Thông tin Báo chí về Trung Tâm Cai Nghiện Thanh Đa

  1. VNExpress - 'Bố già' của hàng nghìn cuộc đời lầm lỡ

  2. VTV9 - Qui trình điều trị, giáo dục ...

  3. CAI NGHIỆN MA TÚY - CÔNG VIỆC NHÂN ĐẠO NHỌC NHẰN

  4. VTV6 - Điểm nóng - Thảm họa từ cái chết trắng

  5. Ghi nhận ở Trung tâm điều dưỡng và cai nghiện ma túy Thanh Ða

  6. ĐÓN NHẬN HUÂN CHƯƠNG LAO ĐỘNG HẠNG BA

  7. Công ty điều dưỡng và cai nghiện ma túy Thanh Đa - Tự hào 15 năm góp sức cùng cộng đồng

  8. FBNC - Cai nghiện ma túy

  9. FBNC - Cai nghiện ma túy

 10. Quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

 11. Cuộc chiến chống "cái chết trắng" của 1 cựu điệp báo viên

 12. Bài 2 - Tổng quan về Trung Tâm Điều Dưỡng và Cai Nghiện Ma Túy Thanh Đa

 13. Bài 3 - Quy trình cai nghiện tại Trung Tâm Điều Dưỡng và Cai Nghiện Ma Túy Thanh Đa

 14. HTV9 - CUỘC SỐNG QUANH TA

 15. Cuộc chiến chống "cái chết trắng" của 1 cựu điệp báo viên

 16. Bài 2 - Tổng quan về Trung Tâm Điều Dưỡng và Cai Nghiện Ma Túy Thanh Đa

 17.

 18. Hướng dẫn hỗ trợ điều trị chống tái nghiện ma túy nhóm opiats bằng thuốc Danapha-Natrex

 19. HƯỚNG DẪN ĐIỀU TRỊ THAY THẾ NGHIỆN CÁC CHẤT DẠNG THUỐC PHIỆN BẰNG THUỐC METHADONE

 20. Bác sĩ Nguyễn Hữu Khánh Duy - Giám đốc Công ty TNHH Điều Dưỡng và Cai Nghiện Ma Túy Thanh Đa Người cha của những đứa con lầm lạc

 21. Tổng quan Trung tâm cai nghiện ma túy Thanh Đa

 22. Tổng quan Trung tâm cai nghiện ma túy Thanh Đa

 23. Ex-spy sees continuity in helping people

 24. Nghe chiến sĩ tình báo kể chuyện dùng “vũ khí” tình thương

 25. Nhóm lãnh đạo doanh nghiệp trẻ ASIA đánh giá cao mô hình cai nghiện ma túy của Trung tâm Thanh Đa

 26. VIDEO: NGƯỜI LÍNH GIÀ TRÊN CUỘC CHIẾN MỚI - BÁC SĨ NGUYỄN HỮU KHÁNH DUY

 27. HÃY TRÁNH XA 10 LOẠI MA TÚY ĐANG ĐƯỢC LẠM DỤNG NHIỀU NHẤT THẾ GIỚI

 28. BÁC SĨ NGUYỄN HỮU KHÁNH DUY: NHÀ TÌNH BÁO VÀ CÁI NGHIỆP CHỐNG MA TÚY

 29. ‘Bố Khánh Duy’ - Người cha của những đứa con lầm lạc

 30. NGƯỜI TRÍ THỨC CHIẾN ĐẤU TRÊN MỌI MẶT TRẬN

 31. THÔNG TIN BÁO CHÍ VỀ TRUNG TÂM CAI NGHIỆN MA TÚY THANH ĐA

 32. VTV1 – Người đương thời Nguyễn Hữu Khánh Duy

 33. Phim tài liệu về Trung tâm Điều dưỡng và Cai nghiện Ma túy Thanh Đa

VNExpress – ‘Bố già’ của hàng nghìn cuộc đời lầm lỡ

TP HCM - Sáng tháng 9, bác sĩ Nguyễn Hữu Khánh Duy nheo mắt theo dõi từng chút động tĩnh của các phòng điều trị qua màn hình camera giám sát. Bỗng cửa bật mạnh kèm theo một giọng nói gấp gáp: "Bác Duy ơi, có ca cấp cứu". Người đàn ông 76 tuổi giật mình, sải bước tiến về phòng bệnh. Đó là một cô gái trẻ, đang điều trị tại Trung tâm cai nghiện Thanh Đa (quận Bình Thạnh).   30 phút sau, ông trở ra giải thích: "Con bé tăng huyết áp, có tiền sử bệnh tim. Giờ đã ổn rồi". Ông kể, những ca bệnh như này xảy ra hàng ngày tại trung tâm. "Nhiều thanh niên giả bệnh để trốn trại nhưng không thể qua mắt được tôi", bác sĩ Khánh Duy, giám đốc trung tâm vừa nói vừa cởi chiếc áo blouse trắng, đặt ống nghe xuống bàn.
Bác sĩ Nguyễn Hữu Khánh Duy theo dõi những buồng bệnh nơi các học viên cai nghiện đang ngủ trưa
Bác sĩ Nguyễn Hữu Khánh Duy theo dõi những buồng bệnh nơi các học viên cai nghiện đang ngủ trưa hôm 15/9. Ảnh: Minh Tâm.

23 năm nay, ông đã chữa trị cho hàng nghìn thanh niên sa ngã vào con đường nghiện ngập và được họ gọi bằng những cái tên thân thương như "bố già", "ông ngoại" hay chỉ đơn giản là "bố". Cơ duyên đưa ông đến với nghề này xuất phát từ chính nỗi ám ảnh trong quá khứ khi còn là một chiến sĩ điệp báo A10 trong thời kỳ chống Mỹ.

 

Bác sĩ Duy quê ở Nghệ An nhưng sinh ra và lớn lên ở miền Nam. Năm 1973, ông tốt nghiệp Đại học Y khoa Sài Gòn và tham gia Ban An ninh Sài Gòn - Gia Định với bí danh Năm Quang. Dù đang là Cụm phó cụm điệp báo A10, ông được cấp trên giao nhiệm vụ đăng lính của chính quyền Sài Gòn để giữ nhân thân hợp pháp, tiếp tục hoạt động theo yêu cầu của Ban An ninh T4. Ông trở thành bác sỹ trưởng quân y của Lữ đoàn 258 lính thủy đánh bộ của quân đội Sài Gòn.

 

Đời người chiến sỹ tình báo đơn tuyến, hoạt động trong lòng địch, bác sĩ Duy thường chứng kiến những người lính sử dụng ma túy như "thần dược" để quên đi sự cô đơn, nỗi sợ hãi nơi chiến trường. "Khi đó, người lính trở nên hung tợn và tàn ác. Chứng kiến cảnh dân thường vô tội chết trước họng súng của địch đang phê thuốc khiến tôi căm thù ma túy", ông kể.

 

Sau năm 1975, ông Năm Quang trở lại với tên thật Khánh Duy, công tác tại nhiều vị trí từ Phòng chống phản gián, Phòng chính trị nội bộ, bác sĩ trưởng trại giam Chí Hòa rồi đến Hội thẩm nhân dân. Tưởng rằng khi đã hòa bình, bom đạn lùi xa, chết chóc sẽ không còn, nhưng 9 năm làm việc ở khám Chí Hòa ông đã phải điều trị cho hàng trăm người nghiện ma túy. Khi đảm nhận chức vụ hội thẩm dự nhiều vụ án liên quan đến ma túy, ông mới hiểu ma túy đang trở thành "kẻ địch mới" tàn phá thế hệ trẻ.

 

"Tôi có cơ hội tiếp cận với người nghiện, hiểu được nhiều hoàn cảnh, lý do sa ngã của họ và tự nhủ với lòng, mình cần phải giúp những phận đời trẻ thoát khỏi cái chết trắng", bác sĩ Duy nhớ lại. Cuối năm 1999 khi mới 52 tuổi, ông xin về hưu, kêu gọi đồng đội chung tay xây dựng nên Trung tâm điều dưỡng và cai nghiện ma túy Thanh Đa.

 

Ông đưa tay nhấp nhấp chuột di chuyển trên màn hình camera quan sát từng phòng rồi bật bộ đàm gọi bảo vệ: "Còn một vài đứa ngồi bên ngoài, chú nhắc mấy con vào phòng nghỉ trưa".

 

Những học viên vào đây ngoài trị liệu cắt cơn, giải độc, vẫn phải thực hiện nếp sống kỷ luật giống trong doanh trại quân đội như thức dậy, tập thể dục đúng giờ, dọn dẹp nơi sinh hoạt sạch sẽ, học tập và lao động đúng quy định... Tất cả những điều này chủ yếu giúp người nghiện tái lập những thói quen lành mạnh.

 

Nhưng để xây dựng được một thói quen tốt cho các con như hôm nay, ông đã gặp khó khăn trong khoảng 5 năm đầu, vì chưa có kinh nghiệm chuyên môn. Ông kể, khi ấy trung tâm chỉ mới tiếp nhận khoảng 15-20 học viên nhưng quản không nổi. "Các con lên cơn rồi chửi bới, đánh nhau. Từng cán bộ phải chạy ra ôm học viên can ngăn. Anh bạn đồng hành với tôi hoảng quá xin nghỉ luôn", ông nhớ lại.

 

Lúc bấy giờ tài liệu về ma túy rất hiếm, bác sĩ Duy phải đi tìm kiếm khắp nơi, chỗ nào có hội nghị thì tới tham gia xin tài liệu, gặp người nước ngoài để học hỏi.

 

Ông dành hầu hết thời gian để tìm tòi, học hỏi, nghiên cứu các tài liệu liên quan đến ma túy và cai nghiện, đặc biệt là các liệu pháp về tâm lý. Nhờ kiến thức từ trường đại học y khoa và nghiên cứu sau này nên ông đọc, hiểu và nhớ tài liệu về cai nghiện ma túy rất nhanh.

 

Sau đó, ông tổng hợp lại thành một tập tài liệu bài bản rồi chia sẻ cho các đồng nghiệp khác. Hướng đi của ông dần cho kết quả như mong đợi. Đến nay, trung tâm đã cai nghiện và điều trị cho hơn 20.000 học viên nhưng các bác sĩ hiếm khi phải giải quyết xung đột. Việc điều trị cho người nghiện ma túy cũng cho những kết quả khả quan.

Những lúc không nghiên cứu tài liệu, bác sĩ Duy lại tìm các học viên để tâm sự, động viên
Những lúc không nghiên cứu tài liệu, bác sĩ Duy lại tìm các học viên để tâm sự, động viên. Ảnh Minh Tâm.

23 năm gần gũi với các con, giúp người bác sĩ hiểu được nhiều cảnh đời hơn. Ông nhớ, có những người cha già khóc ròng khi đến gặp ông. Họ giao đứa con nghiện cho ông, như giao cả một sứ mệnh để thay đổi. Có những bậc cha mẹ tuyệt vọng vì con đi cai nghiện quá nhiều lần mà vẫn tái nghiện. Có những đứa con đã từng gí dao vào cổ mẹ để lột những đồng tiền cuối cùng đem nướng vào ma túy.

 

"Những cảnh đời não nùng và thương tâm đến tận cùng. Và chính những điều ấy đã buộc tôi không được dừng lại", ông tâm sự.

 

Một ngày đầu năm 2021, có một học viên tên Trinh vào trung tâm khi vừa tròn tuổi 18. Mồ côi cả mẹ lẫn cha, sống cùng anh trai nhưng cô bé bị nghiện bóng cười. "Thời gian đầu con bé không chịu hợp tác, luôn nói là mình bình thường nhưng lên cơn là đập phá đồ đạc. Biết con bé không ba mẹ, tui luôn gần con tâm sự", bác sĩ Duy nhớ lại.

 

Sau hơn một năm điều trị, Trinh hồi phục và được cho về. Trước khi rời đi, cô nhiều lần xin được ở lại trung tâm để hỗ trợ "bố" cùng các thầy cô nhưng bị khước từ.

 

"Không riêng Trinh, nhiều em muốn vào trung tâm thăm bạn cũ, xin làm việc, song tôi bảo con hãy quên quá khứ ở nơi này đi. Ký ức hồi tưởng đối với người nghiện ma túy rất nguy hiểm, tôi không muốn các con lại ngựa quen đường cũ", ông nói.

 

Anh Lê Hoàng Sơn, 39 tuổi, ở quận Tân Phú đã vào trung tâm gần chục lần vì tái nghiện. Anh kể, mỗi lần cai khoảng bốn tháng trở lên, hồi phục và được về. Nhưng khi hòa nhập cộng đồng anh không cưỡng lại cám dỗ và tái nghiện. Nơi đây dần trở thành nhà của anh. Anh gọi bác sĩ Duy là "ông ngoại".

 

"Ông ngoại khó tính lắm nhưng rất tình cảm. Từ đại ca lớn nhất ở đây ai cũng thương hết. Mỗi lần đánh nhau, ông ngoại lớn tuổi vậy mà cũng ráng la lên rồi xông vào can ngăn mọi người. Mình rất nể", anh Sơn tâm sự.

