Các Phương Pháp Điều Trị Nghiện Ma Túy

  1. THUỐC ĐƠN THUẦN CÓ CHỮA ĐƯỢC NGHIỆN MA TÚY?

  2. Hoạt động Giáo dục Trị liệu

  3. TRỊ LIỆU GIA ĐÌNH

  4. LIỆU PHÁP GIA ĐÌNH ĐỐI VỚI NGƯỜI NGHIỆN MA TÚY

  5. LIỆU PHÁP GIA ĐÌNH

  6. MÔ HÌNH TRỊ LIỆU NHẬN THỨC - HÀNH VI

  7. SỬ DỤNG LIỆU PHÁP NHẬN THỨC – HÀNH VI TRONG ĐIỀU TRỊ NGHIỆN

  8. LIỆU PHÁP NHẬN THỨC - HÀNH VI CBT (COGNITIVE- BEHAVIOR THERAPY)

  9. TRỊ LIỆU HÀNH VI - MỘT SỐ KĨ THUẬT TRỊ LIỆU HÀNH VI

 10. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ LIỆU PHÁP NHẬN THỨC - HÀNH VI

 11. MÔ HÌNH TÁI HÒA NHẬP CỘNG ĐỒNG TẠI TRUNG TÂM ĐIỀU DƯỠNG VÀ CAI NGHIỆN MA TÚY THANH ĐA

 12. MÔ HÌNH ĐIỀU TRỊ BÁN TRÚ - NHÀ TRUNG CHUYỂN

 13. PHÒNG CHỐNG TÁI NGHIỆN - TÁI HÒA NHẬP CỘNG ĐỒNG

 14. ẢNH HƯỞNG CỦA BẠN BÈ LIÊN QUAN ĐẾN VIỆC SỬ DỤNG CÁC CHẤT MA TÚY

 15. 6 TIÊU CHUẨN CHẨN ĐOÁN TÌNH TRẠNG NGHIỆN MA TÚY

 16. GIAI ĐOẠN CẮT CƠN – GIẢI ĐỘC – NÂNG CAO SỨC KHỎE

 17. CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ NGHIỆN MA TÚY TỔNG HỢP

 18. (Cũ) NHỮNG NGUYÊN TẮC CƠ BẢN TRONG CAI NGHIỆN - PHỤC HỒI CHO NGƯỜI NGHIỆN MA TÚY

 19. MỤC LỤC CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ NGHIỆN MA TÚY

 20. Hướng dẫn hỗ trợ điều trị chống tái nghiện ma túy nhóm opiats bằng thuốc Danapha-Natrex

 21. Giai đoạn chuẩn bị tái hòa nhập cộng đồng: Huấn luyện trị liệu - Lao động trị liệu - Chống tái nghiện (nội trú)

 22. Methadone có giúp cai nghiện?

 23. BIỂU HIỆN TÂM THẦN DO SỬ DỤNG MA TÚY

 24. (BAK) SỰ KHÁC BIỆT GIỮA HỖ TRỢ CHỐNG TÁI NGHIỆN CÁC CHẤT DẠNG THUỐC PHIỆN (OMH) BẰNG NALTREXONE VỚI THAY THẾ NGHIỆN CÁC CHẤT DẠNG THUỐC PHIỆN (OMH) BẰNG METHADONE

 25. NHỮNG HIỂU BIẾT VỀ AMPHETAMIN VÀ CÁC CHẤT GIỐNG AMPHETAMIN (AMPHETAMIN VÀ AMPHETAMIN - LIKE)

 26. ĐIỀU TRỊ NGHIỆN RƯỢU – CHỐNG TÁI NGHIỆN

 27. CÁC RỐI LOẠN TÂM THẦN Ở NGƯỜI NGHIỆN RƯỢU

 28. NHỮNG NGUYÊN TẮC CƠ BẢN TRONG ĐIỀU TRỊ NGHIỆN MA TÚY

 29. HƯỚNG DẪN ĐIỀU TRỊ THAY THẾ NGHIỆN CÁC CHẤT DẠNG THUỐC PHIỆN BẰNG THUỐC THUỐC ĐỒNG VẬN

 30. CÔNG TÁC QUẢN LÝ - ĐIỀU TRỊ - GIÁO DỤC TRONG MÔI TRƯỜNG CỘNG ĐỒNG TRỊ LIỆU

 31. LIỆU PHÁP NHẬN THỨC - HÀNH VI TRONG CAI NGHIỆN PHỤC HỒI

 32. LIỆU PHÁP GIA ĐÌNH TRONG CAI NGHIỆN PHỤC HỒI

 33. NHỮNG NGUYÊN TẮC CƠ BẢN TRONG CAI NGHIỆN - PHỤC HỒI CHO NGƯỜI NGHIỆN MA TÚY

 34. CÁC PHƯƠNG PHÁP PHÒNG CHỐNG TÁI NGHIỆN NHÓM OMH (OPIATES) (OPIUM – MORPHINE – HÉROINE)

 35. MÔ HÌNH TÁI HÒA NHẬP CỘNG ĐỒNG TẠI TRUNG TÂM ĐIỀU DƯỠNG VÀ CAI NGHIỆN MA TÚY THANH ĐA

 36. PHÒNG CHỐNG TÁI NGHIỆN TÁI HÒA NHẬP CỘNG ĐỒNG

 37. CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ NGHIỆN NHÓM OPIATES OPIUM ....

 38. PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ CAI NGHIỆN CẦN SA - CỎ MỸ - NHÓM MA TÚY DẠNG HOANG TƯỞNG

 39. Các phương pháp điều trị nghiện ma túy

 40. CÁC TIÊU CHUẨN CHẨN ĐOÁN NGHIỆN MA TÚY

THUỐC ĐƠN THUẦN CÓ CHỮA ĐƯỢC NGHIỆN MA TÚY?

Không loại thuốc nào chữa được bệnh nghiện ma túy - Thuốc chỉ là hỗ trợ

THUỐC CHỈ LÀ PHƯƠNG THỨC HỖ TRỢ - KHÔNG CÓ LOẠI THUỐC NÀO THỰC SỰ CHỮA ĐƯỢC BỆNH NGHIỆN MA TÚY.


Y VĂN THẾ GIỚI ĐÃ NÓI RÕ: "Thuốc chỉ hỗ trợ để cắt cơn giải độc, nâng cao sức khỏe, điều trị bệnh tâm thần, bệnh cơ hội trên người nghiện ma túy".


Biện pháp điều trị chủ yếu là: Tư vấn – Tâm lý trị liệu – Giáo dục trị liệu – Hoạt động trị liệu – Sinh hoạt trị liệu – Quản lý trị liệu và Các liệu pháp xã hội khác nhằm mục đích giáo dục phục hồi nhận thức, hành vi, nhân cách, hình thành thói quen tốt, đồng thời thấu hiểu được những chuyển biến tâm tư, tình cảm của đối tượng.


BỐN VẤN ĐỀ CHÍNH CẦN PHẢI ĐIỀU TRỊ TRÊN ĐỐI TƯỢNG NGHIỆN MA TÚY:

  • 1. Tổn thương hệ thống não bộ và Các vấn đề tâm thần của người nghiện ma túy.
  • 2. Rối loạn và xuống cấp nhận thức – hành vi – nhân cách.
  • 3. Chấn thương tâm lý: đây không phải là một hành động nhất thời mà là một quá trình diễn biến đầy mâu thuẫn và phức tạp của nội tâm cũng như bối cảnh đa phương diện của người nghiện ma túy đối với bản thân, gia đình và xã hội.
  • 4. Người nghiện ma túy hầu hết đều ở trong tình trạng đói ma túy trường diễn, kể cả sau khi cai nghiện, trừ một số ít trường hợp nhẹ.
    Hội chứng hồi tưởng, phản xạ có điều kiện, chấn thương tâm lý, tổn thương não bộ, rối loạn nhận thức hành vi nhân cách rất dễ dẫn người đã cai nghiện đến tái sử dụng ma túy.

Bốn vấn đề chính cần phải điều trị trên đối tượng nghiện ma túy

Bốn vấn đề chính cần phải điều trị trên đối tượng nghiện ma túy


ĐỂ GIẢI QUYẾT CÁC VẤN ĐỀ TRÊN, Y VĂN THẾ GIỚI ĐÃ CHỈ RÕ:

Muốn điều trị nghiện ma túy thành công, phải sử dụng một liệu pháp tổng hợp nhằm mục đích gọt dũa, điều chỉnh, phục hồi nhận thức, hành vi, nhân cách - giải tỏa các chấn thương tâm l‎ý để trang bị cho người nghiện ma túy nhận thức, bản lĩnh, kỹ năng sống và hình thành thói quen tốt, bao gồm các liệu pháp sau:

  • 1. Tư vấn – Liệu pháp tâm l‎ý – Liệu pháp giáo dục – Liệu pháp xã hội - Huấn nghiệp trị liệu – Lao động trị liệu – Hoạt động trị liệu – Sinh hoạt cá nhân, nhóm, gia đình,…
  • 2. Đối với nhóm người sử dụng thuốc chống tái nghiện nhóm Á phiện - Morphine - Héroine (OMH) bằng thuốc Naltrexone hoặc Methadone thì việc giáo dục, gọt giũa, phục hồi nhận thức, hành vi, nhân cách vẫn là biện pháp chủ yếu.
  • 3. Không có một liệu pháp đơn thuần nào (uống thuốc, châm cứu, bấm huyệt, phẫu thuật thùy não,…) có thể chữa được bệnh nghiện ma túy
  • 4. Chương trình điều trị phải được chuyển đổi kịp thời theo những rối loạn tâm sinh l‎ý của người nghiện ma túy mà chuyên môn ngành nào, ngành ấy giải quyết – nhưng phải phối hợp ở một thể thống nhất khi đánh giá và lập kế hoạch điều trị cho đối tượng, nhằm kết hợp lĩnh vực mình với lĩnh vực chuyên môn của người khác.
  • 5. Cai nghiện được gọi là thành công không chỉ nhằm vào mục tiêu người nghiện không tái sử dụng ma túy mà còn đòi hỏi đối tượng phải có một lối sống điều độ, tự quản l‎ý bản thân một cách tốt đẹp và thực hiện thành công sự thay đổi về nhận thức.

Tham khảo chi tiết: NHỮNG NGUYÊN TẮC CƠ BẢN TRONG CAI NGHIỆN MA TÚY

Hoạt động Giáo dục Trị liệu

HUẤN NGHIỆP  - LAO ĐỘNG TRỊ LIỆU

LỚP TƯ DUY TÍCH CỰC - GIÁ TRỊ SỐNG

LỚP TƯ DUY TÍCH CỰC - LÀM CHỦ BẢN THÂN

TƯ VẤN TÂM LÝ CÁ NHÂN

SINH HOẠT NHÓM - TƯ VẤN NHÓM

LỚP MỸ NGHỆ

23-01.jpg - 48.48 kB

THƯ VIỆN

11.jpg - 57.97 kB

TẬP THÁI CỰC TRƯỜNG SINH

12.jpg - 54.79 kB

HỌC VIÊN TT ĐIỀU DƯỠNG & CAI NGHIỆN THANH ĐA
THAM GIA HỘI THI THÁI CỰC TRƯỜNG SINH CÁC TỈNH PHÍA NAM

13.jpg - 35.27 kB

LỚP THIỀN ĐỊNH

13-03.jpg - 51.64 kB

TƯ DUY TÍCH CỰC

14.jpg - 43.54 kB

TƯ VẤN CÁ NHÂN

18.jpg - 50.46 kB

SINH HOẠT NHÓM

16.jpg - 39.66 kB

TƯ VẤN GIA ĐÌNH

17.jpg - 27.85 kB

SINH HOẠT CÁ NHÂN

19.jpg - 43.49 kB

SINH HOẠT GIA ĐÌNH

20.jpg - 39.27 kB

TƯ VẤN BỆNH LÝ VÀ SỨC KHỎE CHO HỌC VIÊN

21.jpg - 46.12 kB

TƯ VẤN ĐIỀU TRỊ CHO GIA ĐÌNH HỌC VIÊN

22.jpg - 45.97 kB

TƯ VẤN ĐIỀU TRỊ CHỐNG TÁI NGHIỆN CHO GIA ĐÌNH & HỌC VIÊN

24.jpg - 50.65 kB

LỚP NGOẠI NGỮ

25.jpg - 51.91 kB

LỚP HỘI HỌA

26.jpg - 60.14 kB

TRANH VẼ CỦA HỌC VIÊN LỚP HỘI HỌA

27.jpg - 43.48 kB

LỚP MỸ THUẬT

28.jpg - 48.94 kB

LỚP THANH NHẠC

29.jpg - 39.36 kB

HỒ BƠI TRUNG TÂM

30.jpg - 52.98 kB

LỚP BƠI LỘI

31.jpg - 43.43 kB

PHÂN XƯỞNG MỘC - ĐỒ GỖ MỸ NGHỆ

32.jpg - 41.95 kB

PHÂN XƯỞNG MỘC - ĐỒ GỖ MỸ NGHỆ

33.jpg - 43.46 kB

LỚP ĐIỆN LẠNH

34.jpg - 46.39 kB

LỚP ĐIỆN CƠ

35.jpg - 46.05 kB

LỚP ĐIỆN GIA DỤNG

36.jpg - 53.18 kB

LỚP CƠ KHÍ

37.jpg - 54.4 kB

LỚP TIỆN 

38.jpg - 46.66 kB

LỚP PHAY

39.jpg - 42.79 kB

LỚP MÁY CÔNG CỤ

40.jpg - 44.44 kB

BIDA

41.jpg - 49.03 kB

BIDA LỖ

42.jpg - 49.38 kB

BIDA BĂNG (3 BI)

43.jpg - 41.18 kB

BANH BÀN

44-06.jpg - 62.55 kB

THI ĐẤU CẦU LÔNG

44.jpg - 49.91 kB

THI ĐẤU BÓNG BÀN

45.jpg - 49.22 kB

THI ĐẤU BÓNG CHUYỀN

46-06.jpg - 31.74 kB

PHÒNG TẬP THỂ DỤC THỂ HÌNH

46.jpg - 46.56 kB

PHÒNG TẬP THỂ DỤC THỂ HÌNH

47.jpg - 46.72 kB

MÁY GAME XBOX 360

48.jpg - 49.82 kB

TRÒ CHƠI ĐIỆN TỬ X-BOX 360

49-01.jpg - 42.65 kB

PHÒNG CHIẾU PHIM 3D

49-06.jpg - 46.25 kB

PHÒNG GAME INTERNET

49.jpg - 28.5 kB

PHÒNG CHIẾU PHIM

50-06.jpg - 39.18 kB

PHÒNG KARAOKE

50.jpg - 69.56 kB

VĂN NGHỆ MỪNG ĐẢNG - MỪNG XUÂN

51.jpg - 59.02 kB

VUI TẾT

53.jpg - 49.57 kB

VĂN NGHỆ KỶ NIỆM NGÀY GIỖ TỔ HÙNG VƯƠNG

54.jpg - 59.28 kB

HỌC VIÊN TẬP VĂN NGHỆ

55.jpg - 37.04 kB

MÙA BÁO HIẾU - ƠN NGHĨA SINH THÀNH

56.jpg - 57.01 kB

THI CẮM HOA MỪNG NGÀY QUỐC TẾ PHỤ NỮ

57.jpg - 56.13 kB

HỘI THI NẤU ĂN NGÀY QUỐC TẾ PHỤ NỮ

58.jpg - 48.3 kB

THI NẤU BÁNH CHƯNG

59.jpg - 51.56 kB

HỘI THI KÉO CO

60.jpg - 49.27 kB

THI ĐẤU BÓNG NƯỚC

61.jpg - 50.02 kB

THI BƠI TIẾP SỨC

62.jpg - 47.89 kB

GIAO LƯU VỚI ĐẠI HỌC CẢNH SÁT NHÂN DÂN
- BỘ CÔNG AN

63.jpg - 43.78 kB

GIAO LƯU VỚI KHOA PHÒNG CHỐNG TỘI PHẠM MA TÚY
ĐẠI HỌC CẢNH SÁT NHÂN DÂN - BỘ CÔNG AN

64.jpg - 51.95 kB

GIAO LƯU VỚI TRUNG ĐOÀN GIA ĐỊNH

65.jpg - 56.24 kB

GIAO LƯU VỚI TT BỒI DƯỠNG NGHIỆP VỤ
CÔNG AN TP HỒ CHÍ MINH

66.jpg - 54.14 kB

GIAO LƯU VỚI THANH NIÊN TÌNH NGUYỆN MÙA HÈ XANH

67.jpg - 48.63 kB

GIAO LƯU VỚI THANH NIÊN TÌNH NGUYỆN MÙA HÈ XANH

68.jpg - 53.28 kB

GIAO LƯU VỚI
 TRUNG TÂM TƯ VẤN VÀ CAI NGHIỆN MA TÚY

69.jpg - 47.4 kB

GIAO LƯU VỚI TT CAI NGHIỆN MA TÚY- TỔNG ĐỘI 1 TNXP

70-01.jpg - 42.35 kB

GIAO LƯU VỚI TRƯỜNG 3 TNXP

72.jpg - 53.58 kB

ĐI DU THUYỀN TRÊN SÔNG SÀI GÒN

73.jpg - 56.92 kB

ĐI DU THUYỀN TRÊN SÔNG SÀI GÒN

74.jpg - 33.02 kB

ĐÊM LỬA TRẠI PHAN THIẾT

75.jpg - 79.44 kB

VIẾNG ĐỀN LIỆT SỸ CĂN CỨ MINH ĐẠM - VŨNG TÀU

76.jpg - 61.57 kB

THAM QUAN MẬT KHU MINH ĐẠM - VŨNG TÀU

77.jpg - 60.61 kB

DU LỊCH DÃ NGOẠI TẠI HÒN RƠM - BÌNH THUẬN

78.jpg - 62.27 kB

THĂM CỒN PHỤNG - CỒN THÁI SƠN

79.jpg - 27.78 kB

TRANH HÙNG TẠI BÃI BIỂN LONG HẢI

80.jpg - 39.13 kB

LỄ HỘI THẢ DIỀU QUỐC TẾ TẠI VŨNG TÀU

81.jpg - 52.67 kB

THĂM KHU DI LỊCH SUỐI KHOÁNG NÓNG - 
BÌNH CHÂU

82.jpg - 42.74 kB

CHIẾN THẮNG ĐỒI CÁT - PHAN THIẾT

83.jpg - 51.49 kB

DU LỊCH KẾT HỢP SINH HOẠT NHÓM TẠI KHU DU LỊCH ĐẠI NAM - BÌNH DƯƠNG

84.jpg - 65.74 kB

VIẾNG ĐỀN BẾN DƯỢC - CỦ CHI

85.jpg - 67.67 kB

THAM GIA LÀM ĐƯỜNG P.28 QUẬN BÌNH THẠNH

86.jpg - 42.72 kB

HĂM TT NUÔI DƯỠNG NGƯỜI GIÀ NEO ĐƠN THẠNH LỘC

87.jpg - 52.11 kB

HỌC VIÊN TT THANH ĐA THĂM VÀ TẶNG QUÀ CHO THƯƠNG BỆNH BINH NĂNG TẠI TRUNG TÂM ĐIỀU DƯỠNG LONG ĐẤT

88.jpg - 58.66 kB

GIAO LƯU VỚI TRẺ EM KHUYẾT TẬT CÂM ĐIẾC VÀ NHIỄM CHẤT ĐỘC DA CAM THIÊN PHƯỚC

TRỊ LIỆU GIA ĐÌNH

TRỊ LIỆU GIA ĐÌNH

Phỏng theo quyển LES THÉRAPIES FAMILIALES 
của Jean Maisondieu và Léon Métayer, trong bộ sách Que sais-je; Paris 1986.

Nguyễn Khắc Viện lược dịch.

Cho đến khoảng 1950, tâm lý học trẻ em thường xoáy quanh cá nhân đứa trẻ; đặc biệt với trẻ được xem là “hư hỏng”, tập trung chăm sóc dạy dỗ chúng (child guidance). Và thêm một ít điều khuyên bảo, làm tư vấn cho bố mẹ, gia đình để giúp con em vượt qua khó khăn (family counselling). Ngày nay đa số nhà tâm lý học không còn xem trẻ em riêng biệt, và cho rằng những triệu chứng rối nhiễu tâm lý ở trẻ là biểu hiện rối loạn của toàn bộ gia đình và cần chăm chữa cả bố mẹ và toàn thể gia đình (family therapy). Đây là một sự thay đổi cơ bản trong cách tiếp cận, đòi hỏi một cơ sở lý luận mới.

