném đá phải xin tá túc một ngôi chùa trên núi…

Gần 10 năm sau (năm 2008), nhà báo Ku Su-jeong tiếp tục bảo vệ thành công luận án tiến sĩ tại Trường ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn thuộc Đại học Quốc gia TP HCM với đề tài “Mối quan hệ Việt - Hàn trong và sau chiến tranh của Mỹ tại Việt Nam” (1955-2005) và đạt điểm tuyệt đối. Trong những kết quả mới của luận án đã nhấn mạnh đến quá trình can dự quân sự của Hàn Quốc vào miền Nam Việt Nam trước năm 1975, chứng minh Hàn Quốc là đồng minh của Mỹ gửi quân tham chiến đông nhất, tác chiến quyết liệt nhất, gây nhiều vụ thảm sát nhất, trú đóng tại Việt Nam lâu nhất.

Trở lại câu chuyện ông Phạm Trung, một người bị mất mát quá nhiều trong cuộc thảm sát của lính Đại Hàn ở xóm Soi năm 1966. Sau khi chịu đựng bao nỗi mất mát, 4 năm bị đày đi Côn Đảo, hòa bình ông quay về làng, đi tiếp bước nữa với người phụ nữ cùng quê, làm ruộng, mưu sinh và sống cuộc đời bình dị đến hôm nay. Nhưng tâm hồn không hề bình an vì mỗi khi đến ngày giỗ tập thể của cha mẹ, vợ con, các em của ông thì ký ức lại trở về. Nỗi buồn rồi cũng qua đi vì đã hơn 40 năm trôi qua kể từ vụ thảm sát ấy, nhưng đối với ông chưa bao giờ nguôi ngoai.

Còn ông Nguyễn Hữu Cơ, Chi hội trưởng Hội Cựu chiến binh thôn Thọ Lâm cũng có người thân mất trong trận thảm sát ấy. Năm 2012, gia đình ông tiến hành lấy hài cốt người thân và di mộ ra nghĩa trang địa phương. Khi khai quật 7 ngôi mộ thì dưới 7 ngôi mộ đó đều không còn gì ngoài 5 viên đạn và 1,6 lượng vàng còn sót lại. “Nhờ 1,6 lượng vàng mà gia đình chúng tôi bán và đem xây mộ cho các cô, các em”, ông cho biết thêm. Như vậy, qua bao thời gian, những lần mưa lũ đầy vơi, thân xác các nạn nhân đều phân hủy.

Khi hỏi về những bù đắp cho sự mất mát của gia đình, ông Phạm Trung chân thật: “Vụ Đại Hàn thảm sát là chúng tôi không nhận bất cứ một cái gì hết. Nhưng cách đây trên dưới 10 năm, tụi lính Hàn Quốc có hai thằng, một cô phiên dịch người Việt Nam và cán bộ của mình nhờ tôi dẫn ra sát trận địa xem bắn làm sao, lính Hàn Quốc tập trung chỗ nào... Lúc đó tôi nói với họ rằng, quân đội Hàn Quốc sang Việt Nam đánh cộng sản. Diệt được cộng sản thì giỏi mà không diệt được thì dở chứ thảm sát người già, đàn bà, trẻ em để làm gì. Tui đề nghị với cô phiên dịch nói với ông Hàn Quốc là cho một số tiền để di mộ về rừng chứ để giữa đồng thế này, mùa mưa ngập nước tội quá. Tôi xin 20 triệu để dời đi, nó lặng thinh rồi bỏ đi đến bây giờ”. 20 ngôi mộ chôn cùng một khu đất, còn lại thì được chôn rải rác trong vườn nhà người thân nhưng giờ đa số người dân đã có tiền và di dời hài cốt đưa về nghĩa trang địa phương an táng.

Khi cả gia đình ông bị thảm sát, con trai duy nhất của ông còn sống sót khi đó mới 6 tuổi. Khi lớn lên, quá căm phẫn trước tội ác của giặc, anh Phạm Thảo thoát ly năm 1971 khi mà cha anh cũng đang bị tù chính trị ở Côn Đảo. Trong một lần đi công tác anh Thảo bị trúng mìn và bị thương, giờ là thương binh hạng 4/4.