 

Đến nay, ngôi nhà chung của những đứa con lầm lỡ được nâng cấp như một khu nghỉ dưỡng sinh thái với cây xanh, hồ bơi. Đặc biệt, trong phác đồ cai nghiện còn có mục vui chơi, giải trí như phòng karaoke, máy chơi games, bóng bàn, phòng chiếu phim... Theo bác sĩ Duy, giải trí là cách giúp người nghiện giải toả những cơn stress kéo dài, là cách phục hồi đời sống tinh thần vốn bị những cơn mê của ma tuý đánh mất.

 

76 tuổi, bác sĩ Duy hàng ngày vẫn dành hết thời gian cho trung tâm. Ông thường về nhà sau khi những "đứa con" của mình đã vào phòng đi ngủ và trở lại trung tâm khi chúng chưa thức giấc. Đêm đến, hệ thống camera tại nhà ông vẫn luôn sáng đèn. "Mình phải theo dõi từng hành động của tụi nhỏ, lỡ có chuyện gì xảy ra tui vẫn xử lý kịp", ông nói.

 

Ông tâm sự, mình cùng lắm chỉ gắn bó với tụi nhỏ thêm 4 năm nữa. Ông đã dành 10 năm chuyển giao từ từ cho thế hệ mới nối nghiệp, song ông vẫn chưa hết băn khoăn với nghề.

 

Với ông, nghề này đã trở thành cái nghiệp. Để cai nghiện thành công đòi hỏi nhiều chi phí, nhưng đa phần người nghiện đều có hoàn cảnh khó khăn. Làm sao có thể giúp hết được các con thoát khỏi "vũng lầy" này, đó là điều ông luôn trăn trở.

 

"Tui mong sẽ có nhà hảo tâm đứng ra hỗ trợ, cùng chung tay giúp đỡ những hoàn cảnh khó khăn. Tôi sẽ dừng làm việc khi cảm thấy sức khỏe không cho phép bởi niềm vui của tôi là khi cảm thấy mình sống có ích và vẫn được làm việc mỗi ngày", vị bác sĩ già nói.

 

Minh Tâm

Nguồn: https://vnexpress.net/bo-gia-cua-hang-nghin-cuoc-doi-lam-lo-4513368.html

VTV9 – Qui trình điều trị, giáo dục …

 VIDEO VTV 9 - QUY TRÌNH ĐIỀU TRỊ, GIÁO DỤC 

NHẰM ĐIỀU CHỈNH, PHỤC HỒI NHẬN THỨC,

HÀNH VI, NHÂN CÁCH - NÂNG CAO SỨC KHỎE -

CHỐNG TÁI NGHIỆN CHO NGƯỜI NGHIỆN MA TÚY

TẠI TRUNG TÂM CAI NGHIỆN THANH ĐA 

CAI NGHIỆN MA TÚY – CÔNG VIỆC NHÂN ĐẠO NHỌC NHẰN

CAI NGHIỆN MA TÚY - CÔNG VIỆC

NHÂN ĐẠO NHỌC NHẰN

TRẦN VIỆT TRUNG

Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và Trợ giúp

cộng đồng phòng, chống HIV/AIDS

           

      Những năm gần đây, tệ nạn ma tuý đã và đang gây ra những nguy hại và hiểm họa không chỉ đối với một số quốc gia mà đó mang tính toàn cầu. Phòng, chống ma tuý đó trở thành trách nhiệm và công việc của Cộng đồng Quốc tế và của từng quốc gia vì lợi ích chung của cả nhân loại cũng như của mỗi dân tộc. Trong cuộc đấu tranh với loại tệ nạn nguy hiểm này, giảm cung và giảm cầu là hai trận tuyến hết sức quan trọng, cùng quyết liệt, phức tạp và cam go mà mỗi thành công, kết quả ở đây dù là nhỏ bé cũng phải mất rất nhiều công sức, mồ hôi, thậm chí cả máu đổ của những người làm trực tiếp trong lĩnh vực công tác này. Trong đó, cai nghiện cho những người nghiện ma tuý là công việc mang tính nhân đạo, nhân văn nhưng cũng hết sức nhọc nhằn.

I.  SỰ NGỘ NHẬN NGUY HIỂM

      Cũng như nhiều quốc gia khác trong khu vực, sự gia tăng chúng mặt tệ nghiện ma tuý ở nước ta đã trở thành niềm lo lắng của nhiều gia đình, phường, xã và hơn nữa còn là nỗi nhức nhối hàng ngày của toàn dân, toàn xã hội. Ma tuý như cơn dịch hạch đã lây lan, phát triển rất nhanh. Người nghiện ma tuý ở nước ta có nhiều lứa tuổi khác nhau, với các thành phần, trình độ và hoàn cảnh khác nhau. Mỗi người trong số đó đi đến với con đường nghiện khác nhau nhưng phần lớn đều có chung một số phận: gia đình lục đục hoặc ly tán, hạnh phúc bị phá vỡ, kinh tế khuynh gia bại sảnbản thân người nghiện lâm vào bệnh tật, trong đó nhiều người đã mắc phải căn bệnh thế kỷ HIV/AIDS. Trong tổng số khoảng 171.000 người nghiện hiện nay có hồ sơ quản lý của cả nước, lứa tuổi thanh thiếu niên chiếm từ 70 - 80%. Tỷ lệ cao trên đây do nhiều nguyên nhân. Bên cạnh sự tò mò, tính hiếu thắng, thích khám phá và ưa tìm cảm giác mạnh cùng với sự đua đòi ăn chơi thái quá của lứa tuổi, một yếu tố không kém phần quan trọng là nhận thức và hiểu biết về ma túy, về tác hại và bản chất quá trình nghiện ma túy của nhiều người còn hạn chế, lệch lạc. Không ít người nghiện do suy nghĩ giản đơn là thử cho biết và như vậy mới là ăn chơi “sành điệu”!? Một số khác lại lấy ma tuý làm “cứu cánh” để giúp họ xoa dịu hoặc quên lãng những đau đớn về tinh thần, tình cảm khi có va vấp, khủng hoảng, hụt hẫng hoặc gặp thất bại nào đó trong cuộc sống. Họ đâu biết như vậy là họ đã “gửi trứng cho ác” và càng không hiểu rằng với ma túy, làm quen sử dụng thì dễ nhưng từ bỏ nó thì cực kỳ khó khăn.

II. GIẢI PHÁP NÀO CHO NGƯỜI NGHIỆN?

      Luật pháp của các nước trên thế giới xử lý người nghiện ma túy theo nhiều cách khác nhau. Một số nước coi người nghiện là tội phạm và nếu bị bắt (khi đang sử dụng hoặc mang trên người ma túy) sẽ bị đưa ra toà xét xử tù giam hoặc đưa vào các trung tâm cai nghiện và cưỡng bức lao động. Một số nước khác khuyến khích người nghiện nhẹ cai nghiện tự nguyện tại các trung tâm của nhà nước và cơ sở của tư nhân, tổ chức phi chính phủ hoặc tổ chức tôn giáo; nếu phát hiện người nghiện nặng sẽ cưỡng chế cai tập trung từ 2 đến 3 năm và khi về cộng đồng bị giám sát, quản thúc 3 năm tiếp theo. Với Việt Nam, chúng ta coi đa số người nghiện là lầm lỡ, sa ngã và họ là những nạn nhân đáng thương cần được xã hội cứu vớt khỏi con đường lầm lạc. Theo quan điểm của Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống ma tuý năm 2000 (được Kỳ họp thứ 3 của Quốc hội khóa XII thông qua) có thể coi ngư­ời nghiện ma tuý là ngư­ời bệnh, đồng thời cũng là ngư­ời có hành vi vi phạm pháp luật. Vì vậy, trước hết cần động viên, khuyến khích người nghiện tự nguyện đi cai với các hình thức cai tự nguyện khác nhau. Khi họ đi cai tự nguyện, luật pháp không coi họ là đối tượng bị xử lý hành chính. Nếu họ không tự nguyện, cần áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính cai bắt buộc tại các Trung tâm Chữa bệnh - Giáo dục - Lao động xã hội. Chúng ta đang có hướng sẽ thay các quyết định bắt buộc đi cai của cơ quan chính quyền bằng phán quyết của Tòa án dân sự như một số nước trên thế giới đang áp dụng.

      Trong Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống ma tuý có một chương riêng (Chương IV) về công tác cai nghiện cho người nghiện ma túy với các hình thức và biện pháp đa dạng, phong phú. Các chính sách và nguyên tắc áp dụng việc cai nghiện đối với ngư­ời nghiện ma tuý được thể hiện rõ trong Luật: khuyến khích ngư­ời nghiện ma tuý cai nghiện tự nguyện, đồng thời Nhà nư­ớc tổ chức các cơ sở cai nghiện bắt buộc và áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc đối với những ngư­ời không tự nguyện cai nghiện; Cai nghiện có thể tại gia đình, tại cộng đồng, tại các cơ sở tập trung của nhà nước hoặc của tư nhân; Hỗ trợ việc cai nghiện ma tuý và quản lý sau cai nghiện; Đa dạng hóa và xã hội hóa các hình thức cai nghiện… Cai nghiện phục hồi cho những người nghiện ma túy trở thành một trong những nhiệm vụ trọng tâm của công tác phòng, chống tệ nạn ma túy không chỉ trong giai đoạn trước mắt mà còn lâu dài trong chương trình phát triển kinh tế-xã hội của đất nước từng thời kỳ. Chính sách của Đảng, Nhà nước ta đối với người nghiện là tuyên truyền, giáo dục và động viên, khuyến khích họ đi cai nghiện đồng thời tạo điều kiện thuận lợi để người nghiện được học tập, rèn luyện, tham gia vào hoạt động lao động sản xuất, được hướng nghiệp dạy nghề, tham gia các hoạt động văn nghệ, thể thao để từng bước giúp họ thoát khỏi bàn tay ác độc của ma túy. Đó là chính sách nhân đạo, nhân văn của Đảng, Nhà nư­ớc ta đối với người nghiện ma tuý. Người nghiện như đứng chênh vênh giữa khoảng tối và sáng, rất dễ từng bước đi chệch sâu từ con đường lương thiện sang tội lỗi. Họ đang rất cần những bàn tay nhân ái, rộng lượng của cả cộng đồng và xã hội giúp đỡ. Đương nhiên luật pháp cũng sẽ xử lý nghiêm khắc với những kẻ cố tình tái phạm, không chịu học tập, rèn luyện để tiến bộ.

III.    MỘT QUÁ TRÌNH ĐỒNG BỘ VÀ TỔNG HỢP:

      Nghiện ma túy là một loại “bệnh” đặc biệt bởi vì người nghiện đồng thời bị lệ thuộc cả về sinh lý, tâm lý và cơ thể vào ma túy. Mặt khác cũng vì ma túy và do ma túy mà người nghiện có những sai lệch về nhận thức, hành vi và nhân cách. Theo quan điểm khoa học, người nghiện ma tuý cần đư­ợc xem xét dư­ới 3 góc độ: là ngư­ời bệnh (bị một loại bệnh tác động cả về sinh lý và tâm lý do sử dụng ma tuý), ngư­ời có hành vi vi phạm pháp luật (do sử dụng trái phép chất ma tuý) đồng thời là ng­ười sa ngã vào tệ nạn xã hội (bị lệch lạc về nhân cách, hành vi). Cai nghiện, phục hồi là đồng thời chữa trị cả 2 loại bệnh: xử lý sự ngộ độc mãn tính bằng các biện pháp y tế giải quyết những vấn đề về tâm lý, nhận thức, hành vi, nhân cách bằng các biện pháp giáo dục, tư vấn, tâm lý trị liệu và rèn luyện phục hồi sức khoẻ, năng lực lao động, sửa đổi hành vi và nhân cách. Tách rời các giải pháp đồng bộ nói trên hoặc chỉ nhấn mạnh, coi trọng một phía, hiệu quả công tác cai nghiện không cao, thậm chí thất bại. Vì thế, cai nghiện ma tuý phải là một quy trình áp dụng tổng hợp các ph­ương pháp, biện pháp đảm bảo xử lý đồng bộ cả 3 khía cạnh về y tế, pháp luật và xã hội nhằm phục hồi và trợ giúp cho ngư­ời nghiện từ bỏ được ma tuý, rời bỏ con đ­ường lầm lỗi trở lại thành ngư­ời bình thư­ờng. Đó cũng là cơ sở để xác định quy trình, nội dung các hoạt động và thời gian cai nghiện ma tuý trong mỗi hình thức cai nghiện, quản lý sau cai nghiện. Cai nghiệngiải quyết các vấn đề sau cai nghiệnmột quy trình đồng bộ, chặt chẽliên tục với các hoạt động đa dạng, tổng hợp được tiến hành tại trung tâm như cắt cơn giải độc, phục hồi sức khoẻ; giáo dục, phục hồi hành vi nhân cách; tư vấn, tâm lý trị liệu; dạy nghề hướng nghiệp; tổ chức lao động sản xuất; sinh hoạt văn hóa, thể thao... Trong đó, giữ vai trò ý nghĩa quyết định kết quả công tác cai nghiện là khâu quản lý, giám sát, giúp đỡ người nghiện sau cai lâu dài tại cộng đồng. Đây là giai đoạn có nhiều khó khăn phức tạp vì người nghiện vừa đi cai tập trung với thời gian 1-2 năm vẫn còn nhiều khả năng tái nghiện. Nếu người đã cai không tiếp tục rèn luyện, quyết tâm và thiếu sự hỗ trợ, quản lý, giám sát của gia đình, cộng đồng thì thành quả công tác cai nghiện khó bền vững. Mặt khác, người nghiện đã cai tái hoà nhập cộng đồng nhưng bị bỏ rơi, buông lỏng hoặc bị hắt hủi thì rất dễ bị lôi kéo trở lại với ma túy và điều nguy hại hơn là khi tái nghiện, mức độ nghiện của họ thường nặng hơn. Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống ma tuý năm 2000 đã bổ sung một bước trong quy trình cai nghiện, phục hồi cho người nghiện ma tuý là quy định thêm hoạt động quản lý sau cai nghiện đối với những người bị cai nghiện bắt buộc tại các Trung tâm cai nghiện mà có nguy cơ tái nghiện cao sau khi hoàn thành thời gian cai quy định với 2 hình thức: quản lý tại nơi cư trú và quản lý tại cơ sở quản lý sau cai nghiện. Đây là công đoạn mới của quy trình cai nghiện nhưng có ý nghĩa và tầm quan trọng, thậm chí là quyết định sự thành công hoặc thất bại của công tác này trong thực tế.