Cách tiếp cận này dựa trên hai luận điểm:

- Lý thuyết hệ thống.

- Lý thuyết giao tiếp.

Từ đó đề xuất ra những chiến lược và phương pháp trị liệu cho toàn bộ gia đình.

I. HỌC THUYẾT HỆ THỐNG

Học thuyết này bao quát mọi lĩnh vực, cơ khí hay tin học, sinh học hay kinh tế xã hội. Một hệ thống được định nghĩa là một tổng thể phức hợp gồm nhiều yếu tố liên quan với nhau và mỗi biến động trong một yếu tố nào đó đều tác động lên những yếu tố khác và cũng tác động lên toàn bộ hệ thống.

Một hệ thống có thể gốm nhiều tiểu hệ, đồng thời lại là một bộ phận của một đại hệ. Có những hệ thống khép kín, không trao đổi với xung quanh, có những hệ thống mở; hệ thống khép kín chỉ gặp trong vật lý còn các hệ thống sinh học hay xã hội đều là hệ thống mở.

Một hệ thống không những chỉ là một phức hợp gồm nhiều bộ phận khác nhau, mà là một tổng thể có những đặc tính không hoàn toàn do những đặc trưng của các bộ phận cộng lại.

Những mối liên quan ở đây không phải đơn tuyến một chiều, mà các yếu tố tác động lẫn nhau theo nhiều đường mối liên quan chằng chịt đặc biệt là mối liên quan tác động trở lại, tức theo mạch phản hồi (feadback – rétroaction) 1. Sơ đồ nhân quả không theo đường thẳng A→B→ C mà theo sơ đồ

A

B                  C

Những tác động qua lại giữa các bộ phận tạo ra một tình trạng nhất định. Mỗi sự kiện gây ra biến động đồng thời cũng gây ra những phản ứng ngược lại tạo ra xu thế lập lại cân bằng (homeostasis). Tuy vậy mọi hệ thống đều có khả năng thay đổi cơ cấu mà vẫn giữ bản sắc để thích nghi với những biến động của môi trường. Có những hệ thống linh hoạt có khả năng điều chỉnh các mối liên quan bên trong và bên ngoài một cách dễ dàng và để tồn tại lâu dài; có những hệ thống cứng nhắc gặp biến động mạnh trong môi trường không giữ được cân bằng, dễ tan rã.

Hệ thống nào cũng có một bờ rào, một ranh giới phân cách với môi trường chung quanh; đầu vào và đầu ra cụ thể hóa mối liên quan giữa hệ thống và môi trường, được bố cục theo những cơ cấu và hoạt động theo những cơ chế nhất định.

Những hệ thống khép kín mất dần năng lượng dẫn tới tiêu vong (entropie), còn những hệ thống mở có những khả năng tiếp nhận năng lượng từ ngoài tồn tại lâu dài; nhờ liên quan với nhau mà các hệ thống tồn tại được, nhưng cũng vì vậy lại gây rối loạn cho nó.

Theo phương pháp Decartes cần phân chia những sự vật phức tạp thành những yếu tố giản đơn; còn trong quan điểm hệ thống lại cần nhìn thấy hết tính phức tạp của sự vật.

Gia đình là một hệ thống mở, gồm nhiều thành viên với những mối liên quan qua lại chằng chịt. Những tác động qua lại này thường nhằm duy trì sự cân bằng của hệ thống gia đình. Trong nội bộ gia đình, những mối tình cảm, lòng ham, xung năng, những mối quan hệ uy quyền tạo ra những luồng thông tin dồn dập bao quanh mỗi thành viên. Mỗi gia đình tạo ra những mối liên quan riêng do nền văn hóa xã hội, do lịch sử và thành phần riêng tạo nên.

Những mối liên quan này có thể linh hoạt hay cứng nhắc, giữa các thành viên với nhau, giữa các hệ thống với nhau như với những đại hệ gia đình (làng xóm, phố phường…) ranh giới với bên ngoài có thể bịt kín hay mở rộng.

Gia đình là tiếp diện (interface) giữa cá nhân và xã hội, là một thể chế thiết yếu làm trung gian giữa những mục tiêu sinh lý và văn hóa xã hội trong sự hình thành nhân cách. Ranh giới giữa các thành viên với nhau cũng như giữa gia đình và môi trường chung quanh là một vấn đề rất quan trọng. Bản thân cơ cấu của gia đình không phức tạp lắm; nhưng mỗi thành viên là một tiểu hộ phức tạp, và phức tạp hơn nữa là đại hệ xã hội xung quanh.

Thông thường gia đình tồn tại lâu dài, có một lịch sử riêng, và là một khâu trong một dòng họ từ thế hệ này đến thế hệ khác.

Nếu nhà trị liệu phân tâm nào tập trung vào nội tâm của từng cá nhân, tức vào từng tiểu hệ, thì nhà trị liệu theo thuyết hệ thống tập trung vào những mối liên quan giao tiếp giữa cá nhân, tìm cách cải thiện để thay đổi tình trạng của toàn bộ gia đình.

II. HỌC THUYẾT GIAO TIẾP

Các trường phái trị liệu gia đình đều vận dụng nhiều khái niệm chủ yếu của học thuyết giao tiếp.

II.1. Không thể không giao tiếp: 

Từ chối giao tiếp cũng là một cách giao tiếp. Mỗi sự vướng mắc trong giao tiếp kéo dài có thể gây rối nhiễu tâm lý. Như bảo “tôi không muốn nghe” làm cho hai bên trao đổi trong một không khí căng thẳng, hoặc một bên bị bắt buộc rồi nghe người kia; hoặc giả vờ lắng nghe nhưng thực tế không để ý, sự giao tiếp diễn ra một cách mơ hồ; hoặc cắt đứt giao tiếp bằng cách thoái thác, bảo là đau đầu hay quá buồn ngủ. Trong một gia đình mà thường xuyên diễn ra kiểu giao tiếp này, dễ dẫn đến rối nhiễu.

II.2. Mỗi khi giao tiếp đều có hai mặt: 

Mặt chỉ báo tức là nội dung điều muốn truyền đạt, và mặt chỉ lệnh tức là muốn người kia hiểu và đối xử như thế nào. Cũng có thể có một bên là ý, một bên là tứ. Mặt tứ học thuyết giao tiếp gọi là siêu giao tiếp (metacommunication). Một em bé làm ra vẻ ảo não nói “con bị điểm 0”, rồi lại phá lên cười, cái tứ ở đây ngược với cái ý. Hàm hồ giữa ý và tứ nếu là chuyện hàng ngày gây tác hại không nhỏ.

II.3. Chấm câu:

Thoạt trong giao tiếp diễn ra như một chuỗi ứng xử liên tục. Thực ra mỗi bên đều “chấm câu” Tức là có ý ngắt ra từng đoạn tùy sự phản ứng qua lại. Một ứng xử là một đáp ứng một tín hiệu do bên kia phát ra và ngược lại. Cách chấm câu của hai bên có thể ăn khớp với nhau hay không ăn khớp. Khi không ăn khớp thì bên này dễ đổ lỗi cho bên kia là người có trách nhiệm gây chuyện.

II.4. Trong giao tiếp có hai kiểu:

- Kiểu chỉ tỏ, nói rõ nội dung, thường dùng ngôn ngữ, có câu cú đàng hoàng, với một cách giải mã nhất định; đây là mật ý. (dighital)

- Kiểu nói ví bằng lời hay bằng cử chỉ bộ điệu, thiên về mặt tứ, không theo những quy tắc nhất định làm cho việc xác định tính chất của sự giao tiếp không dễ dàng (analogique)

Kết hợp cả hai kiểu làm cho sự giao tiếp tế nhị hơn, phức tạp hơn nhưng cũng dễ gây hiểu nhầm.

II.5. Giao tiếp có thể đối xứng hoặc bổ sung cho nhau (symétric–complémentaire)

Trong lối đối xứng, mỗi bên đáp ứng với một lối ứng xử giống của bên kia, và cường độ cũng ngang với bên kia. Như một người nói to bên kia cũng nói to và cứ thế hai bên cứ leo thang. Trong lối bổ sung thì ứng xử của bên kia đáp ứng ý muốn của bên khởi xướng, và quan hệ giữa hai bên là mối quan hệ bên trên kẻ dưới. Như trong quan hệ vợ chồng thời xưa, quan hệ bố mẹ con cái. Mối quan hệ này có thể đảo ngược trái với phong tục tập quán.

Trong một gia đình, cũng như trong một tập thể, không thể chỉ có một kiểu giao tiếp đối xứng hay bổ sung. Những thành viên phải biết vận dụng các kiểu giao tiếp tùy hoàn cảnh, tùy cách phản ứng của người đối thoại; tính linh động trong giao tiếp tạo ra một không khí thanh thoát, cho phép chấp nhận một số lầm lỗi nhất định. Mỗi hành vi giao tiếp cũng là một cách biểu hiện bản tính của một người, phóng ra một hình ảnh nhất định về con người, khởi xướng. Đáp ứng lại như thế nào trong giao tiếp là chấp nhận hay phủ nhận hình ảnh ấy, tức là đánh giá con người, thường là một cách vô thức. Những kiểu cách giao tiếp phủ nhận và đánh giá thấp những người đối thoại nếu ta thường xuyên tạo ra không khí lành mạnh.

II.6. Một điểm quan trọng được các trường phái nêu lên là cách giao tiếp “Nghịch lý” (paradoxe).

Người khởi xướng nêu lên một điều, đồng thời lại đề ra một điều ngược lại; về lôgic không có gì sai, nhưng kết luận lại đi ngược với đề xuất, hoặc kết luận phải cũng được, trái cũng được, làm cho đôi bên đối thoại không biết đáp ứng bằng cách nào. Làm thế nào rồi cũng trái ý bên kia.

Trong hoàn cảnh người đối thoại buộc phải đáp ứng như đứa con trước bố mẹ thì thật là khó xử. Ví dụ con xin bố đi chơi, bố càu nhàu bảo mày đi đâu thì đi, rồi thêm một câu: tao là ghét cái kiểu la cà đường phố lắm. Đứa con bỏ đi chơi, thì cảm thấy có tội lỗi, ở nhà thì cảm thấy khốn khổ. Mà không có cách gì để nói với bố là điều bố vừa đưa ra có tính “nghịch lý”. Đó là hoàn cảnh mà các học giả gọi là buộc “hai tròng” (double contrainte – double bind). Chú ý: khác với chữ double blind – aveuge trong vấn đề placébo.

Người ta thường thấy những bệnh nhân phân liệt hay thuộc về những gia đình trong đó thường có kiểu giao tiếp nghịch lý như vậy. Không phải bảo rằng giao tiếp nghịch lý gây ra phân liệt, chỉ nói là những người thường xuyên ở trong hoàn cảnh ấy có những ứng xử kiểu phân liệt. Đây không phải cho phép người đối thoại lựa chọn giữa hai hiệu lệnh trái ngược nhau, làm thế nào rồi cũng là trái lệnh, chỉ có lối thoát là nói lại cho người kia hiểu. Nhưng trong hoàn cảnh này như người con đối với bố mẹ, người lính đối với người chỉ huy lại không có quyền nói lại. Giao tiếp kiểu nghịch lý, trong một cộng đồng cùng sống với nhau hàng ngày dần dần mang tính bệnh lý. Giao tiếp không làm sáng tỏ ý muốn của mỗi thành viên, buộc những thành viên khác mò mẫm để đáp ứng, rồi để gây hiểu lầm nhau. Người buộc phải đáp ứng hiệu lệnh lúng túng, nói lên những điều vô nghĩa, nói lạc đề, không nói hết ý của mình, làm như không hiểu những lời ẩn dụ, hoặc hiểu những lời ẩn dụ theo nghĩa đen. Tóm lại ứng xử giống như những người bị bệnh phân liệt.

Trong tâm lý liệu pháp thường vấp phải lỗi lầm kiểu nghịch lý, như bảo một người bị chứng trầm nhược uể oải, chán chường, nhất cử, nhất động đều thấy nặng nhọc: bạn cứ cố gắng lên rồi dùng mọi lí lẽ để “động viên”. Người kia không thực hiện được hiệu lệnh, người thầy và gia đình lại càng khuyên bảo, khuyên bảo bao nhiêu càng gây mặc cảm tội lỗi cho người kia, làm cho càng uể oải, càng chán chường. Cách chữa như vậy chỉ làm bệnh nặng thêm; bệnh không lùi người thầy cứ cố chấp buộc người kia làm theo hiệu lệnh của mình, thất bại hoặc là kết luận hoặc là vì bệnh quá nặng, hoặc vì bệnh nhân lười biếng, chứ không tự hỏi cách chữa của mình có phù hợp với hoàn cảnh và cá tính của người kia hay không.

III. NHỮNG KHÁI NIỆM LIỆU PHÁP CHỦ YẾU

Các trường phái trị liệu gia đình đều nhằm một mục tiêu chung là biến đổi những kiểu giao tiếp nghịch lý thành những giao tiếp lành mạnh.

III.1. Trước hết tạo ra cái “khung” mới:  một tình huống trước đó được xem là nan giải, nay nhận ra là có khả năng biến đổi, tháo gỡ những gì mắc kẹt, mở ra triển vọng mới. Ở đây người thầy vận dụng kiểu nói “ví”, nói ẩn dụ hơn là nói rõ ý.

III.2. Tác dụng lên bối cảnh, tìm cách thay đổi các mối quan hệ của đối chủ trong những tình huống nhất định; ví như có một người láng giềng có ý quấy phá bằng cách gây tiếng ồn ào, thì sang bảo: anh có thể làm ồn hơn không, tôi rất thích thú nghe những loại tiếng ồn như vậy. Đối với người kia tình huống đã thay đổi, vì nghĩa là quấy phá người láng giềng hóa ra kết quả ngược lại. Dĩ nhiên lúc người bị quấy phá phản ứng như trên còn có sự ăn khớp giữa ý và tứtức là giữa lời nói và cử chỉ tự động của mình. Nói như vậy mà nét mặt hầm hầm thì chỉ kích động làm cho người kia quấy phá hơn.

Trình bày những khái niệm như trên dễ gây cảm tưởng là biến liệu pháp thành những thủ thuật khá đơn giản để áp dụng. Thực ra lúc người thầy dính líu vào việc trị liệu một gia đình, bản thân trở thành một thành viên tác động trực tiếp đến hệ thống ấy, và chịu ảnh hưởng trực tiếp của toàn bộ hệ thống. Người thầy luôn luôn cố gắng nhận thức ra những tác động qua lại này để xác định chiến lược. Mỗi người thầy thường vận dụng một cách thức riêng.

MINNUCHIN chủ yếu dựa vào cảm nghĩ của mỗi cá nhân, một mặt hòa nhập với gia đình, mặt khác tự xem mình là một cá nhân riêng biệt. Mỗi con người là một thành viên của nhiều hệ thống khác nhau, mỗi lần chuyển từ tình huống thành viên của cộng đồng này hay cộng đồng khác nhưng vẫn luôn giữ bản sắc cá biệt. Muốn được như vậy cần có những hình mẫu ứng xử chuyển tiếp và những ranh giới rõ ràng.

Hình mẫu chuyển tiếp tập hợp một số ứng xử thường lặp đi lặp lại để điều chỉnh hành vi của các thành viên và thành một kiểu giải mã nhiều khi ở trong tiềm thức và được tôn trọng hầu như một cách tự phát. Chỉ một kiểu nói “ra mời bố ăn cơm” là đã xác định tương quan giữa bố, mẹ và con. Trong mỗi gia đình thường phân công mỗi người mỗi việc, hình thành những kiểu ứng xử dần dần biến thành những nghi thức ít thay đổi.

Ranh giới được hình thành do những quy ước làm cho thành viên biết được mình thuộc về một hệ thống nào và cách tham gia sinh hoạt. Ranh giới giúp cho mỗi hệ thống tồn tại khác biệt với những hệ thống khác. Bình thường ranh giới rõ ràng, nhưng có khi nhập nhằng khó phân biệt (như trong hoàn cảnh mẹ và con còn bú), hoặc quá cứng nhắc tách biệt hẳn một hay một số thành viên (như trong hoàn cảnh bố tách biệt với cặp mẹ con).

Khi ranh giới rõ ràng, quan hệ chằng chịt, mỗi kích động đụng đến một thành viên làm rung chuyển toàn bộ gia đình. Ngược lại, khi tách biệt quá mức, mỗi thành viên được tự do hơn nhưng yêu cầu điều gì lại khó truyền đạt cho người khác. Tóm lại, kiểu ứng xử càng cứng nhắc, ranh giới càng lu mờ thì gia đình dễ thành một hệ thống khép kín, đối phó với mọi biến cố khó khăn hơn.

Khi tình trạng đã đến mức vậy, người thầy cần tìm cách phá vỡ kiểu cân bằng bệnh lý ấy (bất thường); làm như vậy khó mà tránh đụng chạm, nhưng cần làm sao trong cuộc biến đổi căng thẳng này bản sắc mỗi người được tôn trọng.

HALEY – Khái niệm chính mà ông nêu lên là bộ ba, cứ ba người thành một đơn vị trong đó các mối quan hệ dễ quan sát hơn là nhìn vào tổng thể. Có thể hình thành những bộ ba (cũng gọi là tam giác) không lành mạnh. Trong một gia đình gồm hai bố mẹ, hai con, bốn ông bà nội ngoại, tất cả là 8 người, có thể hình thành 56 bộ ba và mỗi cá nhân có thể là thành viên của 21 tam giác.

Có những bộ ba gồm những người thuộc các thế hệ khác nhau; có những cặp kết đôi để chống lại một người thứ ba. Bình thường việc thuộc về một bộ ba nào đó hoặc một số bộ ba nào đó không gây căng thẳng; nhưng nếu một cá nhân ở một vị trí thường xảy ra xung đột giữa các tam giác với nhau thì khó mà đáp ứng những đòi hỏi mâu thuẫn của người này người khác, cho nên dễ xuất hiện những hành vi bất thường. Sự hình thành những bộ ba lệch lạc là hậu quả của những hẫng hụt ấm ức kéo dài. Dính líu vào một gia đình, người thầy tất nhiên cũng dính vào một số tam giác, và cần nhận thức rõ cơ cấu ấy với những tác động qua lại giữa các bộ ba với nhau.

BOWEN – Ông đề xuất khái niệm phân hóa bản thân, nói rõ hơn là phân hóa cái “kỷ” (kỷ đối với tha), ông cho rằng hệ thống cảm xúc gắn liền với sinh lý mang tính bản năng chi phối hành vi của con người một cách tự phát; hệ thống trí năng gắn liền với hoạt động của vỏ não phần náo có thể xác định hay phủ định cảm xúc, nhưng thông thường trong mọi quan hệ cảm xúc vẫn chiếm ưu thế. Tỉ trọng giữa vai trò của cảm xúc và trí năng tức là bên tình bên lý là chỉ báo chủ yếu để phân loại tình hình, để phân loại các cá nhân.

Ở đầu bậc thang là những người không tách được suy nghĩ và cảm xúc, hành động chủ yếu theo cảm xúc, cái kỷ không vững vàng lệ thuộc vào những phản ứng của người khác. Cuối đầu kia trong bậc thang là những người ít ít chịu tác động của tình cảm người khác, dễ vượt qua những thách thức, vì kiềm chế được cảm xúc của mình. Đó là những cá nhân đã thành công trong sự phân hóa.

Theo BOWEN, trong một hệ thống khi một cặp đôi nào đó bất ổn định, mối lo hãi tăng lên thì cặp đôi ấy liền lôi kéo người thứ ba vào thành bộ ba. Như trong hoàn cảnh bố mẹ bất hòa thì kéo một đứa con nào tạo ra những kiểu liên minh hay cấu kết nhằm giải quyết mâu thuẫn. Đến lúc không còn khả năng hình thành những tam giác nội bộ, gia đình nhờ đến người ngoài: thầy thuốc, giúp đỡ xã hội, công an…

Người thầy làm tư vấn gia đình hòa nhập vào những bộ ba, nhưng cần có một cái “kỷ” được phân hóa rõ nét để tránh điều bản thân không kiềm chế được cảm xúc của mình.

Có những gia đình gồm toàn thể những cái “kỷ” chưa được phân hóa rõ ràng, trong mọi quan hệ chỉ thông qua cảm xúc, các cá nhân hòa nhập với nhau thành một cái tôi tập thể và ranh giới rõ ràng giữa toàn bộ gia đình và bên ngoài. Những kiểu quan hệ này có truyền thống từ thế hệ này sang thế hệ khác, cho nên sự phân hóa càng ngày càng yếu cho đến lúc nào đó xảy ra những bệnh chứng rõ ràng. Bệnh chứng xảy ra sau những biến cố như cách ly, tang tóc.

