Quy trình Cai nghiện

  1. TỔ CHỨC CAI NGHIỆN MA TÚY TẠI CỘNG ĐỒNG

  2. XÂY DỰNG MÔI TRƯỜNG TRỊ LIỆU CỘNG ĐỒNG (Treatment Community – TC)

  3. YÊU CẦU VỀ CƠ CẤU - HOẠT ĐỘNG - MỐI QUAN HỆ ĐỂ MỘT MÔI TRƯỜNG TRỊ LIỆU CỘNG ĐỒNG CÓ HIỆU QUẢ

  4. VNExpress - 'Bố già' của hàng nghìn cuộc đời lầm lỡ

  5. Hoạt động Giáo dục Trị liệu

  6. Cai nghiện Ma túy - Điều trị

  7. Hình ảnh hoạt động Trung tâm Cai nghiện Thanh Đa

  8. VTV9 - Qui trình điều trị, giáo dục ...

  9. CAI NGHIỆN MA TÚY - CÔNG VIỆC NHÂN ĐẠO NHỌC NHẰN

 10. VTV6 - Điểm nóng - Thảm họa từ cái chết trắng

 11. Ghi nhận ở Trung tâm điều dưỡng và cai nghiện ma túy Thanh Ða

 12. ĐÓN NHẬN HUÂN CHƯƠNG LAO ĐỘNG HẠNG BA

 13. Công ty điều dưỡng và cai nghiện ma túy Thanh Đa - Tự hào 15 năm góp sức cùng cộng đồng

 14. FBNC - Cai nghiện ma túy

 15. FBNC - Cai nghiện ma túy

 16. Quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

 17. Cuộc chiến chống "cái chết trắng" của 1 cựu điệp báo viên

 18. Bài 2 - Tổng quan về Trung Tâm Điều Dưỡng và Cai Nghiện Ma Túy Thanh Đa

 19. Bài 3 - Quy trình cai nghiện tại Trung Tâm Điều Dưỡng và Cai Nghiện Ma Túy Thanh Đa

 20. HTV9 - CUỘC SỐNG QUANH TA

 21. Cuộc chiến chống "cái chết trắng" của 1 cựu điệp báo viên

 22. Bài 2 - Tổng quan về Trung Tâm Điều Dưỡng và Cai Nghiện Ma Túy Thanh Đa

 23.

 24. Hướng dẫn hỗ trợ điều trị chống tái nghiện ma túy nhóm opiats bằng thuốc Danapha-Natrex

 25. HƯỚNG DẪN ĐIỀU TRỊ THAY THẾ NGHIỆN CÁC CHẤT DẠNG THUỐC PHIỆN BẰNG THUỐC METHADONE

 26. Bác sĩ Nguyễn Hữu Khánh Duy - Giám đốc Công ty TNHH Điều Dưỡng và Cai Nghiện Ma Túy Thanh Đa Người cha của những đứa con lầm lạc

 27. Tổng quan Trung tâm cai nghiện ma túy Thanh Đa

 28. Tổng quan Trung tâm cai nghiện ma túy Thanh Đa

 29. Ex-spy sees continuity in helping people

 30. Nghe chiến sĩ tình báo kể chuyện dùng “vũ khí” tình thương

 31. Nhóm lãnh đạo doanh nghiệp trẻ ASIA đánh giá cao mô hình cai nghiện ma túy của Trung tâm Thanh Đa

 32. VIDEO: NGƯỜI LÍNH GIÀ TRÊN CUỘC CHIẾN MỚI - BÁC SĨ NGUYỄN HỮU KHÁNH DUY

 33. HÃY TRÁNH XA 10 LOẠI MA TÚY ĐANG ĐƯỢC LẠM DỤNG NHIỀU NHẤT THẾ GIỚI

 34. ĐẠI CƯƠNG VỀ LIỆU PHÁP GIÁO DỤC TÂM LÝ – XÃ HỘI

 35. BÁC SĨ NGUYỄN HỮU KHÁNH DUY: NHÀ TÌNH BÁO VÀ CÁI NGHIỆP CHỐNG MA TÚY

 36. ‘Bố Khánh Duy’ - Người cha của những đứa con lầm lạc

 37. NGƯỜI TRÍ THỨC CHIẾN ĐẤU TRÊN MỌI MẶT TRẬN

 38. HÌNH ẢNH HOẠT ĐỘNG TRUNG TÂM THANH ĐA

 39. THÔNG TIN BÁO CHÍ VỀ TRUNG TÂM CAI NGHIỆN MA TÚY THANH ĐA

 40. VTV1 – Người đương thời Nguyễn Hữu Khánh Duy

 41. Phim tài liệu về Trung tâm Điều dưỡng và Cai nghiện Ma túy Thanh Đa

 42. KHEN THƯỞNG

 43. THAM DỰ VÀ BÁO CÁO TẠI CÁC HỘI NGHỊ TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC

 44. ĐOÀN KHÁCH TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC

 45. ĐOÀN KHÁCH TRONG - NGOÀI NƯỚC

 46. SINH HOẠT - HỌC TẬP - VUI CHƠI - GIẢI TRÍ CỦA HỌC VIÊN

 47. Chi bộ công ty

TỔ CHỨC CAI NGHIỆN MA TÚY TẠI CỘNG ĐỒNG

TỔ CHỨC CAI NGHIỆN MA TÚY TẠI CỘNG ĐỒNG


Các Trung tâm sau một thời gian điều trị - phục hồi cho các đối tượng, sẽ trả họ về tại cộng đồng, với gia đình họ cư ngụ và sinh sống. Chính tại nơi đây họ cần được giám sát và tiếp tục điều trị để củng cố những kết quả đã đạt được sau thời gian ở Trung tâm. Mặt khác tại cộng đồng địa phương như tỉnh, quận, xã.... cũng còn những đối tượng nghiện ma túy chưa được điều trị trong các Trung tâm không còn đủ chỗ tiếp nhận.


Việc tổ chức cai nghiện tại cộng đồng trở nên bức thiết hơn bao giờ hết. Các cơ sở cai nghiện tại cộng đồng có thể điều trị cho các đối tượng ngay từ đầu, đồng thời tiếp tục củng cố phục hồi  cho các đối tượng từ Trung tâm trở về hội nhập. Giải pháp cai nghiện ma túy dựa vào cộng đồng đòi hỏi sự tham gia tích cực của tất cả các cư dân trong địa bàn sinh sống. Chỉ khi nào có sự chủ động thực hiện kế hoạch với tất cả tiềm năng của mình, việc giảm cầu ma túy trong từng cộng đồng mới có thể có kết quả.


Việc cai nghiện tại cộng đồng sẽ rất thuận lợi vì nhiều lý do. Đối tượng nghiện luôn có sự gần gũi, hỗ trợ chắc chắn đáng tin cậy của các nhân viên cùng địa phương cư ngụ với mình, cũng như nơi đoàn thể các đối tượng nghiện tồn tại. Thêm nữa, người nghiện vẫn còn được ở trong gia đình, vừa điều trị lại vẫn được tiếp tục đến trường học hoặc công việc sinh sống khác. Các nhân viên điều trị cho họ cũng dễ tiến hành các biệp pháp cần thiết với môi trường gần gũi, được giám sát chặt chẽ. Những sai phạm của đối tượng về nguyên tắc của cuộc sống trong khi anh ta thực hiện nghĩa vụ và trách nhiệm của mình, chắc chắn sẽ được giảm thiểu rất nhiều.


Một mô hình cai nghiện ma túy dựa vào cộng đồng như vậy sẽ phải được tổ chức như thế nào sao cho người nghiện có một chỗ dựa vững chắc gần nơi anh ta cư ngụ trong lúc anh ta được giúp đỡ từ bỏ ma túy một cách hiệu quả. Một khi anh ta đã thật sự thoát ra được, anh ta sẽ có nhiều cơ hội giúp đỡ những người đồng cảnh ngộ mà chưa được điều trị.


Cộng đồng sẽ phải biến thành một môi trường cho những người nghiện sống không lệ thuộc vào ma túy được tiếp tục nâng cao nhận thức, gọt giũa hành vi, đảm bảo có những bước tiến bộ trong  quá trình phục hồi của mình. Trước tiên phải có một cộng đồng mục tiêu được chọn. Các cấp chính quyền lãnh đạo của cộng đồng đó, các ngành y tế, giáo dục, công an, xã hội, cùng các nhân vật có uy tín, những người được cộng đồng tín nhiệm sẽ họp lại để thành lập Ban Chỉ Đạo và Quản Lý Dự Án. Thông quan nhóm kế hoạch, nhiệm vụ của Ban Chỉ Đạo như sau:


I. THU THẬP THÔNG TIN, DỮ KIỆN VỀ:

  • - Số cư dân

  • - Tập quán, tôn giáo, trình độ văn hóa

  • - Kinh tế các thành phần cư dân

  • - Đánh giá nguồn lực, tiềm năng và cơ sở hạ tầng

  • - Đánh giá tình hình ma túy tại cộng đồng

  • - Các số liệu thu thập được phải chính xác và chi tiết bằng những phiếu điều tra trên toàn bộ cư dân, hoặc ít ra cũng qua phỏng vấn một mẫu cư dân đại diện về các lĩnh vực sau:

  • + Số người nghiện 

  •         
  • + Các loại ma túy sử dụng 

  •         
  • + Số người vi phạm luật pháp do sử dụng hoặc bán ma túy

  •       
  • + Số học sinh bỏ học vì nghiện  

  •        
  • + Các tụ điểm "đen" 

     

II. KIẾN NGHỊ:

Sau khi tổng hợp các số liệu Ban Chỉ Đạo và Quản Lý Dự Án sẽ đưa ra những khuyến nghị về biện pháp can thiệp cụ thể dựa trên kết quả đánh giá. Ban Chỉ Đạo và Quản Lý Dự Án cũng đảm bảo nhận việc xây dựng một kế hoạch giảm cầu ma túy tại địa phương, đề ra mục tiêu và hoạt động cụ thể cũng như kinh phí, cơ sở vật chất, trang thiết bị, tư vấn kỹ thuật cùng tiến bộ thực hiện, kế hoạch giám sát và đánh giá thông qua nhóm kế hoạch. Tổ chức cai nghiện dựa vào cộng đồng sẽ là cửa ngõ của sự thành công nếu như Ban Chỉ Đạo và Quản Lý Dự Án:


  • - Phản ánh được tính tập thể trong việc đưa ra quyết định

  • - Giúp đỡ cộng đồng xây dựng mô hình cai cho chính họ

  • - Giúp cộng đồng phân tích và làm rõ vấn đề của họ để làm tốt hơn trong việc thực hiện chiến lược của mình

  • - Giúp cho cộng đồng lấy lại tự tin khi đang bối rối trước cầu ma túy đang tăng cao.


1. CÁC MÔ HÌNH:

Mô hình 1: Thuần túy cộng đồng:



Chú ý khắc phục:

  • 1. Thiếu bộ phận chuyên trách hành chính tập trung

  • 2. Duy trì mọi hoạt động bằng vốn tự lực, sự hỗ trợ về tài chính và kỹ thuật từ bên ngoài có thể rất ít

  • 3. Nếu địa phương có trồng cây anh túc, sẽ có mâu thuẫn vì va chạm quyền lợi


Mô hình 2: Thuần túy địa phương:



Chú ý khắc phục:

  • 1. Khả năng lãnh đạo của người điều phối chương trình (Địa phương) cần giỏi về điều hành, giao tiếp, chuyên khoa, kinh nghiệm quản lý. Tuy khả năng cao nhưng lương lại thấp

  • 2. Duy trì các thành viên cùng kết hợp trong điều kiện tài chính như vậy không phải là điều dễ dàng

  • 3. Rõ ràng cần sự tài trợ của một tổ chức nhân đạo

  • 4. Lương kém sẽ dễ dàng thay đổi nhân sự, điều này đe dọa chất lượng công tác


Mô hình 3: Kết hợp giữa Trung Tâm và cộng đồng:



Chú ý khắc phục:

  • 1. Cần một quy trình thu thập dữ kiện và chẩn đoán ban đầu đầy đủ và hiệu quả để xác định phương thức điều trị thích hợp cho mỗi bệnh nhân.