IV. NHỮNG NHÂN TỐ QUYẾT ĐỊNH SỰ THÀNH CÔNG:

      Thực tế đã chỉ rõ, nơi nào các cấp uỷ Đảng, Chính quyền nhận thức đúng tình hình, thấy rõ trách nhiệm trước dân, thực sự vào cuộc, có những nghị quyết, chương trình mục tiêu và các giải pháp cụ thể, động viên toàn dân tham gia tích cực phối hợp đồng bộ, chặt chẽ hoạt động của các cơ quan chức năng, các đoàn thể, cộng đồng dân cư thì nơi đó triển khai công tác cai nghiện vững chắcđạt kết quả rõ rệt. Mặt khác, công tác cai nghiện phục hồi chỉ mang lại hiệu quả cao khi áp dụng đầy đủ, nghiêm ngặt qui trình cai nghiện, phục hồi đi đôi với lồng ghép với các chương trình phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, địa bàn. Đồng thời tăng cường và mở rộng công tác xã hội hoá và đa dạng hoá lĩnh vực công tác này, huy động cao độ nguồn lực từ xã hội nói chung, mỗi gia đình nói riêng và rộng hơn là sức mạnh tổng hợp từ hệ thống chính trị của xã hội ta.

     Song song với công tác giảm cầu phải kết hợp đồng bộ, chặt chẽ với các hoạt động giảm cung làm trong sạch môi trường; truy quét, triệt phá mạnh các ổ nhóm, tổ chức buôn bán ma túy, đặc biệt là mạng lưới bán lẻ ma túy ở những địa bàn trọng điểm phức tạp; tích cực xây dựng xã phường lành mạnh không có tệ nạn xã hội, trong đó trọng tâm là tệ nạn ma túy. Đồng thời quan tâm giúp đỡ, tìm kiếm việc làm ổn định cho người nghiện sau cai khi tái hoà nhập cộng đồng, xoá bỏ sự phân biệt đối xử với người đã cai nghiện để họ vui vẻ, quyết tâm làm lại cuộc đời, đoạn tuyệt với ma túy.

      Cai nghiện ma túy là công việc nhân đạo, nhân văn nhưng hết sức khó khăn, phức tạp, đòi hỏi lòng từ tâm, nhân ái và tính kiên trì, bền bỉ của những người làm công tác phòng, chống ma túy nói chung, trực tiếp làm công tác cai nghiện phục hồi nói riêng. Trong lĩnh vực công tác này, mọi việc làm, đóng góp to nhỏ của mỗi người đều có ý nghĩa cao đẹp bởi vì như một phương châm của đạo Phật ở Phương Đông chúng ta vẫn khuyên nhủ mọi người là:"Cứu được một người, phúc đẳng hà sa"./.

 

Ghi nhận ở Trung tâm điều dưỡng và cai nghiện ma túy Thanh Ða

Ghi nhận ở Trung tâm điều dưỡng và cai nghiện ma túy Thanh Ða

Thành lập từ năm 2000, sau hơn 13 năm hoạt động, Trung tâm điều dưỡng và cai nghiện ma túy Thanh Ða (Hội Cựu chiến binh Việt Nam quận Bình Thạnh) đã tiếp nhận, điều trị cho hơn 11 nghìn lượt người nghiện ma túy với tỷ lệ người không tái nghiện đạt hơn 80%.
<h1"> ​

Ghi nhận ở Trung tâm điều dưỡng và cai nghiện ma túy Thanh Ða

Thành lập từ năm 2000, sau hơn 13 năm hoạt động, Trung tâm điều dưỡng và cai nghiện ma túy Thanh Ða (Hội Cựu chiến binh Việt Nam quận Bình Thạnh) đã tiếp nhận, điều trị cho hơn 11 nghìn lượt người nghiện ma túy với tỷ lệ người không tái nghiện đạt hơn 80%.

Lớp học nghề may tại Trung tâm điều dưỡng và cai nghiện ma túy Thanh Ða.

Là người có nhiều kinh nghiệm trong công tác cai nghiện ma túy, Bác sĩ, cựu chiến binh Nguyễn Hữu Khánh Duy, Giám đốc trung tâm  khẳng định: "Tại Trung tâm Thanh Ða, người nghiện hê-rô-in, nếu quyết tâm cai thì chắc chắn thành công". Một trong những nguyên nhân để Trung tâm Thanh Ða đạt hiệu quả cai nghiện cao là do  ngoài các biện pháp trị liệu thông thường, trung tâm còn thành lập Khoa chống tái nghiện dành cho những học viên đã hoàn thành quy trình cai nghiện tập trung, tự nguyện tham gia, đồng hành cùng chương trình chống tái nghiện.

Về bệnh lý, người nghiện ma túy là người mắc bệnh  mãn tính, không chỉ khó chữa mà còn rất dễ tái nghiện. Do lệ thuộc vào ma túy, cuộc sống hằng ngày của người nghiện chỉ loanh quanh trong việc tìm kiếm, sử dụng ma túy. Cùng với giảm sút sức khỏe, thể chất, người nghiện ma túy còn suy sụp tinh thần, thiếu tự tin vào bản thân mình lẫn gia đình và xã hội. Họ không chỉ không vượt qua chính mình, hướng tới cuộc sống lành mạnh, có ích cho xã hội mà còn có những hành vi ứng xử không phù hợp chuẩn mực đạo đức. Không ít người nghiện khi lên cơn nghiện đã dễ dàng vi phạm pháp luật, thậm chí giết người cướp của chỉ bởi mục đích có tiền để thỏa mãn cơn thèm ma túy.

Tại Trung tâm điều dưỡng và cai nghiện ma túy Thanh Ða, việc chống tái nghiện cho học viên sau cai được chuẩn bị và triển khai cho từng học viên ngay khi họ mới bắt đầu quy trình cai nghiện, đặc biệt là trong giai đoạn giáo dục trị liệu. Ở giai đoạn này, học viên không chỉ được trang bị kiến thức pháp luật mà còn được giáo dục phục hồi nhân cách, lòng tự tin và quan trọng nhất là giáo dục tính tự giác, ý chí quyết tâm từ bỏ ma túy. Thực tế công tác cai nghiện ma túy cho thấy, điều trị cắt cơn cho người nghiện không khó, phần khó khăn nhất là làm sao để người sau cai không tái nghiện. Theo các bác sĩ ở các trung tâm cai nghiện ma túy, tái nghiện ma túy không phải là hành động nhất thời, mà là một quá trình diễn biến tâm lý của người cai. Không ít học viên vào trung tâm là do bị bắt buộc. Trong giai đoạn giáo dục trị liệu, nếu công tác tư vấn tâm lý, giáo dục nhân cách chưa đạt hiệu quả như mong muốn, hoặc chỉ do một tác động nhất thời, họ rất dễ tái nghiện khi có điều kiện. Cách đây không lâu, tại Trung tâm Giáo dục dạy nghề và Giải quyết việc làm Nhị Xuân, khi được hỏi vì sao lại phải quay trở lại trung tâm để cai nghiện lần thứ hai, học viên Nguyễn Văn T. không giấu giếm cho biết, do giận gia đình lâu không lên thăm, nên T nảy sinh ý định sẽ hút ma túy lại khi được về nhà. Và ngay trong ngày đầu tiên được về, T cùng mấy người bạn cũ tìm mua hê-rô-in về hút ngay trước mặt cha mẹ "cho bõ tức". Tại Trung tâm Thanh Ða, Khoa chống tái nghiện được trang bị bài bản từ cơ sở vật chất đến  chuẩn bị nguồn nhân lực. Phòng ốc của khoa khá khang trang bao gồm phòng tư vấn tâm lý, phòng xét nghiệm; câu lạc bộ vui chơi giải trí rộng hơn 350 m2 đặt nhiều bàn bi-a, bóng bàn, có các phòng chiếu phim 3D, phòng hát ka-ra-ô-kê, các máy chơi games... để học viên của khoa khi đến uống thuốc chống tái nghiện (Natrexone) được sử dụng miễn phí. Cùng với thuốc hỗ trợ chống tái nghiện, đội ngũ cán bộ, nhân viên của khoa gồm bác sĩ điều trị; chuyên gia tâm lý, xã hội học có trình độ từ cử nhân đến tiến sĩ... thường xuyên theo dõi sức khỏe, chăm sóc sức khỏe y tế, tư vấn tâm lý, giúp đỡ giải quyết các khúc mắc về gia đình, đời sống xã hội... luôn đồng hành cùng học viên trong suốt quá trình trị liệu sau cai. Cũng trong quy trình cai nghiện, ngoài lao động tu bổ làm đẹp nơi ăn ở, sinh hoạt, học viên còn được học những nghề phù hợp. Trung tâm liên kết với trường trung học công nghiệp thành phố mở các lớp điện cơ, điện lạnh, cơ khí, vận hành máy công cụ (tiện, phay, bào); các lớp học may, mỹ nghệ, trang trí... cho học viên, tạo điều kiện để người cai nghiện có nghề, chuẩn bị tốt hơn khi hòa nhập cộng đồng. Cùng với đó, Trung tâm còn liên kết với các cơ sở sản xuất giới thiệu học viên đến làm việc sau cai...

Tại Khoa chống tái nghiện Trung tâm điều dưỡng và cai nghiện ma túy Thanh Ða, học viên Trần Khắc T, nhà ở quận Tân Bình không ngần ngại khoe đã hoàn toàn nói không với ma túy. Khẳng định thêm quyết tâm của mình, T cho biết, mỗi ngày có vài lần T đi qua những điểm trước đây mình thường mua và sử dụng hê-rô-in. Thế nhưng T tuyệt nhiên không hề có cảm giác thèm nhớ, hay muốn thử trở lại. Theo T cùng với hỗ trợ của thuốc chống tái nghiện, sự chuẩn bị, vững vàng tâm lý thì yếu tố  gia đình rất quan trọng. Ðược gia đình thường xuyên quan tâm chăm sóc, an ủi tình cảm, động viên tinh thần, có công việc ổn định, T đang hội đủ các  điều kiện để rèn giũa, làm lại cuộc đời. Một học viên khác của Khoa chống tái nghiện là anh Huỳnh Trung Hiếu, nhà ở huyện Cờ Ðỏ, TP Cần Thơ. Hiếu vướng vào hê-rô-in từ khi còn học THPT. Nhiều lần đi cai không thành công. Ðược các bác sĩ, chuyên gia tâm lý Khoa chống tái nghiện Trung tâm Thanh Ða điều trị, hơn một năm nay, Hiếu hoàn toàn không sử dụng lại ma túy, cơ hội cai nghiện thành công ngày càng rõ ràng, tương lai tốt đẹp đang trở về với người từng tự đánh mất chính mình.

Mang đậm truyền thống anh Bộ đội Cụ Hồ, các cựu chiến binh Trung tâm Thanh Ða đang tiếp tục đóng góp sức lực, lòng nhiệt huyết giúp đỡ, đưa những người lầm lỡ trở về con đường sáng.

BÀI VÀ ẢNH: XUÂN HÙNG

</h1">

ĐÓN NHẬN HUÂN CHƯƠNG LAO ĐỘNG HẠNG BA

Trung tâm Điều dưỡng & Cai nghiện Ma túy Thanh Đa

ĐÓN NHẬN HUÂN CHƯƠNG LAO ĐỘNG HẠNG BA

VÀ BẰNG KHEN THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ

Ngày 5-1-2012, Trung tâm Điều dưỡng và Cai nghiện ma túy Thanh Đa (TP. HCM) đã long trọng tổ chức lễ đón nhận Huân chương Lao động hạng Ba của Chủ tịch nước,  Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ, Bằng khen của UBND thành phố Hồ Chí Minh cho tập thể cán bộ công nhân viên trung tâm do đã có thành tích xuất sắc trong công tác điều dưỡng và cai nghiện ma túy.