Hai vợ chồng đều có cái “kỷ” vững vàng thì dễ thích nghi với nhau, nếu không một bên sẽ giữ một vị trí “cấp trên”, một bên ở vị trí “lệ thuộc”. Xung đột thường xảy ra, dễ dẫn đến bệnh chứng, kể cả bệnh thực ở bố hay mẹ, hoặc xuất hiện những hiện tượng bệnh lý ở con cái. Mối xung đột càng dấu kín, không chịu nhận thức rõ ràng, thì sự bất hòa giữa bố mẹ càng đè nặng lên con cái.

VIRGINA SATIR – nêu lên khái niệm “thành thục” (maturation) làm chìa khóa trị liệu gia đình và định nghĩa: Thành thục là lúc một con người hoàn toàn bị nắm lấy cuộc sống của mình. Thực ra, chữ trưởng thành sát nghĩa hơn là thành thục. Một con người trưởng thành có khả năng:

-biểu hiện cảm xúc, ý nghĩ của mình một cách rõ ràng đối với người khác.

- bản thân sống hài hòa, trong nội tâm không mâu thuẫn xung đột.

- nhận rõ và chấp nhận sự khác biệt, không đòi hỏi người khác phải giống mình.

- chịu trách nhiệm về những ý nghĩ và tình cảm của mình.

- Nắm vững những kỹ năng giao tiếp và kiểm tra được những tín hiệu mình phát ra có được tiếp nhận hay không.

Trái lại một con người chưa trưởng thành phát ra những tín hiệu mâu thuẫn với nhau.

Quan hệ lứa đôi là cái trục chính và các mối quan hệ khác đều xoay quanh cái trục này. Chưa trưởng thành, chưa chín chắn, biểu hiện ngày từ lúc lựa chọn bạn đời. Một người thiếu tự tin làm ra vẻ nhiều nghị lực, nhưng thực chất lại chờ đợi người ta để làm chỗ dựa. Người kia cũng thiếu tự tin, nhưng cũng dấu kín nhược điểm của mình, cũng đi tìm chỗ dựa. Cả hai bên đều bị vẻ bề ngoài của bên kia đánh lừa, cho nên khi về chung sống với nhau thì vỡ mộng. Gia đình khó mà giữ cân bằng, sự điều chỉnh hằng ngày đòi hỏi nhiều công sức. Bố mẹ không còn khả năng thực hiện nhiệm vụ nuôi con cái.

Một đứa con nào đó trở thành vật hy sinh, thành “con bệnh được nêu danh. Bà SATIR viết: “Bệnh chứng của đứa trẻ biểu hiện việc quá trình trưởng thành của nó bị trở ngại, vì nó phải thu hút và làm giảm nhẹ nỗi khỗ của bố mẹ” (patien désigné, indentified patient). Bà cho rằng tự tin, tự trọng là động cơ quan trọng nhất của con người. Theo bà mặc cảm oedipe chỉ xuất hiện khi bố mẹ thiếu chín chắn, ít hay nhiều kích thích những xung năng tính dục của con cái. Bố mẹ chín chắn, trưởng thành dễ dàng chấp nhận mối quan hệ đặc biệt giữa đứa con và người bên kia, không ganh tị…và làm cho đứa con nhận rõ vị trí của nó, nó được yêu thương với tính chất là một đứa con, chứ không dính líu gì trong mối quan hệ giữa bố mẹ với nhau.

FERREIRA nêu lên khái niệm những “huyền thoại gia đình” (mythe familial), tức một số những điều thường mang tính hệ thống, mọi thành viên trong gia đình đều tin như vậy về các mối quan hệ với nhau; người ngoài thấy thật phi lý là cả gia đình kia đều tin như vậy. Ví như có gia đình cứ nghĩ rằng “câu chuyện nhà cửa bố mà cừ sờ vào là hỏng hết”, “chị cả thật là người mẹ thứ hai”, thành thử mỗi người hình như đã được bố trí những vai trò nhất định, cứ thế mà ăn ở theo những nghi thức đã được quy định. Làm vậy, cuộc sống hàng ngày ít vấp váp, những do thành nếp, nên sẽ gặp bất ngờ khó mà thay đổi, và đã xuất hiện những hiện tượng bất thường. Quá mức thì làm cho gia đình mất liên hệ với bên ngoài trở thành bệnh lý. Rất khó chăm chữa những gia đình kiểu này, họ thường đi tìm thầy chính là để duy trì huyền thoại của họ chứ không phải để thay đổi.

SELVINI PALAZZOLI – Bà là chủ nhiệm trung tâm nghiên cứu gia đình ở Milano (Italia) tác giả cuốn sách nổi tiếng “ nghịch lý và phản nghịch lý” trong đó nói lên khái niệm HYBRIS: tự kiêu tự mãn quá mức, đòi hỏi kiểm soát mọi yếu tố trong giao tiếp, gây nên hành vi đối xứng, hành vi này lại tăng cường tính ngạo mạn. Một thành viên khác nào trong gia đình có ý làm sáng tỏ mối quan hệ này bị đẩy ra ngoài trở thành con bệnh được nêu tên. Trong tình huống này người thầy tự đặt mình vào tình thế “bề trên” tỏ ý tán thành mọi hành vi của các thành viên trong gia đình, kể cả của con bệnh. Như vậy, không đổ tội vào ai, chỉ để ý đến những yếu tố duy trì cân bằng trong gia đình, không nhắc đến những khía cạnh tiêu cực làm cho cả nhà cảm nghĩ là cùng nhau theo đuổi một mục tiêu. Người thầy đứng ở tư thế “bề trên”, khuyến khích, trung lập không oán trách ai, có khả năng chỉ định thực hiện một số nghi thức và biện pháp nghịch lý, tức chỉ định tăng cường những hành vi được xem là bệnh lý.

BOSZOMENYI – NAGY Nhấn mạnh mối quan hệ dòng họ từ thế hệ này sang thế hệ khác, tạo ra mối gắn bó hữu thức hay vô thức giữa các thành viên. Trong mỗi dòng họ như vậy, như có một quyển sổ xuyên thế hệ ghi lại “công và nợ”, mỗi người được hưởng những công đức của cả dòng họ để lại và có nghĩa vụ đóng góp để trả nợ, tỏ ra “trung thành” đáp ứng lòng mong đợi của cả dòng họ.

Như vậy gia đình hạt nhân không quan trọng bằng dòng họ, quan hệ huyết thống có sức nặng hơn quan hệ tình duyên và các lứa đôi dễ xung đột khi muốn giữ trung thành với một bên, nhất là vào những bước ngoặt trong cuộc sống (kết hôn, đẻ con, chịu tang…), làm sáng tỏ tình nghĩa dòng họ giúp cho mọi người có thái độ tích cực.

AULLOOS nhấn mạnh “những bí mật của gia đình”, tức một thông tin nào đó cần giữ kín, không được hở ra bất kỳ dưới hình thức nào. Như dấu một đứa bé không cho nó biết nó là con nuôi, hoặc chỉ một hai người biết rõ ông cụ là một tay gian hùng. Rồi không quan tâm đến giao tiếp với nhau, chỉ chăm lo bảo vệ bí mật, một vấn đề trở nên một yếu tố cấm kị, tạo nên những mối quan hệ giao tiếp không bình thường. Một số huyền thoại gia đình chính bắt nguồn từ ý muốn bảo vệ một bí mật. Có những đứa con sinh ra được bố mẹ đối xử như là để thay thế một người nào đó đã mất, nhiều khi đặt cho nó tên của người ấy; đứa con buộc phải sống như người kia, không có quyền sống theo bản sắc của mình, cho nên dễ bị loạn tâm.

IV. CÁC TRƯỜNG PHÁI

Cũng như mọi tâm pháp có những xu hướng khác nhau: phân tâm học, học thuyết ứng xử, học thuyết hệ thống.

Cuộc tranh luận xoay quanh vấn đề “cái hộp đen”, nôm na “nội tâm” như thế nào. Hai trường phái ứng xử, và hệ thống đều không không quan tâm đến cái hộp đen, chỉ chú trọng đến những tác động qua lại giữa các hộp đen với nhau hoặc những hành vi ứng xử bên ngoài. Thực ra trường phái nào rồi cũng quan tâm đến cả hiện tượng bên ngoài và suy đoán về những cơ cấu và cơ chế của nội tâm. Vấn đề lý luận quan trọng là có hay không một tâm tư vô thức của tổng thể gia đình bao trùm cái vô thức của từng thành viên. Có hay không một cơ cấu tâm lý chung của tổng thể gia đình, với những cơ chế phòng vệ rõ ràng hay hàm ý. Cơ cấu và cơ chế ấy có bảo đảm giữ được cân bằng khi đụng chạm với thực tế hoặc khi bị những xung năng thôi thúc?

Vấn đề trong thực tiễn không phải là chấp nhận tuyệt đối một học thuyết nào để lý giải các hiện tượng bệnh lý, mà mỗi người thầy phải xác định một chiến lược nhất định trong một hoàn cảnh nhất định cho một gia đình nhất định, và chỉ một chiến lược mà thôi.

V. VẬN DỤNG LIỆU PHÁP GIA ĐÌNH

Học thuyết trị liệu gia đình mang tính hệ thống xuất phát từ bệnh phân liệt: muốn chữa một bệnh nhân phân liệt phải chữa toàn bộ gia đình, bệnh nhân chỉ là “con bệnh được nêu tên”. Gia đình có người phân liệt tạo ra một môi trường trong đó các thành viên không thể xác định được những mối quan hệ với kẻ khác: giữa bố mẹ với nhau, giữa các thế hệ. Ranh giới giữa các nhóm trong nội bộ thì không rõ mà với bên ngoài thì lại quá cách biệt, làm cho mỗi lần cuộc sống chuyển đoạn qua những bước ngoặt, hoặc xã hội bên ngoài trải qua những biến động lớn gia đình khó mà thích nghi. Có thể nói với những gia đình như vậy thì thế giới thực tế và thế giới huyễn tưởng dễ lẫn lộn với nhau.

Trong thực tế khó mà trị liệu toàn bộ gia đình cùng một lúc, thường phải tiến hành chăm chữa cá nhân nhưng phải thấy rõ mỗi sự can thiệp đều tác động đến cơ chế tự điều chỉnh của gia đình cà cá thể gây ra những phản ứng bất lợi. Quan điểm hệ thống giúp cho nhận thức rõ ràng của mỗi yếu tố (gia đình, bệnh viện, bản lĩnh thầy thuốc, tác động của nhưng cơ quan và đoàn thể). Cho đến nay một số tác giả cho rằng trị liệu đối với bệnh phân liệt, có thể kết hợp với tân dược, đem lại kết quả khả quan. Nhưng chưa thể khẳng định được dứt khoát vì việc đánh giá kết quả một cách khoa học còn vấp nhiều khó khăn.

Trị liệu gia đình cũng được vận dụng trong chứng “bỏ ăn tâm căn” (agnorexie mentale). Thông thường người ta cách ly gia đình vì cho rằng môi trường gia đình là căn nguyên gây ra bệnh, hay chống đối việc chăm chữa. Điều khó là xác định đặc điểm tâm lý của cá nhân và của cả gia đình. Có người cho rằng lo sợ cái chết là một yếu tố quan trọng trong các gia đình có những đứa bỏ ăn. Từ bỏ ăn uống có thể dẫn đến kết quả là một chứng bệnh kỳ lạ đi ngược hẳn bản năng tồn tại của loài người. Biện pháp trị liệu kiểu nghịch lý tức chỉ định cứ làm theo triệu chứng có thể đem lại kết quả tốt.

Trong chứng nghiện rượu người ta thường thấy bề ngoài thì gia đình mong muốn cá nhân bỏ rượu, nhưng thực chất con bệnh lại đóng vai trò cân bằng cho gia đình, giúp cho gia đình đối phó với những tác động mạnh hơn, đây là một cách nhìn có thể nói ngược đời, ít nhất cũng giúp cho lý giải vì sao nhiều bệnh viện và nhiều phương pháp đã thất bại. Không phải trong trường hợp nào cũng có thể vận dụng và nên vận dụng, nhưng ít nhất nhìn rộng ra một cách hệ thống cũng giúp cho tránh những biện pháp thô sơ nhiều khi chỉ làm cho tình hình xấu đi.

Trong những trường hợp ma túy, quan điểm hệ thống giúp cho tránh thái độ lên án hoặc bố mẹ, hoặc cá nhân con cái, một thái như vậy chỉ tăng cường mặc cảm tội lỗi. Theo quan điểm xuyên thế hệ nói trên, đứa con nghiện ma túy như là hy sinh để cho bố mẹ trả một cái nợ nào đó đối với ông bà.

Các thanh niên nghiện ma túy đều có tâm trạng đối nghịch với di sản văn hóa xã hội của ông cha; thuyết xuyên thế hệ phải chăng lý giải được phần nào đặc trưng này!

Về chứng suy loạn (démence) của tuổi già, nhiều tác giả cho rằng ảnh hưởng của gia đình rất lớn: cả nhà đâm ra lo hãi khi một thành viên sắp “ra đi”, mà trông lên trước mắt mọi người hình ảnh cái chết. Đặc biệt khi người gia trưởng suy yếu, không còn giữ được vai trò chỉ đạo nữa, thì suy loạn tâm lý là một cách chuyển giao huyền bí, giúp cho vừa loại trừ vừa gìn giữ một con người và những kẻ khác. Cần thấy rõ mặc dù chứng suy loạn liên quan với những thương tổn thể chất, vẫn không quên tác động của những yếu tố tâm lý từ những thành viên khác trong gia đình.

Trị liệu gia đình dần dần vận dụng trong nhiều chứng bệnh khác nhau, tùy những kích động tâm lý trong nội bộ gia đình có thể gây ra những biến động tâm lý đặc biệt đối với trẻ con. Một số đặc trưng dễ gây bệnh đã được nêu lên:

Người mẹ “bao cấp” thường đi đôi với ông bố lép vế.

- Tình cảm bố mẹ với con cái lấn át tình vợ chồng.

- Ganh tị giữa anh chị em quá căng thẳng.

- Bề ngoài thì con “bệnh” là một vật hy sinh, thực ra cũng đoán vai trò tích cực gây chuyện.

Tổng thể gia đình sống khép kín, các mối quan hệ nội bộ cứng nhắc, lẩn tránh những mối xung đột nhưng đồng thời vì các biến cố phải tiếp xúc với bên ngoài như bệnh viện, trường học. Trong nhiều bệnh thực thể mãn tính, như đau khớp, hen suyễn, ngoài thuốc men, trị liệu gia đình cũng có sự hỗ trợ. Trong bệnh động kinh, vì không hiểu được căn nguyên, trong nội bộ gia đình dễ có mặc cảm tội lỗi, oán trách nhau giữa hai dòng họ. Khi một đứa con bị bệnh rất nặng như bệnh huyết trắng chẳng hạn, cần giúp đỡ gia đình vượt qua lo âu. Với những gia đình gặp khó khăn kinh tế xã hội quá mức, quan điểm trị liệu gia đình giúp cho nhận xét và hỗ trợ không quá đơn sơ.

Có nhiều tình huống lặp đi lặp lại như trường hợp những đứa trẻ em bị hành hạ hay dị tính (psychopath), thông thường người ta thấy tính xuyên thế hệ, bố mẹ lặp lại kiểu ứng xử của ông bà, hoặc khin người bố bị lép vế, chính người mẹ kích động con một cách vô thức, cuối cùng con phải đi tù. Đáng lẽ người bố có vai trò tách biệt đứa con không để nó bám chặt lấy mẹ, thì sự bất lực của bố thôi thúc kích động con. Tất cả đều là vô thức biểu hiện một nỗi khổ tâm mà những người trong cuộc tìm tháo gỡ một cách không hợp lý.

Cần phân biệt cách tiếp cận hệ thống, đánh giá và nhận xét toàn bộ các yếu tố là một cách nhất thiết phải làm trong mọi trường hợp, còn lao vào trị liệu thì trước hết phải cân nhắc có khả năng làm được hay không. Cũng có khi chính việc khám hỏi một cách toàn diện trở thành phương pháp trị liệu. Dù sao cũng phải đánh giá thật rõ những yếu tố nào tích cực hay tiêu cực trước khi tiến hành trị liệu.

Không quên nguyên tắc “trước hết không tác hại” (tức biến lợn thành lợn què): ví như trong một gia đình có một thành viên bị paranoia nặng, rất cẩn thận trong hoặc gặp một thành viên trầm muộn nặng cần biết sử dụng tân dược. 2

Người thấy làm tâm pháp cũng dễ bị những huyễn hoặc tưởng của bản thân về năng lực của mình chi phối, có khi khuấy “âm binh” lên rồi không đủ sức trị chúng, hoặc nói một cách hiện đại hơn cái “hộp đen” bao giờ cũng là một cạm bẫy, mở ra hãy dè chừng.

Trị liệu gia đình khác với trị liệu cá nhân về điểm ở đây nhiều khi không phải con bệnh đến yêu cầu được chăm chữa, hoặc chính người yêu cầu đến chăm chữa lại không phải người có bệnh nặng nhất. Các triệu chứng phân phối không đều, ở mỗi người một thứ. Khi tập trung vào một con người: triệu chứng nỗi khổ tâm, yêu cầu được chăm chữa thì chưa vội tính đến trị liệu gia đình.

VI. MỘT SỐ BIỆN PHÁP

Phân biệt:

Trị liệu ngắn hạn giúp gia đình vượt qua một biến cố cấp tính.

- Trị liệu dài hàn giúp một gia đình phá vỡ một phương thức tự điểu chỉnh bất lợi.

Nhiều khi, gây một cơn khủng hoảng nhất thời. Đây là trường hợp những gia đình có những rối ren kéo dài, hoặc xoay quanh một cá nhân, hoặc nội bộ cứ lặp đi lặp lại một số rối loạn làm cho cả gia đình gặp khó khăn trong cuộc sống xã hội. Trong hoàn cảnh như vậy nếu một thành viên nào đó nhất định không chịu tham gia trị liệu thì khó thành công, phải bằng một cách nào đó liên hệ với người ấy thông tin cho biết cách làm và kết quả.

Buổi tiếp xúc ban đầu rất quan trọng để tập hợp các thông tin, thấy rõ yêu cầu và phát hiện những cách che đậy. Cố gắng đưa ra một bản giao ước, viết thành văn bản càng tốt giữa người thầy với gia đình. Việc tham dự trực tiếp “dấn thân” vào cuộc sống tình cảm của một gia đình khác bao giờ cũng là một thứ thách.Người thầy cần biết:

- làm sao cho mỗi người quên đi sự có mặt của một người lạ để cho những kiểu hành vi hàng ngày diễn ra tự nhiên.

- bố trí không gian, sắp xếp cho từng người này người nọ ngồi đứng xa gần nhau, qua lại, quan sát thái độ trong lúc di động.

một thành viên có thể được cử ra để bố trí các thành viên khác: người đứng ngồi chung với người khác với tư thế và điệu bộ nhất định; hoặc người đạo diễn này nghĩ rằng những tư thế và bộ điệu của người kia, hoặc mong ước những người kia có những tư thế và điệu bộ như vậy. Toàn bộ gia đình được bố trí như các nhân vật trên một tượng đài, cho nên thủ pháp này được gọi là “điêu khắc”.

- gây stress bằng cách tạo ra những tình huống bất thường, phân tích và làm sáng tỏ những cách thức mà các thành viên vận dụng để đối phó.

vận dụng triệu chứng: người thầy chỉ định gia đình thể hiện triệu chứng, ngược với yêu cầu của gia đình là loại trừ triệu chứng. Như vậy tạo ra tình huống “hai tròng” : nếu người kia không tuân lệnh, tức là không còn lẽ được nữa là sự việc đã nảy ra ngoài ý muốn của tôi, hoặc nếu không tuân lệnh, tức là đã loại trừ triệu chứng.

- giao cho mỗi thành viên một nhiệm vụ nhất định hoặc trong buổi trị liệu hoặc trong cuộc sống hàng ngày.

- tạo ra một số nghi thức phi ngôn ngữ trong cuộc sống gia đình làm biến chuyển những cuộc sống quen thuộc.

- vẽ ra sơ đồ cấu trúc đại gia đình ba thế hệ, vạch lại lịch sử, vẽ ra cơ cấu nội bộ, phát hiện ra những liên kết hay cấu kết, những hành vi lặp đi lặp lại xuyên thế hệ, những huyền thoại. Các thành viên cùng nhau vẽ ra sơ đồ này, nói lên được nhiều mối quan hệ nội bộ có thể tạo nên một không khí đồng cảm.