Một gia đình có quá nhiều người bị thảm sát như thế, chỉ hai người còn sống đều đi theo cách mạng, người bị tù đày, người là thương binh. Thiết nghĩ, gia đình ông Phạm Trung xứng đáng được phong anh hùng và hưởng những chính sách ưu đãi của Nhà nước. Có thể nói, gia đình ông Phạm Trung cũng như nhiều gia đình khác trên đất nước này, mất mát hy sinh quá nhiều, đau thương quá lớn cho cuộc chiến tranh vệ quốc của dân tộc. Để rồi, hòa bình lập lại, không danh xưng, không truy tặng, họ quay về làng sống với nghề nông mưu sinh chân chất.

Ông Nguyễn Kỳ Tuấn cũng cho rằng, cách đây trên dưới 10 năm, mấy đoàn người Đại Hàn về đây phỏng vấn ông mấy lần. Ông có hỏi, những người thân còn sống ở đây đa số đều khổ thì có gì bù đắp cho họ không. Bọn chúng chỉ lắc đầu nói là sinh viên đi thực tế viết bài thôi chứ không dám hứa đền bù gì.

 

Ông Nguyễn Hữu Cơ là một trong những người may mắn thoát chết trong trận lính Đại Hàn thảm sát dân thường ngày 14/5/1966 tại xóm Soi, thôn Thọ Lâm, Hòa Hiệp Nam

Vùng đất này, những người dân vô tội bị thảm sát không phải là những chiến sĩ cộng sản nhưng họ là những lá chắn che chở cách mạng, nhưng đến hôm nay, người thân của họ cũng không nhận được bất cứ một sự trợ giúp nào của Nhà nước. Đó là điều làm cho chính người viết bài này cũng rất trăn trở.

Tôi gặp ông Phạm Công - Phó bí thư Thường trực Đảng ủy xã Hòa Hiệp Nam - nơi có 3 vụ thảm sát ở thôn Đa Ngư và Thọ Lâm để biết thêm về chế độ, chính sách dành cho thân nhân các gia đình bị nạn nhưng buồn thay, câu trả lời là không. Họ không nhận được bất cứ một chế độ, chính sách nào vì đơn giản, họ không thuộc diện thương binh, liệt sĩ. Bản thân ông cũng sinh ra và lớn lên trên mảnh đất này, nghe các cụ lớn tuổi trong xã kể về 3 vụ thảm sát trên, thấy rất đau lòng nhưng ngân sách địa phương có hạn. Trong khi địa phương là căn cứ cách mạng trước giải phóng nên lực lượng thoát ly rất đông. Hòa bình lập lại, hầu như gia đình nào cũng có ít nhất một người hoặc là thương binh, hoặc là liệt sĩ…, đau lòng nhất là có gia đình bị giết sạch trong các vụ thảm sát. Ông cũng cho biết thêm là cách đây 10 năm, phía Hàn Quốc đến địa phương đặt vấn đề. Đích thân ông dẫn đi gặp các nhân chứng còn sống và có đề nghị họ hỗ trợ một số tiền để xây dựng bia tưởng niệm các nạn nhân bị thảm sát trong năm 1966 nhưng chưa thực hiện được.

Lật lại cuốn “Lịch sử 30 năm đấu tranh cách mạng của nhân dân xã Hòa Hiệp”, riêng phần phụ lục ghi gần 1.000 liệt sĩ, đó là chưa kể hàng ngàn thương binh, bệnh binh và gia đình có công với cách mạng khác. Điều đó cho thấy, quá nhiều, quá nhiều sự hy sinh, mất mát, đau thương của người dân đã đổ xuống để giữ từng tấc đất quê hương.