Trung tâm Điều dưỡng & Cai nghiện Ma túy Thanh Đa

ĐÓN NHẬN HUÂN CHƯƠNG LAO ĐỘNG HẠNG BA 

VÀ BẰNG KHEN THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ

Ngày 5-1-2012, Trung tâm Điều dưỡng và Cai nghiện ma túy Thanh Đa (TP. HCM) đã long trọng tổ chức lễ đón nhận Huân chương Lao động hạng Ba của Chủ tịch nước,  Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ, Bằng khen của UBND thành phố Hồ Chí Minh cho tập thể cán bộ công nhân viên trung tâm do đã có thành tích xuất sắc trong công tác điều dưỡng và cai nghiện ma túy.

bac si nguyen huu khanh duy, cai nghien thanh da, dieu duong cai nghien ma tuy thanh da, huan chuong lao dong, bang khen thu tuong chinh phu

Đến dự lễ trao Huân chương có các ông: Trần Quốc Hương (Mười Hương), nguyên Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Nội chính Trung ương; ông Trần Lê Hùng, Phó Vụ trưởng Vụ Hành chính tổ chức công vụ phụ trách thi đua khen thưởng Văn phòng Chính phủ; ông Lê Thành Tâm, Giám đốc Sở Lao động – Thương bình & Xã hội TP. Hồ Chí Minh; ông Võ Minh Thắng, Phó trưởng ban Thi đua Khen thưởng TP. Hồ Chí Minh.

bac si nguyen huu khanh duy, cai nghien thanh da, dieu duong cai nghien ma tuy thanh da, huan chuong lao dong, bang khen thu tuong chinh phu

Trung tâm Điều dưỡng & Cai nghiện ma túy Thanh Đa được thành lập từ năm 1999 và là đơn vị tư nhân duy nhất trong cả nước được Bộ Lao động – Thương bình & Xã hội cấp giấy phép cho thực hiện toàn bộ quy trình cai nghiện, phục hồi cho người nghiện ma túy theo Nghị định 147 của Thủ tướng Chính phủ.

Sự thành công của Trung tâm Thanh Đa là biết kết hợp phương pháp Điều trị khoa học với các phương pháp Giáo dục – Tư vấn – Tâm lý và các Liệu pháp Xã hội. Hiện nay, Trung tâm Điều dưỡng và Cai nghiện ma túy Thanh Đa đang áp dụng phương pháp Trị liệu Cộng đồng của tổ chức Daytop Quốc tế, kết hợp với chương trình giáo dục Giá trị sống (Living Value), Tư duy tích cực (Positive Thinking), Làm chủ bản thân (Self Management) … do các tổ chức UNICEF, UNESCO của Liên Hợp Quốc hỗ trợ. Trung tâm Thanh Đa được đánh giá là đơn vị có dàn cán bộ giáo dục mạnh bao gồm: 2 Tiến sĩ, 3 Thạc sĩ tâm lý, 10 Cử nhân tâm lý và 3 Cử nhân Xã hội học. Trung tâm đã trang bị đầu tư đầy đủ cơ sở vật chất, đáp ứng kịp thời mọi yêu cầu của công tác cai nghiện từ y tế, giáo dục, dạy nghề, quản lý học viên đến hoạt động vui chơi, giải trí, ăn ngủ, nghỉ ngơi của học viên. Từ năm 2008, Trung tâm Điều dưỡng và Cai nghiện ma túy Thanh Đa đã triển khai thành công việc điều trị chống tái nghiện ma túy bằng thuốc Naltrexone kết hợp với Tư vấn tâm lý, Liệu pháp giáo dục, Liệu pháp xã hội … giúp người nghiện không còn thèm nhớ ma túy.

Thứ năm, ngày 23.08.2012

Công ty điều dưỡng và cai nghiện ma túy Thanh Đa – Tự hào 15 năm góp sức cùng cộng đồng

CÔNG TY ĐIỀU DƯỠNG & CAI NGHIỆN MA TÚY THANH ĐA - TỰ HÀO 15 NĂM GÓP SỨC CÙNG CỘNG ĐỒNG

Bác sĩ Nguyễn Hữu Khánh Duy, Giám đốc Cty Điều dưỡng & Cai nghiện ma túy Thanh Đa đã báo cáo thành tích hoạt động của công ty vì mục tiêu “phải giành giật để cứu từng con người” (lời cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt). 10 năm qua, công ty đã điều trị cho hơn 7.600 lượt học viên, đưa họ trở về tái hòa nhập đời sống cộng đồng. Đây là cái lãi lớn nhất và là một cái lãi vô giá” như nhận xét của bà Nguyễn Thị Hoài Thu - Chủ nhiệm Ủy ban các vấn đề xã hội của Quốc hội. 

BÁO CỰU CHIẾN BINH

CÔNG TY ĐIỀU DƯỠNG & CAI NGHIỆN MA TÚY THANH ĐA TỰ HÀO 15 NĂM GÓP SỨC CÙNG CỘNG ĐỒNG

Bác sĩ Nguyễn Hữu Khánh Duy, Giám đốc Cty Điều dưỡng & Cai nghiện ma túy Thanh Đa đã báo cáo thành tích hoạt động của công ty vì mục tiêu “phải giành giật để cứu từng con người” (lời cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt). 10 năm qua, công ty đã điều trị cho hơn 7.600 lượt học viên, đưa họ trở về tái hòa nhập đời sống cộng đồng. Đây là cái lãi lớn nhất và là một cái lãi vô giá” như nhận xét của bà Nguyễn Thị Hoài Thu - Chủ nhiệm Ủy ban các vấn đề xã hội của Quốc hội. Thượng tá Đinh Ngọc Sơn - Chủ tịch Hội CCB Cty Điều dưỡng & Cai nghiện ma túy Thanh Đa đã ôn lại lịch sử hào hung của QĐNDVN 65 năm qua và quá trình thành lập, phát triển, tổ chức hoạt động của Hội CCB Việt Nam qua 20 năm. Các CCB chỉ có một nguyện vọng duy nhất là phát huy bản chất truyền thống tốt đẹp của anh bộ đội Cụ Hồ tích cực tham gia xây dựng bảo vệ Đảng, chính quyền, chế độ xã hội chủ nghĩa và khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Với những thành tích đã đạt được trong 10 năm qua, Ban chấp hành Trung ương Hội CCB Việt Nam đã tặng kỷ niệm chương cho 4 đồng chí: Tiến sĩ Y khoa Trương Mộc Lợi; Bác sĩ Nguyễn Hữu Khánh Duy; Thượng tá Đinh Ngọc Sơn (Chủ tịch Hội CCB CTĐD&CNMTTĐ) và đồng chí Chu Đức Ngọc - Chi hội trưởng chi hội Y tế.

Năm 2009, CTĐD&CNMTTĐ và cá nhân bác sĩ Nguyễn Hữu Khánh Duy được: Bộ Công thương tặng Cúp vàng danh hiệu “Doanh nghiệp vì cộng đồng” và “Doanh nhân vì cộng đồng”; Bộ Y tế tặng Cúp vàng danh hiệu “Vì sức khỏe người Việt” và “Trái tim vì sức khỏe người Việt”; Hiệp hội Doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam trao tặng danh hiệu “Vì sự nghiệp phát triển Doanh nhân Việt Nam”; Đài Tiếng nói Việt Nam, Bộ Công thương, Bộ Y tế, Bộ Lao động - Thương binh & Xã hội,  Bộ Văn hóa Thể thao & Du lịch phối hợp cùng các tổ chức, hiệp hội có uy tín cao trong nước trao tặng Cúp vàng “Thương hiệu - Nhãn hiệu” và “Doanh nhân Tâm Tài”. Trung ương Hội Cựu chiến binh Việt Nam tặng danh hiệu “Doanh nhân CCB thành đạt” và danh hiệu “Doanh nhân CCB giàu lòng nhân ái”. Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh & Xã hội tặng Trung tâm bằng khen vì đã có thành tích xuất sắc trong công tác cai nghiện, phục hồi cho người nghiện ma túy. Ngoài ra công ty còn được Tổng cục An ninh - Bộ Công an tặng giấy khen vì đã có thành tích xuất sắc trong phong trào Bảo vệ an ninh tổ quốc do Cục Phản gián đề xuất. Sở Lao động - Thương binh & Xã hội Tp. Hồ Chí Minh đã tặng giấy khen cho công ty và bác sĩ Nguyễn Hữu Khánh Duy vì đã có thành tích xuất sắc 10 năm liền trong công tác điều dưỡng, phục hồi sức khỏe và cai nghiện ma túy.

THANH HƯƠNG

 

Quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

CHÍNH PHỦ -------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ---------------

Số: 221/2013/NĐ-CP

Hà Nội, ngày 30 tháng 12 năm 2013

NGHỊ ĐỊNH

QUY ĐỊNH CHẾ ĐỘ ÁP DỤNG

BIỆN PHÁP XỬ LÝ HÀNH CHÍNH

ĐƯA VÀO CƠ SỞ CAI NGHIỆN BẮT BUỘC

Căn cứ Luật tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001; Căn cứ Luật xử lý vi phạm hành chính ngày 20 tháng 6 năm 2012; Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội; Chính phủ ban hành Nghị định quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc (sau đây gọi là biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc). Chương 1.

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh Nghị định này quy định về trình tự, thủ tục lập hồ sơ đề nghị, thi hành quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc và tổ chức hoạt động của cơ sở cai nghiện bắt buộc. Điều 2. Giải thích từ ngữ Trong Nghị định này, những từ ngữ dưới đây được hiểu như sau: 1. Nơi cư trú ổn định là nơi người vi phạm thường trú hoặc tạm trú, nhưng phải là nơi người đó hiện đang thường xuyên sinh sống. 2. Học viên là người đang chấp hành quyết định tại cơ sở cai nghiện bắt buộc. 3. Người sử dụng ma túy trái phép là người đưa ma túy vào cơ thể mà không theo chỉ định của y, bác sỹ điều trị. Điều 3. Đối tượng bị đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc Đối tượng bị đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại Khoản 1 Điều 96 của Luật xử lý vi phạm hành chính gồm: 1. Người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên có nơi cư trú ổn định, đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn do nghiện ma túy mà vẫn còn nghiện. 2. Người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên chưa bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn do nghiện ma túy nhưng không có nơi cư trú ổn định. Điều 4. Thời hiệu áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc Thời hiệu áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là 03 tháng, kể từ ngày cá nhân thực hiện hành vi sử dụng ma túy trái phép lần cuối bị phát hiện và lập biên bản theo quy định tại Điều 8 Nghị định này. Điều 5. Không lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc Không lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với các trường hợp sau: 1. Người theo quy định tại Khoản 2 Điều 96 của Luật xử lý vi phạm hành chính. 2. Người đang tham gia các chương trình cai nghiện ma túy tại cộng đồng theo quy định tại Khoản 3 Điều 16 Nghị định số 81/2013/NĐ-CP ngày 19 tháng 7 năm 2013 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật xử lý vi phạm hành chính. 3. Người đang tham gia điều trị nghiện chất dạng thuốc phiện được quy định tại Khoản 2 Điều 3 Nghị định số 96/2012/NĐ-CP ngày 15 tháng 11 năm 2012 của Chính phủ quy định về điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế. Điều 6. Những hành vi bị nghiêm cấm trong việc lập hồ sơ đề nghị và thi hành quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 1. Xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của người bị đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc và người phải thi hành quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. 2. Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để sách nhiễu, đòi nhận tiền, tài sản, hạn chế quyền hợp pháp của người bị đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc và người phải thi hành quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. 3. Giả mạo, làm sai lệch hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; hồ sơ đề nghị hoãn, miễn chấp hành quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; hồ sơ đề nghị giảm thời hạn, tạm đình chỉ hoặc miễn chấp hành phần thời gian còn lại tại cơ sở cai nghiện bắt buộc. 4. Lợi dụng, bóc lột sức lao động, giao khoán sản phẩm đối với người chấp hành quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. 5. Yêu cầu hoặc gợi ý người chấp hành quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc hoặc gia đình họ đóng góp tiền hoặc vật chất khác ngoài các quy định của pháp luật. 6. Kéo dài quá thời hạn áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong quyết định của Tòa án. Điều 7. Kinh phí bảo đảm cho việc áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc Kinh phí bảo đảm cho việc áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc bố trí trong dự toán chi thường xuyên hàng năm của các cơ quan, đơn vị theo phân cấp ngân sách nhà nước hiện hành. Chương 2.