- vận dụng ẩn dụ, nói ví, tránh đụng chạm trực tiếp và có thể có tiếng hóm hỉnh, làm cho quan hệ bớt căng thẳng. Ví như bảo người chồng ví vợ như một con vật nào đó, nửa đùa nửa thật, và người thầy có thể bình luận thêm.

Giả vờ chấp nhận bệnh hoạn. Ví như lúc một bé con đến tuổi thanh niên thường có những ứng xử gia đình cho là bất thường, gia đình không chịu nhận ra là tình huống đã thay đổi hai bên khó tránh xung đột và đứa con trở thành con bệnh. Người thầy bảo cả hai bên cả đứa con và bố mẹ đều giả vờ nghĩ rằng đây là bệnh hoạn. Dĩ nhiên cả hai bên đều không chấp nhận và đều nhận thức được là cần thay đổi thái độ ứng xử.

- nêu gương – làm mẫu. Người thấy thực hiện một số ứng xử để các thành viên trong gia đình noi theo (modeling).

- trị liệu nhiều gia đình cùng một lúc.

- trị liệu hợp tác, tức kết hợp hai ba người thầy, cùng tìm cách tác động lên gia đình. Tốt nhất là hai vợ chồng phía người thầy cùng tham gia trị liệu (co-therapy).

- cũng như trong mọi phương pháp khác, biết phân tích từng trường hợp và đề xuất từng chiến lược phù hợp, tùy cơ ứng biến, tuyệt đối tránh tham vọng bá chủ, giáo điều.

NGUYỄN KHẮC VIỆN lược dịch

1 - Đối với feed forwand là ngược lại tức phản khứ.

2 - Tiếng latinh là primum non nocere một nguyên tắc cơ bản của y học.

LIỆU PHÁP GIA ĐÌNH ĐỐI VỚI NGƯỜI NGHIỆN MA TÚY

LIỆU PHÁP GIA ĐÌNH ĐỐI VỚI NGƯỜI NGHIỆN MA TÚY

BS. Nguyễn Minh Tuấn

Viện Sức khỏe Tâm thần quốc gia

Đơn vị Nghiên cứu Điều trị Nghiện Ma túy

Liệu pháp gia đình cũng như các liệu pháp nhận thức - tập tính, liệu pháp tâm lý nhóm là những lĩnh vực chuyên sâu cần được đào tạo lâu dài về lý thuyết và thực hành mới có thể đem lại kết quả tối đa. Trong hoàn cảnh nước ta, thầy thước chuyên sâu về liệu pháp tâm lý đang còn ít nên ở đây chỉ đề cập đến các nguyên tắc điều trị chuyên sâu và giới thiệu qua các liệu pháp thông thường và giản đơn cho các thầy thuốc không chuyên sâu. Trong liệu pháp gia đình cũng có nhiều cách tiếp cận khác nhau. Đối với nghiện ma túy, có 2 cách tiếp cận được quan tâm nhiều nhất:

- Tiếp cận theo mô hình gia đình hệ thống

_ Tiếp cận theo mô hình gia đình bị bệnh

1. Cách tiếp cận theeo mô hình gia đình hệ thống

- Gia đình xem như một hệ thống, mỗi thành viên trong gia đình tác động qua lại với nhau rất chặt chẽ theo quy luật của một hệ thống.

- Gia đình là một nhân tố thúc đầy quá trình nghiện ma túy. Nghiện ma túy thường xuất hiện vào những thời điểm gia đình có vấn đề gây tress (ly dị, ly thân, xung đột, kiện cáo, tai nạn v.v).

- Đối tượng nghiện ma túy tác động trở lại các thành viên trong gia đình, gây các rối loạn về chức năng, ranh giới, trật tự v.v... đặc việt làm mất cân bằng trong sự hằng định nội môi của gia đình.

- Như vậy liệu pháp gia đình nhằm điều trị gia đình như một hệ thống chứ không riêng thành viên nghiện ma túy, phải cùng các thành viên tìm các nhân tố chủ yếu gây mất cân bằng nội môi và tìm các biện pháp lập lại sự cân bằng này.

2. Cách tiếp cận theo mô hình gia đình bị bệnh

- Cách tiếp cận này xem nghiện ma túy là một bệnh và tác động qua lại lâu ngày giữa các thành viên nghiện và các thành viên khác sẽ gây ra nhiều biến đổi về tập tính, về thái độ ứng xử, về nhận thức v.v... mang tính chất bệnh lý (bệnh lý tâm thần là chủ yếu) cho những thành viên khác trong gia đình.

- Các hiện tượng có tính bệnh lý thường gặp:

+ Hiện tượng từ chối: Các thành biên trong gia đình không thừa nhận tính chất tai hại của nghiện ma túy (vợ bảo vệ cho chồng, mẹ bảo vệ cho con).

+ Hiện tượng dung túng: Các thành viên tạo điều kiện thuận lợi cho thành viên nghiện tiếp tục sử dungh heroin (cho tiền, tránh kiểm tra những việc làm ngoài gia đình của đối tượng, xin cho đối tượng khỏi đến các trung tâm điều trị bắt buộc v.v). Dung túng và từ chối có liên quan chặt chẽ với nhau.

+ Hiện tượng cùng lệ thuộc: Thường là vợ hay mẹ của đối tượng có hiện tượng này. Thành viên gai đình có hiện tượng cùng lệ thuộc chăm lo quá mức cho đối tượng nghiện, tổ chức cuộc sống của mình xoay quanh đối tượng, lơ là đối với thành viên khác và cả đối với bản thân.

Tất cả những hiện tượng nói trên là những trở ngại lớn cho quyết tâm từ bỏ heroin của thành viên nghiện.

3. Các nguyên tắc điều trị chuyên sâu

Liệu pháp gia đình là một loại liệu pháp tâm lý rất khó thực hiện vì phải tiếp xúc riêng với từng thành viên và họp chung với toàn gia đình, phải biết cách làm cho tất cả đều tự nguyện hợp tác, không bỏ cuộc.

Do vậy, nhà điều trị tâm lý:

- Phải biết thu thập thông tin chi tiết từ bệnh nhân và các thành viên gia đình để cấu trúc lại một cách đầy đủ và chính xác trạng thái bệnh lý của bệnh nhân cũng như của các thành viên khác. Từ đó mới đề ra được chiến lược điều trị có hiệu quả.

- Phải phát hiện những nhân tố làm mất cân bằng nội môi xuất hiện trước và sau khi một thành viên bị nghiện.

- Phải khám phá các hiện tượng từ chối, dung túng hay cùng lệ thuộc của các thành viên và đề ra các việ pháp khắc phục (thí dụ: biện pháp tách rời ảnh hưởng giữa thành viên nghiện và thành viên cùng lệ thuộc).

- Phải dần dần đưa thành viên nghiện và các thành viên khác đến chỗ thống nhất thực hiện hợp đồng dài hạn "từ bỏ heroin và chống tái nghiện" với các biện pháp cụ thể và khả thi.

Muốn đạt được các nguyên tắc hay mục tiêu nêu ra ở trên nhà điều trị tâm lý phái sử dụng nhiều phương pháp và kỹ năng tâm lý (không có điều kiện mô tả ở đây).

4. Các biện pháp không chuyên sâu

Các biện pháp này không thực hiện riêng lẻ mà thường kết hợp với liệu pháp methadone hay naltrexone để đạt được kết quả cao. Có thể do thầy thuốc không chuyên khoa tâm thần thực hiện.

a. Trong điều trị ngoại trú tại cộng đồng, đối với mỗi bệnh nhân nghiện heroin, yêu cầu phải có một thành viên gia đình đi kèm. Thành viên này phải chọn trong những người mà bệnh nhân tôn trọng và tín nhiệm.

b. Thành viên gia đình đến mấy lần trong tuần và mỗi lần trong thời gian bao lâu sẽ được quy định thông qua bàn bạc giữa thầy thuốc và thành viên gia đình.

c. Trường hợp đặc biệt trong gia đình có thành viên xung đột sâu sắc với bệnh nhân gây trở ngại cho tiến trình điều trị thì thầy thuốc sẽ dành thì giờ gặp thêm thành viên này.

d. Bệnh nhân và thành viên gia đình phải được thầy thuốc giải thích đầy đủ về:

  • Tác hại của nghiện heroin.
  • Nhu cầu cấp thiết phải sớm được điều trị và điều trị lâu dài.
  • Các điều kiện cần thiết để có thể bỏ hẳn heroin.
  • Các bước trong kết hoạch điều trị.
  • Những điều mà bệnh nhân và thành viên gia đình nhất thiết phải tuân thủ thực hiện.

​đ. Sau kho được giả thích, bệnh nhân và thành viên gia đình phải có đơn tự nguyện xin điều trị và tự nuyện chấp hành nội quy điều trị của Trung tâm.

e. Thành viên gia đình và bệnh nhân được thông báo về các hình thức khen thưởng khi bệnh nhân thực hiện tốt nội quy điều trị và xử phạt khi không thực hiện. Gia đình có phần đóng góp trong các hình thức khen thưởng và xử phạt này.

g. Thành viên gia đình phải thường xuyên thông báo với thầy thuốc về các hành vi không bình thường của bệnh nhân tại gia đình và tại cộng đồng nhất là hành vi sử dụng lại heroin.

h. Thầy thuốc giải thích cho thành viên gia đình về hiện tượng "từ chối", "dung túng" , "cùng lệ thuộc" cũng như các rối loạn trong gia đình (mât tôn ti trật tự, thành viên không thực hiện những chức năng của mình, trở ngại và bế tắc trong tiếp xúc giữa các thành vien v.v) và yêu cầu phát hiện và thông báo đầy đủ các hiện tượng và rối loạn trên.

i. Thầy thuốc cùng thành viên gia đình bàn bạc về kế hoạch giải quyết dần dần từng bước các hiện tượng và rối loạn trên bằng những biện pháp phù hợp với các điều kiện cụ thể của gia đình.

LIỆU PHÁP GIA ĐÌNH

tamlythuchanh.com

LIỆU PHÁP GIA ĐÌNH

1. Quan niệm gia đình như một hệ thống:

Trong lý thuyết tổng quát của những hệ thống thì hệ thống gồm một cấu trúc với yếu tố tạo thành một hệ thống. Những yếu tố được vận hành theo một quy tắc nhất định. Hệ thống này lại được mở ra, trao đổi với môi trường là hệ thống rộng lớn hơn theo một quy tắc nhất định.

Ở liệu pháp gia đình: gia đình là một hệ thống với mỗi thành viên trong gia đình là các yếu tố cấu thành hệ thống và tác động lẫn nhau.

Khi một yếu tố của hệ thống thay đổi thì tất cả thay đổi. Đó là do tất cả những yếu tố của hệ thống gia đình đều liên hệ mật thiết với nhau. Trong một gia đình, khi một biến cố bề ngoài chỉ ảnh hưởng đến một phần tử, nhưng chính nó lại rung động trên những phần tử khác của gia đình đó.

Một hệ thống không phải đơn giản là tổng số yếu tố kết thành hệ thống đó. Thêm vào mỗi đặc tính cá biệt của mỗi người là quy củ của một gia đình, là những mối quan hệ giữa các phần tử khác nhau trong gia đình và với những người xung quanh.

Trong một hệ thống cởi mở, những quan hệ được giao tiếp theo vòng tròn, không phải theo đường thẳng.

 

Mỗi phần tử của gia đình vừa bị tác động, vừa chủ động trong mối quan hệ hợp nhất họ với những người khác.

Hoàn cảnh hiện tại của một hệ thống (gia đình) có thể xuất phát từ vô số những phản ứng qua lại.

Thí dụ:

Sự việc một phần tử gia đình có những rối loạn mang hình thái phân liệt, không thể chỉ liên quan đến một nguyên nhân duy nhất. Điều này phụ thuộc vào gia đình, vào tổ chức của gia đình, vào lịch sử của gia đình và cùng một bệnh lý có thể do nhiều nguyên nhân.

Khi người ta thử biến đổi một hệ thống (gia đình) thì hệ thống ấy nảy sinh những tác động phản hồi để chống lại sự thay đổi. Đây là khuynh hướng đạt đến cân bằng nội tại của gia đình.

Một hệ thống cởi mở bị phụ thuộc vào những ảnh hưởng của môi trường trong đó hệ thống đang tồn tại. Hệ thống có thể duy trì bằng cách thích nghi với những thay đổi bên ngoài. Một gia đình không đủ khả năng thích nghi với những thay đổi của xã hội, sẽ không còn lối thoát, bế tắc.

Vậy có thể nói: khả năng sinh tồn của một gia đình phụ thuộc vào khả năng đạt đến cân bằng trong nội bộ và năng lực thích nghi với môi trường.

2. Khái niệm bệnh nhân được chỉ định:

Trong liệu pháp gia đình hệ thống, người ta coi như không có cá nhân thành viên bệnh hoạn, mà đúng ra là một phần tử của gia đình được chỉ định để phơi bày ra những triệu chứng được coi là một tổng hợp của một sự trục trặc trong gia đình.

3. Tìm kiếm cơ sở nội tại gia đình của triệu chứng :

Trong trị liệu gia đình, nhà trị liệu cần tìm hiểu:

Cái gì đã cho phép triệu chứng xuất hiện ở thân chủ?

Cái gì đã cho phép một ứng xử mà cả một gia đình phàn nàn vẫn tồn tại?

Đó là triệu chứng có cơ sở của một nội tại của gia đình. Làm sáng tỏ điều đó là điều cần thiết giúp nhà điều trị hiểu được sự vận hành của gia đình, trước khi can thiệp.

Do vậy phương pháp điều trị là điều trị toàn bộ gia đình thay vì chỉ điều trị người bệnh được chỉ định. Mục đích của liệu pháp gia đình hướng tới việc làm thay đổi các mối quan hệ giữa các nhân cách trong gia đình để giúp loại trừ các triệu chứng bệnh lý, cũng  như để đạt tới sự thích nghi xã hội hơn.

Kỹ thuật tiến hành là thông qua tiếp xúc tâm lý với các thành viên trong gia đình. Thông qua tọa đàm tâm lý chung, thầy thuốc phát hiện ra các stress, các rối loạn mối tương quan cảm xúc giữa các thành viên trong gia đình. Từ đó thiết lập lại sự cân bằng bên trong gia đình

 

        Gia đình mất hài hòa                                             Gia đình mất cân bằng  

4. Một số quy trình kỹ thuật.

4.1.Quy trình liệu pháp gia đình

4.1.1.Mục tiêu.

- Phát hiện và huy động các nguồn lực và tiềm năng của sự thay đổi và tiến hoá của gia đình.

- Hỗ trợ sự phát triển và tạo sự thoải mái nhất cho mỗi cá nhân bằng cách tạo mối quan hệ tốt nhất với các thành viên.

 4.1.2.Nguyên lý.

Cơ sở lý thuyết của trị liệu gia đình là thuyết hệ thống và thuyết về giao tiếp. Do vậy có thể coi trị liệu gia đình là trị liệu hệ thống, là một dạng đặc biệt của trị liệu nhóm. Các nhà hệ thống quan niệm người bệnh chỉ là biểu hiện các triệu chứng của toàn bộ hệ thống, vấn đề cốt lõi là cần tác động vào cả hệ thống, tái cấu trúc lại các rối loạn của hệ thống, qua đó hệ thống có tác dụng điều chỉnh tình trạng bệnh lý của người bệnh.

Trong suốt quá trình trị liệu, nhà trị liệu hệ thống luôn quan tâm các khía cạnh cần khai thác :

- Tìm hiểu các sự kiện;

- Nội tâm cá nhân;

- Khuôn mẫu về hành vi giao tiếp;

- Đạo lý về mối quan hệ.

4.1.3.Chỉ định, chống chỉ định

- Chỉ định rộng rãi với tất cả các bệnh lý tâm thần.

4.1.4.Kỹ thuật trị liệu

Về quy trình của một phiên trị liệu hệ thống thường có 4 giai đoạn cơ bản.

Giai đoạn tìm hiểu, thâm nhập vào gia đình :

 Mục tiêu:

- Nhằm phát hiện các yếu tố duy trì trạng thái rối nhiễu tâm lý của người bệnh do các quan hệ giao tiếp không thuận lợi trong gia đình gây ra.

Ở bước này nhà trị liệu cần chẩn đoán tâm lý gia đình ở hai mức độ:

- Chẩn đoán hiện trạng nhằm xác định trạng thái hiện tại của các mối quan hệ gia đình, là những biểu hiện bệnh lý hiện tại ở người bệnh và trong các mối quan hệ gia đình có liên quan tới người bệnh.

- Chẩn đoán bệnh sinh và những nguyên nhân dẫn tới bệnh . Các cứ liệu cần thiết có thể được thu thập qua những buổi phỏng vấn, trò chuyện với từng thành viên gia đình.

 Kỹ thuật :

Trong gia đoạn này nhà trị liệu có thể sử dụng nhiều kỹ thuật khác nhau để khai thác tình trạng bệnh lý của người bệnh và những vấn đề của hệ thống :

- Trò chuyện, quan sát;

- Kỹ thuật xây dựng cây phả hệ, khai thác ranh giới, mối quan hệ giữa các thành viên;

- Thực hiện các test tâm lý, đặc biệt test vẽ gia đình;

- Quan sát tại nhà…

Giai đoạn xác định chiến lược trị liệu:

Mục tiêu :

- Tìm hiểu sâu thêm về các vấn đề của hệ thống, các thành viên trong hệ thống. Qua đó xây dựng chiến lược trị liệu cho cả tiến trình và các kỹ thuật cho từng thành viên. Đây là giai đoạn xây dựng chiến lược trị liệu.

- Thiết lập khung trị liệu, hợp đồng trị liệu với gia đình.

Kỹ thuật :

Giai đoạn này nhà trị liệu cần tái cấu trúc lại hệ thống, qua đó đề ra giả thuyết cho tiến trình trị liệu.

Các kỹ thuật sử dụng trong giai đoạn này: Kỹ thuật giải thích hợp lý, các kỹ thuật tham vấn, thảo luận giữa nhà trị liệu và gia đình bệnh nhân, thảo luận giữa các nhà trị liệu thực hiện trong suốt quá trình.

Đây có thể coi là bước chuyển tiếp quan trọng giúp ekip trị liệu xác định đúng hướng trị liệu. Muốn thực hiện tốt điều đó, ekip trị liệu cần thực hiện một số yêu cầu kỹ thuật sau:

- Đưa ra được giả thuyết về hệ thống;

- Thiết lập được khung trị liệu và xác định các kỹ thuật trị liệu cho từng thành viên và cả hệ thống trong từng giai đoạn;

- Hợp đồng điều trị.

Giai đoạn tiến hành tổng thể các liệu pháp :

Mục tiêu :

Ở giai đoạn này, nhà trị liệu cần phải đáp ứng được tiến trình trị liệu với các kỹ thuật liệu pháp đáp ứng được khung trị liệu đã xây dựng ở giai đoạn hai, đồng thời xử lý phù hợp các yếu tố phát sinh.

Kỹ thuật :

Giai đoạn này nhà trị liệu nên tiến hành đồng thời các kỹ thuật liệu pháp đã được xác định với từng thành viên gia đình.

- Kỹ thuật thảo luận gia đình;

- Trị liệu nhận thức hành vi;

- Kỹ thuật video mini trong trị liệu hệ thống;

- Kỹ thuật cái ghế trống;

- Kỹ thuật tâm kịch;

- Trị liệu trò chơi, hình vẽ;….

Giai đoạn kết thúc trị liệu:

Mục đích :

Hoàn tất đợt điều trị theo đúng hợp đồng

Cùng gia đình xây dựng chiến lược ứng phó với các tình huống có thể dẫn tới rối loạn hệ thống.

Kỹ thuật :

- Tổng kết và cấu trúc lại hệ thống bị rối loạn

- Hợp đồng chăm sóc gia đình thường xuyên.

4.2.Kỹ thuật xây dựng cây phả hệ

 Mục tiêu.

- Khai tác các sự kiện, thông tin của hệ thống gia đình thân chủ một cách có chiều sâu và rõ ràng, từ đó có tác dụng như một kỹ thuật giúp chẩn đoán tình trạng của gia đình.

- Giúp thân chủ và các thành viên có nhận thức đúng về cấu trúc gia đình, các mối quan hệ gia đình từ đó thay đổi nhận thức. Bên cạnh đó, khi khai thác sơ đồ phả hệ có tác dụng như một kỹ thuật nhằm bộc lộ những vấn đề nội tâm của gia đình.