  • 2. Nhưng khi bệnh nhân trả tiền những tiêu chuẩn phân loại sẽ bị rối loạn

  • 3. Việc duy trì đều đặn chất lượng hoạt động cả hai bên đòi hỏi phải có kiểm tra chặt chẽ của nhân viên có nghiệp vụ cao

  • 4. Việc duy trì một đội ngũ đầy đủ, đa năng giỏi nghiệm vụ cho cả hai nơi rất khó chu toàn: người nghiện thích ở cộng đồng hơn, lý do gần gia đình  


Sự hoạt động của cả hai nơi đều lệ thuộc vào tài chính của Trung Tâm điều phối.

XÂY DỰNG MÔI TRƯỜNG TRỊ LIỆU CỘNG ĐỒNG (Treatment Community – TC)

XÂY DỰNG MÔI TRƯỜNG TRỊ LIỆU CỘNG ĐỒNG (Treatment Community – TC)


Có một vài điều kiện cần phải chú ý để có thể coi một môi trường điều trị là TC. TC là một môi trường điều trị được tạo ra nhờ tác động tương hỗ giữa một vài yếu tố. Những yếu tố chính tạo ra TC bao gồm:

  • 1) Yếu tố con người và những mối quan hệ giữa những người có uy tín trong cộng đồng.

  • 2) Việc sắp xếp lịch sinh hoạt hàng ngày.

  • 3) Những quy định và nguyên tắc cơ bản trong cộng đổng

  • 4) Phương pháp được áp dụng để điều chỉnh hành vi

  • 5) Phương pháp giải quyết các khó khăn, vướng mắc về tâm lý cũng như tăng cường nhận thức bản thân .

  • 6) Nâng cao lòng tự tin và năng lực bản thân.


I/ VAI TRÒ CỦA NHỮNG NGƯỜI CÓ VAI VẾ, UY TÍN TRONG CỘNG ĐỒNG:

    Cộng đồng trị liệu là một môi trường học tập tích cực. Nó trợ giúp một cách hữu hiệu cho việc học tập khi thành viên của nó nhận thức được mối quan hệ chặt chẽ giữa lời nói và việc làm của những người có vai vế, uy tín trong cộng đồng. Thành viên của cộng đồng cũng trông chờ vào việc cán bộ điều trị có tuân thủ các quy tắc và giá trị của cộng đồng hay không . Các quy tắc chi phối quan hệ qua lại giữa các thành viên của cộng đồng. Những thành viên đang trong giai đoạn phục hồi thì đã khá quen với thuật ngữ "nói chuyện tay đôi" và sự mâu thuẫn trong việc áp dụng các quy tắc xã hội trong cuộc sống hàng ngày. Muốn xây dựng được một môi trường điều trị và những hoạt động của nó ta cũng phải có hiểu biết sâu sắc về những mâu thuẫn này. Bất kỳ một mâu thuẫn nào xảy ra giữa lời nói và hành vi sẽ bộc lộ điểm yếu của hệ thống điều trị và có thể sẽ được người nghiện lợí dụng để có những biểu hiện, hành vi không đúng.


    Muốn thực hiện tốt vai trò của mình, người cán bộ điều trị phải nghiên cứu kỹ các quy tắc của cộng đồng. Những người quản giáo thành công nhất, những người luôn được đối tượng xem là tấm gương để học tập, thì cũng chính là người biết sử dụng những ví dụ minh hoạ trong giáo dục người nghiện. Những người chịu trách nhiệm đảm bảo sự tồn tại của "cộng đồng trị liệu" thì có vai trò chính không chỉ trong việc duy trì hoạt động của cộng đồng mà còn phải biến nó thành một môi trường học tập thực sự cho người nghiện ma túy.


    Những thành viên của TC mới ngừng sử dụng ma túy thì sự phục hồi chưa thực sự ổn định. Họ còn chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố bên ngoài trong việc duy trì trạng thái cai nghiện, do đó không nên quá đề cao vai trò của các thành viên đã ngừng sử dụng ma túy lâu năm trước những người mới ngừng sử dụng ma túy. Người đã cai nghiện thành công là hiện thân của niềm hy vọng của người nghiện, đã và đang đấu tranh để vượt qua chính bản thân mình. Họ là bằng chứng sống của việc chiến thắng sự cám dỗ của ma túy và vượt qua được các giai đoạn điều trị. Giá trị của những người này không chỉ nằm ở chỗ là họ đã từng vượt qua sự cám dỗ của ma túy, mà chủ yếu họ là người rất thông hiểu suy nghĩ và cảm xúc của người nghiện. Khả năng của họ trong việc bày tỏ sự thông cảm đối với những người nghiện khác là không gì sánh nổi. Họ đoán trước được những hành vi của người nghiện trong từng hoàn cảnh cụ thể. Điều này biến họ thành những nhân viên điều trị rất có hiệu qủa trong môi trường TC - một môi trường điều trị mà việc thành công hay thất bại có liên quan chặt chẽ với sự thông hiểu những suy nghĩ, thậm chí cả những mánh lới của đối lượng. Cách thức mà TC xử lý tình huống là hoàn toàn dựa vào khả năng đoán trước sự việc xảy ra và những nguyên nhân gây ra sự việc đó.


    Một môi trường điều trị lành mạnh và cách ứng xử gương mẫu của các nhân viên điều trị vốn là người nghiện trước kia là những tiêu chuẩn của Cộng đồng trị liệu. Thế còn những nhân viên khác thì sao, những người trước kia không phải đối tượng nghiện ma túy? Liệu họ có thể trở thành chuẩn mực để đối tượng noi theo hay không? Về vấn đề này có thể nói: tất cả mọi người đều có khả năng trở thành nhân viên điều trị gương mẫu bất kể họ có xuất phát điểm như thế nào. Mặc dù ảnh hưởng của những nhân viên điều trị trước kia là người nghiện thì không thể so sánh được, nhưng đối tượng nghiện cũng cần phải có những chuẩn mực khác nữa để làm theo nếu như anh ta muốn trang bị cho mình những kỹ năng xã hội thích hợp. Một người đã từng nghiện ma túy thì có thể sẽ kém hơn những nhân viên điều trị khác về các kỹ năng xã hội cho nên trong giai đoạn cuối của qúa trình phục hồi đòi hỏi phải trang bị cho đốì tượng những kỹ năng cần thiết để họ tái hòa nhập cộng đồng thì vai trò của các nhân viên điều trị chuyên nghiệp là không thể thiếu được.


    II/ NHỮNG NGUYÊN TẮC CƠ BẢN TRONG MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁC NHÂN VIÊN ĐIỀU TRỊ:

    Tinh thần đồng đội (khả năng làm việc theo nhóm) và sự tôn trọng lẫn nhau là nguyên tắc cơ bản của các nhân viên điều trị TC. Điều quan trọng là hai nguyên tắc này cũng phải được những ngươi có vai vế, uy tín trong cộng đồng tôn trọng và lấy đỏ làm gương cho các thành viên khác của cộng đồng. Các đối tượng là thành viên của cộng đồng cũng phải coi hai nguyên tắc đó là nền tảng mối quan hệ trong công việc của mình.


    Khả năng làm việc theo nhóm có nghĩa từng thành viên của nhóm hiểu rõ vai trò và nghĩa vụ của mình. Tinh thần đồng đội, khả năng làm việc nhóm cũng như sự tôn trọng lẫn nhau trong quá trình giao tiếp giữa những người có uy tín với các thành viên của cộng đồng sẽ khuyến khích việc các thành viên giao tiếp với nhau. Để xây dựng được môi trường trị liệu cộng đồng có hiệu quả, các nhân viên điều trị phải có khả năng phối hợp làm việc trên tinh thần tôn trọng lẫn nhau. Việc làm thế nào để tạo ra được một thái độ làm việc như vậy là hoàn toàn nhờ vào uy tín và sự lãnh đạo của những người tổ chức hay đứng đầu cộng đồng trị liệu. Người cán hộ lãnh đạo muốn vậy cũng phải tuân thủ nguyên tắc này trong khi giao tiếp với các nhân viên của anh ta.


    III/ NGUYÊN TẮC CƠ BẢN TRONG MỐI QUAN HỆ GIỮA NHÂN VIÊN ĐIỀU TRỊ VỚI ĐỐI TƯỢNG:

      Mặc dù TC có mục tiêu rõ ràng là tạo ra môi trường phù hợp cho sự điều chỉnh hành vi của đối tượng, nhưng TC cũng có thể sẽ thất bại nếu như thiếu đi lòng quyết tâm của nhà lãnh đạo và những người có uy tín trong cộng đồng. Người ta nhận thấy rằng, lĩnh vực điều trị cai ngiện thu hút đủ loại người. Ta có thể gặp trong môi trường điều trị những người nghiện với những câu chuyện đáng ngạc nhiên về chủ nghĩa anh hùng cá nhân, sự hy sinh bản thân để chăm sóc người thân hay việc lạm dụng sức lao động của những người trong hoàn cảnh tuyệt vọng v.v... Trong ấn bản năm 1989, Maeder - một tác giả đã viết rằng các chuyên gia tư vấn tâm lý và thành viên của cộng đồng tôn giáo (những người mà sau này được gọi là người hàn gắn vết thương) dường như thu hút một lượng lớn những người có trạng thái tình cảm không ổn định. Nhưng điều đáng chú ý là chính những người chuyên đi hàn gắn vết thương này đôi khi không giải quyết được những khó khăn của chính bản thân mình.

       

      Quy luật tương tự như vậy cũng chi phối mối quan hệ giữa cán bộ điều trị và đối tượng nghiện. Cán bộ điều trị, những người được xem là tấm gương sáng để toàn thể cộng đồng noi theo thì luôn phải cư xử với các thành viên của cộng đồng với một thái độ có trách nhiệm. Nhưng cơ chế của TC được thể hiện ở những nghi thức và quy tắc xã hội, có thể giúp ngăn chặn việc vô tình hay cố tình sử dụng sai nguyên tắc sức mạnh và quyền hạn trong mọi tầng lớp đối tượng điều trị tại cộng đồng. Tất nhiên là nếu thiếu sự hướng dẫn tận tình của những người lãnh đạo có trách nhiệm trong một mô hình TC không hoàn chỉnh thì những cơ chế này có thể không được xây dựng và thực hiện đầy đủ.

       

      Nhằm nâng cao những quy tắc chuẩn mực của TC, chúng ta cần phải quan tâm hơn nữa đến việc đào tạo những cán bộ điều trị kể cả các nhân viên chuyên nghiệp lẫn những cán bộ quản giáo trước kia đã từng là người nghiện ma túy. Việc chuyên môn hóa đội ngũ điều trị có thể sẽ giúp cải thiện chất lượng điều trị của cộng đồng nói chung và của những người cán bộ quản giáo nói riêng

       

      IV/ CƠ CẤU CÓ ẢNH HƯỞNG ĐẾN THÁI ĐỘ VÀ HÀNH VI:

      Sở dĩ, môi trường trị liệu TC nổi tiếng là nhờ nó được tổ chức tốt và là môi trường có cơ cấu hoạt động chặt chẽ. Sạch sẽ và thoải mái là 2 nguyên tắc được ưu tiên hàng đầu trong việc sắp xếp cơ sở vật chất của TC. Người ta liên tưởng rằng môi trường điều trị sạch sẽ và dễ chịu sẽ khích lệ những hành vi lành mạnh. Môi trường tự nhiên sẽ phản ánh bản chất của cộng đồng sống trong môi trường đó. Mặc dù có một vài mô hình TC buộc phải thích nghi với cơ sở vật chất sẵn có ví dụ như nhà tù, các khu nhà cũ, cơ sở khám chữa bệnh hay thậm chí một trường học cũ nhưng người ta cũng không quên tái thiết lại môi trường sao cho phù hợp với yêu cầu của một cộng đồng trị liệu.