TRÌNH TỰ, THỦ TỤC LẬP HỒ SƠ ĐỀ NGHỊ ÁP DỤNG BIỆN PHÁP

ĐƯA VÀO CƠ SỞ CAI NGHIỆN BẮT BUỘC

Điều 8. Trình tự, thủ tục lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 1. Khi phát hiện người sử dụng ma túy trái phép, Công an cấp xã nơi người đó có hành vi vi phạm lập biên bản về hành vi sử dụng ma túy trái phép của người đó và tiến hành xác minh, thu thập tài liệu, lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Trường hợp cá nhân, tổ chức phát hiện người sử dụng ma túy trái phép thì báo cho cơ quan Công an cấp xã nơi người có hành vi vi phạm để lập biên bản và xác minh, thu thập tài liệu, lập hồ sơ: a) Trường hợp người vi phạm cư trú tại xã, phường, thị trấn nơi xảy ra vi phạm và đã được giáo dục tại xã, phường, thị trấn do nghiện ma túy thì lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại Khoản 1 Điều 9 Nghị định này; b) Trường hợp người vi phạm có nơi cư trú không thuộc xã, phường, thị trấn nơi xảy ra vi phạm thì bàn giao người và biên bản vi phạm cho cơ quan Công an cấp xã nơi người vi phạm cư trú để tiến hành lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại Khoản 1 Điều 9 Nghị định này. Việc bàn giao phải được lập thành biên bản, mỗi bên giữ một bản; c) Trường hợp chưa xác định được nơi cư trú ổn định của người vi phạm, thì tiến hành xác định nơi cư trú ổn định của người đó. Trong thời gian 15 ngày làm việc, nếu xác định được nơi cư trú ổn định thì thực hiện theo Điểm a hoặc Điểm b Khoản 1 Điều này; nếu không xác định được nơi cư trú ổn định thì lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại Khoản 2 Điều 9 Nghị định này. 2. Trong quá trình điều tra, thụ lý các vụ vi phạm pháp luật, cơ quan Công an cấp huyện hoặc cơ quan Công an cấp tỉnh phát hiện hành vi sử dụng ma túy trái phép hoặc dấu hiệu nghiện ma túy của người vi phạm thì tiến hành lập biên bản, xác minh, thu thập tài liệu và lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với người đó: a) Trường hợp người vi phạm thuộc quy định tại Khoản 1 Điều 3 Nghị định này thì lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại Khoản 1 Điều 9 Nghị định này. Hồ sơ được gửi cho phòng Tư pháp cấp huyện nơi người đó cư trú. b) Trường hợp người vi phạm thuộc quy định tại Khoản 2 Điều 3 Nghị định này thì lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại Khoản 2 Điều 9 Nghị định này. Hồ sơ được gửi cho phòng Tư pháp cấp huyện nơi cơ quan lập hồ sơ đóng trụ sở. Điều 9. Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 1. Đối với người nghiện ma túy có nơi cư trú ổn định: a) Bản tóm tắt lý lịch; b) Phiếu trả lời kết quả của người có thẩm quyền quy định tại Khoản 1 Điều 10 Nghị định này về tình trạng nghiện ma túy hiện tại của người bị đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; c) Biên bản về hành vi sử dụng ma túy trái phép; d) Bản tường trình của người vi phạm hoặc của người đại diện hợp pháp của họ; đ) Tài liệu chứng minh đã chấp hành xong Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn bao gồm: Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn do nghiện ma túy và Giấy chứng nhận đã chấp hành xong quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn do nghiện ma túy của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã; e) Giấy xác nhận hết thời gian cai nghiện ma túy tại gia đình hoặc cai nghiện ma túy tại cộng đồng của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc tài liệu chứng minh bị đưa ra khỏi chương trình điều trị nghiện chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế; g) Quyết định của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã về việc giao cho gia đình quản lý người bị đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời gian làm thủ tục đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; h) Văn bản của cơ quan lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. 2. Đối với người nghiện ma túy không có nơi cư trú ổn định: a) Hồ sơ đề nghị quy định tại Điểm a, b, c, d, h Khoản 1 Điều này; b) Quyết định của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã về việc giao cho tổ chức xã hội quản lý người bị đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời gian làm thủ tục áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Điều 10. Thẩm quyền xác định người nghiện ma túy. 1. Người có thẩm quyền xác định người nghiện ma túy là bác sỹ, y sĩ thuộc trạm Y tế cấp xã, bệnh xá Quân y, phòng khám khu vực, bệnh viện cấp huyện trở lên, phòng y tế của cơ sở cai nghiện bắt buộc có chứng chỉ hành nghề khám bệnh, chữa bệnh theo quy định của Luật khám bệnh, chữa bệnh và chứng chỉ tập huấn về điều trị cắt cơn nghiện ma túy do cơ quan có thẩm quyền cấp. Bộ Y tế hướng dẫn việc tập huấn và cấp chứng chỉ về điều trị cắt cơn nghiện ma túy. 2. Người có thẩm quyền xác định người nghiện ma túy phải chịu trách nhiệm về việc xác định của mình trước pháp luật. Điều 11. Thông báo về việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 1. Sau khi hoàn thành việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc quy định tại Điều 9 Nghị định này, cơ quan lập hồ sơ thông báo bằng văn bản về việc lập hồ sơ cho người bị đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc hoặc người đại diện hợp pháp của họ. 2. Văn bản thông báo về việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc gồm các nội dung cơ bản sau đây: a) Họ và tên người vi phạm; b) Lý do lập hồ sơ đề nghị; c) Quyền của người được thông báo: người được thông báo có quyền đọc, ghi chép, sao chụp hồ sơ và phát biểu ý kiến về việc lập hồ sơ tại Tòa án nhân dân cấp huyện; d) Địa điểm đọc hồ sơ; đ) Thời gian đọc hồ sơ: thời gian đọc hồ sơ là 05 ngày kể từ ngày nhận được thông báo. Điều 12. Gửi hồ sơ để kiểm tra tính pháp lý của hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 1. Hết thời hạn đọc hồ sơ quy định tại Điểm đ Khoản 2 Điều 11 Nghị định này, cơ quan lập hồ sơ đánh bút lục và lập thành hai bản, bản gốc gửi Trưởng phòng Tư pháp cấp huyện để kiểm tra tính pháp lý, bản sao lưu tại cơ quan lập hồ sơ theo quy định của pháp luật về lưu trữ. 2. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, Trưởng phòng Tư pháp cấp huyện có trách nhiệm kiểm tra tính pháp lý của hồ sơ. Kết quả kiểm tra phải được thể hiện bằng văn bản và gửi Trưởng phòng Lao động - Thương binh và Xã hội cùng cấp. 3. Việc kiểm tra tính pháp lý của hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại Khoản 2 Điều này phải bảo đảm phù hợp, đầy đủ theo quy định của pháp luật xử lý vi phạm hành chính đối với các vấn đề sau: a) Các tài liệu, giấy tờ trong hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại Điều 9 Nghị định này; b) Thời hiệu áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại Điều 4 Nghị định này; c) Đối tượng áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại Điều 3 Nghị định này; d) Thời hạn được coi là chưa bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn theo quy định tại Khoản 2 Điều 7 của Luật xử lý vi phạm hành chính; đ) Thẩm quyền lập hồ sơ; e) Trình tự, thủ tục lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại Điều 8 Nghị định này. Điều 13. Xem xét, quyết định việc chuyển hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 1. Trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ đề nghị của Trưởng phòng Tư pháp, Trưởng phòng Lao động - Thương binh và Xã hội đối chiếu hồ sơ đề nghị theo quy định tại Điều 9 Nghị định này với nội dung văn bản kiểm tra tính pháp lý của Trưởng phòng Tư pháp cấp huyện. a) Trường hợp hồ sơ đầy đủ thì đánh bút lục và lập thành hai bản, bản gốc chuyển cho Tòa án nhân dân cấp huyện, bản sao lưu tại phòng Lao động - Thương binh và Xã hội theo quy định của pháp luật về lưu trữ; b) Trường hợp hồ sơ chưa đầy đủ thì có văn bản đề nghị cơ quan lập hồ sơ bổ sung, trong đó nêu rõ lý do và các tài liệu cần bổ sung vào hồ sơ. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản yêu cầu, cơ quan lập hồ sơ phải bổ sung các tài liệu theo yêu cầu. Sau thời hạn trên, nếu hồ sơ không được bổ sung, Trưởng phòng Lao động - Thương binh và Xã hội trả lại hồ sơ cho cơ quan lập hồ sơ đồng thời thông báo bằng văn bản cho Trưởng phòng Tư pháp và người bị lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. 2. Hồ sơ đề nghị Tòa án nhân dân cấp huyện xem xét áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc: a) Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc quy định tại Điều 9 Nghị định này; b) Văn bản đề nghị của Trưởng phòng Lao động - Thương binh và Xã hội cấp huyện về việc xem xét áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc gửi Tòa án nhân dân cùng cấp. Văn bản nêu rõ tên cơ sở cai nghiện bắt buộc mà người bị đề nghị áp dụng biện pháp này sẽ phải thi hành. 3. Trường hợp Tòa án có văn bản đề nghị làm rõ một số nội dung trong hồ sơ, Trưởng phòng Lao động - Thương binh và Xã hội có trách nhiệm trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do. Điều 14. Giao cho tổ chức xã hội quản lý người không có nơi cư trú ổn định trong thời gian làm thủ tục áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 1. Tổ chức xã hội quản lý người không có nơi cư trú ổn định trong thời gian làm thủ tục áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc phải bảo đảm các điều kiện: a) Về cơ sở vật chất, thiết bị: cơ sở phải xây dựng thành khu liên hoàn, cách ly với môi trường bên ngoài để tránh thẩm lậu ma túy và tối thiểuphải có 03 phòng chức năng và các thiết bị kèm theo như sau: - Phòng khám và cấp cứu: diện tích tối thiểu 10 m2 trong đó có tủ thuốc với đầy đủ các danh mục thuốc, dụng cụ cấp cứu theo quy định của Bộ Y tế; - Phòng lưu bệnh nhân: diện tích tối thiểu 8 m2 và bằng hoặc lớn hơn 4 m2/người điều trị; trong phòng có đủ mỗi bệnh nhân 01 bộ dụng cụ sinh hoạt gồm giường, chiếu, ga, gối, chăn, màn; - Phòng thường trực của cán bộ y tế, bảo vệ; b) Về nhân sự phải có tối thiểu 04 người gồm: phụ trách đơn vị điều trị cắt cơn là y, bác sỹ chuyên khoa tâm thần hoặc đa khoa có chứng chỉ hành nghề theo quy định của Luật khám bệnh, chữa bệnh và có chứng chỉ tập huấn về điều trị cắt cơn nghiện ma túy; 01 y, bác sỹ điều trị; 01 điều dưỡng viên; 01 bảo vệ. 2. Tổ chức xã hội có trách nhiệm quản lý người bị đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời gian làm thủ tục thực hiện theo quy định tại Điều 131 của Luật xử lý vi phạm hành chính và hỗ trợ điều trị cắt cơn nghiện theo quy định của Bộ Y tế. 3. Tổ chức xã hội tham gia quản lý tại Khoản 2 Điều này được hỗ trợ kinh phí trong quá trình quản lý người bị đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc bao gồm: hỗ trợ trực tiếp cho người của tổ chức xã hội được phân công quản lý, giúp đỡ người nghiện; hỗ trợ tiền ăn, tiền thuốc chữa bệnh thông thường và các chi phí sinh hoạt khác cho người nghiện. 4. Bộ Tài chính chủ trì phối hợp với các Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Y tế, Bộ Nội vụ hướng dẫn điều kiện đảm bảo cho việc tổ chức quản lý người không có nơi cư trú ổn định trong thời gian lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Chương 3.