- Qua làm việc trên sơ đồ phả hệ giúp nhà trị liệu và thân chủ tạo mối quan hệ tốt đẹp, cảm thông. Qua đó, giúp nhà trị liệu đi sâu vào gia đình của thân chủ, đây là kỹ thuật trong bước 1.

Chất liệu cho việc xây dựng sơ đồ phả hệ.

+ Các thông tin gia đình, thành viên trong gia đình, các mối quan hệ,…

+  Các ký hiệu:

Chú ý :

- Ghi chú chết do nguyên nhân nào ( bệnh, tự tử,…)

- Ghi kết hôn năm nào.

- Sống tại địa điểm do di cư ( kinh tế, đi học,…)

- Gia đình nhỏ chịu tác động bối cảnh của gia đình lớn và xã hội.

- Bí mật liên quan đến chính trị, con ngoài giá thú, trong nhà có người tự tử….

+ Xác định ranh giới của tiểu hệ thống :

- Ranh giới cứng ngắc : ...............Kiểu hệ thống khép kín không giao tiếp bên ngoài.

- Ranh giới không rõ ràng : ...............Kiểu hệ thống chia sẻ hết tất cả.

- Ranh giới rõ ràng : ................. Kiểu hệ thống tuỳ lúc có chia sẻ, có sự tôn trọng lẫn nhau.

- Các ranh giới này  tuỳ thuộc vào sự tiến triển gia đình, tuỳ theo thời gian, theo sự việc

+ Mối quan hệ trong gia đình.

- Liên minh =========   Liên kết này có tính chất cực kỳ khắng khít.

+ Hợp nhất   =========   Liên kết gắn chặt

+ Đồng minh  =========  Liên kết này có tính tiêu cực, phe phái và chống đối người khác.

+ Trong gia đình có vai trò đối xứng và bổ sung.

  • Vai trò đối xứng : Cả hai đều có quyền lực bằng nhau.
  • Vai trò bổ xung : Một người có nhiều quyền lực hơn

 Quy trình.

Việc xây dựng sơ đồ phả hệ cho hệ thống gia đình là một việc rất quan trọng trong cách tiếp cận trị liệu hệ thống. Đòi hỏi nhà trị liệu phải khai thác thông tin một cách chính xác, có chất liệu phong phú và kỹ thuật khai thác mở rộng tốt. Thường sơ đồ phả hệ được xây dựng lại theo từng buổi trị liệu ( ngoài ra còn có sơ đồ phả hệ tưởng tượng).

 Thâm nhập và khai thác thông tin.

Mục tiêu: Xây dựng mối quan hệ với thân chủ và các thành viên trong hệ thống, qua đó thâm nhập vào hệ thống.

Kỹ thuật : Gợi mở, lắng nghe, đồng cảm,…

Gặp gỡ tất cả thành viên của hệ thống, khai thác các thông tin, hoàn toàn không đưa ra lời nhận xét nào cả.

 Xây dựng sơ đồ phả hệ.

Mục tiêu: Xây dựng sơ đồ cấu trúc của hệ thống, xác định các mục tiêu cần thay đồi hoặc các mục tiêu cần tác động.

Kỹ thuật : Cùng với thân chủ hoặc các thành viên xây dựng các chi tiết của sơ đồ phả hệ. Sử dụng các ký hiệu.

Giải mã sơ đồ phả hệ.

Mục tiêu : Nhà trị liệu phải giải mã các chi tiết có trong sơ đồ, qua đó xác định lại các mục tiêu.

Kỹ thuật: Đòi hỏi nhà trị liệu có hiểu biết về các ký hiệu của sơ đồ phả hệ. Bên cạnh đó, cấu trúc lại các thông tin khai thác từ thân chủ.

Tái cấu trúc hệ thống.

Ở bước này, nhà trị liệu cùng thân chủ thảo luận những vấn đề đã xây dựng từ sơ đồ phả hệ, qua đó thân chủ hiểu sâu sắc hơn về hệ thống cấu trúc của bản thân.

Cùng thảo luận với thân chủ, các thành viên về các vấn đề có thể thay đổi trong phả hệ, qua đó giúp thân chủ bộc lộ những suy nghĩ của cá nhân và tự hình dung con đường thay đổi bản thân cho phù hợp với cấu trúc hệ thống.

4.3.Kỹ thuật Video Mi Ni

 Mục tiêu.

Tiếp cận trị liệu gia đình theo hướng hệ thống xác định rõ, thân chủ cần điều trị chỉ là triệu chứng của cả hệ thống gia đình bệnh lý. Chính vì vậy, vấn đề ở trong trị liêu là phải giúp đỡ và cải thiện tất cả các thành viên trong hệ thống nhận thức rõ vai trò của mình và các lỗi hệ thống nhằm tái cấu trúc lại.

Kỹ thuật Video nhằm giúp các thành viên trong gia đình tiếp cận các vấn đề của chính mình một cách tường minh, khách quan và rõ ràng hơn.

 Quy trình kỹ thuật.

 Thiết lập khung trị liệu.

Trị liệu theo kỹ thuật này cần có các phương tiện: Một máy quay camera tự động, phòng có gương một chiều với đầy đủ phương tiện trị liệu như máy chiếu video,…

Phòng trị liệu yên tĩnh, không gian vừa rộng, ấm cúng phù hợp cho tiến trình trị liệu gia đình.

Kỹ thuật trị liệu này cũng có thể tiến hành tại gia đình thân chủ.

Quy trình trị liệu.

Bước 1: Xác định mục tiêu cần thay đổi.

Mục tiêu:

Ở bước này, nhà trị liệu sau khi lắng nghe các vấn đề của hệ thống, cần xác định mục tiêu quan trọng cần thay đổi, đặc biệt các vấn đề nhận thức và hành vi của  một thành viên trong hệ thống làm ảnh hưởng đến thân chủ hoặc các thành viên khác của hệ thống. Qua đó, xác định được hành vi hoặc vấn đề nhận thức cần thay đổi.

Kỹ thuật :

Mời các thành viên trong hệ thống cùng thảo luận về vấn đề mà thân chủ đang gặp phải. Qua đó nhận biết vấn đề cần thay đổi.

Ví dụ : Vấn đề sợ đi học của trẻ là do trẻ chưa chuẩn bị kỹ tâm lý trước khi đi học hoặc trẻ quá bám mẹ nên chuyện đi học là khó khăn.

Trẻ không chịu ăn là do cách chuẩn bị bữa ăn cho trẻ của gia đình, món ăn chưa ngon, chưa phù hợp.

Bước 2: Chuẩn bị nội dung Video.

Ở bước này có hai phương pháp để chuẩn bị nội dung đoạn Video.

+ Phương pháp 1: Đề nghị những người thân trong gia đình thân chủ quay một đoạn Video mini về cảnh sinh hoạt tại gia đình hoặc một hoàn cảnh nào đó giữa thân chủ và người thân trong gia đình, những cảnh quay này phải phù hợp với nội dung vấn đề cần thay đổi ở thân chủ hoặc các thành viên trong gia đình.

Ví dụ : Yêu cầu quay cảnh cha mẹ chuẩn bị đưa trẻ đi học với đứa trẻ sợ đến trường.

Quay cảnh mẹ chuẩn bị và cho trẻ ăn khi đứa trẻ lười ăn,….

+ Phương pháp 2: Đề nghị thân chủ cùng người thân trong gia đình tham gia vào các hoạt động tại phòng điều trị và máy quay tự động không để cho những người tham gia biết.

Đoạn Video phải đạt yêu cầu là rất ngắn ( thường khoảng không quá 2 phút) nhưng chứa đựng được nội dung thảo luận.

Bước 3: Thảo luận vấn đề.

Mục tiêu: Mục tiêu cơ bản ở bước này là giúp các thành viên tham gia các hoạt động thay đổi có cách nhìn rõ ràng hơn về bản thân. Từ đó có nhận thức đúng đắn về các mối quan hệ và sự lỏng lẻo của cấu trúc. Qua đó có hướng thay đổi bản thân, thay đổi sự việc cho phù hợp với điều kiện của cấu trúc.

Kỹ thuật:

+ Chiếu đoạn Video mini mới quay được cho thân chủ hoặc các thành viên cùng xem với nhà trị liệu.

+ Cùng thảo luận với thân chủ hoặc các thành viên về nội dung đoạn Video, cho thân chủ hoặc các thành viên xem nhiều lần. Nhà trị liệu không nói gì đến các yếu tố gây rối loạn cấu trúc mà chỉ thảo luận xung quanh các ý tưởng của đoạn Video.

Bước 4. Kết thúc phiên trị liệu.

Ở bước này sau khi nhà trị liệu và thân chủ đã thảo luận với nhau về các vấn đề, ý tưởng, nội dung của đoạn Video. Nhà trị liệu giúp thân chủ nhận thấy vấn đề cần thay đổi để phù hợp với cấu trúc của gia đình. Xây dựng lại hành vi cho phù hợp với hoàn cảnh và điều chỉnh nhận thức của các thành viên.

4.4.Kỹ thuật phép ẩn dụ

Trong trị liệu gia đình nói riêng và trị liệu tâm lý nói chung, làm việc trên hình ảnh hoặc cấu chuyện ẩn dụ là cách làm việc với thân chủ một cách gián tiếp, không nêu đích danh vấn đề thực tại mà thân chủ đang trải qua, chỉ dùng những hình ảnh, đồ vật, hoặc câu truyện như một phương tiện ẩn dụ chuyển tải thông tin sự kiện của thân chủ. Kỹ thuật này nhằm tránh cho thân chủ những nỗi sợ hãi, khó khăn tâm lý, sự kích động thực sự mà thân chủ đang phải trải qua một cách khó khăn.

Việc thực hiện gồm 3 bước:

Bước 1: Xây dựng hình ảnh ẩn dụ.

Sau khi lắng nghe vấn đề của thân chủ, nhà trị liệu hoặc là tìm một hình ảnh, hoặc một câu chuyện ẩn dụ. Hoặc là cùng với thân chủ thảo luận vấn đề của họ để cùng đưa ra ý tưởng hình ảnh ẩn dụ. Hình ảnh ẩn dụ này phải chứa đựng nội dung có ý nghĩa về một người hay sự việc có liên quan đến thân chủ và các vấn đề của thân chủ hoặc vấn đề của hệ thống.

Tuy nhiên, thường là ở bước này nhà trị liệu để thân chủ hoặc gia đình tự xây dựng câu chuyện và hình ảnh ẩn dụ cho mình.

Bước 2: Thảo luận.

Nhà trị liệu thảo luận về hình ảnh hay câu chuyện ẩn dụ với thân chủ. Các câu thảo luận, hoặc câu hỏi là những câu hỏi và vấn đề mở, hoàn toàn không được thảo luận các vấn đề thật của thân chủ và gia đình họ đang trải qua, chỉ thảo luận về những hình ảnh, câu chuyện ẩn dụ.

Bước 3 : Diễn giải.

Cùng thân chủ diễn giải các vấn đề đã đặt ra ở bước 2.

Các vấn đề diễn giải hoàn toàn không định hướng và không được đánh giá hay phê phán vấn đề của thân chủ hoặc gia đình. Nhà trị liệu tôn trọng ý kiến của thân chủ, để các hình ảnh ẩn dụ bay bổng với các ý kiến diễn giải của cả thân chủ, gia đình và nhà trị liệu.

Tuyệt đối theo nguyên tắc : Chỉ diễn giải các vấn đề của hình ảnh hay câu chuyện ẩn dụ, không diễn giải các vấn đề của thân chủ và gia đình.

 Nguyên tắc :

- Cần hỏi ý kiến tất cả các thành viên trong gia đình về hình ảnh hay câu chuyện ẩn dụ.

- Ở thế giới ẩn dụ, càng nhiều thì tác động càng tốt. Nhà trị liệu vừa cảm nhận, vừa phân tích , lý giải. Đối với gia đình chỉ yêu cầu cảm nhận chứ không lý giải .

- Phép ẩn dụ có thể liên quan đến nhiều chiều kích khác nhau trong trị liệu: một hình ảnh ẩn dụ có thể liên quan đến những sự kiện trong thực tế khách quan, các diễn biến trong nội tâm, hoặc cũng có thể sử dụng hình ảnh ẩn dụ để liên hệ đến các tương tác và các mối quan hệ giữa người với người.

4.5.Kỹ thuật tâm kịch

 Mục đích.

- Giúp thân chủ bộc lộ những cảm xúc và những trải nghiệm vô thức, từ đó có tác dụng như một kỹ thuật động lực tâm thần.

- Qua vở kịch, những ý tưởng và hành vi của kịch cảnh giúp thân chủ có nhận thức đúng đắn và thay đổi những hành vi không phù hợp.

 Nguyên lý.

Cơ sở tác động điều trị của liệu pháp này là giải toả các xung đột dồn nén , làm sảng khoái tinh thần, tạo tâm trạng thư thái vì nó tháo gỡ những vướng mắc về xúc cảm tình cảm , tư tưởng, nhận thức và cả cơ thể …. Nguồn gốc của giải toả , theo Morenon là tính tự phát được hiểu là khả năng thân chủ phản ứng phù hợp với những tình huống, hoàn cảnh xuất hiện đột ngột. Thường thường, những người bị các rối nhiễu tâm lý hay rối loạn tâm thần có những thiếu hụt nào đó về kỹ năng giao tiếp, ít có khả năng ứng phó kịp thời phù hợp với hoàn cảnh . Hơn nữa , họ còn bị rối loạn cân bằng giữa thế giới thực và thế giới tưởng tượng.

Chỉ định và chông chỉ định.

Chỉ định:

- Các rối loạn tâm căn : lo âu, trầm cảm, …

-Các rối loạn hành vi, cảm xúc ở lứa tuổi thanh thiếu niên.

- Tâm thần phân liệt ổn định….

Chống chỉ định:

Các trường hợp loạn thần cấp, chậm phát triển tâm thần nặng.

Kỹ thuật.

Thiết lập khung trị liệu:

- Về không gian : Trị liệu tâm kịch phải được thiết kế bởi một phòng rộng vừa đủ cho khoảng 10 người trong phiên trị liệu. Phòng phải đủ thoáng , mát và không ồn ào, cách xa sự chú ý của những người xung quanh cũng nhưng không thể làm những người tham gia trị liệu phân tâm, luôn tạo sự tin tưởng trong phiên trị liệu.

- Trong một phiên trị liệu ít nhất có sự tham gia của từ 2 nhà trị liệu trở lên. Một người đóng vai trò như người dẫn chương trình còn người kia nhưng một người ghi chép khách quan, sau đó lý giải những tình huống đã xảy ra.

- Thời gian cho một buổi trị liệu thường kéo dài đến 1 giờ. Thời gian cho một tiến trình trị liệu không giới hạn, tuỳ thuộc vào hoàn cảnh, đánh giá của nhà trị liệu,…

- Nguyên tắc quan trọng nhất trong trị liệu tâm kịch là sự bảo mật thông tin. Nguyên tắc này phải được thiết lập ngay từ đầu, các thành viên trong phiên trị liệu thống nhất và tôn trọng thông tin cá nhân của từng thành viên , không được lấy thông tin đó phát tán ra ngoài, hay dùng nó như một cách để vì mục đích cá nhân. Tốt nhất phải có hợp đồng rõ ràng trước khi bắt tay vào trị liệu.

- Trước phiên trị liệu, nhà trị liệu phải tiên lượng được những tình huống có thể xảy ra trong quá trình điều trị. Muốn vậy nhà trị liệu cần phải tìm hiểu thân chủ của mình thật kỹ trước khi bắt đầu trị liệu. Có kế hoạch từng giai đoạn trị liệu rõ ràng và thường chủ động trong phiên trị liệu.

 Quy trình một buổi trị liệu tâm kịch.

( Một phiên trị liệu tâm kịch thường trải qua 4 gia đoạn )

Bước 1 : Xây dựng chủ đề của buổi trị liệu.

Trong bước này, mọi người ngồi trên ghế thành vòng tròn, tất cả mọi người tham dự được yêu cầu tìm một chủ đề để tạo ra một kịch cảnh. Mỗi người kể điều mà họ nghĩ  hay tưởng tượng ra trong tuần lễ trước, chuyện gì xảy ra trong cuộc sống của họ hay họ mơ tưởng chuyện gì. Một cuộc trao đổi quanh câu chuyện kể sẽ dần dần hình thành và từ đó thoát ra chủ đề yêu thích hay chủ đề cả nhóm cùng quan tâm. Nếu ai đó nói điều gì có vẻ kích thích sự xúc động hay trí tưởng tượng của những người khác , điều anh ta nói sẽ được dùng làm khởi điểm cho kịch cảnh.

Trong giai đoạn này, nhà trị liệu là người khơi gợi và hướng dẫn thân chủ kể về câu chuyện của họ. Sau đó cùng thống nhất với nhóm về chủ đề sẽ trở thành kịch cảnh trong quá trình trị liệu.

Giai đoạn này thường kéo dài  5 – 10 phút của một phiên trị liệu.

Bước 2: Chuẩn bị cho vở kịch.

Ở bước này, nhà trị liệu và nhóm xây dựng vở kịch từ chủ đề đã chọn, một kịch cảnh tưởng tượng được hình thành với những nhân vật như ông bố, bà mẹ, gia đình hay các đồng nghiệp,… Bên cạnh đó, những người tham gia cũng có thể thủ vai các con vật hay đồ đạc quen thuộc trong cuộc sống và là chứng nhân của cuộc sống đã được gợi ra. Một khi kịch cảnh đã được xây dựng , các vai diễn lộ ra và người thủ vai được chọn, thường là các thành viên tự chọn vai mình thích hoặc tâm đắc. Sau đó, việc chọn vai được cả nhóm bàn bạc và cuối cùng , khi các bước chuẩn bị đã xong, vở diễn có thể bắt đầu.

Giai đoạn này thường kéo dài 5 – 10 phút.

Bước 3: Diễn tiến của vở diễn.

Khi đã chuẩn bị xong về kịch cảnh và công việc phân vai đã xong, vở diễn sẽ bắt đầu với những tình tiết đã được xác định từ bước đầu. Tuy nhiên, vở diễn thường có những tình huống bất ngờ đối với diễn viên. Những ý tưởng ban đầu chỉ là những nét sơ thảo của vở diễn. Mỗi diễn viên có thể có khả năng thêm vào vai diễn của mình những tình tiết cá nhân của cuộc đời mình, cuộc đời này cũng được đưa vào vở diễn và chủ đề của tâm kịch, cho dù là người khác khởi xướng, cũng được dùng để đưa vào vở diễn một cái gì đó của cuộc đời cá nhân. Qua đó bộc lộ những cảm xúc và những ám ảnh bị dồn nén. Nó sẽ kích thích những biểu diễn và làm nảy sinh những hồi tưởng, những sống thực, những sống thực này có thể được nói ở buổi trị liệu sau, trước mỗi buổi trị liệu.

Giai đoạn này, nhà trị liệu như người hướng dẫn, không được can thiệp quá sâu vào cảm xúc thân chủ, tạo cho thân chủ cảm giác có thể bộc lộ những yếu tố  bản thân. Nhà trị liệu thứ 2 là người ghi chép trung thành.

Giai đoạn này thường kéo dài 20 – 30 phút.

Bước 4: Kết thúc buổi trị liệu.

Sau một thời gian diễn kịch, nhà trị liệu vẫn ngồi và quyết định sẽ ngưng diễn hay không, xem như đã có đủ những sự việc được tỏ bày để hình thành một ý tưởng, một giả thiết. Mọi người sẽ ngồi lại lên ghế của mình và chia sẻ những cảm tưởng, những suy nghĩ  đã được kịch cảnh gợi ra, những kỷ niệm có thể đã đến với tâm trí mình…, đây chính là dịp để nhà trị liệu tham gia trò chơi và nhà trị liệu vai trò quan sát đưa ra những lý giải , nhưng điều này không nhất thiết phải có vì thường cuối cùng thì thân chủ cũng tỏ ra có khả năng về việc này.

Kết thúc buổi trị liệu, nhà trị liệu cần nhắc lại quy ước từ đầu buổi trị liệu. Yêu cầu nhóm làm một số kỹ thuật thư giãn và tuyên bố kết thúc buổi trị liệu.