      Hầu hết các cộng đồng trị liệu ngày nay hoại động trong những cơ sở với trang thiết bị hiện đại nhưng nó vẫn mang dáng dấp một gia đình nhiều hơn là một trung tâm điều trị. Ngay cả ở trong tù hay trong trại cải tạo trẻ em vị thành niên, không khí "nhà tù” cũng không còn nữa. Để thực hiện được điều này, các nhà lãnh đạo TC đã bỏ đi tất cả những gì gợi nên khung cảnh nhà tù với luật rừng và thay vào đó là hệ thống chuẩn mực hành vi trong một khung cảnh mang tính chất gia đình. Nhằm khiến cho TC trở thành một môi trường tin cậy cho việc điều trị - phục hồi. Chúng ta phải tạo ra bằng được sự an toàn cả về thể chất lẫn tinh thần cho đối tượng. Đó phải là chỗ mà đối tượng có thể chịu trách nhiệm về sự lựa chọn và hành vi của chính mình. Trong khi nhà tù tạo ra bầu không khí thiếu an toàn, nơi mà đối tượng muốn sinh tồn thì phải dựa hoàn toàn vào mánh khoé và cái gọi là luật rừng, thì môi trường TC lại tạo ra những hành vi xã hội lành mạnh như tin tưởng và giúp đỡ lẫn nhau trong bầu không khí gia đình.


      Những thành công lớn của TC trong việc duy trì hoạt dộng điều trị - phục hồi có được là nhờ một cơ cấu hoạt động chặt chẽ. Cơ cấu hoạt động này bao gồm cả việc tổ chức tốt lịch sinh hoạt hàng ngày cho các thành viên của cộng đồng kể từ người cũ cho đến người mới tham gia điều trị. Cơ cấu phân bậc các thành viên cũ và mới cho phép hình dung được thể hiện rõ trong lịch sinh hoạt hàng ngày của mỗi thành viên. Tuy nhiên, cho dù mỗi người có một vai trò và nhiệm vụ khác nhau trong cộng đồng nhưng họ đều hiểu được vị trí của mình trong mục tiêu chung là TC đề ra. Hệ thông phân cấp theo vai trò và lịch sinh hoạt hàng ngày được gọi là "cơ cấu hoạt động".


      Chúng ta không cần phải quá chú trọng đến giá trị của cơ cấu hoạt động trong việc cung cấp những điều kiện cần thiết để người nghiện gặt hái được thành công dù là trong những hoàn cảnh có nhiều hạn chế. Điều quan trọng là việc phân cấp cơ cấu tổ chức và lịch sinh hoạt thường ngày cũng là một dạng kỷ luật và nó tạo ra cho người nghiện cảm giác ổn định. Giờ đây cuộc sống của anh ta đi vào khuôn khổ và có kế hoạch cụ thể ngược lại hẳn với cuộc sống trước kia của anh ta ngoài xã hội đầy rẫy những bất trắc - một lốì sống điển hình của người nghiện.


      Cơ cấu hoạt động này còn khuyến khích việc đặt kế hoạch cho sự ổn định lâu dài thay vì tự hài lòng với những điều đạt được trước mắt. Những điều này nghe chừng có vẻ đơn giản và dễ thực hiện. Tuy nhiên, một khi người nghiện đã lệ thuộc vào ma túy thì khả năng nhận thức cuộc sống của anh ta cũng bị hạn chế. Điều này thể hiện ở thói quen có liên quan đến việc sử dụng ma túy, làm thế nào để có ma túy và kiếm ma túy ở đâu? Anh ta không hành động như một người bình thường với những mơ ước, hoài bão là động lực khiến anh ta lên kế hoạch cho mình để có thể biến những ước mơ đó thành hiện thực. Tất cả những người bình thường chúng ta đều hành động theo cách này và ai cũng có một "cơ cấu hoạt động" của riêng mình. Nó cho phép chúng ta cân nhắc việc gì nên ưu tiên làm trước, việc gì làm sau để đạt được những mục đích trước mắt và mục đích lâu dài của bản thân. Nhưng người nghiện thì đánh mất hoặc quên mất cơ cấu hoạt động này và thay vào đó là cơ cấu hoạt động nhằm đạt được trạng thái "phê thuốc". Một trong những yếu tố quyết định sự thành công của việc điều trị cho đối tượng là giúp anh ta có thể quay trở lại áp dụng "cơ cấu hoạt động" bình thường khiến anh ta bước đầu đạt được những thành công nhỏ do chính anh ta dự định trong quá trình phục hồi.


      Tóm lại, có thể nói TC là một môi trường điều trị tích cực , năng động chứ không phải là một môi trường tĩnh. Những thay đổi có ý nghĩa mà người nghiện đạt được chính là kết quả của trạng thái đấu tranh tích cực bên trong bản thân người nghiện nhằm loại bỏ những yếu tố làm suy yếu ý chí con người, những yếu tố thường được người nghiện sử dụng để bảo chữa cho thất bại của mình. Bằng cách loại bỏ những yếu tố này, chúng la còn có thể khiến cho họ học lập những thái độ đúng những hành vi phù hợp. Thêm vào đó, nếu chúng ta thành công trong việc thu hút sự tham gia tích cực của người nghiện vào chương trình điều trị, anh ta sẽ có nhiều cơ hội hơn để phục hồi và lấy lại sự tự tin cho bản thân mình.


      V/ NHỮNG BIỆN PHÁP ĐIỀU CHỈNH HÀNH VI:

      "Hãy tin tưởng vào môi trường sống của bạn"

      Triết lý bất thành văn của TC.


      Những biện pháp điều chỉnh hành vi của TC như kiểm điểm, cạo gáy, giao ban buổi sáng, nhóm đối kháng, họp gia đình hay họp chung v.v.. được xây dựng nhằm sửa đổi những hành vi vi phạm những quy tắc mà TC đề ra. Việc tuân thủ nghiêm ngặt những quy định của cộng đồng hay những quy tắc cốt yếu của TC như không sử dụng ma túy. không có hành vi bạo lực hoặc đe doạ bạo lực, không có hành vi tình dục, không trộm cắp là điều hết sức quan trọng trong việc duy trì sự lành mạnh và sự an toàn của môi trường điều trị. Tuy nhiên chính những thói quen mà người nghiện còn giữ khi anh ta sống ngoài xã hội đã khiến cho anh ta có những hành vi không đúng. Điều này được thể hiện ỏ sự đề phòng và thái độ cảnh giác của người nghiện. Bí quyết của những biện pháp điều chỉnh hành vi là tạo ra cảm giác an toàn nhằm xóa đi thái độ đề phòng, cảnh giác của người nghiện. Không chỉ có vậy, những biện pháp này còn được sử dụng như là công cụ để ngăn chặn, trừng phạt những hành vi làm xói mòn tập quán, sự an toàn và tính lành mạnh của môi trường ví dụ như sự vi phạm những quy tắc cơ bản của cộng đồng.


      Hiệu quả của các biện pháp điều chỉnh hành vi là nằm ở cách áp dụng nó như thế nào. Những biện pháp này cũng có thể bị lạm dụng và gây ra những kết quả trái ngược nếu như rơi vào tay những người không hiểu biết thấu đáo về động lực của cộng đồng trị liệu. Nếu thiếu sự tổ chức môi trường trị liệu TC chuẩn mực và thiếu tinh thần trách nhiệm trong việc áp dụng những biện pháp này thì chúng trở nên có hại nhiều hơn có lợi. Vấn đề sử dụng biện pháp nào với mức độ vi phạm như thế nào được quyết định bởi mức độ điều chỉnh hành vi từ thấp đến cao.


      Nhẹ nhất là biện pháp kiểm điểm và trao đổi (tư vấn trực tiếp) được áp dụng cho những vi phạm nhẹ. Đối với những môi trường trị liệu được tổ chức tốt thì ít khi phải áp dụng những biện pháp mạnh.


      Việc phải tăng cường sử dụng những biện pháp mạnh là dấu hiệu cho thấy môi trường điều trị đó đang có nguy cơ do không được tổ chức tốt đòi hỏi phải xem xét lại trách nhiệm của các thành viên cộng đồng đốì vói những quy tắc và chuẩn mực của TC.


      Những biện pháp điều chỉnh hành vi có hiệu qủa trong môi trường TC. Những biện pháp này nếu được sử dụng đúng thì sẽ làm tăng trách nhiệm của các thành viên đối với việc tuân thủ các quy tắc mà TC đề ra. Khi một đối tượng bị gọi lên kiểm điểm trong một lần giao ban buổi sáng hay bị khiển trách trong một lần cạo gáy để những thành viên khác trong cộng đồng sửa chữa hành vi không đúng của anh ta , thì anh ta vừa nói chuyện vổi cộng đồng và vừa chính với bản thân mình. Trong quá trình áp dụng những biện pháp này thì điều căn bản là phải đảm bảo chỉ lên án những hành vi sai trái chứ không cố gắng đánh vào lòng tự trọng của đối tượng. Do vậy trong các buổi cạo gáy chỉ nên chú trọng vào phân tích sự vi phạm cứa đối tượng và ảnh hưởng của nó tới bản thân anh ta cũng như tới những người khác. Điều này được thể hiện rõ ở cảm giác biết ơn của đối tượng đối với sự quan tâm và tình thương của các thành viên khác dành cho anh ta thông qua việc giúp đỡ anh ta sửa đổi những thái độ, hành vi không đúng.


      Hiệu quả của các biện pháp điều chỉnh hành vi trong việc thay đổi cách ứng xử của các nhân viên điều trị chuyên nghiệp được thể hiện ở việc áp dụng thành công giao ban buổi sáng trong khóa tập huấn, thường diễn ra trong vòng một tuần và ngay từ ngày đầu tiên các giảng viên cùng với các học viên xây dựng nên những quy tắc phải tuân thủ trong quá trình học tập. Hiệu quả là từ các thành viên của cuộc tập huấn, chúng ta đã hình thành được một cộng đồng con tương tự TC. Việc kiểm điểm trong các buổi giao ban buổi sáng nhìn chung đã giải quyết được sự vi phạm quy tắc của các học viên. Khi những quy tắc này được bảo đảm, việc học tập cũng trở nên thuận lợi và đạt kết qủa tốt.


      Những khóa tập huấn của chúng tôi thường đạt tỷ lệ tham gia đúng giờ và duy trì học tập cao là nhờ có giao ban buổi sáng. Nếu một học viên đã từng bị kiểm điểm vì đến muộn tại giao ban buổi sáng thì anh ta hay chị ta thường ít khi lặp lại hành vi đó lần nữa. Các học viên dường như cũng cảm thấy quan tâm nhiều đến hình thức này. Trong 10 năm vừa qua tôi chưa từng gặp trường hợp các thành viên tham gia hay toàn bộ khóa tập huấn đạt tỷ lệ thành công thấp trong giao ban buổi sáng. Thay vào đó, các học viên đều nói rằng bên cạnh những kiến thức mà họ có được từ bài giảng , họ còn nhận thức thêm được nhiều điều từ chính bản thân mình.


      QUY TẮC TRONG GIA ĐÌNH : XÂY DỰNG GIỚI HẠN HÀNH VI VÀ HÀNH VI THEO QUY TẮC

      Một trong những điều mà người mới tham gia điều trị trong môi trường TC thường phàn nàn đó là có quá nhiều quy tắc được áp dụng. Những quy tắc quan trọng nhất cần được áp dụng đó là:

      • 1)  Không sử dụng ma túy.

      • 2)  Không có hành vi bạo lực hay đe dọa sử dụng bạo lực.

      • 3)  Không có hành vi tình dục.

      • 4)  Không trộm cắp.


      Việc các thành viên của cộng đồng phải triệt để tuân thủ các quy tắc này là điều bắt buộc. Bất kỳ hành vi vi phạm nào đều được coi là đe dọa đối với sự ổn định và lành mạnh của môi trường điều trị và sẽ phải có cách xử lý thích hợp. Thông thường, những người vi phạm quy tắc nếu không bày tỏ sự hối hận, ăn năn về hành vi của mình và tiếp tục gây hại cho người khác thì sẽ bị trục xuất ra khỏi cộng đồng. Trước khi chính thức kết nạp một thành viên mới vào cộng đồng, người ta sẽ giải thích cặn kẽ cho anh ta hiểu những quy tắc của cộng đồng và anh buộc phải có trách nhiệm tuân thủ tuyệt đối nếu muốn tham gia điều trị.