THI HÀNH QUYẾT ĐỊNH ÁP DỤNG BIỆN PHÁP ĐƯA VÀO CƠ SỞ CAI NGHIỆN BẮT BUỘC

Điều 15. Đưa người đã có quyết định vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 1. Trong thời hạn 05 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc của Tòa án nhân dân cấp huyện, cơ quan Công an cấp huyện chủ trì, phối hợp với Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội đưa người đi thi hành quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. 2. Việc đưa người chấp hành quyết định vào cơ sở cai nghiện bắt buộc phải được lập thành biên bản, có sự chứng kiến của đại diện Ủy ban nhân dân cấp xã và tổ trưởng tổ dân phố, trưởng thôn, ấp, bản hoặc tương đương nơi người phải chấp hành quyết định cư trú. Biên bản được lập thành 03 bản, một bản gửi Tòa án nhân dân cấp huyện nơi ra quyết định, một bản gửi cơ quan lập hồ sơ và một bản lưu tại cơ quan công an cấp huyện theo quy định của pháp luật về lưu trữ. Điều 16. Thủ tục tiếp nhận người bị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 1. Khi tiếp nhận người bị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc phải kiểm tra đối chiếu người, giấy chứng minh nhân dân (nếu có) hoặc dấu vân tay với các thông tin trong hồ sơ quy định tại Khoản 2 Điều này để bảo đảm đúng người bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc và lập biên bản giao nhận người, biên bản ghi rõ tình trạng sức khỏe của người đó, tài liệu, hồ sơ, tư trang, đồ dùng cá nhân mang theo. Biên bản được lập thành 04 bản, mỗi bên giữ 01 bản, 01 bản gửi Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội cấp huyện để lưu hồ sơ và 01 bản gửi Tòa án nhân dân cấp huyện nơi ra quyết định. 2. Hồ sơ tiếp nhận người bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc gồm: a) Quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc của Tòa án nhân dân cấp huyện; b) Bản sao biên bản đưa người thi hành quyết định vào cơ sở cai nghiện bắt buộc do cơ quan Công an cấp huyện cung cấp; c) Bản sao tóm tắt lý lịch của người bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc do cơ quan lập hồ sơ cung cấp. 3. Bộ phận Y tế của cơ sở cai nghiện bắt buộc có trách nhiệm kiểm tra sức khỏe và lập hồ sơ bệnh án của người bị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc để theo dõi, quản lý; điều trị thích hợp. Điều 17. Truy tìm đối tượng bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc bỏ trốn 1. Trường hợp người bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc bỏ trốn trước khi đưa vào cơ sở, thì cơ quan Công an cấp huyện nơi Tòa án quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc ra quyết định truy tìm. 2. Trường hợp người đang chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc bỏ trốn thì Giám đốc cơ sở cai nghiện bắt buộc ra quyết định truy tìm đối tượng. Cơ quan Công an có trách nhiệm phối hợp với cơ sở cai nghiện bắt buộc trong việc truy tìm đối tượng để đưa người đó trở lại cơ sở cai nghiện bắt buộc. 3. Trường hợp tìm được người bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc bỏ trốn mà không tự nguyện chấp hành yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền thì bị áp giải đưa trở lại cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại Nghị định số 112/2013/NĐ-CP ngày 2 tháng 10 năm 2013 của Chính phủ quy định hình thức xử phạt trục xuất, biện pháp tạm giữ người, áp giải người vi phạm theo thủ tục hành chính và quản lý người nước ngoài vi phạm pháp luật Việt Nam trong thời gian làm thủ tục trục xuất. 4. Thời gian bỏ trốn không được tính vào thời hạn chấp hành quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Điều 18. Hoãn, miễn chấp hành quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 1. Người phải chấp hành quyết định nhưng chưa đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc được hoãn chấp hành quyết định trong các trường hợp sau đây: a) Đang ốm nặng có chứng nhận của bệnh viện; b) Gia đình có khó khăn đặc biệt được Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú xác nhận. Gia đình có khó khăn đặc biệt là gia đình gặp thiên tai, hỏa hoạn, tai nạn, không có tài sản có giá trị để tạo thu nhập phục vụ sinh hoạt hoặc có bố, mẹ, vợ hoặc chồng, con bị ốm nặng kéo dài, không có người chăm sóc mà người bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc làlao động duy nhất của gia đình đó và được Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú xác nhận. Khi điều kiện hoãn chấp hành quyết định không còn thì quyết định được tiếp tục thi hành. 2. Người phải chấp hành quyết định nhưng chưa đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc được miễn chấp hành quyết định theo một trong các trường hợp sau đây: a) Mắc bệnh hiểm nghèo có chứng nhận của bệnh viện; b) Trong thời gian hoãn chấp hành quyết định quy định tại Khoản 1 Điều này mà người đó có tiến bộ rõ rệt trong việc chấp hành pháp luật hoặc lập công hoặc không còn nghiện ma túy; Người tiến bộ rõ rệt là người tích cực lao động, học tập, tham gia các phong trào chung của địa phương, nghiêm chỉnh chấp hành đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật Nhà nước và được Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú xác nhận. Người lập công là người dũng cảm cứu người, cứu được tài sản của Nhà nước, của tập thể hoặc của người khác và được Ủy ban nhân dân cấp xã khen thưởng; có sáng kiến cải tiến kỹ thuật có giá trị trong lao động, sản xuất, được cơ quan chức năng từ cấp tỉnh trở lên công nhận; có thành tích đặc biệt xuất sắc trong phong trào quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc và được tặng giấy khen của Công an hoặc Ủy ban nhân dân cấp huyện trở lên. c) Đang mang thai có chứng nhận của bệnh viện. 3. Thủ tục đề nghị hoãn miễn chấp hành quyết định: a) Hồ sơ đề nghị hoãn miễn bao gồm: Đơn đề nghị hoãn, miễn chấp hành quyết định của người phải chấp hành hoặc người đại diện hợp pháp của họ; Tài liệu chứng minh thuộc diện được hoãn, miễn chấp hành quyết định theo quy định tại Khoản 1, Khoản 2 Điều này. b) Hồ sơ đề nghị gửi Tòa án nhân dân cấp huyện nơi ra quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Điều 19. Giảm thời hạn, tạm đình chỉ hoặc miễn chấp hành phần thời gian còn lại tại cơ sở cai nghiện bắt buộc 1. Học viên đã chấp hành một nửa thời hạn quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, nếu có tiến bộ rõ rệt hoặc lập công thì được xét giảm một phần hoặc miễn chấp hành phần thời gian còn lại. Học viên có tiến bộ rõ rệt là người nghiêm chỉnh chấp hành nội quy, quy chế, quy trình cai nghiện tại cơ sở, tích cực lao động, học tập, tham gia các phong trào chung của cơ sở và được Hội đồng khen thưởng, kỷ luật của cơ sở cai nghiện bắt buộc (sau đây gọi tắt là Hội đồng) công nhận. Học viên lập công là người dũng cảm cứu người, cứu được tài sản của Nhà nước, của tập thể hoặc của người khác và được Giám đốc cơ sở cai nghiện bắt buộc khen thưởng; có sáng kiến cải tiến kỹ thuật có giá trị trong lao động, sản xuất, được cơ quan chức năng từ cấp tỉnh trở lên công nhận; có thành tích đặc biệt xuất sắc trong phong trào quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc và được tặng giấy khen của Công an hoặc Ủy ban nhân dân cấp huyện trở lên; 2. Học viên bị mắc bệnh hiểm nghèo, phụ nữ mang thai trong thời gian chấp hành quyết định thì được miễn chấp hành phần thời gian còn lại. 3. Trường hợp người đang chấp hành quyết định tại cơ sở cai nghiện bắt buộc ốm nặng có xác nhận của bệnh viện mà được đưa về gia đình điều trị thì được tạm đình chỉ chấp hành quyết định; thời gian điều trị được tính vào thời gian chấp hành quyết định; sau khi sức khỏe được phục hồi mà thời hạn chấp hành còn lại từ 03 tháng trở lên thì người đó phải tiếp tục chấp hành; trong thời gian tạm đình chỉ thi hành quyết định mà người đó có tiến bộ rõ rệt hoặc lập công thì được miễn chấp hành phần thời gian còn lại. 4. Định kỳ hàng quý hoặc đột xuất khi có học viên thuộc diện được giảm thời hạn, tạm đình chỉ hoặc miễn chấp hành phần thời gian còn lại tại cơ sở cai nghiện bắt buộc, Giám đốc cơ sở cai nghiện bắt buộc có trách nhiệm lập hồ sơ đề nghị và tổ chức họp Hội đồng xem xét đề nghị giảm thời hạn, tạm đình chỉ hoặc miễn chấp hành phần thời gian còn lại. 5. Căn cứ danh sách học viên được đề xuất, Hội đồng xem xét, biểu quyết đối với từng trường hợp cụ thể và kết luận theo đa số. Trường hợp số phiếu biểu quyết bằng nhau thì ý kiến của Chủ tịch Hội đồng là ý kiến quyết định. 6. Trong thời hạn 02 ngày, kể từ khi nhận được Biên bản họp của Hội đồng, Giám đốc cơ sở cai nghiện bắt buộc lập hồ sơ đề nghị gửi Tòa án nhân dân cấp huyện nơi cơ sở cai nghiện bắt buộc đóng trụ sở xem xét quyết định. Hồ sơ đề nghị gồm: a) Văn bản đề nghị của Giám đốc cơ sở cai nghiện bắt buộc; b) Danh sách học viên được đề nghị giảm thời hạn, tạm đình chỉ hoặc miễn chấp hành phần thời gian còn lại; c) Biên bản họp Hội đồng; d) Kết quả nhận xét, đánh giá hàng tháng của tổ, đội và bản thành tích của từng học viên được đề nghị; đ) Giấy xác nhận của bệnh viện về tình trạng sức khỏe đối với các trường hợp ốm nặng, bệnh hiểm nghèo, phụ nữ mang thai. 7. Trong thời gian chờ Tòa án nhân dân cấp huyện xem xét, quyết định, nếu người được đề nghị có hành vi vi phạm pháp luật, vi phạm nội quy, quy chế của cơ sở cai nghiện bắt buộc thì Giám đốc cơ sở có trách nhiệm tổ chức họp Hội đồng và làm văn bản đề nghị đưa người đó ra khỏi danh sách xem xét giảm thời hạn, tạm đình chỉ hoặc miễn phần thời gian còn lại gửi Tòa án nhân dân cấp huyện nơi nhận hồ sơ. Trường hợp đã có quyết định giảm thời hạn, tạm đình chỉ hoặc miễn phần thời gian còn lại nhưng chưa thi hành thì đề nghị Tòa án nhân dân cấp huyện xem xét hủy quyết định. Điều 20. Tạm thời đưa học viên ra khỏi cơ sở cai nghiện bắt buộc theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng hình sự 1. Theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng hình sự có thẩm quyền, Giám đốc cơ sở cai nghiện bắt buộc quyết định tạm thời đưa người đang chấp hành quyết định ra khỏi cơ sở cai nghiện bắt buộc để tham gia tố tụng trong các vụ án có liên quan đến người đó. Cơ quan tiến hành tố tụng hình sự là các cơ quan được quy định tại Khoản 1 Điều 33 Bộ luật tố tụng hình sự. Yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng hình sự phải thể hiện bằng văn bản gửi Giám đốc cơ sở cai nghiện bắt buộc trước khi đưa người đang chấp hành quyết định ra khỏi cơ sở. Văn bản yêu cầu phải có các nội dung chủ yếu sau: họ tên học viên, lý do và thời gian đưa học viên ra khỏi cơ sở. 2. Cơ quan có yêu cầu đưa học viên ra khỏi cơ sở cai nghiện bắt buộc chịu trách nhiệm đưa đối tượng đi và đưa đối tượng trở lại cơ sở đúng thời hạn đã ghi trong quyết định tạm thời đưa học viên ra khỏi cơ sở. Khi giao, nhận học viên phải lập biên bản theo quy định hiện hành. 3. Trường hợp cần gia hạn thì Thủ trưởng cơ quan tiến hành tố tụng hình sự có thẩm quyền phải có văn bản đề nghị Giám đốc cơ sở cai nghiện bắt buộc về việc gia hạn. Điều 21. Giải quyết trường hợp học viên chết trong thời gian chấp hành quyết định tại cơ sở cai nghiện bắt buộc 1. Trong thời gian đang chấp hành quyết định, nếu học viên bị chết thì Giám đốc cơ sở cai nghiện bắt buộc phải báo ngay cho cơ quan điều tra, Viện Kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân, cơ quan y tế gần nhất để lập biên bản xác nhận nguyên nhân chết. Việc lập biên bản phải có học viên làm chứng. Trong trường hợp cần thiết thì trưng cầu giám định pháp y. 2. Cơ sở cai nghiện bắt buộc có trách nhiệm thông báo ngay cho thân nhân học viên chết biết để mai táng. Trường hợp không có thân nhân hoặc thân nhân không đến trong vòng 24 giờ thì Giám đốc cơ sở cai nghiện bắt buộc có trách nhiệm tổ chức mai táng. Điều 22. Quản lý học viên 1. Học viên được bố trí chỗ ở, sinh hoạt theo tổ, đội và phải chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật của Nhà nước, nội quy, quy chế của cơ sở cai nghiện bắt buộc. 2. Căn cứ nội quy, quy chế của cơ sở cai nghiện bắt buộc, hàng tháng, quý, các tổ, đội tổ chức sinh hoạt để đánh giá kết quả rèn luyện, học tập, lao động của từng học viên và bình bầu, xếp loại theo 04 mức: tốt, khá, trung bình và yếu. 3. Tiêu chí xếp loại học viên do Giám đốc cơ sở cai nghiện bắt buộc xây dựng và ban hành. Học viên phải được tham gia vào quá trình xây dựng tiêu chí xếp loại học viên. 4. Thứ bảy tuần cuối cùng của mỗi tháng, các tổ, đội tiến hành họp bình xét, xếp loại cho từng thành viên. Căn cứ vào tiêu chí xếp loại học viên, từng học viên tự đánh giá xếp loại cho mình, các thành viên khác nhận xét và biểu quyết thông qua. Kết quả bình xét được thông qua khi có ít nhất 2/3 số người dự họp đồng ý. Việc bình xét phải được lập thành biên bản có chữ ký của Tổ trưởng hoặc Đội trưởng và cán bộ phụ trách. 