PGS.TS.BS Nguyễn Văn Thọ

TỔNG QUAN VỀ GIA ĐÌNH VÀ TRỊ LIỆU HỆ THỐNG

trilieutamly.blogspot.com

TỔNG QUAN VỀ GIA ĐÌNH VÀ TRỊ LIỆU HỆ THỐNG

BS NGUYỄN MINH TIẾN 
Cử nhân tâm lý PHẠM THỊ THANH NHÀN
 
 
MỘT CÁI NHÌN VỀ GIA ĐÌNH NHƯ MỘT HỆ THỐNG
Khái niệm về gia đình.
Khái niệm về gia đình có rất nhiều định nghĩa khác nhau, sau đây chúng tôi sẽ đưa ra một số định nghĩa chính.
+ Theo từ điển Việt Nam (Đào Văn Tập): Gia đình chỉ mọi người quen thuộc trong gia đình.
+ Theo từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê: Gia đình là tập hợp những người cùng chung sống thành đơn vị nhỏ nhất trong xã hội. Họ gắn bó với nhau bằng quan hệ hôn nhân cùng dòng máu, thường là gồm vợ chồng cha mẹ và con cái.
+ Theo từ điển Tâm lý của BS.Nguyễn Khắc Viện: Gia đình gồm bố mẹ con và có hay không một số người khác cùng chung sống trong một nhà.
+Theo Littré: Gia đình là một tập hợp người có cùng huyết thống, sống chung trong một nhà và chủ yếu là gồm cha mẹ và con cái.
+ Theo ý kiến của nhà sử học – nhân chủng học, Louis Henry Morgan (1818 – 1881). Gia đình là một cơ cấu năng động, nó không bao giờ đứng yên một chỗ mà chuyển từ hình thức thấp lên hình thức cao, khi xã hội phát triển từ một giai đoạn thấp sang một giai đoạn cao hơn.
Tuy nhiên, trong bài viết này thì khái niệm về gia đình được định nghĩa như sau: Theo truyền thống, gia đình được định nghĩa như là một nhóm người, có cùng quan hệ dòng máu hoặc cùng huyết thống và cùng cư trú. Định nghĩa này được mở rộng bao gồm những người có cùng cảm nhận về một gia đình tương lai, hoà hợp bởi hôn nhân, dòng máu, cư trú và người làm con nuôi.
Nói chung, sự kết hợp các thành viên trong một gia đình có thể do hai yếu tố chính:
(1) Những người cùng huyết thống (cha mẹ–con cái, ông bà–cháu, anh chị em ruột …).
(2) Yếu tố luật định (kết hôn, nuôi con…). Một số gia đình được tạo lập không tuân theo cách thức truyền thống hoặc không được luật pháp hoặc đạo đức xã hội thừa nhận (ví dụ sống chung không hôn thú, hôn nhân giữa những người đồng tính…).
Khái niệm về hệ thống.
Học thuyết hệ thống được bắt nguồn và vận dụng trong nhiều lĩnh vực, cơ khí hay tin học, sinh học hay kinh tế xã hội. Một hệ thống được định nghĩa là một tổng thể phức hợp gồm nhiều yếu tố liên quan với nhau.Và mỗi biến động trong một yếu tố nào đó đều tác động lên những yếu tố khác và cũng có thể tác động lên toàn bộ hệ thống. Một hệ thống gồm nhiều tiểu hệ thống, đồng thời lại là một bộ phận của một hệ thống khác lớn hơn. Có những hệ thống khép kín, không trao đổi với xung quanh và cũng có những hệ thống mở. Hệ thống khép kín chỉ gặp trong ngành vật lý, còn các hệ thống sinh học hay xã hội đa phần là hệ thống mở.
Một hệ thống không chỉ là một tập hợp gồm nhiều bộ phận khác nhau, mà là một tổng thể có những đặc tính không hoàn toàn do những đặc trưng của các bộ phận khác cộng lại.
Mối liên quan ở đây không phải đơn tuyến một chiều, mà các yếu tố tác động lẫn nhau theo những mối liên quan chằng chịt đặc biệt là mối liên hệ tác động qua lại theo mạch phản hồi (feedbackrétroaction). Sơ đồ nhân quả đơn tuyến (linear causality) theo đường thẳng A [ B [  C được thay thế bằng sơ đồ nhân quả xoay vòng (circular causality).
A
  C
Những tác động qua lại giữa các bộ phận tạo ra một thế nhất định. Mỗi sự kiện gây ra một tác động đồng thời cũng gây ra những phản ứng ngược lại tạo ra xu thế lập lại trạng thái cân bằng nội tại (homeostasis). Tuy nhiên mọi hệ thống lành mạnh vẫn giữ được bản sắc trong lúc tạo ra những thay đổi cơ cấu để thích nghi với những biến động của môi trường.
Có những hệ thống linh hoạt có khả năng điều chỉnh những mối quan hệ bên trong và bên ngoài một cách dễ dàng để tồn tại lâu dài. Có những hệ thống cứng nhắc khi gặp biến động mạnh trong môi trường thì không giữ được cân bằng dễ bị tan rã.
Hệ thống nào cũng có một bờ rào, một đường biên giới phân cách với môi trường chung quanh, có qui định đầu vào và đầu ra, cụ thể hoá mối liên quan giữa hệ thống và môi trường, đồng thời được bố cục theo những cơ cấu và hoạt động theo cơ chế nhất định.
Những hệ thống khép kín sẽ mất dần năng lượng dẫn tới tiêu vong (entropie), còn những hệ thống mở có khả năng tiếp nhận năng lượng từ bên ngoài tồn tại lâu dài. Nhờ có sự liên quan với nhau mà những hệ thống tồn tại được nhưng cũng vì vậy gây ra rối loạn cho nó.
Theo phương pháp Decartes cần phân chia những sự vật phức tạp thành những yếu tố đơn giản. Còn trong quan điểm hệ thống lại cần nhìn thấy hết tính phức tạp của sự vật.
Khái niệm gia đình như một hệ thống
Gia đình như một hệ thống mở, gồm nhiều thành viên với những mối liên hệ qua lại chằng chịt. Những tác động qua lại này nhằm duy trì sự cân bằng của hệ thống gia đình. Trong nội bộ gia đình, những mối tình cảm, lòng ham, xung năng, và quan hệ uy quyền tạo ra những luồng thông tin truyền dẫn giữa những thành viên. Mỗi gia đình tạo ra một mối liên quan riêng tuỳ thuộc vào văn hóa xã hội, lịch sử và những tính chất riêng của gia đình đó.
Những mối liên quan này có thể linh hoạt hoặc cứng nhắc giữa các thành viên với nhau, giữa các tiểu hệ thống bên trong gia đình, và giữa gia đình với các hệ thống lớn hơn bên ngoài (làng xóm, phố phường…) mà ranh giới giữa gia đình và bên ngoài có thể bịt kín hay mở rộng.
Gia đình là một giao diện (interface) giữa cá nhân và xã hội, là một thể chế thiết yếu làm trung gian giữa mục tiêu sinh lý và văn hoá xã hội trong sự hình thành nhân cách. Ranh giới giữa các thành viên với nhau cũng như giữa gia đình và môi trường chung quanh là một vấn đề rất quan trọng. Bản thân cơ cấu gia đình không phức tạp lắm, nhưng mỗi thành viên là một tiểu hệ phức tạp, và phức tạp hơn nữa là một hệ thống lớn xã hội xung quanh.
Sự ảnh hưởng lẫn nhau trong gia đình đi theo một vòng cung phản hồi của mối quan hệ nhân quả mà trong đó những sự kiện đơn lẻ được quan niệm vừa là nguyên nhân, vừa là kết quả, và có sự tác động hỗ tương giữa các sự kiện với nhau.
Gia đình bao gồm nhiều tiểu hệ thống phụ thuộc lẫn nhau, mỗi tiểu hệ thống thực hiện những chức năng đặc biệt để duy trì bản thân tiểu hệ thống và bảo vệ duy trì cả hệ thống như một tổng thể.
Mỗi cá nhân cũng là một tiểu hệ thống bên trong gia đình. Cá nhân có liên hệ về mặt chức năng và thứ bậc với các tiểu hệ thống và các cá nhân thành viên khác trong gia đình. Tiểu hệ thống có thể được thành lập dựa trên các thứ bậc (như vợ chồng, anh chị em…), hoặc theo chức năng (cha mẹ, ông bà, con cái...), hoặc theo phái tính (mẹ và các con gái…).
Đến luợt gia đình cũng là một tiểu hệ thống, khi mở rộng giao tiếp với thế giới bên ngoài.
Các tiểu hệ thống được phân chia bằng những đường biên giới. Đường biên giới bảo vệ tiểu hệ thống và cho phép tác động qua lại giữa những tiểu hệ thống.
Đường biên giới có thể lỏng lẻo hoặc cứng nhắc (mở rộng hoặc khép kín) và thích nghi với thay đổi cần thiết của hệ thống gia đình. Bệnh lý thích nghi xuất hiện nếu đường biên giới quá cứng nhắc không cho phép giao tiếp thích hợp giữa hai tiểu hệ hoặc đường biên giới quá lỏng lẻo khiến có sự dính chặt, hoà lẫn chức năng giữa các tiểu hệ thống.
Gia đình lành mạnh cần có những đường biên giới uyển chuyển giữa các cá nhân thành viên và các tiểu hệ, vừa không quá cứng nhắc để có thể duy trì chức năng trao đổi, gắn bó giữa các thành viên, vừa không quá lỏng lẻo để duy trì sự độc lập, trưởng thành của từng thành viên. Hệ thống gia đình có những qui luật, những nguyên tắc cho phép thực hiện những nhiệm vụ trong cuộc sống hằng ngày và duy trì cấu trúc của nó. Một vài qui luật được công khai và không giấu diếm nhưng trái lại những qui luật khác là không được bộc lộ công khai (qui luật ngấm ngầm).
Gia đình lành mạnh có những qui luật kiên định, được nêu rõ và có thể uyển chuyển thích nghi với sự thay đổi. Mỗi thành viên trong gia đình có một số vai trò, mà vai trò này liên kết các vị thế và chức năng của người ấy trong gia đình.
Vai trò có thể theo vị trí, thứ bậc trong gia đình như: bố mẹ, con cái, anh chị em … Vai trò có thể theo chức năng mà thành viên đảm nhận như nạn nhân (victim), người chịu tội thay (scapegoat), hoặc thánh tử đạo (martyr), v.v...
Theo quan điểm hệ thống tất cả những hành vi (ví dụ: vai trò, những triệu chứng và những hình thức giao tiếp) đều có một ý nghĩa. Ví dụ một người kém thích nghi có thể tác động để giữ gia đình được cân bằng. Đặc biệt một người ở tuổi vị thành niên rối loạn trong vấn đề ăn uống có thể ngày càng dẫn đến việc gia đình quan tâm những khó khăn mà thiếu niên đó đang gặp phải. Rối loạn ăn uống có thể là chỉ báo cho thấy quá trình cá biệt hoá kém.
Sự phát triển của gia đình (family development)
Sự phát triển gia đình liên quan đến sự trưởng thành của các thành viên trong gia đình, thay đổi cấu trúc nhiệm vụ và quá trình tác động qua lại của đơn vị gia đình với bên ngoài, hỗ trợ việc liên kết những tiểu hệ thống.
Chu trình đời sống gia đình trải qua nhiều giai đoạn, mỗi giai đoạn mang một tính chất khác nhau. Các giai đoạn phát triển của gia đình có được vượt qua một cách thành công hay không là phụ thuộc vào hiệu lực phát triển gia đình thông qua việc điều chỉnh nhiệm vụ của các thành viên trong gia đình phù hợp với từng giai đoạn phát triển. Các biến cố đột xuất và thời điểm chuyển tiếp giữa các giai đoạn phát triển có tính thách thức cao đối với khả năng thích nghi của gia đình.
Betty Carter và Monica Mc Goldrick (1988) đã mô tả sáu giai đoạn trong chu trình đời sống gia đình như sau:
Giai đoạn 1: Cá nhân trưởng thành, rời khỏi gia đình gốc
Nguyên lý cơ bản trong quá trình chuyển tiếp: Cá nhân đó dần dần có được các trách nhiệm đối với bản thân.
Các thay đổi:
+ Cá biệt hoá chủ thể từ gia đình gốc.
+ Phát triển mối quan hệ với người đồng trang lứa.
+ Trở nên độc lập về tài chính và quyết định công việc.
Giai đoạn 2: Lập gia đình
Nguyên lý chuyển tiếp: Tham gia tạo lập một hệ thống mới.
Các thay đổi:
+ Có gia đình riêng.
+ Sắp xếp mối quan hệ với hai họ và với người ngoài (có xem xét tương quan với người đồng hôn phối).
Giai đoạn 3: Gia đình có con nhỏ
Nguyên lý chuyển tiếp: Chấp nhận những thành viên mới xuất hiện trong hệ thống.
Các thay đổi:
+ Điều chỉnh hệ thống sao cho có “chỗ” dành cho sự chăm sóc con cái.
+ Đảm đương các công việc gia đình, kiếm tiền, nuôi con.
+ Sắp xếp lại các chức năng, vai trò đối với gia đình hai họ (bao gồm ông bà nội, ngoại).
Giai đoạn 4: Gia đình có con vị thành niên (thiếu niên)
Nguyên lý chuyển tiếp: Ranh giới gia đình cần uyển chuyển, chấp nhận dần tính độc lập của các con và thực trạng sức khoẻ yếu kém của ông bà.
Các thay đổi:
+ Cho phép đứa con vị thành niên độc lập hơn. Hệ thống gia đình cũng “mở” hơn ra thế giới bên ngoài khi đứa con vị thành niên “đi đi, về về”.
+ Vợ chồng có thể quan tâm trở lại đối vơi nhau và với công việc của mình.
+ Chia sẻ trách nhiệm chăm sóc sức khỏe ông bà nội ngoại.
Giai đoạn 5: Gia đình có con trưởng thành
Nguyên lý chuyển tiếp: Chấp nhận những thay đổi lớn trong cơ cấu gia đình, có những người rời đi và có những người mới tiếp nhận vào hệ thống.
Các thay đổi:
+ Tái sắp xếp lại đời sống vợ chồng khi các con đã lớn.
+ Đối xử với con cái như những người lớn với nhau.
+ Sắp xếp lại các mối quan hệ bao gồm cả việc trở thành thông gia, ông bà, v.v…
+ Đối đầu với sức khoẻ kém hoặc cái chết của ông bà nội, ngoại.
Giai đoạn 6: Gia đình lúc cuối đời (later life)
Nguyên lý chuyển tiếp: Chấp nhận sự chuyển đổi vai trò của các thế hệ.
Các thay đổi:
+ Sức khoẻ bản thân giảm sút.
+ Hỗ trợ cho thế hệ con trẻ.
+ Có vị trí trong hệ thống dành cho người cao tuổi, truyền lại hiểu biết và kinh nghiệm cho thế hệ sau ( mà không làm thay chức năng con cháu).
+ Đối diện với cái chết của bạn đời, bạn bè, chuẩn bị cho cái chết của chính mình.
+ Nghiệm lại chuyện đời …
Khái niệm về chức năng gia đình lành mạnh (normal family functioning)
Wamboldt và Reiss (1991) đã đặt câu hỏi: Khi một thành viên trong gia đình có triệu chứng thì gia đình đó có được miêu tả là gia đình lành mạnh hay không? Ngược lại, một cá nhân có thể đánh giá là lành mạnh nếu cô ấy hoặc anh ấy trưởng thành trong một gia đình bệnh lý không, trừ khi đó là bệnh lý về sự thích nghi?
Sự lành mạnh gia đình có thể được đánh giá dựa trên các yếu tố: không có triệu chứng rối loạn chức năng được vận hành tốt và gia đình thích ứng được với sự thay đổi của hoàn cảnh xã hội.
Một vài tác giả khác (tiêu biểu như Satir và Baldwin, 1983) mô tả gia đình lành mạnh là bao gồm những cá nhân lành mạnh. Sự lành mạnh có thể thấy được qua các bình diện sức khoẻ thể chất, tinh thần, bối cảnh sống, dinh dưỡng, cảm xúc, trí năng và các mối quan hệ. Các thành tố chức năng ấy ở mỗi thành viên lại tạo nên cảm nhận về bản thân của riêng người ấy. Và tất cả những cảm nhận về bản thân của các thành viên sẻ góp phần tạo nên sự lành mạnh chung cho cả hệ thống gia đình.
Những gia đình tốt nhất thường là gia đình có sự gắn bó, rõ ràng và có cấu trúc linh hoạt (flexible). Đường biên giới các thế hệ và cá nhân là có sự trao đổi qua lại để hiểu nhau, thừa nhận một cảm giác gần gũi và chung sống với nhau lâu dài nhưng vẫn thể hiện được sự tôn trọng tính riêng tư của cá nhân và tiểu hệ thống.
Sự lành mạnh gia đình khuyến khích sự tự chủ cho tất cả những thành viên ở độ tuổi thích hợp. Gia đình lành mạnh thích nghi với cấu trúc bên trong của họ, vai trò mối quan hệ và những qui tắc phản ứng đối với tình huống, phát triển những yêu cầu và những thông tin mới từ môi trường.
Một khả năng thứ bậc rõ ràng tồn tại giữa tiểu hệ thống bố mẹ và con cái. Việc điều khiển uy quyền đến tất cả các thành viên trong gia đình một cách rõ ràng. Trong phạm vi truyền đạt, gia đình lành mạnh truyền đạt rõ ràng và có hiệu quả về cảm nghĩ của họ, thích hợp với điệu bộ tự nhiên và thái độ cảm xúc đang diễn đạt, không có các thông tin “nhập nhằng – nước đôi” (double-bind).
Khái niệm về gia đình bệnh lý (pathological or dysfunctional family)
Gia đình bệnh lý có tính chất không linh hoạt và không có khả năng thích nghi trước sự phản ứng của môi trường, hoặc tình huống yêu cầu sự thay đổi.
Những gia đình này có khuynh hướng không phân hoá, có đường biên giới không tốt, thất bại trong việc hỗ trợ phát triển sự lành mạnh cho mỗi cá nhân và thiết lập sự tin cậy trong mối quan hệ. Gia đình bệnh lý không linh hoạt, được định nghĩa là cấu trúc có khả năng không tốt, có sự giao tiếp yếu kém (tiêu biểu đó là sự giao tiếp không nhất quán), không có khả năng thương lượng và giải quyết vấn đề, cảm xúc được thể hiện bằng những cách thức tiêu cực, thiếu quan tâm và chăm sóc.
Theo Obson và những cộng sự (1983), khả năng thích nghi của gia đình có liên quan với chức năng hệ thống gia đình linh hoạt và có khả năng thay đổi. Nó còn có khả năng cấu trúc vai trò mối quan hệ và những qui tắc phản ứng trước tình huống và phát triển những yêu cầu. Ngược lại gia đình không lành mạnh thì bám vào các thông lệ cứng nhắc và không có khả năng thay đổi linh hoạt.
GIỚI THIỆU MỘT SỐ TRƯỜNG PHÁI TRỊ LIỆU HỆ THỐNG
Có rất nhiều trường phái trong quan điểm hệ thống, tuy nhiên trong khoá luận này chúng tôi đặc biệt nhấn mạnh đến quan điểm của ba tác giả đó là: Salvador Minuchin, Murray Bowen và Ivan Boszormenyi – Nagy.
Liệu pháp Bối cảnh - Xuyên thế hệ (Intergenerational–Contextual Family Therapy)
Liệu pháp này gắn với tên tuổi của Ivan Boszormenyi – Nagy và các tác giả khác như Sperk, Grunebaum và Ulrich, là sự phát triển của trị liệu gia đình theo định hướng phân tâm học.
Liệu pháp này nhấn mạnh đến các cơ chế động năng cả trong nội tâm cá nhân lẫn trong mối quan hệ liên cá nhân, và trong khi đã nhấn mạnh đến những gì đã xảy ra trong quá khứ nó vẫn chú tâm xem xét những vấn đề trong hiện tại.
Liệu pháp này được vận dụng trong một khung đạo đức–hiện sinh (ethical–existential framework) và xem gia đình gốc là trung tâm.
Nagy và Geraldine Spark ( 1973), đưa ra các khái niệm như “di sản” (legacy), “lòng trung thành”(loyalty), sự “hàm ơn” hay “mắc nợ” (indebtness) của một người đối với gia đình gốc của mình.
Tính trung thành là tất cả những kỳ vọng được đặt ra để các thành viên trong gia đình phải cam kết làm theo. Về cơ bản, lòng trung thành là nhằm mục đích duy trì sự tồn tại của gia đình hơn là giúp cho sự cá biệt hoá chủ thể (self-diffrentiation).   