      Nhờ việc xây dựng các giới hạn hành vi mà các cán bộ quản giáo có thế duy trì một môi trường điều trị an toàn và lành mạnh. Các biện pháp điều chỉnh hành vi được sử dụng như là công cụ củng cố và nhắc nhở các thành viên nhớ tới kết cục của việc vi phạm các quy tấc đề ra hay không tuân thủ các quv tắc này.


      VI/ CÁC BIỆN PHÁP HÀN GẮN, XOA DỊU VẾT THƯƠNG:

      "Bạn sẽ không thể chịu đựng nổi nó trừ khi bạn chia sẻ với người khác"

      Triết lý bất thành văn của TC

      Những biện pháp điều chỉnh hành vi chỉ là bước đầu trong quá trình kiểm soát, quản lý hành vi của thành viên cộng đồng. Hiệu quả của những biện pháp này hoàn toàn mang tính tạm thời và chủ yếu dựa vào những tập quán quy tắc do cộng đồng xây dựng. Nhằm đạt được sự ổn định trong việc thay đổi hành vi cần phải chú ý phân tích nguyên nhân sâu xa để xây dựng mối liên hệ cần thiết giữa giá trị của hành vi mới với mục tiêu của lối sống đúng mực.


      Những biện pháp điều chỉnh hành vi đóng vai trò ngăn cản yếu tố khiến cho đối tượng không thể có một cuộc sống bình thường. Còn những biện pháp hàn gắn, xoa dịu vết thương giúp cho đối tượng có được nhận thức sâu sắc hơn về bản thân mình.


      Hai biện pháp này bổ sung, hỗ trợ lẫn nhau. Việc quá chú trọng vào một biện pháp cụ thể nào đó cũng không cho kết quả tốt hơn là tiến hành cả hai biện pháp song song hỗ trợ lẫn nhau. Nói một cách khác, nếu như chúng ta chỉ áp dụng các biện pháp điều chỉnh hành vi một cách đơn thuần, thi các đối tượng của chúng ta sẽ cư xử không khác gì người gỗ. Đồng ý là họ sẽ có hành vi đúng trong môi nường cuộc sống tập thể nhưng những hành vi đó sẽ mất đi một khi họ rời khỏi môi trường điều trị.


      Tư vấn trong môi trường TC:

      Tư vấn cho dù là nhóm hay cá nhân đều đem lại cho đối tượng cơ hội khám phá quá khứ, tiền sử cá nhân có liên quan đến việc sử dụng ma túy của anh ta. Việc một người nghiện ma túy phủ nhận sự thật sẽ càng được củng cố theo năm tháng, bề dày của quá trình anh ta sử dụng ma túy. Xóa tan sự phủ nhận này cũng đồng nghĩa với việc bắt anh ta phải đôi đầu với sự thật phũ phàng của cuộc đời mà bấy lâu nay anh ta vẫn thường né tránh. Một phần của sự phủ nhận thể hiện ở việc anh ta thường hợp lý hoá thất bại của mình trong việc từ bỏ ma túy. Việc tháo gỡ cho đối tượng những vướng mắc loại này cũng tương tự như khi chúng ta bóc vỏ hành từng lớp một. Biện pháp tư vấn điển hình được áp dụng trong môi trường TC là biện pháp đối diện trực liếp, nó thử thách niềm tin và trách nhiệm cá nhân của mỗi người nghiện.


      Nhóm định hướng, nhóm điều tra, nhóm mở rộng và nhóm marathon:

      Cộng đồng trị liệu TC đã xây dựng một số liệu pháp nhóm từ đơn giản đến phức tạp nhầm nâng cao chất lượng của việc điều trị cai nghiện. Mỗi loại nhóm nhằm giải quyết một khía cạnh khác nhau. Có những mục tiêu nhất định mà người nghiện buộc phải đạt được trước khi chuyển sang điều trị ở nhóm khác. Ví dụ như, một người mới tham gia chương trình điều trị cai nghiện cần phải tham gia sinh hoạt nhóm định hướng hàng tuần nhằm giải quyết những mục tiêu trước mắt hay phát hiện những lĩnh vực của cuộc sống mà họ đang gặp khó khăn và cần phải học hỏi để vượt qua trở ngại, khó khăn đó.


      Nhóm điều tra là bước tiếp theo ngay sau đó với yêu cầu cao hơn nhằm giúp đối tượng tự cởi mở về cuộc sống cá nhân, đặc biệt là những phạm trù tế nhị như yếu tố tâm lý tình dục có liên quan đến tiền sử nghiện của đốì tượng. Khi tham gia nhóm điều tra, đối tượng được khuyến khích bàn luận những vấn đề có liên quan đến đời sống tình dục của anh ta, ảnh hưởng của nó đến nhận thức của cá nhân anh ta. Nhóm mở rộng và nhóm marathon là hai nhóm phức tạp nhất trong các biện pháp nhóm trị liệu. Việc tham gia sinh hoạt 2 nhóm này có thể kéo dài cả ngày hay thậm chí 2 ngày trong phòng điều trị cách biệt. Vấn đề được đưa ra thảo luận là khía cạnh tiền sử của đối tượng có liên quan đến kế hoạch giải quyết các khó khăn, trở ngại cùa anh la như thế nào. Hai nhóm này đòi hỏi đối tượng phải có sự cởi mở và trung thực khá cao cùng một số nhận thức nhất định về bản thân.


      Nhìn chung, đối tượng của chúng ta thường vấp phải khó khăn khi tâm sự một cách cởi mở bởi lẽ họ thiếu sự tin cậy vào người khác. Thông thường, việc thiếu tin tưởng vào những người xung quanh có liên quan đến cảm giác tự ti và thiếu tự trọng. Một khi đối tượng biết gạt bỏ đi sự phủ nhận, quay lại đối diện với thực tại, anh ta sẽ thấy rằng những ngày tháng vừa qua của anh ta trong nghiện ngập là thực sự đáng tiếc. Ngược lại, những người mới tham gia chương trình điều trị thì cảm thấy dường như xung quanh anh ta đâu cững là điều xấu. Chúng ta không thể trông đợi ở việc một người mới tham gia chương trình mà lại có thể có lòng tự tin và sự cởi mở ngay được. Tuy nhiên, có nhiều cách để giúp cho một người thành viên của cộng đồng đối diện với thực lại và cởi mở nói ra sự thật về cuộc đời anh ta. Cuộc sống tập thể trong cộng đồng TC giúp cho người nghiện lấy lại được sự kiểm soát cuộc đời anh ta và nhất định anh ta sẽ thành công nếu như cộng đồng đó có cơ hội giúp đỡ anh ta.


      Nhóm đối kháng:

      Nhóm đối kháng được tổ chức ít nhất tuần 2 buổi nhằm ra cơ hội cho các thành viên cộng đồng bày tỏ thái độ khó chịu mà bấy lâu nay họ phải kìm nén trong mình. Việc tỏ thái độ khó chịu, tức giận đối với những người không tham gia nhóm đối kháng là hoàn toàn bị cấm. Quá trình sinh hoạt nhóm được diễn ra dưới sự giám sát chặt chẽ của các nhân viên, cán bộ điều trị giàu kinh nghiệm. Những nguyên tắc chặt chẽ được áp dụng nhằm điều chỉnh các hành vi của đối tượng tham gia nhóm đôi kháng. Việc diễn giải bằng lời những khó chịu, tình cảm tiêu cực trong một môi trường được giám sát chặt chẽ sẽ mang lại hiệu quả hàn gắn và tạo ra cơ hội cho các thành viên hiểu rõ hơn suy nghĩ của người khác dành cho mình và qua đó tăng cường nhận thức về bản thân. Những đối tượng có khả năng lợi dụng hình thức sinh hoạt nhóm này để giải tỏa cảm giác bực bội cũng thường gặt hái được nhiều thành công hơn trong quá trình phục hồi. Mặc dầu các thành viên được khuyến khích để biểu lộ thái độ, quan điểm về nhau nhưng không được sử dụng những từ ngữ mang tính chất xúc phạm nhau. Điều không kém phần quan trọng trong qúa trình bày tỏ thái độ của đối tượng là khả năng nhận thức được tại sao người đó lại làm mình khó chịu và nhận thức đó ảnh hưởng đến cảm giác của bản thân anh ta như thế nào. Thông thường, việc nói ra được cảm giác của bản thân sẽ xây dựng nên những thông tin cá nhân về các thành viên trong nhóm và những thông tin đó có thể được sử dụng trong sinh hoạt các nhóm khác.


      Nếu một chương trình điều trị có thể áp dụng thành công sinh hoạt nhóm đối kháng thì cũng sẽ dễ dàng thành công trong việc tiến hành các nhóm trị liệu khác của TC . Những chương trình trị liệu loại này có xu hướng giáo dục được những thành viên tốt hơn trong một môi trường trị liệu ổn định hơn. Những thành công mà đối tượng gặt hái được sau khi tham gia nhóm đối kháng, đặc biệt là về nhận thức bản thân giúp cho họ có được sự chuẩn bị tốt hơn khi bước sang sinh hoạt ở nhóm khác. Tuy nhiên, muốn đạt được thành công nhất định từ các biện pháp trị liệu nhóm, đối tượng phải sẵn sàng chấp nhận thử thách thông qua việc cởi mở bản thân mình.


      VII/ NHỮNG BIỆN PHÁP NHẰM NÂNG CAO NĂNG LỰC BẢN THÂN

      "Lao động khiến cho con người trưởng thành" - Khalil Gibran

      Cộng đồng trị liệu coi lao động là yếu tố quan trọng giúp đối tượng phục hồi nhanh chóng từ tình trạng nghiện. Lao động có liên quan đến nhận thức của một người về vai trò của anh ta trong cộng đồng. Suy cho cùng lao động giúp anh ta ở vị trí nào trong bậc thang xã hội. Một người khi biết rằng anh ta là thành viên có ích cho xã hội thì anh ta không mấy khi lại dính líu tới những hành vi sai trái. Điều này giúp chúng ta hiểu được vai trò của lao động trong đời sống xã hội của con người cũng như trong quá trình phục hồi của đối tượng được điều trị tại môi trường TC. Tất cả mọi thành viên đều đóng góp sức mình vào công việc hàng ngày nhằm duy trì chương trình điều trị, duy trì cơ sở vật chất và hoạt động của cộng đồng.


      Cơ cấu tổ chức của TC: Cộng đồng trị liệu được tổ chức theo một cơ cấu chặt chẽ dựa trên nguyên lý cấp bậc trách nhiệm tăng dần do các thành viên của cộng đồng đảm nhiệm, những người ở giai đoạn khác của chương trình điều trị. Để có được một vị trí trong cộng đồng, đối tượng phải có nhận thức đúng đắn về tầm quan trong hoạt động hàng ngày. Cơ cấu tổ chức này đảm bảo công việc được hoàn thành đúng lúc dưới sự giám sát chặt chẽ.


      Cơ cấu tổ chức của TC là một hệ thống phân công lao động rất hiệu quả. Nó khiến cho TC có thể tự sản tự tiêu bằng cách tận dụng được tối đa nguồn nhân lực dồi dào của cộng đồng. Cơ cấu này còn cho phép tập trung vào một yếu tố kỹ thuật trong việc điều hành một chương trình điều trị hơn là triển khai những hoạt động vụn vặt, lẻ tẻ. Hệ thống này khuyến khích các thành viên phấn đấu để đạt được những vị trí nhât định ưong cộng đồng, khuyến khích tinh thần tự lập...


      Mặc dầu vậy, những người quản lý TC thường không quan tâm đến việc xây dựng một lịch lao động sát sao đến từng phút như việc chuẩn bị bữa ăn, dọn dẹp vệ sinh v.v... nhưng họ giám sát rất chặt chẽ thái độ và hành vi của thành viên TC. Trong cơ cấu tổ chức này, mọi thông tin đều rõ ràng. Dựa trên những thông tin phản hồi về điều đã và đang xảy ra trong cộng đồng, các vụ việc sẽ lần lượt được nâng cấp bậc trong cộng đồng xử lý. Những vụ việc có thể gây hại nghiêm trọng cho sức khỏe của thành viên cộng đồng hay sự an toàn của môi trường điều trị như sự xuất hiện thẩm lậu ma túy trong cộng đồng ngay lập tức sẽ được cấp cao nhất của cộng đồng quan tâm xử lý.