5. Kết quả xếp loại học viên được thông báo công khai trên phương tiện thông tin của cơ sở cai nghiện bắt buộc trong 03 ngày tuần đầu của tháng tiếp theo để lấy ý kiến rộng rãi. Nếu không có ý kiến khiếu nại, Tổ trưởng gửi kết quả xếp loại về Phòng quản lý học viên để ghi vào Phiếu theo dõi đánh giá, xếp loại học viên trong bộ hồ sơ quản lý học viên. 6. Trường hợp có khiếu nại về kết quả xếp loại học viên, trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại, cán bộ phụ trách tổ, đội có học viên được xếp loại triệu tập họp tổ, đội để xem xét. Việc xem xét được lập thành biên bản gửi Giám đốc cơ sở cai nghiện bắt buộc để quyết định. 7. Học viên có thời gian cai nghiện, chữa trị tại cơ sở cai nghiện bắt buộc từ đủ ba tuần trở lên được xếp loại theo tháng; nếu từ đủ hai tháng trở lên được xếp loại theo quý. Việc xếp loại được thực hiện theo hướng dẫn tiêu chí xếp loại học viên. Điều 23. Chế độ cai nghiện, chăm sóc sức khỏe 1. Học viên được sàng lọc, đánh giá mức độ nghiện để xây dựng và thực hiện kế hoạch cai nghiện phù hợp. Học viên được tư vấn, được tham gia sinh hoạt nhóm nhằm giúp họ thay đổi hành vi, nâng cao kỹ năng sống, kỹ năng giải quyết tình huống gặp phải trong quá trình cai nghiện và kỹ năng phòng chống tái nghiện. 2. Học viên được điều trị cắt cơn, giải độc; điều trị rối loạn tâm thần và điều trị các bệnh nhiễm trùng cơ hội. Việc điều trị phải tuân thủ theo quy định của pháp luật về khám bệnh, chữa bệnh. 3. Học viên được lập hồ sơ theo dõi sức khỏe và định kỳ 06 tháng được khám, kiểm tra sức khỏe. Việc khám sức khỏe định kỳ phải được lập thành phiếu khám sức khỏe và được lưu trong hồ sơ theo dõi sức khỏe. 4. Học viên bị ốm nặng hoặc mắc bệnh hiểm nghèo vượt quá khả năng điều trị của cơ sở cai nghiện bắt buộc thì được chuyển tới cơ sở y tế hoặc đưa về gia đình để chữa trị, chăm sóc. Chi phí điều trị tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh do bản thân học viên hoặc gia đình học viên tự thanh toán. Trường hợp học viên có bảo hiểm y tế còn thời hạn sử dụng thì được quỹ bảo hiểm y tế chi trả chi phí khám bệnh, chữa bệnh theo quy định của pháp luật về bảo hiểm y tế. Trường hợp học viên không có bảo hiểm y tế, cơ sở cai nghiện bắt buộc hỗ trợ đối với học viên là thân nhân của người có công với cách mạng, đối tượng bảo trợ xã hội, đối tượng thuộc gia đình hộ nghèo, hộ cận nghèo. Mức hỗ trợ bằng mức quỹ bảo hiểm y tế chi trả cho đối tượng tương ứng. Trường hợp học viên không thuộc đối tượng này nhưng không còn thân nhân, cơ sở cai nghiện bắt buộc hỗ trợ chi phí khám bệnh, chữa bệnh theo mức bằng mức quỹ bảo hiểm y tế chi trả cho đối tượng thuộc hộ nghèo. Điều 24. Chế độ ăn, mặc và sinh hoạt 1. Định mức ăn hàng tháng của học viên được quy định như sau: gạo 17 kg, thịt hoặc cá 1,5 kg, đường bình thường 0,5 kg, muối 1,0 kg, bột ngọt 0,5 kg, nước mắm 01 lít, rau xanh 15 kg, chất đốt 15 kg củi hoặc tương đương. Ngày lễ, Tết dương lịch học viên được ăn thêm không quá 03 lần tiêu chuẩn ngày thường; các ngày Tết nguyên đán học viên được ăn thêm không quá 05 lần tiêu chuẩn ngày thường. Tiêu chuẩn ăn được tính theo giá thị trường của địa phương. Chế độ ăn đối với học viên bị ốm do Giám đốc cơ sở cai nghiện bắt buộc quyết định theo chỉ định của cơ quan y tế. 2. Học viên được trang bị quần áo và đồ dùng sinh hoạt thiết yếu như sau: a) Chăn (phù hợp với điều kiện thời tiết tại nơi cơ sở cai nghiện bắt buộc đóng trụ sở) và màn: sử dụng định kỳ 03 năm/lần; b) Hàng năm, mỗi học viên được cấp hai chiếc chiếu, hai bộ quần áo mùa hè, hai bộ quần áo mùa đông, ba bộ quần áo lót, hai khăn mặt, hai đôidép nhựa, hai bàn chải đánh răng, một áo mưa ni lông, một chiếc mũ cứng, một chiếc mũ vải, hai đôi tất chân và một đôi găng tay. Hàng quý, mỗi học viên được cấp một hộp thuốc đánh răng 150 gam, một lọ dầu gội đầu loại 200 ml, 01 bánh xà phòng thơm và 01 kg xà phòng; c) Băng vệ sinh đối với học viên nữ: 02 gói/người/tháng. Căn cứ vào định mức hiện vật trang bị cho học viên, cơ sở cai nghiện bắt buộc lập dự toán hàng năm trên cơ sở giá cả thực tế trình cấp có thẩm quyền phê duyệt. 3. Cơ sở cai nghiện bắt buộc tổ chức tiếp sóng các chương trình thời sự trên hệ thống truyền thanh, truyền hình để học viên được tiếp cận các thông tin cần thiết hàng ngày; tổ chức cho học viên tham gia các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao, đọc sách, báo, xem truyền hình và các hoạt động vui chơi giải trí khác ngoài thời gian học tập và lao động. Căn cứ quy mô và điều kiện, cơ sở cai nghiện bắt buộc xây dựng tủ sách và phòng đọc cho học viên, định kỳ hàng tháng, hàng quý tổ chức giao lưu văn nghệ giữa các tổ, đội. Điều 25. Chế độ học văn hóa 1. Học viên được tham gia các lớp học văn hóa phù hợp với trình độ của mình. Căn cứ vào khả năng và điều kiện thực tế, cơ sở cai nghiện bắt buộc tổ chức dạy văn hóa theo quy định của pháp luật. Cơ sở cai nghiện bắt buộc có trách nhiệm tổ chức các lớp học xóa mù chữ theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo. 2. Cơ sở cai nghiện bắt buộc phối hợp với cơ quan quản lý giáo dục và đào tạo tại địa phương tổ chức thi học kỳ, kết thúc năm học, chuyển cấp, tuyển chọn học sinh giỏi và cấp văn bằng chứng chỉ học văn hóa theo định của Bộ Giáo dục và Đào tạo. 3. Sổ điểm, học bạ, hồ sơ và các biểu mẫu liên quan đến việc học văn hóa ở cơ sở cai nghiện bắt buộc thực hiện theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Điều 26. Chế độ học nghề 1. Học viên chưa có nghề hoặc có nghề nhưng không phù hợp thì được tham gia học nghề. 2. Cơ sở cai nghiện bắt buộc thực hiện hoạt động dạy nghề khi có đủ các điều kiện cần thiết về diện tích phòng học, diện tích nhà xưởng, thiết bị dạy nghề, đội ngũ giáo viên, chương trình, giáo trình và được Sở Lao động - Thương binh và Xã hội cấp giấy chứng nhận đăng ký hoạt động dạy nghề. 3. Trường hợp không đảm bảo các điều kiện dạy nghề nêu trên, cơ sở cai nghiện bắt buộc được phép tổ chức liên kết đào tạo với các trường dạy nghề, các cơ sở dạy nghề khác tại địa phương. Hình thức liên kết và nội dung dạy nghề phải bảo đảm tuân thủ theo quy định của pháp luật về dạy nghề. Điều 27. Chế độ lao động 1. Học viên được tham gia lao động trị liệu và được phân công công việc phù hợp với sức khỏe, độ tuổi, giới tính. Lao động trong cơ sở cai nghiện bắt buộc nhằm mục đích trị liệu, giúp cho học viên nhận thức được giá trị của lao động và phục hồi kỹ năng lao động đã bị suy giảm do nghiện ma túy. 2. Thời gian lao động của học viên không quá 03 giờ/ngày. Học viên được nghỉ lao động các ngày thứ bảy, chủ nhật, ngày lễ, tết theo quy định của pháp luật. Không tổ chức lao động cho học viên trong giai đoạn cắt cơn giải độc. 3. Học viên được hưởng tiền công lao động phù hợp với kết quả lao động của họ. 4. Trường hợp học viên bị tai nạn lao động thì cơ sở cai nghiện bắt buộc phải tổ chức cứu chữa kịp thời và làm các thủ tục cần thiết để giải quyết chế độ trợ cấp theo quy định của pháp luật. Điều 28. Chế độ thăm, gặp thân nhân 1. Học viên được quyền thăm gặp thân nhân tại phòng thăm gặp của cơ sở cai nghiện bắt buộc, một tuần một lần, mỗi lần không quá 02 giờ và tối đa không quá 03 thân nhân. Trường hợp gặp lâu hơn phải được Giám đốc cơ sở cai nghiện bắt buộc đồng ý và tối đa không quá 04 giờ. Học viên có vợ hoặc chồng, được Giám đốc cơ sở cai nghiện bắt buộc xem xét, cho phép thăm gặp tại phòng riêng của cơ sở cai nghiện bắt buộc một lần trong tháng và tối đa không quá 48 giờ cho một lần gặp. Căn cứ quy mô và điều kiện, cơ sở cai nghiện xây dựng phòng để học viên thăm gặp gia đình. 2. Việc tổ chức thăm gặp thân nhân được thực hiện theo quy chế của cơ sở cai nghiện bắt buộc. Quy chế thăm gặp của cơ sở cai nghiện bắt buộc ban hành theo hướng dẫn của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội. Điều 29. Giải quyết chế độ chịu tang 1. Khi có bố, mẹ, vợ hoặc chồng, con chết thì học viên được phép về để chịu tang. Thời gian về chịu tang tối đa không quá 05 ngày, không kể thời gian đi đường và được tính vào thời hạn chấp hành quyết định. 2. Gia đình học viên phải làm đơn đề nghị cho học viên về chịu tang có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi học viên cư trú gửi Giám đốc cơ sở cai nghiện bắt buộc. Nội dung đơn phải nêu rõ họ tên, số chứng minh nhân dân, nơi cư trú, mối quan hệ với học viên, thời gian đề nghị cho học viên được về chịu tang và cam kết quản lý, giám sát không để học viên sử dụng ma túy trái phép hoặc có hành vi vi phạm pháp luật khác trong thời gian về chịu tang. Gia đình học viên có trách nhiệm đón học viên về và bàn giao học viên lại cho cơ sở cai nghiện bắt buộc khi hết thời gian chịu tang, mọi chi phí đưa đón học viên do gia đình học viên chi trả. 3. Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi nhận đơn, Giám đốc cơ sở cai nghiện bắt buộc có trách nhiệm xem xét, quyết định việc cho học viên về chịu tang. Quyết định cho về phải được lập bằng văn bản, nêu rõ thời gian được về, trách nhiệm của gia đình trong việc đón, đưa và quản lý học viên trong thời gian về chịu tang. Quyết định được lập thành 03 bản: 01 bản gửi cho gia đình học viên, 01 bản gửi Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú để phối hợp quản lý và 01 bản lưu trong hồ sơ học viên. 4. Việc giao và nhận học viên giữa cơ sở cai nghiện bắt buộc với gia đình phải được lập thành biên bản ghi rõ họ tên học viên, thời gian, họ tên người giao, họ tên người nhận, biên bản lập thành 02 bản mỗi bên giữ một bản. 5. Hết thời hạn ghi trong quyết định tại Khoản 3 Điều này, học viên quay trở lại thì cơ sở cai nghiện bắt buộc phải thực hiện kiểm tra sức khỏe đối với học viên đó để có các can thiệp phù hợp. Trường hợp học viên không trở lại cơ sở cai nghiện bắt buộc thì Giám đốc cơ sở cai nghiện bắt buộc ra quyết định truy tìm theo quy định của pháp luật. Điều 30. Hỗ trợ tái hòa nhập cộng đồng 1. Trước khi hết thời hạn chấp hành quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 03 tháng, cán bộ tư vấn hướng dẫn học viên chuẩn bị xây dựng kế hoạch tái hòa nhập cộng đồng. 2. Trước khi hết thời hạn chấp hành xong quyết định áp dụng biện pháp xử lý đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 45 ngày, cơ sở cai nghiện bắt buộc gửi thông báo về việc học viên chuẩn bị tái hòa nhập cộng đồng cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi học viên cư trú và kèm theo các nhu cầu của học viên cần sự hỗ trợ của gia đình và cộng đồng để xây dựng và thực hiện kế hoạch tái hòa nhập cộng đồng khi học viên trở về địa phương. 3. Cơ sở cai nghiện bắt buộc có trách nhiệm tư vấn cho học viên về việc tái hòa nhập cộng đồng: các chế độ, các dịch vụ y tế liên quan đến cai nghiện ma túy và dự phòng lây nhiễm HIV; hỗ trợ tạo việc làm; các Câu lạc bộ sau cai, Tổ công tác cai nghiện, Đội công tác xã hội tình nguyện, Nhóm tự lực tại địa phương nơi học viên cư trú. Điều 31. Hết hạn chấp hành quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 1. Học viên đã chấp hành xong quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thì Giám đốc cơ sở cai nghiện bắt buộc cấp Giấy chứng nhận đã chấp hành xong quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Giấy chứng nhận được lập thành 04 bản, 01 bản cho học viên đó, 01 gửi Tòa án nhân dân cấp huyện nơi quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, 01 bản gửi Ủy ban nhân dân cấp xã nơi học viên đó cư trú và 01 bản lưu tại cơ sở cai nghiện bắt buộc. 2. Học viên không xác định được nơi cư trú và không còn khả năng lao động thì sau khi hết thời hạn chấp hành quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thì được đưa về cơ sở bảo trợ xã hội tại địa phương nơi cơ sở cai nghiện bắt buộc đóng trụ sở để chăm sóc. 3. Quyền và nghĩa vụ của học viên sau khi chấp hành xong quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc: a) Được cấp chứng chỉ, bằng cấp học văn hóa, học nghề (nếu có); b) Học viên là thân nhân của người có công với cách mạng, đối tượng bảo trợ xã hội, thuộc gia đình hộ nghèo, hộ cận nghèo được cấp tiền ăn đường, tiền tàu xe để trở về nơi cư trú; c) Phải trả lại những vật dụng, trang thiết bị, công cụ lao động và bảo hộ lao động đã mượn, trường hợp làm mất hoặc hư hỏng thì phải bồi thường; Điều 32. Khen thưởng, kỷ luật 1. Cá nhân, tổ chức có thành tích trong việc tổ chức thực hiện biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc được khen thưởng theo quy định của pháp luật về thi đua khen, khen thưởng. 2. Trong thời gian chấp hành quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, học viên có tiến bộ hoặc có thành tích xuất sắc thì được khen thưởng bằng một trong các hình thức sau: a) Biểu dương khen thưởng; b) Đề nghị giảm thời hạn hoặc miễn chấp hành phần thời gian còn lại; c) Các hình thức khác theo quy định của pháp luật. 3. Trong thời gian chấp hành quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, học viên vi phạm quy chế, nội quy của cơ sở cai nghiện bắt buộc thì bị kỷ luật bằng một trong các hình thức sau: a) Phê bình; b) Cảnh cáo; c) Giáo dục tại phòng kỷ luật. 4. Giám đốc cơ sở cai nghiện bắt buộc ban hành quy chế khen thưởng, kỷ luật đối với học viên theo hướng dẫn của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội. Chương 4.

TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG CƠ SỞ CAI NGHIỆN BẮT BUỘC

Điều 33. Thành lập, tổ chức lại, giải thể cơ sở cai nghiện bắt buộc 1. Cơ sở cai nghiện bắt buộc thành lập theo quy định tại Nghị định số 55/2012/NĐ-CP ngày 28 tháng 06 năm 2012 của Chính phủ quy định về thành lập, tổ chức lại, giải thể đơn vị sự nghiệp công lập. 2. Cơ sở cai nghiện bắt buộc được thành lập theo địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, chịu sự quản lý trực tiếp của Sở Lao động - Thương binh và Xã hội. 3. Căn cứ vào tình hình thực tế tại địa phương, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định việc thành lập, giải thể cơ sở cai nghiện bắt buộc phù hợp quy hoạch được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Địa phương có ít người nghiện ma túy có thể gửi đối tượng đến cơ sở cai nghiện bắt buộc của địa phương khác trên cơ sở thống nhất giữa hai địa phương. Điều 34. Nhiệm vụ của cơ sở cai nghiện bắt buộc Cơ sở cai nghiện bắt buộc có nhiệm vụ: 1. Tổ chức chăm sóc sức khỏe, khám bệnh, chữa bệnh, điều trị cắt cơn nghiện ma túy, điều trị các rối loạn về thể chất và tâm thần cho học viên. Việc khám và điều trị thực hiện theo quy định của pháp luật về khám bệnh, chữa bệnh. 2. Phổ biến, giáo dục pháp luật về phòng, chống ma túy, phòng, chống HIV/AIDS, vệ sinh môi trường và công tác đảm bảo an ninh, trật tự an toàn xã hội cho học viên. 3. Tư vấn, giáo dục nâng cao nhận thức, chuyển đổi hành vi phục hồi nhân cách, phòng, chống tái nghiện ma túy, dự phòng lây nhiễm HIV và các bệnh truyền nhiễm khác cho học viên. 4. Tổ chức dạy văn hóa, dạy nghề, lao động phù hợp với nhu cầu, đặc điểm của mỗi học viên và khả năng, điều kiện thực tế của cơ sở. 5. Bố trí địa điểm và thời gian cho học viên tham gia các hoạt động văn hóa, thể dục, thể thao, giao lưu văn nghệ và các hoạt động vui chơi giải trí khác. 6. Xây dựng tủ sách và phòng đọc, tạo điều kiện để học viên đọc sách báo xem truyền hình để cập nhật thông tin nâng cao hiểu biết và kỹ năng sống. 7. Phối hợp xây dựng mô hình, quy trình chữa trị, cai nghiện, phục hồi; tổ chức đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho cán bộ, viên chức và nhân viên của cơ sở cai nghiện bắt buộc. 8. Quản lý và sử dụng các nguồn kinh phí theo quy định; giữ gìn an ninh trật tự tại cơ sở cai nghiện bắt buộc. 9. Tổ chức khu vực dành riêng cho học viên là phụ nữ, học viên mắc bệnh truyền nhiễm. Điều 35. Phối hợp, hỗ trợ trong việc bảo đảm an ninh trật tự và khám chữa bệnh tại cơ sở cai nghiện bắt buộc 1. Khi có vấn đề phức tạp về y tế, an ninh trật tự phát sinh tại cơ sở cai nghiện bắt buộc, Giám đốc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội có văn bản đề nghị Giám đốc Sở Y tế, Giám đốc Công an cấp tỉnh cử cán bộ hỗ trợ cơ sở cai nghiện bắt buộc để xử lý, giải quyết. Trường hợp cơ quan được đề nghị không cử cán bộ hỗ trợ, thì phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do. 2. Cán bộ được cử hỗ trợ cơ sở cai nghiện bắt buộc chịu sự chỉ đạo và phân công của Giám đốc cơ sở cai nghiện bắt buộc. Chương 5.

TRÁCH NHIỆM CỦA CÁC CƠ QUAN NHÀ NƯỚC

Điều 36. Trách nhiệm của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội 1. Xây dựng, trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quy hoạch mạng lưới các cơ sở cai nghiện bắt buộc. 2. Ban hành các biểu mẫu về lập hồ sơ đề nghị và thi hành quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc để thống nhất thực hiện. 3. Chủ trì, phối hợp với Bộ Xây dựng ban hành các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, định mức kinh tế kỹ thuật về xây dựng đối với các cơ sở cai nghiện bắt buộc; phối hợp với Bộ Nội vụ hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức, chức danh tiêu chuẩn cán bộ cơ sở cai nghiện bắt buộc và trách nhiệm, quyền hạn của Giám đốc cơ sở cai nghiện bắt buộc; phối hợp với Bộ Y tế xây dựng tài liệu và tổ chức, hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ về cai nghiện phục hồi tại cơ sở cai nghiện bắt buộc; phối hợp với Bộ Tài chính quy định chế độ tài chính cho việc áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. 4. Phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo xây dựng chương trình học tập, giảng dạy xóa mù chữ cho người bị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. 5. Thực hiện hợp tác quốc tế trong lĩnh vực cai nghiện ma túy. Điều 37. Trách nhiệm của Bộ Y tế 1. Bộ Y tế có trách nhiệm ban hành tiêu chuẩn chẩn đoán nghiện ma túy; chủ trì, phối hợp Bộ Công an hướng dẫn trình tự, thủ tục xác định tình trạng nghiện ma túy. 2. Nghiên cứu các bài thuốc và phương pháp cai nghiện cho người nghiện ma túy. 3. Chỉ đạo tổ chức tập huấn cho cán bộ y tế các địa phương về xác định tình trạng nghiện ma túy, điều trị hỗ trợ cắt cơn nghiện ma túy. 4. Chủ trì, phối hợp với Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội hướng dẫn, chỉ đạo, quản lý các hoạt động y tế trong cơ sở cai nghiện bắt buộc. Điều 38. Trách nhiệm của Bộ Công an 1. Hướng dẫn, chỉ đạo cơ quan Công an các cấp trong việc thu thập tài liệu, lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; tổ chức đưa người đã có quyết định vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; truy tìm đối tượng bỏ trốn; đảm bảo an ninh trật tự của các cơ sở cai nghiện bắt buộc. 2. Tổ chức đào tạo, hướng dẫn việc sử dụng công cụ hỗ trợ và nghiệp vụ cho lực lượng bảo vệ của các cơ sở cai nghiện bắt buộc. Điều 39. Trách nhiệm của Bộ Giáo dục và Đào tạo 1. Chủ trì, phối hợp với Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội xây dựng chương trình học tập, giảng dạy xóa mù chữ cho người bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; hướng dẫn, kiểm tra việc dạy văn hóa, tổ chức thi, cấp bằng, chứng chỉ học văn hóa và hỗ trợ giáo viên dạy xóa mù chữ tại cơ sở cai nghiện bắt buộc. 2. Hướng dẫn, chỉ đạo ngành Giáo dục và Đào tạo địa phương tạo điều kiện cho học viên được tiếp tục học tập sau khi chấp hành xong quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Điều 40. Trách nhiệm của Bộ Tài chính Chủ trì phối hợp với Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội hướng dẫn nội dung chi, mức chi cho công tác lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; quản lý đối tượng không có nơi cư trú ổn định trong thời gian làm thủ tục đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; đưa người có quyết định vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; truy tìm đối tượng bỏ trốn và các khoản chi phí cho học viên trong thời gian chấp hành quyết định tại cơ sở cai nghiện bắt buộc. Điều 41. Trách nhiệm của Ủy ban nhân dân các cấp 1. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm: a) Xây dựng và thực hiện Đề án thành lập, tổ chức lại, giải thể các cơ sở cai nghiện bắt buộc phù hợp với nhu cầu cai nghiện và quy hoạch đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt; b) Chỉ đạo các cơ quan chuyên môn trực thuộc, tổ chức phổ biến, tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ cho cán bộ, nhân viên trong ngành thực hiện việc lập hồ sơ đề nghị và thi hành quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; c) Bố trí nguồn lực cho công tác lập hồ sơ đề nghị và thi hành quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; d) Định kỳ kiểm tra việc lập hồ sơ đề nghị và thi hành quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. 2. Ủy ban nhân dân cấp huyện có trách nhiệm: a) Chỉ đạo Phòng Tư pháp, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội, cơ quan Công an cấp huyện, Ủy ban nhân dân cấp xã trong việc lập hồ sơ đề nghị và thi hành quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; b) Chỉ đạo Ủy ban nhân dân cấp xã tạo điều kiện cho những người đã chấp hành xong quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tìm việc làm, tái hòa nhập cộng đồng và dự phòng tái nghiện. 3. Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm: a) Tổ chức lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, chỉ đạo quản lý người vi phạm trong quá trình lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; b) Phối hợp với cơ quan Công an cấp huyện trong việc tổ chức đưa người đã có quyết định vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; c) Hỗ trợ, tạo điều kiện để người chấp hành xong quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tham gia các nhóm tự lực, câu lạc bộ của người sau cai, giúp họ có việc làm ổn định, tái hòa nhập cộng đồng, dự phòng tái nghiện. Chương 6.

ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH

Điều 42. Hiệu lực thi hành 1. Nghị định này có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 02 năm 2014. 2. Đối với học viên đang chấp hành quyết định áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở chữa bệnh theo Nghị định 135/2004/NĐ-CP ngày 10 tháng 6 năm 2004 quy định chế độ áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh, tổ chức hoạt động cơ sở chữa bệnh theo Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính và chế độ áp dụng biện pháp đối với người chưa thành niên người tự nguyện và cơ sở chữa bệnh thì tiếp tục thực hiện phần thời gian còn lại theo quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh đã ban hành. 3. Bãi bỏ Nghị định số 43/2005/NĐ-CP ngày 05 tháng 4 năm 2005 của Chính phủ quy định việc đưa người nghiện ma túy, người bán dâm không có nơi cư trú nhất định vào lưu trú tạm thời tại cơ sở chữa bệnh. 4. Bãi bỏ các Điều 2, 3, 4, 5, 30, 31, 32, 33, 34, 35, 36, 37, 38 và Chương IV Nghị định số 135/2004/NĐ-CP ngày 10 tháng 6 năm 2004 quy định chế độ áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh, tổ chức hoạt động cơ sở chữa bệnh theo Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính và chế độ áp dụng biện pháp đối với người chưa thành niên người tự nguyện và cơ sở chữa bệnh. 5. Bãi bỏ Khoản 2, Khoản 3 Điều 1 Nghị định số 61/2011/NĐ-CP ngày 26 tháng 7 năm 2011 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số Điều Nghị định số 135/2004/NĐ-CP ngày 10 tháng 6 năm 2004 quy định chế độ áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh, tổ chức hoạt động cơ sở chữa bệnh theo Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính và chế độ áp dụng biện pháp đối với người chưa thành niên người tự nguyện. Điều 43. Trách nhiệm thi hành Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này./.

 

Nơi nhận: Ban Bí thư Trung ương Đảng; Thủ tướng, các Phó Thủ tướng Chính phủ; Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc CP; HĐND, UBND các tỉnh, TP trực thuộc TW; Văn phòng Trung ương và các Ban của Đảng; Văn phòng Tổng Bí thư; Văn phòng Chủ tịch nước; Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội; Văn phòng Quốc hội; Tòa án nhân dân tối cao; Viện Kiểm sát nhân dân tối cao; Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia; Kiểm toán Nhà nước; Ngân hàng Chính sách xã hội; Ngân hàng Phát triển Việt Nam; Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; Cơ quan Trung ương của các đoàn thể; VPCP: BTCN, các PCN, Trợ lý TTCP, TGĐ Cổng TTĐT, các Vụ, Cục, đơn vị trực thuộc, Công báo; Lưu: Văn thư, KGVX (3b).

TM. CHÍNH PHỦ THỦ TƯỚNG

Nguyễn Tấn Dũng