Mỗi thành viên trong gia đình đều có một “quyển sổ ghi công và nợ” (ledger of merits and debts) - Đây là cách nói có tính ẩn dụ, trong đó “công” ám chỉ sự đầu tư vào các mối quan hệ, còn “nợ” có ý nói về những nghĩa vụ của thành viên đó. Nội dung của “cuốn sổ ghi” này thay đổi tuỳ theo người này đang đầu tư (anh ta có hỗ trợ, giúp đỡ ai khác không?) hay anh ta đang “rút tiền lời” ()1 (tức là đang khai thác lợi ích từ người khác). Khi có sự bất công xảy ra, sẽ xuất hiện việc “thanh toán công nợ về mặt tâm lý” (repayment of psychological debts). Ngoài ra mỗi thành viên còn lưu giữ sổ ghi công nợ của cả gia đình, một “hệ thống tài khoản xuyên thế hệ” (multi-generational accounting system) trong đó ghi rõ “ai vay mượn cái gì từ ai?”.
Các nghĩa vụ bắt nguồn từ các thế hệ trong quá khứ đang ngấm ngầm ảnh hưởng đến hành vi của các thành viên trong gia đình ở hiện tại (sự trung thành vô hình: invisible loyalty). Việc rối loạn chức năng gia đình xảy ra khi các cá nhân thành viên hoặc cả gia đình cảm thấy rằng lâu nay họ đã làm sai lệch cán cân công nợ mà việc sai lệch này đã không có cách giải quyết. Việc này làm giảm mức độ tin cậy lẫn nhau giữa các thành viên trong gia đình, dẫn đến việc những thành viên nào thấy mình bị mất mát nhiều sẽ phản ứng như mình có quyền được phá hoại hoặc cảm thấy như mình mắc nợ quá nhiều, hoặc khi đó trong gia đình sẽ xuất hiện một thành viên bị nêu danh để chịu gán tội: “một bệnh nhân chỉ định” (identified patient ).
Vì thế muốn hiểu được căn nguyên, chức năng, và điều kiện duy trì triệu chứng của một cá nhân thành viên, chúng ta phải xem xét lịch sử diễn biến của vấn đề, “sổ ghi công nợ của gia đình” và những “ tài khoản cá nhân chưa được thanh toán”.
Cấu trúc cơ bản của liệu pháp.
Liệu pháp bối cảnh - xuyên thế hệ là loại liệu pháp được thực hiện tập trung và lâu dài cho các cá nhân và gia đình, bao gồm cả những phiên trị liệu đa thế hệ. Tốt nhất là được thực hiện bởi một nhóm những nhà trị liệu để tái lập lại một khuôn mẫu vận hành cân bằng trong gia đình, trong đó những cá nhân này hỗ trợ cho những cá nhân khác. Nhà trị liệu khuyến khích từng thành viên tự bộc lộ bản thân và củng cố giá trị của từng cá nhân.
Xác định mục tiêu
Các mục tiêu trị liệu của liệu pháp này có tính phổ quát, chứ không tuỳ thuộc vào những đặc trưng riêng biệt của từng gia đình. Nhà trị liệu nhắm đến việc nêu ra những qui luật về tính trung thành còn đang ẩn khuất, ngấm ngầm bên trong gia đình; phát hiện những “tài khoản cá nhân và gia đình chưa được thanh toán”, tái lập lại sự cân bằng về mặt nghĩa vụ trong thực tế (tiến trình tái kết nối: rejunction process) nhằm phục hồi lại những quan hệ bị gãy đổ, bị lệch lạc, phát triển những cách thức quan hệ có tính thích nghi hơn, và cân đối lại cán cân cho – nhận giữa các thành viên bên trong gia đình. Trị liệu cũng giúp xây dựng một kế hoạch dự phòng cho các vấn đề tương tự sẽ xảy ra ngay trong hiện tại cũng như trong các thế hệ tương lai. Mặc dù việc làm mất đi triệu chứng và giảm đi sự đau khổ vẫn là mục tiêu quan trọng tức thời của việc trị liệu, nhưng mục đích bao quát của liệu pháp vẫn là nhằm giúp các cá nhân trong gia đình có được sự phân định rõ rệt giữa “kỷ” và “tha” (self–object    delineation) và tham gia có trách nhiệm hơn vào các mối quan hệ trong gia đình.
Liệu pháp Gia đình gốc (Family–of–Origin Family Therapy)  
Liệu pháp còn có tên gọi là liệu pháp Đa thế hệ (multigenerational therapy) do Murray Bowen đề xướng; cũng là một nhánh phát triển từ liệu pháp gia đình theo định hướng phân tâm. Tương tự như Nagy, liệu pháp của Bowen cũng nhấn    mạnh vào các yếu tố động lực học của nội tâm và quan hệ liên cá nhân (intrapsychic and interpersonal dynamics). Tuy nhiên, liệu pháp gia đình gốc chủ yếu tập trung vào động năng gia đình trong quá khứ. Gia đình gốc là đơn vị trung tâm của cách tiếp cận này.
Theo Bowen (1978), gia đình là một hệ thống các mối quan hệ về cảm xúc. Sự rối loạn chức năng phát sinh khi các cá nhân bị mắc mứu vào gia đình gốc của mình, khiến bản thân người này không thể khẳng định được cảm xúc và ý kiến của riêng mình và/ hoặc khiến anh ta không có khả năng đối phó hiệu quả trong việc giải quyết các vấn đề trong đời sống của mình.
Khái niệm then chốt trong học thuyết này là sự cá biệt hoá chủ thể (self-differentiation): Đó là khả năng của một cá nhân có thể biệt định hoá các chức năng cảm xúc và trí năng của mình. Nếu tiến trình cá biệt hoá tốt, cá nhân đó sẽ có chức năng cảm xúc và trí năng tương đối độc lập, một người như thế có khả năng hài lòng với các mối quan hệ xã hội và tự lựa chọn các mục đích    sống của đời mình.
Những cá nhân lành mạnh không “đầu tư quá mức” đến nổi mắc mứu vào các mối quan hệ cảm xúc trong gia đình gốc và cũng không cắt đứt hoặc không phủ nhận tầm quan trọng của các mối quan hệ này.
Trái ngược lại, có những cá nhân “ cá biệt hoá” kém, họ bị lẫn lộn giữa các chức năng cảm xúc và trí năng hoặc có sự tạo lập một “khối những cái tôi cá biệt hoá kém trong gia đình” (undifferentiated family ego mass) làm cản trở tiến trình trưởng thành của các cá nhân.
Hệ thống quan hệ cảm xúc gia đình tạo nên một cơ cấu tương quan phụ thuộc về mặt cảm xúc giữa các thành viên tuân theo những nguyên tắc tổ chức của gia đình đó. Ở một gia đình hạt nhân, hệ thống cảm xúc được tạo lập bởi người bố và người mẹ (hai người đồng hôn phối) và tính chất của hệ thống đó đặc biệt tương thích với mức độ cá biệt hoá của bản thân hai người này, từ các gia đình gốc của họ. Khi hôn nhân được hình thành giữa hai người có mức độ cá biệt hoá tốt, họ thường sẽ tạo nên một đời sống lứa đôi ổn định.
Khi cả hai người đồng hôn phối có mức độ cá biệt hoá kém, họ dễ trải nghiệm những nỗi lo âu khi tạo lập gia đình riêng của mình. Để giải quyết các vấn đề, họ thường có những phản ứng như: hạn chế sự gần gũi về cảm xúc với người kia, hoặc sẽ có những xung đột trong hôn nhân; sẽ xuất hiện một trong hai người có triệu chứng rối nhiễu hoặc hai người sẽ lôi kéo một người thứ ba vào cuộc để tạo lập một “ quan hệ bộ ba” (triangulation), đó có thể là một đứa con, một người bạn, người tình, bố, mẹ, hoặc một nhà trị liệu tâm lý, nhằm ổn định các căng thẳng trong hôn nhân của họ. Khi “Bộ ba” bị thất bại trong việc giải quyết vấn đề, những nhân tố khác lại được tìm kiếm để hình thành những bộ ba mới…
Các quan hệ bộ ba có thể lập đi lập lại và trở nên rối loạn về chức năng (tức là không giải quyết được vấn đề khó khăn) khi cá nhân thành viên cứ thể hiện kiên định mãi những vai trò một cách rập khuôn (ví dụ: một người mẹ trầm cảm, một người con có hành vi bộc phát, hoặc một người con quá giỏi dang…). Một    triệu chứng bệnh lý đôi khi cũng có vai trò như một tác nhân thứ ba trong quan hệ tam giác này. Ví dụ, một cá nhân có thể trở nên nghiện rượu để trốn tránh những đau khổ do đời sống hôn nhân có vấn đề chưa được giải quyết. Và sau đó, chứng nghiện rượu lại càng làm trầm trọng thêm các khó khăn trong hôn nhân.
Một loại quan hệ tay ba thường gặp nhất là giữa bộ ba: bố, mẹ và một đứa con. Đứa trẻ dễ bị tổn thương nhất trong số các con sẽ được lôi kéo vào bộ ba như một đáp ứng với sự rối loạn chức năng trong đời sống hôn nhân (đây gọi là “tiến trình phóng chiếu trong gia đình”: family projection process). Sự phóng chiếu ở đây có ngụ ý nói rằng bố mẹ đã “truyền” sang con mình sự yếu kém trong việc cá biệt hoá bản thân họ từ gia đình gốc của họ. Mức độ phóng chiếu tương ứng với mức độ cá biệt hoá kém của bố mẹ và mức độ khó khăn của các vấn đề bên trong gia đình. Tiến trình phóng chiếu này có thể dẫn đến sự tổn thương đứa trẻ và thậm chí lan sang cả những đứa con khác.
Ngoài ra, sự phát sinh tâm bệnh ở một cá nhân còn có thể liên quan đến “tiến trình truyền lan đa thế hệ” (multigenerational transmission process) trong đó có sự tái diễn của tiến trình phóng chiếu bên trong gia đình và lập đi lập lại các vấn đề xung đột xuyên qua nhiều thế hệ trong gia tộc. Các rối loạn tâm bệnh được coi như là một sản phẩm của lịch sử và phát triển từ thế hệ này qua thế hệ khác.
Cấu trúc cơ bản của liệu pháp.
Liệu pháp kiểu Bowen được áp dụng trong trị liệu các cặp vợ chồng hoặc từng cá nhân người trưởng thành, bởi một nhà trị liệu, có thể tiến hành ngắn hạn hoặc dài hạn, với nhịp độ mỗi tuần một lần hoặc cách khoảng xa hơn. Cặp vợ chồng là trung tâm điểm cơ bản và nhà trị liệu sẽ chỉ rõ việc gia tăng khả năng cá biệt hoá của mỗi người sẽ giúp loại bỏ triệu chứng bệnh lý của một cá nhân thành viên bên trong gia đình. Kết cấu của liệu pháp tương đối chặt chẽ và nhà trị liệu giữ một vai trò tích cực đặt các câu hỏi cho từng người trong cặp vợ chồng, về bản thân họ và các đáp ứng của họ đối với những lời phê bình của người kia.
Xác định mục tiêu.
Mục đích trung tâm của liệu pháp Bowen là giúp thân chủ đạt được mức độ cá biệt hoá tốt từ bên trong gia đình gốc của mình. Mục đích lâu dài này thường được “ẩn giấu” bên trong hợp đồng trị liệu, mặc dù nó hiếm khi đưa ra thảo luận công khai giữa nhà trị liệu và các thành viên gia đình. Tất cả các can thiệp trị liệu đều được thiết kế sao cho đạt đến mục đích này.
Liệu pháp gia đình theo trường phái cấu trúc (Structural Family Therapy )
Trường phái cấu trúc được khởi xướng bởi Salvador Minuchin và các cộng sự Auerswald, Montalvo, Aponte, Haley, Hoffman và Rosman. Mô hình trị liệu được bắt đầu thiết lập từ lúc Minuchin làm việc tại Trung Tâm Hướng Dẫn Trẻ Em Philadelphia, Hoa Kỳ, trị liệu cho các đối tượng tội phạm vị thành niên và các gia đình thuộc giai tầng kinh tế – xã hội thấp, mà chủ yếu là người Mỹ gốc Phi Châu. Loại liệu pháp này được áp dụng trong khi tiếp cận những trẻ em, thiếu niên và gia đình của trẻ, và những trẻ này thường là “bệnh nhân chỉ định”. Nền tảng học thuyết của liệu pháp dựa trên các khái niệm của lý thuyết cấu trúc. Chức năng sống được gọi là “thích nghi” hay “không thích nghi” sẽ được mô tả tuỳ theo kiểu cách tương tác giữa các cá nhân với nhau, cá nhân với gia đình và với môi trường sống xung quanh. Trường phái cấu trúc nêu ra một số khái niệm căn bản liên quan đến cấu trúc gia đình, mô hình giao tiếp, cách thức biểu hiện cảm xúc và cách thức ứng phó, thích nghi khi gia đình trải qua thời điểm chuyển tiếp giữa các giai đoạn phát triển.
Cơ cấu tổ chức (structural organisation): là mô hình quan hệ gia đình, có tính chất đặc thù riêng cho mỗi gia đình, và được điều chỉnh bởi bối cảnh xã hội và các nhiệm vụ phát triển của gia đình.
Mô hình tương tác trong gia đình sẽ cho thấy một số thông tin thu về “các đường biên giới” (boundraies), “hệ thống thứ bậc” (hierarchy), “sự liên kết” (alignment) và “quyền lực” (power) bên trong gia đình.
Các đường biên giới giúp nhận định các tiểu hệ thống và tạo nên những luật lệ cho phép “ai được tham gia” và “tham gia như thế nào” vào các công việc và nhiệm vụ (Miuchin, 1974).
Gia đình là cơ cấu tổ chức có thứ bậc, với cha mẹ là tiểu hệ thống có quyền hành (executive subsystem) đặt vị trí phía trên các con của họ.
Sự liên kết (alignment) nói về khả năng hợp tác với nhau hoặc đối lập nhau giữa thành viên này với thành viên khác trong khi thực hiện một trách vụ (Aponte, 1976). Trong các khái niệm về khả năng liên kết, có các khái niệm về sự “liên minh” như sau:
Coalition: có nghĩa là sự liên minh ngấm ngầm giữa hai thành viên trong gia đình để chống lại một thành viên thứ ba ( ví dụ: mẹ liên minh với con để chống lại bố …).
Alliance: cũng có nghĩa là sự liên minh, nhưng là liên minh giữa hai người cùng chia sẻ một quyền lợi chung không chịu sự kiểm soát của người thứ ba.
Quyền lực (power) là tầm ảnh hưởng của một thành viên trong gia đình đối với kết quả của việc thực hiện một công việc (Aponte, 1976).
Các gia đình bị rối loạn chức năng sẽ biểu hiện bởi các trục trặc ở các đường biên giới, ở sự liên kết hoặc “cán cân quyền lực” khiến cho gia đình không có được khả năng đáp ứng thích nghi trước các áp lực và nhu cầu phát triển của đời sống. Gia đình thể hiện sự kém thích nghi khi các thành viên chỉ bám víu một cách kiên định và cứng nhắc vào những cách thức tương tác vốn dĩ quen thuộc. Cách xếp loại các rối loạn chức năng gia đình có thể dựa trên cơ cấu nào bị ảnh hưởng nhiều nhất: các đường biên giới, sự liên kết, hay cán cân quyền lực. Các thuật ngữ như “kết dính” hay “mắc mứu” (enmeshment) và “xa cách” hoặc “không gắn bó” (disengagement) cũng ngụ ý chỉ các cách thức ứng xử không thích nghi về các đường biên giới trong gia đình và phản ánh những thái độ cực đoan trong quan hệ gia đình.
Một mô hình tương tác khác có tính chỉ báo cho sự trục trặc các đường biên giới trong gia đình đó là “sự xâm phạm các đường biên giới chức năng” (violation of function boundraries).
Một ví dụ cổ điển về mô hình này là một thành viên trong gia đình có sự can thiệp quá đáng vào “lãnh địa hoạt động” của các thành viên khác, như một đứa con có vai trò thay thế bố mẹ (parental child) có thể nắm giữ những quyền hành và trách nhiệm lẽ ra là thuộc về bố mẹ.
Các rối loạn chức năng về sự liên kết trong gia đình thường gặp ở các hình thức sau và ít nhất có liên quan đến ba thành viên.
+ Liên minh ổn định (stable coalition) trong đó thường xuyên có hai người nhất trí với nhau chống lại một người thứ ba.
+ Liên minh đường vòng (liên minh nối tắc: detouring coalition). Một khối liên minh đường vòng là kiểu liên minh được tạo lập giữa hai người khi họ đồng ý xem một người thứ ba là nguồn gốc gây ra các vấn đề khó khăn giữa họ với nhau, ví dụ: hai vợ chồng xem đứa con hư hỏng của họ đã tạo ra những vấn đề cho đời sống hôn nhân của họ. Kiểu liên minh này giúp làm giảm bớt áp lực cho cặp vợ chồng và tạo ra sự ấn tượng về sự hoà hợp giữa họ với nhau.
+ Ghép bộ ba (triangulation) xảy ra khi một thành viên trong gia đình (thường là bố hoặc mẹ) đòi hỏi một người thứ ba (điển hình là một đứa trẻ) đứng về phía mình để chống lại người kia. Người thứ ba thường cảm thấy mình ở vào một liên minh bị chia cắt (split alliance), vì cần phải đứng về phía người này để chống lại người thứ ba. Tiến trình này sẽ dẫn đến sự tê liệt về cảm xúc của người thứ ba và có thể khiến người này biểu hiện hành vi rối nhiễu (xuất hiện triệu chứng).
Các rối loạn chức năng gia đình liên quan đến sự phân bố cán cân quyền lực được thể hiện khi một thành viên trong gia đình mất khả năng sử dụng quyền hành của mình để thực thi những vai trò đã được phân công. Ví dụ cổ điển cho trường hợp này là khi có sự suy yếu chức năng của tiểu hệ thống có chức năng “cầm quyền” (executive subsystem ) mà thường là bố mẹ, bị giảm quyền lực cần thiết để hướng dẫn, giáo dục con cái.
Các gia đình bị rối loạn chức năng trên cả ba phương diện (đường biên giới, mối liên kết và cán cân quyền lực) sẽ rơi vào tình trạng vô tổ chức, có khả năng ứng phó kém với đời sống và cứ bám vào cách thức ứng phó quen thuộc
một cách cứng nhắc dù rằng không hiệu quả. Trái lại, một gia đình lành mạnh thường có cấu trúc được phân định rõ ràng, sắp xếp chu đáo, uyển chuyển và đoàn kết. Gia đình lành mạnh cho phép điều chỉnh tốt các chức năng và vai trò của từng thành viên, của các tiểu hệ và của các gia đình.
Cấu trúc cơ bản của liệu pháp.
Trường phái cấu trúc có sự linh hoạt về cách can thiệp, số thành viên trong gia đình tham gia trị liệu, địa điểm, thời gian và nhịp độ tiến hành các phiên trị liệu.
Trong các buổi trị liệu, thay vì tập trung vào nội dung (nói cái gì?), nhà trị liệu thường lưu ý vào các cách thức giao tiếp bằng lời và không lời giữa các thành viên gia đình, vì cách thức này phản ánh cơ cấu của gia đình đó.
Liệu pháp cấu trúc thường được thực hiện bởi một nhà trị liệu. Kết hợp hai nhà trị liệu đồng thời sẽ khó khăn khi áp dụng các kỹ thuật của liệu pháp, gương một chiều (one way mirror) có thể sử dụng với mục đích tái cấu trúc lại gia đình (ví dụ: tách đứa trẻ ra sau gương để trẻ có thể từ bên ngoài quan sát các tương tác của bố mẹ).
Xác định mục đích.
Gia đình thường mong muốn giải quyết các vấn đề hiện tại của “bệnh nhân chỉ định” và thường không quan tâm đến cấu trúc hiện tại của gia đình. Tuy nhiên, nhà trị liệu cần phải khẳng định rằng mục đích trị liệu chỉ có thể đạt được bằng cách tái cấu trúc lại tổ chức đơn vị gia đình để các mô hình tương tác có thể diễn ra một cách thích nghi hơn (restructuring: tái cơ cấu lại tổ chức gia đình).