Hàn gắn phần nào nỗi đau thương

Hòa bình lập lại, để bù đắp cho những mất mát mà thế hệ cha chú đã gây ra cho bao người dân vô tội ở miền Nam Việt Nam, Chính phủ Hàn Quốc và một số tổ chức phi chính phủ ở Hàn Quốc có những chương trình hỗ trợ xây dựng các công trình an sinh xã hội ở Hòa Hiệp. Trong đó có Trường tiểu học số 2 ở xã Hòa Hiệp Nam, Bệnh viện Hàn - Việt (nay là Bệnh viện Đa khoa huyện Đông Hòa) và Công viên Hòa bình Hàn - Việt ở xã Hòa Hiệp Trung.

Tôi đến thăm Trường tiểu học số 2 ở xã Hòa Hiệp Nam được xây dựng cách không xa “Bia căm thù” (được dựng lên cách đây mấy chục năm sau vụ thảm sát dân thường của lính Đại Hàn ở Vũng Tàu). Chiều tà, cổng trường im vắng, từng hàng phi lao vi vút thổi, gió mát, phía xa xa sóng biển vỗ bờ. Trẻ con ở đây giờ bình an cắp sách đến trường chứ không phải nơm nớp lo sợ có thể bị bắt đi bất cứ lúc nào, bị giết bất kể khi nào như cách đây 47 năm.

Công viên Hòa bình Hàn - Việt do bạn đọc Tạp chí Hankyoreh 21 (Hàn Quốc) đóng góp, xây dựng và đi vào hoạt động từ tháng 3/2003 nhằm phục vụ nhu cầu vui chơi, giải trí của cư dân địa phương. Ấn tượng nhất có lẽ là tác phẩm mỹ thuật hoành tráng có bán kính 3,5m, với phần khung bằng bêtông cốt thép và phần tranh hình vuông được lắp ở mỗi mặt 264 bức do các em thiếu nhi dùng vữa màu, gốm màu, những miếng sứ, sành nhỏ, đá cuội… vẽ trên viên gạch nung đất sét. Đây là tác phẩm do các họa sĩ nổi tiếng của Hàn Quốc, Việt Nam cùng 50 em thiếu nhi có năng khiếu hội họa của Nhà thiếu nhi Phú Yên thực hiện. Tác phẩm “Em vẽ tranh hòa bình” cũng là sáng kiến của Báo Hankyoreh 21 Hàn Quốc nhằm thể hiện tình hữu nghị, đoàn kết, hòa bình giữa hai dân tộc Việt - Hàn. Tuy nhiên, do xây cách xa khu dân cư và ít được sử dụng, cùng với sự ăn mòn của muối biển nên nhiều hạng mục nhanh chóng xuống cấp.

 

Trường tiểu học số 2 Hòa Hiệp Nam được xây dựng cách đây 10 năm, kinh phí do Hàn Quốc tài trợ

Bệnh viện Đa khoa huyện Đông Hòa nhưng người dân địa phương vẫn quen gọi là Bệnh viện Hàn Quốc được xây dựng để phục vụ cho nhân dân vùng bị trực tiếp ảnh hưởng của chiến tranh. Công trình có tổng kinh phí đầu tư trên 15,4 tỉ đồng, trong đó Chính phủ Hàn Quốc hỗ trợ 600.000USD cùng một số trang thiết bị y tế, phần còn lại do tỉnh đầu tư. Giờ người dân ở Hòa Hiệp có bệnh tật, ốm đau không phải mất hơn 20km ra bệnh viện tỉnh.

Theo ông Nguyễn Mười - Bí thư xã Hòa Hiệp Trung thì công viên có quy mô nhỏ, trò chơi thì cũng không có gì. Nó được xây chủ yếu như một biểu tượng của tình đoàn kết Việt - Hàn, trong công viên có ba quả trứng bằng đá mà theo quan niệm của dân tộc Hàn Quốc là biểu tượng của sự đoàn kết, hàn gắn. Còn bệnh viện hoạt động hiệu quả, rất khang trang, phục vụ cho 110.000 dân của huyện Đông Hòa, nhưng hiện nay đội ngũ y, bác sĩ trong bệnh viện còn thiếu, chưa tương xứng với một bệnh viện có quy mô như vậy.