      Sự thăng cấp và giáng cấp trong hệ thống phân công công việc của TC:

      Nhằm giáo dục đối tượng trở thành một thành viên có ích của cộng đồng, TC chú trọng vào việc giúp đỡ đối tượng trước hết hiểu thêm về chính bản thân mình, hiểu được nhược điểm của mình ví dụ như cảm giác tự ti trong một hoàn cảnh xã hội nào đó. Giả sử, một người không dám làm việc ở một vị trí đang đòi hỏi phải có năng lực lãnh đạo, phải biết quyết định ... Vị trí làm việc đó khiến cho anh ta luôn luôn phải lo lắng. Để có thể giúp anh ta vượt qua sự lo sợ ta phải khuyến khích anh ta chấp nhận sự thử thách của công việc. Muốn giao cho đối tượng một công việc ta phải cân nhắc kỹ thái độ, hành vi và đặc biệt là khả năng chấp nhận thử thách của anh ta. Vì nói cho cùng, lao động cũng là một trong những biện pháp trị liệu cho nên ở một số chương trình điều trị, thất bại là sử dụng đốì tượng điều trị như một dạng nhân công rẻ mạt cho sản xuất.


      Những đối tượng tích cực trong công việc và có thái độ đúng đắn đối với lao động thì thường có xu hướng coi trọng công việc mà họ đang làm và vị trí của họ trong công việc. Như vậy không có nghĩa là cứ làm việc tốt là đủ. Đối tượng phải có thái độ và hành vi đúng với quá trình làm việc. Việc không tuân thủ những quy tắc mà TC đề ra trong lao động thường dẫn đến sự giáng cấp trong hệ thòng phân công công việc của TC. Việc luân chuyển, thay đổi công việc diễn ra thường xuyên trong TC cho phép các đôi tượng có cơ hội tiếp xúc vơi nhiều loại vị trí công việc trong môi trường.


      Bởi lẽ quan điểm của TC là đối tượng phải:

      Tìm hiểu về chính bản thân anh ta trước. Điều chỉnh thái độ và hành vi cho đúng.

      Sau đó lao động tích cực để có được một vị trí trong cộng đồng cho nên những chương trình giáo dục dạy nghề của TC thường đạt tỷ lệ thành công cao với thời gian ngắn và chi phí thấp . Chương trình giáo dục dạy nghề thường không chính thức dành cho những thành viên mới của TC, những người cần phải có thời gian để điều chính thái độ hành vi trước khi được tham gia lao động học tập. Cộng đồng trị liệu quan niệm rằng chỉ có thái độ đúng với công việc mới có thể đảm bảo cho đốì tượng có việc làm ổn định khi đối tượng trở lại cộng đồng. Quá trình thăng cấp và giáng cấp trong hệ thống phân công công việc của TC là một quá trình học tập hữu ích cho những đối tượng vốn không có thói quen duy trì một việc làm ổn định trong một thời gian dài.


      Chuấn bi tái hoà nhập cộng đồng:

      Thu nhận được một hệ thống kiến thức sau khi tham gia điều trị — phục hồi và áp dụng những kiến thức đó vào thực tiễn công tác hàng ngày đòi hỏi phải có sự nhận thức sâu sắc về bản thân và mong muốn duy trì một cuộc sống lành mạnh không có ma túy. Giá trị của những gì đối tượng thu nhận được trong quá trình điều trị sẽ được kiểm chứng lại khi anh ta tái hoà nhập cộng đồng, trở về với cuộc sống thực tại. Khó có thể tưởng tượng được rằng một người nghiện rượu lâu năm, sau khi điều trị quay trở lại cộng đồng làm việc tại một quầy rượu lại vẫn có thể duy trì một cuộc sống lành mạnh không uống rượu.


      Trong giai đoạn cuối của chương trình điều trị, TC sẽ cho người nghiện dần dần thoát ly môi trường có kiểm soát và tiếp xúc ngày một nhiều với môi trường xã hội. Đối tượng có thể tự đi tìm việc, trở lại nhà trường hay tham gia các hoạt động có ích khác. Đối tượng sẽ tự sắp xếp thời gian cho những hoạt động bên ngoài cộng đồng TC nhưng vẫn đảm bảo tham gia sinh hoạt nhóm tư vấn, chăm sóc sau cai của các chuyên gia về tái hoà nhập cộng đồng. Họ phải hoàn tất khóa học về phòng chống tái nghiện và chứng tỏ những kỹ năng xử lý tình huống có nguy cơ dẫn đến tái nghiện. Họ cũng có thể tham gia giúp đỡ nhừng thành viên khác của cộng đồng thực hiện các hoạt động điều trị.


      Khả năng tìm được và duy trì một việc làm ổn định, hòa nhập được với gia đình, tiếp tục làm việc và duy trì trạng thái phục hồi là mục tiêu chính của giai đoạn này. Đối tượng lúc này nhận được sự giúp đỡ cả từ phía nhân viên điều trị và từ gia đình. Nếu tái nghiện xảy ra trong giai đoạn này, đối tượng có thể sẽ phải quay lại TC và được trang bị thêm những biện pháp can thiệp cho đến khi anh ta thực sự đủ khả năng duy trì trạng thái phục hồi.


      VIII/ YẾU TỐ TINH THẦN TRONG PHƯƠNG PHÁP CỘNG ĐỒNG TRỊ LIỆU

      Trong bất cứ cuộc thảo luận nào về yếu tố tinh thần trong cộng đồng trị liệu hầu như người ta không tránh khỏi việc nói lạc sang chủ đề tôn giáo và tín ngưỡng. Phần lớn trong số chúng ta cũng không cho rằng những chủ đề này có gì khác nhau, thậm chí đôi khi chúng ta còn có thể hoán vị chúng với nhau. Nhằm tránh việc nhầm lẫn giữa yếu tố tinh thần và khái niệm tôn giáo, tinh thần trong cộng đồng trị liệu được định nghĩa là : "bất kỳ hành động hay hoạt động nào thể hiện, phản ánh lòng tốt của con người". Đây là một định nghĩa khái quát, nó bao gồm rất nhiều loạt hoạt động của con người kể cả hoạt động tôn giáo hay những việc làm có ích giúp tăng cường nhận thức của con người.


      TRIẾT LÝ CỘNG ĐỒNG

      Chúng ta từ nhiều nơi sum họp về đây dù mỗi người có cá tính và hoàn cảnh khác nhau.

      Chính nơi đây tôi đã gặp được ánh mắt, trái tim bạn bè.

      Chính nơi đây tôi đã được dìu dắt bởi tấm lòng yêu thương của thầy cô và của cả cộng đồng.

      Tôi đã cô đơn vì luôn sợ người khác biết về mình vì thế tôi càng không hiểu mình và cũng chẳng hiểu ai.

      Tôi đã không ngừng lẩn trốn nhưng đến nay tôi đã nhận ra bản thân mình.

      Tôi không còn cảm thấy bất an vì tôi đã chia sẻ những bí mật của đời mình với người khác.

      Chính tại nơi đây tôi đã tìm thấy tấm gương để soi rọi mình.

      Chính tại nơi đây nhờ gia đình nhờ mọi người cuối cùng tôi đã hiểu rõ về chính mình.

      Tôi không phải người hùng trong những giấc mơ và không còn thấp hèn trong những cơn hoảng sợ.

      Tôi đã biết phải kiềm chế những cám dỗ để làm chủ bản thân để tâm hồn bình an và thanh thản.

      Tôi sẽ trở thành một thành viên của tập thể góp phần mình cùng xây dựng mục đích chung.

      Tôi sẽ không còn cô đơn như trong cõi chết mà đang sống một cuộc sống cho mình và cho mọi người.

      Chính tại nơi đây tôi mọc rễ đâm chồi và vươn lên. Có sự yêu thương của thầy cô, có sự giúp đỡ của bạn bè để cùng nhau tiến bộ. Tôi phải đi đến được mục đích cuối cùng là giải phóng được bản thân tôi.


      IX/ HỆ THỐNG NIỀM TIN TRONG CỘNG ĐỒNG TRỊ LIỆU

      Niềm tin vào sự tồn tại của lòng tốt:

      Cho dù một người gặp bất hạnh như thế nào trong cuộc đời thì anh ta cũng không nên đeo đẳng mã những suy nghĩ về những điều đã xảy ra. Khi chúng ta giúp đỡ anh ta đối diện với sự thật, nói ra những điều bí mật mà anh ta dấu diếm trong lòng cũng như tìm các học hỏi từ những vấp váp mà anh ta đã từng gặp phải. Chúng ta không đánh giá con người qua những việc mà anh ta đã làm trong quá khứ mà thái độ trung thực của anh ta tại thời điểm này trong việc sửa chữa những sai lầm của quá khứ. Người nghiện có thể thay đổi nhưng chỉ khi anh ta thực sự mong muốn mình thay đổi. Nếu như anh ta cố gắng nỗ lực không ngừng thì nhất định cuối cùng anh ta cũng duy trì được một lối sống lành mạnh. Đó chính là điều mà cộng đồng trị liệu tin tưởng ở con người.


      Niềm tin vào khả năng hối cải và phục thiện của con người:

      Có một thời gian khá dài cả xã hội đều tin chắc một điều rằng "người nghiện thì mãi mãi sẽ là người nghiện". TC đã bác bỏ điều này bằng cách đưa ra ví dụ thực tiễn, những người đã từng tham gia điều trị, đã vượt qua được sự cám dỗ của ma túy và nay đang sông một cuộc sống lành mạnh. Không ít người trong số họ vẫn đang tiếp tục cuộc chiến chống lại nguy cơ tái nghiện, tái sử dụng rượu và ma túy. Những ai không bỏ cuộc thì nhất định cuối cùng sẽ có một cuộc sống bình thường và ổn định. Khi một người nghiện mới tham gia môi trường điều trị TC thì điều làm anh ta ngạc nhiên đó là anh chỉ nhận được sự giúp đỡ vừa đủ để anh ta có thể tự giúp chính bản thân mình. Người ta không buộc anh ta phải hối tiếc về những điều sai trái dù lớn, dù nhỏ mà anh ta đã làm. Những người xung quanh cư xử với anh ta như một con người bình thường. Không ai giám sát anh ta nhưng tất cả mọi người đều quan tâm chăm sóc xem anh ta tiến triển như tbế nào. TC tạo ra một môi trường tự nhiên đến nỗi một người mới đến hầu như không thể tin được rằng thậm chí anh ta có thể tự do đi lại mà không có camera theo dõi 24/24, điều này nghe có vẻ hơi vô lý, nhưng có một điều rõ ràng là người nghiện sẽ dần nhận thức được: cuối cùng, chính tại nơi đây, TC cho anh ta một cơ hội giành được một chỗ đứng dưới ánh sáng mặt trời.


      Niềm tin vào việc giúp người khác cũng là giúp chính bản thân mình:

      Một trong những phẩm phất quý báu mà đổì tượng sau khi điều trị ở môi trường TC có được đó là việc luôn sẵn lòng giúp đỡ những ai cần sự giúp đỡ. Khái niệm "cho” hầu như trở nên quen thuộc đối với mọi người. Đối tượng muốn duy trì một lôi sống lành mạnh thì anh ta phải biết chia sẻ những gì mà anh ta nhận được, anh ta mới là người sở hữu thực sự của chúng. Có một câu nói rất hay mô tả được hết ý nghĩa của khái niệm "cho" trong môi trường trị liệu TC: Bạn sẽ không thể chịu đựng nổi nó trừ khi bạn chia sẻ với người khác.