Một mục đích quan trọng khác là giúp thay đổi cách đánh giá thực tại của gia đình (Minuchin và Fishman, 1981): nhà trị liệu giúp gia đình có thể xem xét, đánh giá vấn đề theo một cách thức khác, sao cho họ có thể phát triển các mối tương giao lành mạnh hơn (reframing: tái định dạng nhận thức). 

(Theo tamlytrilieu.com)

MÔ HÌNH TRỊ LIỆU NHẬN THỨC – HÀNH VI

swvn.blogspot.com

MÔ HÌNH TRỊ LIỆU NHẬN THỨC - HÀNH VI

Mô hình can thiệp trị liệu nhận thức- hành vi trên thế giới 

Trong các mô hình can thiệp trị liệu trên thế giới, chúng được chia ra những hợp phần: tâm lý trị liệu, các kỹ thuật ứng dụng, dùng thuốc. Những hợp phần này có sự liên kết với nhau. 

Tâm lý trị liệu 

Các tư liệu về trị liệu nhận thức đã phát triển theo cấp số nhân trong những thập kỷ qua. Có gốc rễ từ công trình của Aaron Beck trong việc trị liệu trầm cảm (Beck, 1972, 1976), phương pháp trị liệu nhận thức hiện đại đã trở thành mô hình được ứng dụng rộng rãi trong lĩnh vực tâm lý trị liệu và tâm bệnh học và đã được áp dụng trong nhiều vấn đề, các nhóm thân chủ và các hoàn cảnh trị liệu khác nhau. Mô hình cơ bản đã được thích ứng ở nhiều nền văn hóa một cách dễ dàng. Các nhà trị liệu ở Thụy Điển cũng như ở Trung Quốc xác định có những quan tâm và phát triển trị liệu nhận thức như là một mô hình thích hợp với các đặc trưng của các quốc gia này. Đây là một thực tế khá lý thú, vì đây là hai nước có nền văn hoá rất khác nhau. Các cách tiếp cận nhận thức dường như được ứng dụng xuyên văn hoá vì chúng tập trung vào diễn tiến và đặt nền tảng trên hiện tượng học (phenomenologically based). Mô hình này tôn trọng thực tế cho rằng những niềm tin tiềm tàng đặc thù, có thể được chia sẻ bởi những người thuộc những nền văn hoá riêng biệt và có sự khác biệt xuyên văn hoá đáng kể về những niềm tin này. 

Giống như các nhà tâm lý trị liệu phân tâm, nhà trị liệu nhận thức xác nhận sự quan trọng của những đối thoại bên trong và những động cơ từ bên trong (internal dialogues and motivations). Nhà trị liệu nhận thức làm việc để giúp thân chủ nói ra những điều chưa được nói, dù rằng họ vẫn cố gắng tránh dùng các ẩn dụ về sự đè nén các bản năng và quan niệm về việc hành vi chịu sự chi phối bởi các yếu tố bên trong gây lo âu, đè nén. Họ cũng cố gắng phát hiện và thay đổi các niềm tin cùng các thái độ tạo nên sự đau khổ mà thân chủ không tự nhận biết được. 

Sự phát triển của trị liệu nhận thức như là một mô hình xử lý thông tin trong các rối loạn lâm sàng đã được phát triển trong những năm 1970, vì những kỹ thuật trị liệu đặt nền tảng trên các mô hình được điều hòa bởi nhận thức được đề nghị và vì các kết quả nghiên cứu trị liệu chứng minh tính hiệu năng của các kỹ thuật đã được công bố. 

Bandura (1969, 1977a, 1977b) là tác giả được biết đến nhiều nhất trong việc phát triển mô hình học tập xã hội của chứng lo âu và tính gay hấn, và ông đã phát hiện ra tầm quan trọng trung tâm của sự nhận biết về “hiệu năng của bản thân” (self-efficacy) hoặc năng lực cá nhân trong việc hướng dẫn hành vi con người. Trong việc tái công thức hóa học thuyết hành vi cổ điển, một số tác giả cho rằng hành vi con người không chỉ được dàn xếp bởi các yếu tố môi trường và yếu tố ngẫu nhiên mà do các yếu tố niềm tin và tri giác của cá nhân đó. 

Mô hình ABC rất thông dụng hiện nay để miêu tả sự quan hệ giữa “sự kiện đi trước” (Antecedent events), “niềm tin” (Beliefs), “hành vi” (Behavior) và “hậu quả” (Consequenses) ở mỗi cá nhân được đề nghị bởi Albert Ellis (1962, 1979, 1985) đã gợi ý rằng những hành vi kém thích nghi hoặc các chứng nhiễu tâm là có liên quan trực tiếp đến những niềm tin phi lý của một con người đối với những biến cố trong cuộc sống của họ. Ellis đã phát triển một hệ thống các kiểu thức lệch lạc hoặc sai lầm thường thấy về mặt nhận thức đồng thời phát triển một số kỹ thuật trị liệu có hướng dẫn để thay đổi chúng. Mô hình của ông cho rằng bằng cách phát hiện và thay đổi các niềm tin phi lý hoặc không thực tế có thể dẫn đến sự thay đổi các phản ứng cảm xúc và hành vi trước các sự kiện. Bởi vì những niềm tin phi lý thường khá kiên định và có tính chất lâu đời. 

Seligman (1974, 1975) cho rằng cá nhân bị trầm cảm khi họ tin rằng họ không thể kiểm soát các kết quả quan trọng trong đời sống của họ (bao gồm cả các sự kiện tích cực lẫn các sự kiện tiêu cực hay trừng phạt). Mô hình trầm cảm “học được sự tuyệt vọng” (learned-helplessness), sau khi được cải biên bởi các tác giả Abramson, Seligman và Teasdale (1978), đã tạo nên sự quan tâm nghiên cứu thực nghiệm và gợi ý rằng sự qui lỗi bởi các thân chủ trầm cảm về nguyên nhân các sự cố trên có thể là mục tiêu quan trọng của việc trị liệu . 

Rehn (1977) đã đề nghị một mô hình nhận thức - hành vi về trầm cảm tập trung vào các thiếu sót trong việc “điều hòa bản thân” (self-regulation). Đặc biệt, tác giả cho rằng các thân chủ trầm cảm biểu hiện sự kém cỏi trong việc tự quản lý bản thân mình (họ tham dự một cách chọn lọc vào các sự kiện tiêu cực và muốn có các hiệu quả tức thì thay vì chờ đợi những kết quả lâu dài từ các hành vi của mình) và họ cũng yếu kém trong khả năng tự đánh giá bản thân (họ thường chỉ trích bản thân quá đáng và có khuynh hướng đổ lỗi một cách không thích đáng về trách nhiệm của họ đối với các sự kiện tiêu cực) cũng như yếu kém trong khả năng tự củng cố bản thân (self-reinforcement) (họ không có khuynh hướng khen thưởng cho các thành công của mình và trừng phạt mình quá lố khi không đạt được các mục tiêu). Mô hình của Rehn là sự phát triển các mô hình ban đầu về điều hòa hành vi bản thân (Kanfer, 1971) và có ích lợi lâm sàng với các vấn đề hành vi nhận thức đặc thù được trải nghiệm bởi các thân chủ trầm cảm (Fuchs & Rehn, 1977). 

Kỹ thuật 

Một số lớn những kỹ thuật nhận thức và hành vi có thể được dùng để phát hiện và sau đó đặt câu hỏi về lệch lạc trong nhận thức và các sơ đồ ẩn bên dưới . Những kỹ thuật này được dạy cho thân chủ để giúp họ đáp ứng một cách lành mạnh hơn. Sự phối hợp đúng đắn các kỹ thuật nhận thức và hành vi sẽ tuỳ thuộc vào khả năng của thân chủ, kỹ năng của nhà trị liệu, mức độ bệnh lý và các mục tiêu trị liệu đặc hiệu. Ví dụ: khi làm việc với các thân chủ liệt giường, những mục tiêu ban đầu của trị liệu có thể tập trung giúp đỡ thân chủ thực hiện các công việc tự chăm sóc và việc phân tích công việc cần huấn luyện thành những bước nhỏ với độ khó tăng dần có thể đạt thành công tốt hơn. Bắt đầu với các công việc ít khó khăn nhất, sau đó tiến dần từng bước sang các công việc khó khăn hơn sẽ giúp cho thân chủ ý thức được sự thành công của mình nhiều hơn. 

Trị liệu bằng thuốc 

Trị liệu bằng thuốc có thể là một phần trợ lực quan trọng trong chương trình trị liệu. Ngược với các điều tin tưởng thông thường, trị liệu nhận thức và trị liệu bằng hóa dược không loại trừ lẫn nhau, mà có thể phối hợp với nhau trong một chương trình trị liệu (Wright & Schrodt, 1989; Wright, 1987, 1992). Ngoài giá trị thay đổi các suy nghĩ không lành mạnh và hành vi kém thích ứng, đã tạo cho thân chủ cảm giác buồn rầu, lo âu, giận dữ, trị liệu nhận thức còn có thể sử dụng để phát triển và thay đổi các niềm tin không tốt đẹp về thuốc men.. Ngoài ra, như tác giả Wright (1992) nhận xét, trị liệu nhận thức có thể trang bị cho thân chủ các kỹ thuật giải quyết vấn đề, giúp phát triển sự hoạt động tâm lý xã hội tốt hơn và có thể giảm nguy cơ không lệ thuộc vào chương trình trị liệu thuốc men lâu dài. 

Kinh nghiệm lâm sàng cho thấy rằng trị liệu bằng thuốc có thể ích lợi trong việc giảm bớt các triệu chứng sinh học của trầm cảm, như mất ngủ, mệt nhọc và kém tập trung và như vậy có thể giúp các thân chủ trầm cảm nặng tham gia tích cực hơn trong quá trình trị liệu. Tuy nhiên, cơ chế dẫn đến sự thay đổi do trị liệu bằng thuốc men vẫn chưa được hiểu hết. Đối với các thân chủ hưng trầm cảm và loạn thần, thường phải sử dụng kết hợp thuốc men và tâm lý trị liệu nếu thân chủ không đáp ứng với các can thiệp hành vi hoặc bằng lời nói. 

Mô hình trị liệu nhận thức- hành vi trong CTXH cá nhân 

- Đây là sự tích hợp của nhiều nhà thực hành hiện đại như thuyết giải mẫn cảm hệ thống của Wolpe; trị liệu cảm xúc thuần lý của Ellis; hiện tượng cảm xúc của Lazarus, Cautela, Mahoney; sự thay đổi hành vi nhận thức của Meichenbaum… 

- Thuyết nhận thức – hành vi là cơ sở giúp đối tượng giảm hành vi không phù hợp và tăng cường hành vi đúng đắn. Từ đó đem lại cho đối tượng cảm giác đúng đắn về bản thân và giúp họ tương tác một cách hài hòa về môi trường xung quanh. 

- Một trong những mốc phát triển quan trọng của việc ứng dụng thuyết này là việc áp dụng của nhà tâm lý học Glasser trong làm việc với đối tượng có hành vi lệch chuẩn và áp dụng của nhà tâm lý Gambrill trong cách trị liệu với trẻ em bị lạm dụng, sau này trị liệu nhận thức – hành vi được tiếp tục nghiên cứu và áp dụng có hiệu quả cả trong lĩnh vực tâm thần. 

- Tiếp theo đó một số nhà nghiên cứu và thực hành công tác xã hội đã bổ sung thêm một số luận điểm về quyền con người và tính nhân văn vào lý thuyết nhận thức – hành vi CTXH. Trong đó khẳng định, NVCTXH khi làm việc với đối tượng cần công nhận quá trình tâm lý là yếu tố tự nó của con người và bản thân đối tượng có quyền thay đổi và điều khiển suy nghĩ của mình một cách cá nhân. NVCTXH cố gắng nhìn nhận và thấu hiểu được chuỗi tiến trình tâm lý diễn ra ở đối tượng và những người có liên quan để từ đó chấp nhận và thấu hiểu cách đối tượng nhìn nhận thế giới. 

- NVXH cùng với TC nhận định được nguồn gốc của hành vi lệch lạc (do suy nghĩ sai lạc, nhận thức sai lầm và gán nhãn nhầm cả từ tâm trạng ở trong ra đến ngoài hành vi bên ngoài do đó gây nên những niềm tin, hình tượng, đối thoại nội tâm tiêu cực dẫn đến hành vi sai lầm) 

=> TC có thể học hỏi để tập trung nghĩ về việc phát triển nhận thức, củng cố nhận thức, thích nghi môi trường để sửa đổi hành vi. 

Ví dụ: một NVCTXH trợ giúp cho TC: ban đầu TC chỉ nói những câu như “ tôi thực sự chán ghét cuộc sống này” thì NVXH bằng mô hình trị liệu này có thể nhận thấy suy nghĩ của TC đang có vấn đề. NVCTXH: “ anh (chị) hãy kể cho tôi nghe những gì muốn diễn đạt khi a(chị) dùng từ chán ghét”. Từ đó NVXH hiểu lý do dẫn đến TC có suy nghĩ tiêu cực như vậy. Khi đã tạo niềm tin và hiểu về TC, NVCTXH nên tôn trọng nhận thức của TC, cùng xác định vấn đề, xây dựng kế hoạch và thực hiện đạt mục tiêu đặt ra. Ban đâu, TC xử sự một cách chủ động tránh lặp lại những tình huống trước đây đã tạo ra hành vi và sửa đổi các tình huống nhờ thực hành nhận thức và điều chỉnh hành vi. 

- Trong CTXH khi áp dụng mô hình trị liệu này, NVCTXH cùng TC nên lập sẵn kế hoạch nhằm tập luyện và củng cố khi gặp tình huống bất ngờ. 

- NVXH có thể áp dụng các chiến lược hành vi là sự mô hình hóa minh họa cho những đáp ứng tích cực hoặc bật mý cho TC biết cách thức đáp ứng tích cực mà TC khao khát học hỏi, có thể lấy video làm minh họa để TC học tập, diễn tập.

SỬ DỤNG LIỆU PHÁP NHẬN THỨC – HÀNH VI TRONG ĐIỀU TRỊ NGHIỆN

trangtamly.wordpress.com

SỬ DỤNG LIỆU PHÁP NHẬN THỨC – HÀNH VI TRONG ĐIỀU TRỊ NGHIỆN

Liệu pháp nhận thức hành vi (CBT) trong điều trị nghiện là một dạng phương pháp trị liệu thông qua trò chuyện, dựa trên các nguyên tắc tâm lý học hành vi và các học thuyết về nhận thức. Thuyết hành vi tập trung vào các hành vi hay hành động do một người thực hiện. Học thuyết về nhận thức thì tập trung vào tri giác của con người – những thứ ta nhìn, nghe, cảm nhận, những suy nghĩ và cảm xúc.

Cognitive Behavioral Therapy for addiction, also known as Cognitive Behavior Therapy or CBT for short, is a type of “talk” therapy, based on the psychological principles of behaviorism and theories of cognition. Behaviorism focuses on the behaviors or actions a person takes, whereas theories of cognition focus on people’s perceptions — what they see, hear, and feel, their thoughts, and their emotions.

cbtblue-new

Nguồn: Central London

CBT là một biến thể của liệu pháp hành vi, tập trung vào việc thay đổi hành vi thông qua các tác nhân củng cố tích cực – tiêu cực, thưởng – phạt áp dụng lên các hành vi mà người đó muốn tăng cường hay giảm thiểu.

CBT is a variation of behavior therapy, which focuses on changing behavior through pairing positive and negative reinforcement, or rewards and punishments, with behaviors that the person wants to increase or decrease.

Các trải nghiệm của con người về mặt nhận thức bao gồm tri giác, suy nghĩ, cảm xúc và sự thấu hiểu. Việc thêm phân tích nhận thức vào liệu pháp hành vi dẫn tới sự hình thành của CBT, tức là ta sẽ xem xét cả những suy nghĩ và cảm nhận của con người về hành vi của họ. CBT đặc biệt khai phá các xung đột giữa cái ta muốn làm và cái ta thực sự làm.

The human experience of cognition includes our perceptions, thoughts, emotions and understanding. Adding analysis of cognition to behavior therapy led to the development of cognitive behavioral therapy by taking into account people’s thoughts and feelings about their behaviors. CBT particularly explores the conflicts between what we want to do and what we actually do.

CBT trong điều trị nghiện. Cognitive Behavioral Therapy for Addiction

Nghiện là một ví dụ điển hình về một dạng hành vi đi ngược lại với cái mà người ta muốn làm. Những người đang vượt qua căn bệnh này thường nói rằng họ muốn thay đổi những hành vi đó và có thể họ thực sự muốn ngưng sử dụng rượu, ma túy hoặc chấm dứt các hành vi mang tính ép buộc sử dụng các chất này, gây ra các vấn đề cho cuộc sống của họ. Tuy nhiên, những người này cũng thừa nhận thực hiện được những điều này là cực kỳ khăn.

Addiction is a clear example of a pattern of behavior which goes against what the person experiencing it wants to do. While people trying to overcome addictive behaviors will often say they want to change those  behaviors, and may genuinely want to quit alcohol, drugs, or other compulsive behaviors that are causing them problems, they find it extremely difficult to do so.

Ở CBT, các hành vi nghiện, như uống rượu bia, sử dụng ma túy, bài bạc, mua sắm không kiểm soát, nghiện game, nghiện ăn và các loại hành vi vượt mức khác là kết quả của các suy nghĩ lệch lạc và các cảm xúc tiêu cực kèm theo khác.

According to the cognitive behavioral therapy approach, addictive behaviors, such as drinking, drug use, problem gambling, compulsive shopping, video game addiction, food addiction, and other types of harmful excessive behavior, are the result of inaccurate thoughts and subsequent negative feelings.

CBT giải thích điều này bằng cách điều chỉnh mối tương tác giữa những suy nghĩ và cảm xúc của người bệnh. Các nhà tâm lý học nhận ra rằng rất nhiều người có những suy nghĩ dựa trên các niềm tin sai lệch, phi thực tế hoặc bất khả thi và những suy nghĩ này lần lượt sẽ gây ra các cảm xúc tiêu cực dọn đường cho lo âu, trầm cảm và các bệnh lý như nghiện. Bằng cách ghi nhận một cách có hệ thống các suy nghĩ và các cảm xúc, các sự kiện khiến ta nhớ đến chúng, và kết quả hành vi của các suy nghĩ và cảm xúc này, ta có thể bắt đầu thay đổi các quá trình phá hoại nỗ lực thay đổi hành vi của chúng ta.

Cognitive behavioral therapy explains this by clarifying the way that people’s thoughts and emotions interact. Psychologists realized that many of us have thoughts, based on beliefs that are untrue, unrealistic, or impossible to live up to, and these thoughts, in turn, cause negative feelings which feed anxiety, depression and conditions like addiction. By systematically recording our thoughts and associated feelings, along with the events that trigger those thoughts and feelings, and the behavior that we carry out as a result, we can begin to change the automatic processes that sabotage our efforts at changing our behaviors.

Bằng cách xem xét các kiểu suy nghĩ và cảm xúc thường gặp, ta có thể bắt đầu thay đổi suy nghĩ bằng cách chủ động xem xét hoàn cảnh một cách thực tế hơn, tránh dẫn đến các cảm xúc tiêu cực và chu kỳ lặp đi lặp lại của các hành vi có hại. Áp dụng các phần thưởng cho mỗi hành vi tốt sẽ giúp ta dần dần thay thế các hành vi đó, các hành vi tốt sẽ liên kết tạo ra các cảm xúc tích cực, và rồi mọi thức sẽ tự động diễn ra theo chiều hướng tốt hơn.

By looking at patterns of thoughts and feelings that we repeatedly experience, we can begin to change those thoughts by consciously looking at situations in more realistic ways, that do not automatically lead to negative emotions and resulting cycles of harmful behaviors. By rewarding ourselves for the healthier behaviors we replace those harmful behaviors with, over time, the healthier behaviors become associated with more positive emotions, and become more automatic.

CBT có khả năng theo dõi hành vi rất tốt, nhiều nghiên cứu đã chỉ ra tính hiệu quả của nó trong việc điều trị trầm cảm, lo âu và các bệnh lý khác, bao gồm cả nghiện.

CBT has an excellent track record, with numerous studies demonstrating its effectiveness in treating depression, anxiety and other conditions, including addiction.

CBT trở nên phổ biến cho đến cuối thế kỷ XX, sau đó liệu pháp này được định hình lại và thay thế bởi các liệu pháp hành vi “làn sóng thứ ba”, tập trung nhiều hơn vào chánh niệm, học cách chấp nhận và sống cho thực tại. Một số liệu pháp có thể liệt kê ở đây là Liệu pháp Tiếp nhận và Cam kết (ACT), Liệu pháp Hành vi Biện chứng (DBT), Liệu pháp Nhận thức dựa trên Chánh niệm và Liệu pháp tâm lý Phân tích Chức năng.

The CBT approaches that became popularized towards the end of the 20th century are themselves being refined and replaced by so-called “third wave” of behavior therapy, which focus on mindfulness, acceptance and being in the moment. These approaches include Acceptance and Commitment Therapy (ACT), Dialectical Behavioral Therapy (DBT), Mindfulness-Based Cognitive Therapy, and Functional Analytic Psychotherapy.

Nguồn: https://www.verywell.com/cognitive-behavioral-therapy-for-addiction-21953

Như Trang.