Ngoài ra, ông Mười còn cho biết thêm là, kể từ sau khi hai công trình an sinh xã hội này được xây dựng thì cứ 1 đến 2 năm là có một đoàn người Hàn Quốc ghé đến tham quan, chụp ảnh, tặng quà lưu niệm. Người Hàn Quốc hôm nay đến để gặp nhân chứng, nhìn lại mảnh đất mà thế hệ cha ông họ một thời đến và gây nên nhiều tội lỗi. Sự tạ lỗi dù có muộn mằn thì cũng rất đáng trân trọng.

Liệu rằng, những hỗ trợ kinh phí để xây dựng trường học, công viên, bệnh viện có bù đắp được những mất mát mà lính Đại Hàn đã gây nên trên mảnh đất này? Chắc chắn là không. Nó chỉ là bù đắp phần nào và góp phần hữu hảo, hàn gắn, đoàn kết mà thôi. Giờ đây người dân Hòa Hiệp hằng ngày đều xem phim Hàn. Giới trẻ thì mê các chàng trai, cô gái Hàn sành điệu, đẹp lạ kỳ nhưng các cụ lớn tuổi xem mà vẫn cứ nhắc, hồi chiến tranh, tụi lính Đại Hàn nó xấu chứ có đẹp như bây giờ đâu. Nghe mà lòng thấy cay cay. Nói quên mà có quên được đâu, ký ức vẫn rõ mồn một đấy chứ.

Ngày nay, có lẽ nhiều bạn trẻ ở địa phương sẽ không hề biết về một quá khứ đau thương mà thế hệ ông bà, cha mẹ từng gánh chịu. Những cuộc thảm sát, vây bắt, lập vành đai trắng. Máu và máu đổ tràn bờ ruộng. Nước mắt đổ quá nhiều đến nỗi không thể khóc được nữa. Nó khô quánh. Nỗi đau thân xác có thể lành lặn theo thời gian nhưng nỗi đau trong tim, trong óc thì vẫn âm ỉ.

Giờ đây, nhiều người dân nơi này không muốn nhắc lại hai chữ “Đại Hàn”, vì nó quá kinh hoàng, quá khủng khiếp trong tiếng súng vang rền, bom mìn nổ inh tai, những khẩu đại liên độc ác đã giết đi bao sinh mệnh người thân của họ. Nhưng người ta vẫn xem phim Hàn, gọi Bệnh viện Hàn Quốc, Công viên Hàn Quốc, Trường học Hàn Quốc… để thấy rằng, dân tộc mình có lòng vị tha vô bờ bến. Chính điều này đã làm cho nhà báo Ku Su-joeng cảm thấy vô cùng an ủi. Dù rằng, hơn 40 năm qua, nỗi đau còn đó nhưng khi nhà báo Ku Su-jeong gặp lại các nhân chứng thì cô không thấy bất cứ sự hận thù, hằn học nào mà còn vỗ về, an ủi khi thấy cô khóc.

Hòa bình lập lại năm 1975 nhưng mãi đến ngày 22/12/1992, Việt Nam và Hàn Quốc mới thiết lập quan hệ ngoại giao trở lại. Từ đó đến nay, mối quan hệ hai nước ngày càng phát triển tốt đẹp. Hiện nay, đã có hàng trăm nghìn cô gái Việt Nam đang làm dâu tại Hàn Quốc. Ở Hòa Hiệp cũng có những cô gái xinh đẹp đi lấy chồng Hàn, có người sống hạnh phúc, có người vất vả nhưng qua đó thấy rằng, sự hận thù đã nguôi ngoai theo thời gian.

Chiến tranh, sự tàn sát đã tạo nên những hố ngăn cách trong lòng người nhưng hòa bình, hàn gắn sẽ dần làm mờ các vết thương cho bao người dân vô tội. Dân tộc Hàn Quốc đang hàn gắn mối quan hệ Việt - Hàn, mỗi năm đều có những đoàn người Hàn Quốc quay lại mảnh đất này và khóc. Họ khóc vì lòng vị tha, đôn hậu của dân tộc này trước những tội ác mà cha ông họ đã gây ra.

Phóng sự của Thiên Thanh