      Niềm tin vào những điều lớn lao, vĩ đại hơn cả cá nhân con người:

      Về vấn đề đức tin. Một khi đã là người nghiện, trong con người họ không còn chỗ dành cho Đức Chúa hay lòng nhân từ. Việc tin tưởng vào Chúa hay những điều răn trong kinh thánh có thể làm tăng mặc cảm phạm tội ở người nghiện. Vai trò của đức tin hay có niềm tin vào những điều lớn lao vĩ đại hơn cả cá nhân con người là yếu tố quan trọng trong việc vượt qua sự tự mãn vốn dĩ đã ăn sâu vào suy nghĩ của người nghiện. Có một điều gì đó hối thúc bên trong , biến chuyển tự nhiên khiến cho người nghiện từ bỏ suy nghĩ tự mãn, tự phụ để tìm đến niềm an ủi trong niềm tin vào Chúa hay Đấng sáng tạo.


      Niềm tin vào phẩm giá của con người:

      Có một phẩm chất đạo đức của con người mà ta luôn luôn phải coi trọng đó chính là phẩm giá hay giá trị của con người. Cộng đồng trị liệu TC sử dụng thuật ngữ phẩm giá để miêu tả khái niệm giá trị của con người thay vì thuật ngữ "Niềm tự hào về phẩm chât". Theo quan điểm của TC, người nghiện có niềm tự hào về phẩm giá của mình thường tích cực tham gia vào chương trình điều trị - phục hồi vì đó là biện pháp giúp họ nhanh chóng chuyển đổi thái độ và hành vi, nhằm lấy lại những gì mà họ đã mất.


      Thành viên của TC thì phải có một cuộc sống mẫu mực, tuân thủ những quy tắc nhất định về thái độ, hành vi và phải có trách nhiệm đốì với hành vi đó. Thành viên nào vốn đã có niềm tự hào về phẩm chất thì thường tỏ ra là một công dân tốt của cộng đồng, tuân thủ các quy lắc về trách nhiệm đối với thái độ, hành vi của mình. Duy trì được niềm tự hào về phẩm chất trong lối sống sẽ giúp con người tránh xa ma túy và tránh xa được cả những yếu tố tiêu cực luôn đi kèm theo nó.


      X/ QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG YẾU TỐ TINH THẦN TRONG TC:

      Như chúng ta đã biết, TC không phải là một chương trình thuần túy nói về yếu tố tinh thần. Yếu tố tinh thần chỉ được sử dụng với khía cạnh giúp cho quá trình thay đổi, phục hồi của người nghiện thông qua việc nhìn nhận cuộc sống dưới một góc độ khác. Điều tôi sẽ trình bày ở đây là một quá trình điều trị nhằm tăng cường nhận thức về yếu tố tinh thần cho người nghiện trong giai đoạn phục hồi.


      Giai đoạn 1:

      Cuộc sống trong TC là một cuộc sống tập thể. Cuộc sống tập thể ở đây có một ý nghĩa khác với điều mà mọi người vẫn nghĩ về nó. TC tạo ra những điều kiện cần thiết cho người nghiện ma túy để họ có thể nhanh chóng phục hồi trong môi trường có định hướng rõ ràng về "mục đích và kết quả". Chúng ta không mấy ngạc nhiên khi một người nghiện cho dù nặng nhẹ thế nào nhưng nếu đã từng có một thời quá khứ tốt thì sẽ không gặp nhiều khó khăn trong việc thích nghi với cuộc sống kỷ luật của TC. Tuy nhiên, những người có lý lịch không tốt như bỏ nhà, sống bụi đời hay không có tuổi thơ thì thường gặp khó khăn hơn. Họ cần phải biết được thế nào là hành vi đúng trước khi có thể bước vào qúa trình phục hồi. Đây chính là một thử thách lớn không chỉ với họ mà còn với tất cả các nhân viên điều trị của TC.


      Trong môi trường mới, người nghiện bắt đầu học cách thích nghi và học những khái niệm cơ bản của TC. Quá trình học hỏi này được tiến hành từ đơn giản đến phức tạp. Tất cả những điều người nghiện cần phải học đều được đơn giản hóa đến mức tối đa. Thông thường, trong giai đoạn này. đối tượng chưa cần phải hiểu cặn kẽ những gì mình được học. Đối tượng chỉ cần nhập tâm và tạm chấp nhận những khái niệm được đưa ra. Tóm lại, đối tượng có thể được giới thiệu về hệ thống điều trị của TC nhưng anh ta chưa cảm giác hay chưa thực sự hiểu về nó. Đây chỉ là giai đoạn chuẩn bị cho người nghiện bước sang giai đoạn thứ hai là giai đoạn bước vào chuyển đổi thái độ hành vi để dần dần phục hồi trong môi trường điều trị TC.


      Giai đoạn 2:

      Trong giai đoạn 2, nếu như người nghiện đà vượt qua giai đoạn 1, anh ta sẽ bắt đầu chủ động tìm kiếm cơ hội để tự điều chỉnh chính bản thân mình. Anh ta tham gia vào các hình thức sinh hoạt nhóm khác nhau để chia sẻ và tâm sự với người khác về quá khứ của mình. Việc này sẽ động chạm đến những vấn đề gai góc nhất của cuộc đời anh ta.


      Trong giai đoạn này, đối tượng đã quen với quy tắc thường nhật của TC. Môi trường an toàn và lành mạnh, cách xa những cám dỗ của ma túy sẽ giúp anh ta có thời gian suy ngẫm lại cuộc đời mình. Thông thường đây là giai đoạn khó khăn trong quá trình điều trị bởi vì người nghiện phải đối diện với tất cả những nỗi đau, sự xấu hổ, mất mát của cuộc đời mà bấy lâu nay anh ta thường né tránh. Một khi đối tượng đã vứt bỏ được sự mặc cảm, sự tự lừa dối mình, anh ta sẽ đạt được sự kiểm soát cuộc đời anh ta. Anh ta phát hiện được sức mạnh tiềm ẩn bên trong và nhận thấy rằng anh ta có thể điều khiển cuộc đời theo ý mình. Anh ta cũng nhận thức được một phần về cái tôi của mình và đó là điều cần thiết để anh ta tiếp tục trên con đường điều trị - phục hồi. Anh ta hiểu rằng không phải nghiện là vô vọng mà với sự giúp đỡ của những người xung quanh, anh ta có thể vượt qua những trở ngại trong điều trị. Anh ta cũng hiểu được rằng : Một mình bạn có thể làm được điều đó nhưng bạn sẽ không thành công nếu làm việc đó một mình”.


      Giai đoạn 3:

      Đến giai đoạn này, người nghiện bắt đầu tự sắp xếp lại những mảnh vỡ của cuộc đời anh ta. Những gì mà anh ta học được ở giai đoạn 2 thì bây giờ được đem ra áp dụng để tái thiết tại cuộc đời của anh ta. Trong giai đoạn này, người nghiện đã thực sự thích nghi với môi trường điều trị. Anh ta cảm thấy thoải mái với chính mình cũng như với những người xung quanh. Anh ta nhận thức rõ được những cảm giác của mình và đôi khi còn phát hiện ra những cảm giác mới mà trước đây anh ta chưa bao giờ có. Đây cũng là giai đoạn của sự thể nghiệm bản thân đối tượng, là giai đoạn đi tìm câu trả lời cho câu hỏi về mục đích sống của đời người. Khao khát muốn tìm hiểu có khi còn mạnh mẽ hơn cả nhu cầu tìm kiếm ma túy. Đối với những người có thiên hướng tôn giáo thì câu hỏi làm họ phải băn khoăn suy nghĩ đó là mối liên hệ giữa con người và Đức Chúa. Đôi khi cảm giác xấu hổ, mặc cảm tội lỗi trước Chúa được thay bằng cảm giác được sự bao dung, che chở trong tình yêu của Chúa. Việc đối tượng tìm kiếm câu trả lời về mục đích cuộc sống trong giai đoạn này có thể giúp anh ta hoạch định được một kế hạch để sống sao cho có ích trong tương lai.


      Giai đoạn 4:

      Sau khi đã tìm lại được chính bản thân mình, người nghiện bắt đầu quá trình học hỏi những gía trị của cuộc sống, hệ thống niềm tin trong TC, mối quan hệ xã hội, định hướng nghề nghiệp nhằm hướng tới một cuộc sống lành mạnh, không có ma túy . Sự thay đổi lớn lao trong thái độ của đối tượng ở giai đoạn này là rất đáng chú ý. Anh ta tỏ ra có triển vọng và trở nên đáng tin cậy nhờ có tinh thần trách nhiệm trong lao động và hành vi ứng xử. Anh ta có cuộc sống thăng trầm chìm nổi nhưng anh ta đã biết chấp nhận thực sự, biết kiểm soát nó và tìm kiếm sự giúp đỡ khi cần thiết. Anh ta hiểu rằng cuộc chiến chống lại cám dỗ của ma túy vẫn chưa chấm dứt và anh ta vẫn còn phải rèn luyện thêm những điều đã học để có thể duy trì một cuộc sống lành mạnh lâu dài. Anh ta hiểu, nghiện không đơn thuần là sự phụ thuộc vào ma túy mà còn là sự lệ thuộc vào quá khứ cùng những yếu tố xã hội đi liền với quá khứ ấy. Quay trở lại quá khứ cũng đồng nghĩa với việc đùa giỡn với lửa. Anh ta có thể đốt thành tro tất cả những nỗ lực bấy lâu nay nhằm đạt được sự phục hồi. Tránh mọi mối liên quan dẫn đến quá khứ tội lỗi đó là yếu tố tiên quyết để duy trì cuộc sống lành mạnh không còn ma túy.


      Để duy trì được những gì mà anh ta được học, anh ta phải biết cách chia sẻ đúng cho người khác. Đối tượng đã hoàn tất giai đoạn này, phải biết cách dạy lại những thành viên mới bằng chính ví dụ cuộc đời anh ta. Vai trò của anh ta trong cộng đồng bây giờ là dạy lại nhừng điều mình được học . Chỉ có như vậy anh ta mới thực sự hiểu hết ý nghĩa của mọi vấn đề đã học và có trách nhiệm hơn đối với hệ thống niềm tin trong cộng đồng trị liệu TC.


      XI/ PHỎNG VẤN BAN ĐẦU TRONG CỘNG ĐỒNG TRỊ LIỆU TC:

      Ngay từ khi mới ra đời, cộng đồng trị liệu TC đã có một chương trình phỏng vấn mà bất kỳ người nghiện nào khi mới tham gia vào cộng đồng đều phải trải qua. Phỏng vấn trước khi gia nhập cộng đồng trị liệu là loại phỏng vấn đặc biệt. Nó không hoàn toàn tuân theo trình tự và nội dung của một cuộc thăm hỏi tiền sử bệnh hay trắc nghiệm tâm lý. Thay vì phỏng vấn kiểu tay đôi giữa người được phỏng vấn và cán bộ tiếp đón, đối tượng có nguvện vọng tham gia cộng đồng trị liệu được một nhóm những người nghiện sau cai cùng đặt câu hỏi và buộc phải trả lời trung thực về quá khứ của mình. Sẽ không ai trong số những người phỏng vấn ghi chép gì. Nhưng bất kỳ một biểu hiện dối trá nào nhằm né tránh hay từ chối trả lời sẽ bị người phỏng vấn phát hiện và được nhắc nhở để người nghiện phải nói ra sự thật. Hình thức phỏng vấn này trong TC còn được gọi là phỏng vấn cảm xúc. Mục đích của phỏng vấn cảm xúc không phải là để thu thập thông tin về tâm lý xã hội của người nghiện mà nhằm đánh giá mức độ nhận thức về động cơ của người nghiện. Chính vì vậy việc sử dụng thông tin thu được để điền vào một mẫu đánh giá là không cần thiết. Việc có trách nhiệm đối với cuộc sống của chính mình và có động cơ điều trị đúng là yếu tố rất quan trọng quyết định việc đối tượng có đủ khả năng tham gia và duy trì điều trị hay không. Phương pháp phỏng vấn của TC nhằm buộc người nghiện phải thực sự quyết tâm để thay đổi. Nó giúp người nghiện lột bỏ bức màn che giấu, phủ nhận sự thực và học cách tìm kiếm giúp đỡ trong cộng đồng.


      Phương pháp phỏng vấn ban đầu của TC:

      Ngoài việc sàng lọc đối tượng đủ điều kiện tham gia cộng đồng trị liệu, phỏng vấn ban đầu còn có nhiệm vụ xây dựng kế hoạch điều trị cho đối tuợng và dự kiến những điều kiện cần để việc thay đổi nhận thức hành vi có thể xảy ra. Kinh nghiệm cho thấy rằng, những thông tin mà người nghiện đưa ra trong lần phỏng vấn đầu tiên thì nói chung không đáng tin cho lắm. Nguyên nhân của nó một phần là do người nghiện hầu như không bao giờ thừa nhận là họ gặp khó khăn, phần còn lại là do những khó khăn đó coi như là đã chấm dứt kể từ khi đối tượng bắt đầu tham gia chương trình điều trị. Mà nói chung, ngay cả những đối tượng mà ta xếp vào loại tình nguyện thì họ cũng gặp những vấn đề không khác gì so với đối tượng cưỡng chế, cũng là áp lực của gia đình của trường học, của công việc hay của cả ba yếu tố trên. Để làm rõ hơn về phương pháp phỏng vấn củaTC tôi xin tóm lược một số nét như sau :


      Có năm mục tiêu mà người phỏng vấn phải đảm bảo đạt được trong lần phỏng vấn ban đầu:

      • 1) Tạo mối quan hệ

      • 2) Khai thác thông tin

      • 3) Đưa ra thông tin

      • 4) Xây dựng dự thảo về thoả thuận điều trị

      • 5) Lên kế hoạch bước tiếp theo.


      Những mục tiêu này là cơ sở để người phỏng vấn bám vào xây dựng chương trình phỏng vấn xoay quanh những vấn đề đó. Tuy nhiên, chỉ những mục tiêu này đơn thuần thì không đảm bảo cho sự thành công của phỏng vấn. Bằng cách áp dụng một số kỹ năng đặc biệt của phỏng vấn cảm xúc, người phỏng vấn giúp củng cố quyết tâm của đối tượng, giúp họ ý thức được trách nhiệm cá nhân đối với sự thay đổi và đó là yếu tố quan trọng để có thể suy trì tham gia điều trị - phục hồi.


      • 1. Tạo mối quan hệ: Việc tạo lập được mối quan hệ và chiếm được thiện cảm của đối tượng ngay lúc ban đầu là hết sức quan trọng để tạo ra sự cởi mở trong giao tiếp. Theo phương pháp phỏng vấn cảm xúc truyền thông của TC, những người nghiện sau cai đóng vai trò người phỏng vấn chủ yếu dựa vào kinh nghiệm của họ khi họ còn là người nghiện để xóa bỏ sự đề phòng của đối tượng. Một vài kỹ năng tư vấn khác như: lắng nghe, thông cảm, phê phán ... cũng sẽ rất hữu ích cho người phỏng vấn. Ấn tượng ban đầu, bài trí tại điểm phỏng vấn cùng là yêu tố cần chú ý đến để tạo hiệu quả cao nhất.


      • 2. Khai thác thông tin từ người nghiện: Người phỏng vấn phải rất khéo léo tế nhị trong việc khai thác thông tin từ người nghiện. Tôt nhất là đặt câu hỏi một cách từ tốn, tránh hiện tượng hỏi dồn đập hay thúc bách nếu không muốn tạo ra sự khủng hoảng tâm lý đối với người nghiện. Thông tin ban đầu là quan trọng nhưng lấy được thông tin chính xác thì không phải là dễ. Thông tin chính xác phải bao gồm tiểu sử cá nhân, tình trạng tâm lý, nguyên nhân nội tại và nguyên nhân bên ngoài tác động khiến đối tượng đến với điều trị, quá trình sử dụng ma túy, hoàn cảnh gia đình, công ăn việc làm và cả những lý do cơ bản dẫn trến stress từ đó có thể xây dựng một kế hoạch can thiệp thích hợp.


      • 3. Cung cấp thông tin cho người nghiện: Những thông tin cơ bản về cơ sở điều trị và triết lý cộng đồng cần phải được cung cấp đầy đủ cho đối tượng. Thông thường, đốì tượng chỉ được nghe sơ bộ hay những thông tin không đầy đủ về bản chất cùa khó khăn mà anh ta đang vấp phải cùng như cách giải quyết nó. Nếu ta giải thích rõ cho đối tượng được hiểu thì có thể giúp anh ta diều chỉnh lại được mục tiêu và nguyện vọng điều trị của mình.


      • 4. Xây dựng dự thảo bản thoả thuận điều trị: Nếu như người phỏng vấn thành công trong việc cùng có được quyết tâm điều trị của đôi tượng thì phải tiến hành dự thảo một văn bản trong đó đối tưựng bày tỏ sự đồng ý quyết tâm tham gia điều trị. Văn bản đó được gọi là "thỏa thuận điều trị". Trong văn bản ghi rõ yêu cầu và mục tiêu điều trị của đối tượng. Để đạt được những mục tiêu, yêu cầu này, đối tượng cần nhận thức được tầm quan trọng của yếu tố tập thể, cộng đồng và những gì mà cộng đồng đòi hỏi ở anh ta.


      • 5. Lên kế hoạch cho bước tiếp theo: Nhằm giúp đỡ người nghiện duy trì được quyết tâm tham gia điều trị, chúng ta cần phải giải thích rõ với anh ta về những bước tiếp theo. Nếu như những biện pháp phỏng vấn thông thường có hiệu qủa thì tại thời điểm này đối tượng đã hầu như sẵn sàng để tham gia điều trị. Mức độ phủ nhận cũng như phản ứng của anh ta đối với hiện tại cũng đã được giảm đi nhiều.


      Các giai đoạn và quá trình thay đổi của người nghiện ma túy áp dụng trong phỏng vấn:

      Đối tượng nghiện đến với điều trị vì nhiều lý do và hoàn cảnh khác nhau. Chính những yếu tố đó quyết định động cơ điều trị của từng đối tượng. Để đánh giá được chính xác động cơ điều trị của đối tượng, người phỏng vân phải nắm được lý thuyết về các giai đoạn và quá trình thay đổi của người nghiện ma túy.


      Có 5 giai đoạn lần lượt là:

      • 1)  Giai đoạn chưa có dự định thay đổi.

      • 2)  Giai đoạn có dự định thay đổi.

      • 3)  Giai đoạn chuẩn bị.

      • 4)  Giai đoạn hành động.

      • 5)  Giai đoạn duy trì.


      Trong giai đoạn 1, đối tượng chưa có dự định thay đổi hành vi trong một tương lai gần. Anh ta không nhận thức được hoặc nhận thức không rõ ràng về khó khăn mà anh ra đang vấp phải. Khi đó, thái độ của anh ta đối với những khó khăn đó là phủ nhận và giấu giếm và anh ta hầu như không nghĩ gì đến sự thay đổi.


      Trong giai đoạn dự định, đối tượng bắt đầu nhận thức được khó khăn của mình và cũng đã suy nghĩ tìm giải pháp để vượt qua nhưng chưa thực sự bắt tay vào bất kỳ một hành động nào, cần phải có sự cân nhắc nghiêm túc để tìm ra một giải pháp hợp lý trong giai đoạn này. Trong giai đoạn chuẩn bị, đối tượng nhận thức rõ được khó khăn của mình và giải pháp khắc phục. Anh ta đang đánh giá lại tất cả những phương án mà anh ta có. Tóm lại, đối tượng đã sẵn sàng cho sự thay đổi.


      Giai đoạn hành động là giai đoạn đối tượng tiến hành điều chỉnh lại hành vi, điều chỉnh lại môi trường nhằm vượt qua những khó khăn cản trở. Trong giai đoạn này đối tượng không chỉ sẵn sàng thay đổi mà còn thực sự giải quyết những vấn đề tồn tại của chính mình.


      Giai đoạn cuối cùng, giai đoạn duy trì là thời điểm mà đối tượng phải học cách phòng ngừa tái nghiện, duy trì những gì anh ta đã đạt được trong giai đoạn hành động. Kinh nghiệm cho thấy rằng, thông thường đối tượng đến với chúng ta khi họ ở giai đoạn 1. Thông qua qua trình phỏng vấn, người phỏng vấn có thể giúp đôi tượng nâng cao lòng quyết tâm sang giai đoạn 2 nhằm tăng cường sự sẵn sàng của đối tượng với việc thay đổi hành vi thông qua điều trị.


      Hướng dẫn tổ chức tiến trình phỏng vấn

      Phỏng vấn là điều kiện tiên quyết trước khi một đối tượng mới được chấp nhận tham gia cộng đồng trị liệu TC. Nó được tổ chức ngay vào ngày đầu tiên đối tượng đến xin tham gia điều trị. Mục tiêu đầu tiên của cuộc phỏng vấn là đánh giá động cơ điều trị của đối tượng. Bởi lẽ hầu hết các đối tượng không tự giác muốn tham gia điều trị, họ thường đến với chúng ta bởi vì áp lực của gia đình, sự cưỡng chế của pháp luật ... cho nên vấn đề là phải tổ chức phỏng vấn sao cho đối tượng quyết tâm tình nguyện ở lại điều trị trong môi trường TC. Cuộc phỏng vấn nhất định phải đạt được mục tiêu đề ra này bằng không đối tượng sẽ vấp phải khó khăn ngay trong giai đoạn đầu của điều trị.


      Sàng lọc đối tượng

      Trong quá trình sàng lọc, khi đối tượng gọi điện đến cơ sở điều trị hay đến hỏi về thủ tục gia nhập cộng đồng trị liệu, anh ta phải tự mình bày tỏ rằng: dự định tham gia điều trị là sự lựa chọn của chính anh ta chứ không phải của bố mẹ, của cán bộ pháp luật... Anh ta phải chứng tỏ rằng anh ta thực sự nghiêm túc trong việc kêu gọi sự giúp đỡ của cộng dồng. Người phỏng vấn cũng không làm bất cứ điều gì can thiệp vào quyết định của đối tượng ngoài việc nhắc nhở anh ta phải nghiêm túc và có trách nhiệm với dự định của mình. Đối tượng sẽ được hẹn đến ngày để tham gia phỏng vấn thực sự.


      Quá trình phỏng vấn:

      Quá trình phỏng vấn phải được diễn ra trong một căn phòng biệt lập, tránh xa mọi yếu tố làm phân tán tư tưởng. Trước hết, đối tượng sẽ giới thiệu về bản thân mình trước các thành viên của nhóm phỏng vấn.


      Sau đó trưởng nhóm phỏng vấn sẽ tự giới thiệu về mình tiếp theo đó là các thành viên còn lại của nhóm. Khi các thành viên tự giới thiệu về mình họ cũng cần nói vắn tắt luôn về lý do khiến họ đến với TC cũng như vai trò hiện tại của từng người trong cộng đồng. Mục đích của việc giới thiệu này là giúp đốì tượng nắm được thông tin sơ bộ về nhóm phỏng vấn. Quá trình phỏng vấn sau đó sẽ phải gồm những nội dung sau:

      • 1) Gây dựng được lòng tin nơi đối tượng để anh ta sẵn sàng kể lại một cách trung thực khó khăn tồn tại mà anh ta đang vấp phải.

      • 2) Giúp cho đối tượng thể hiện được trách nhiệm của mình đối với những khó khăn kể trên bằng cách gạt bỏ sự phủ nhận thực tại, sự trốn tránh trách nhiệm, sự hợp lý hóa nhằm biện minh cho những sai lầm của anh ta.

      • 3) Giúp cho đối tượng thể hiện sự trung thực bằng tập trung mọi vấn đề xung quanh anh ta thay vì đổ lỗi cho người khác gây ra khó khăn cho mình.

      • 4) Giúp đối tượng thừa nhận sai lầm, nhận thức được nhu cầu cần sự giúp đỡ và có khả năng tìm kiếm giúp đỡ đó.

      • 5) Thuyết phục đối tượng sẵn sàng chấp nhận các quy tắc của cộng đồng nhằm tham gia điều trị. Thuyết phục đối tượng chấp nhận những gợi ý điều trị mà cán bộ điều trị cho là thích hợp với anh ta.


      Sau khi kết thúc phỏng vấn đối tượng phải có khả năng để:

      • 1) Có thể đủ tin tưởng vào nhóm phỏng vấn để tâm sự về khó khăn trong cuộc đời anh ta.

      • 2) Có thể cởi mở hơn và thừa nhận những tồn tại trong thái độ, hành vi mà nhóm phỏng vấn chỉ ra cho anh ta.

      • 3) Có thể thừa nhận sai lầm, sẵn sàng chịu trách nhiệm về hành vi của mình thay vì đổ lỗi cho người khác.

      • 4) Nhận thức được rằng mình cần giúp đỡ và bày tỏ mong muốn nhận được sự giúp đỡ.

      • 5) Quyết tâm sửa đổi, thể hiện mình sẵn sàng phối hợp với chương trình điều trị thông qua việc tuân thủ các quy tắc của cộng đồng, chấp nhận những gợi ý điều trị của nhân viên chuyên nghiệp.


      Sau khi phỏng vấn kết thúc, trưởng nhóm phỏng vấn sẽ yêu cầu đối tượng đợi nhóm họp trong giây lát. Nếu như ý kiến chung là chấp nhận đối tượng, trưởng nhóm phỏng vấn sẽ thông báo cho đối tượng và chúc mừng anh ta gia nhập cộng đồng. Nếu như vẫn còn ý kiến cho rằng anh đối tượng chưa đủ điều kiện tham gia, chưa thể hiện rõ quyết tâm điều trị thì phải đợi tham khảo ý kiến của lãnh đạo cộng đồng trước khi chấp nhận đốì tượng. Nếu đốì tượng không thỏa mãn các yêu cầu gia nhập TC, anh ta sẽ được giới thiệu đến một chương trình điều trị khác thích hợp hơn hoặc được hẹn phỏng vấn lại vào một thời điểm khác khi anh ta đã củng cố được quyết tâm và động lực điều trị.


      Nếu đối tượng được chấp nhận thì ngay buổi đầu tiên anh ta sẽ được giới thiệu trước cộng đồng và được cộng đồng chào đón như một thành viên mới.

NHỮNG NGUYÊN TẮC CƠ BẢN VÀ CÁC YẾU TỐ CẦN THIẾT ĐỂ XÂY DỰNG MỘT MÔI TRƯỜNG CỘNG ĐỒNG TRỊ LIỆU CÓ HIỆU QUẢ

NHỮNG NGUYÊN TẮC CƠ BẢN VÀ CÁC YẾU TỐ CẦN THIẾT ĐỂ XÂY DỰNG MỘT MÔI TRƯỜNG CỘNG ĐỒNG TRỊ LIỆU CÓ HIỆU QUẢ


I/ NHỮNG NGUYÊN TẮC CƠ BẢN:

Vì tính chất đa dạng của bệnh nghiện ma tuý nên nếu sử dụng một vài biện pháp thì không đảm bảo đáp ứng hết được mọi yêu cầu cho công tác cai nghiện mà phải sử dụng sức mạnh tổng hợp của nhiều yếu tố, nhiều biện pháp để phục vụ cho điều trị. Một số nguyên tắc cơ bản phải thực hiện:

1/ XÂY DỰNG NHỮNG GIÁ TRỊ CỦA CỘNG ĐỒNG:

  • 1.1 Tôn trọng lẫn nhau.

  • 1.2 Có trách nhiệm với gia đình, cộng đồng, có lòng biết ơn.

  • 1.3 Tự tin vào giá trị bản thân.

  • 1.4 Biết thương yêu và quan tâm đến người khác.

  • 1.5 Phối hợp trong công việc.

  • 1.6 Trung thực – trách nhiệm – khiêm tốn – cởi mở.

  • 1.7 Năng động sáng tạo – khả năng nhận thức tốt.

  • 1.8 Tích cực lao động.


2/ XÂY DỰNG MỘT MÔI TRUỜNG ĐIỀU TRỊ AN TOÀN VÀ LÀNH MẠNH:

  • 2.1 Không ma tuý.

  •  
  • 2.2 Không có hành vi bạo lực hay đe dọa bạo lực.

  •  
  • 2.3 Không có hành vi tình dục. 

  • 2.4 Không trộm cắp.

  •  
  • 2.5 Luôn luôn nhắc nhở và kiểm tra thực hiện các nguyên tắc cộng đồng đề ra.

  • 2.6 Đặt ra những quy định mới nếu thấy cần thiết.


3/ XÂY DỰNG NGUYÊN TẮC TỔ CHỨC:

 
  • 3.1 Việc tuân thủ lịch sinh hoạt 24h/ ngày được giám sát chặt chẽ. 

  • 3.2 Phân công công việc rõ ràng cho từng thành viên.

  •  
  • 3.3 Có sự chỉ đạo thông suốt từ trên xuống dưới và sự phản ánh kịp thời từ dưới lên. 

  • 3.4 Đảm bảo tuân thủ những quy tắc, quy định và mọi hành vi được giám sát chặt chẽ, thường xuyên. 

  • 3.5 Xây dựng được những tiêu chí trong cộng đồng nhằm khuyến khích việc tích cực điều chỉnh hành vi.

  •  
  • 3.6 Phương pháp điều trị phải dựa trên nguyên tắc nhằm đáp ứng những nhu cầu khác nhau của người nghiện. 


4/XÂY DỰNG NGUYÊN TẮC ĐIỀU TRỊ:

 
  • 4.1 Phương pháp điều trị không bao giờ được làm tổn thương đến nhân phẩm đối tượng và phải được xây dựng trên những hiểu biết sâu sắc về ma túy và người nghiện. 

  • 4.2 Phải áp dụng biện pháp điều trị toàn diện bao gồm nâng cao sức khoẻ và điều chỉnh, phục hồi nhận thức - hành vi - nhân cách, thông qua tư vấn - tâm lý trị liệu, giáo dục trị liệu, hoạt động trị liệu, huấn nghiệp trị liệu, lao động trị liệu. 

  • 4.3 Đối tượng có lòng tin vào cán bộ điều trị. 

  • 4.4 Đối tượng cảm nhận được sự chăm sóc và giúp đỡ chân thành của cán bộ điều trị.

  • 4.5 Đối tượng cảm nhận được sự chăm sóc của cả cộng đồng đối với quá trình tiến bộ của đối tượng.

  • 4.6 Đối tượng luôn luôn cảm thấy an toàn cả về thể chất lẫn về tinh thần. 

  • 4.7 Phải tạo được môi trường điều trị – phục hồi an toàn. 

  • 4.8 Môi trường điều trị phải tạo ra được sự trung thực và tính cởi mở trong nguyên tắc cộng đồng đề ra. 

  • 4.9 Kết hợp liệu pháp dùng thuốc và không dùng thuốc (LINK PHÒNG CHỐNG TÁI NGHIỆN) 


5/ ÁP DỤNG NHỮNG BIỆN PHÁP THÚC ĐẨY NHANH SỰ CHUYỂN BIẾN VỀ NHẬN THỨC – HÀNH VI – NHÂN CÁCH ĐỐI TƯỢNG:

 
  • 5.1 Phải có những nguyên tắc giải quyết mọi hành vi vi phạm có liên quan đến những quy định của cộng đồng mà không cần sử dụng đến vũ lực. 

  • 5.2 Phải có những hoạt động nhằm giúp đỡ về tâm tư tình cảm, khuyến khích việc bày tỏ suy nghĩ, cảm nhận đối tượng một cách trung thực (ví dụ như tư vấn cá nhân, tư vấn nhóm hay các hình thức điều trị khác…). 

  • 5.3 Tổ chức những buổi nói chuyện cho đối tượng để họ có thể giải bày tâm sự về quá khứ của mình một cách cởi mở, trung thực mà không lo ngại có sự chế diễu hay phản đối từ phía đối tượng khác. 

  • 5.4 Giúp đối tượng cũng cố lòng tin vào bản thân và những người xung quanh qua biện pháp giáo dục tâm lý - xã hội cho dối tượng. 


6/ XÂY DỰNG BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HỮU HIỆU:

 
  • 6.1 Sử dụng hệ thống quản lý trách nhiệm. 

  • 6.2 Đối tượng được nhóm, tổ chức phân công việc. 

  • 6.3 Sử dụng nhóm đồng đẳng quản lý lẫn nhau. 

  • 6.4 Sử dụng sổ nhật ký, sổ báo cáo, giao ban hay lịch phân công lao động để quản lý. 

  • 6.5 Giám sát nghiêm ngặt tuân thủ các loại quy định, nguyên tắc của cộng đồng.


7/ XÂY DỰNG HỆ THỐNG ĐÁNH GIÁ TIẾN ĐỘ ĐIỀU TRỊ CỦA ĐỐI TƯỢNG:

  • 7.1  Kế hoạch điều trị:

  • - Xác định những vấn đề mấu chốt phải giải quyết trong quá trình điều trị.

    - Xây dựng một kế hoạch điều trị nhằm đạt được mục tiêu yêu cầu đề

    - Kế hoạch này phải có những mục tiêu cụ thể cho từng giai đoạn điều trị.

    - Xác định những hoạt động điều trị cụ thể và chỉ định người chịu trách nhiệm giúp đỡ đối tượng đạt được mục tiêu yêu cầu điều trị đề ra.

    - Xây dựng tiêu chuẩn đánh giá sự tiến bộ.

  • 7.2 Theo dõi tiến độ điều trị của đối tượng theo kế hoạch đã đề ra: Tổ chức họp kiểm điểm rút kinh nghiệm cho từng trường hơp đối tượng.

  • 7.3 Sử dụng hồ sơ quản lý đối tượng, phân công người quản lý theo dõi.

  • 7.4 Nhận xét của nhân viên tư vấn về sự tiến bộ của đối tượng.

  • 7.5 Biên bảncủa những buổi tư vấn cá nhân, nhóm, gia đình.

  • 7.6 Báo cáo tiến độ điều trị thường kỳ hàng tháng.


8/ XÂY DỰNG HỆ THỐNG KHEN THƯỞNG:

 
  • 8.1 Dựa trên các tiêu chuẩn đã đề ra để khen thưởng các học viên tích cực. 

  • 8.2 Sử dụng một số ưu đãi làm phần thưởng như: viết thư, tặng quà lưu niệm, biểu dương trước tập thể… 

  • 8.3 Đi dã ngoại bên ngoài cơ sở điều trị. 

  • 8.4 Cho về thăm gia đình.   

Việc khen thưởng này tùy thuộc vào từng hoàn cảnh trung tâm - trường - trại - địa phương.


II/ CÁC YẾU TỐ CẦN THIẾT:

1/ NHÂN VIÊN ĐIỀU TRỊ PHẢI LÀ NGƯỜI XỨNG ĐÁNG VÀ MẪU MỰC:

Đội ngũ điều trị phải làm thế nào để đối tượng tôn trọng. Họ phải là tấm gương sáng cho đối tượng để có thể ảnh hưởng giáo dục nhằm chuyển đổi nhận thức, hành vi, nhân cách của học viên. Người nghiện ma tuý thường thực hiện nhiều hành vi không tốt, nhưng họ ít thấy và hay biện minh cho bản thân mình, trong khi đó họ lại rất tinh ý và nhạy bén nhận xét những điều không tốt của người khác. Do đó, nếu nhân viên điều trị không gương mẫu sẽ khó có thể chuyển đổi đối tượng. Đối với đồng nghiệp, nhân viên điều trị phải tuân thủ những quy định, những mối quan hệ thân thiện. Đối với đối tượng, nhân viên điều trị phải thương yêu và đồng cảm nhưng cũng phải xác định một ranh giới không thể vượt qua của người quản lý và đối tượng.


2/ MÔI TRƯỜNG ĐIỀU TRỊ PHẢI ĐẢM BẢO KHÔNG CÓ MA TUÝ HOẶC CÁC CHẤT GÂY NGHIỆN KHÁC:

Một môi trường trị liệu để lọt ma tuý vào sẽ gây lây lan bệnh tật, tinh thần học viên không bình ổn, thiếu quyết tâm cai nghiện, dễ bức xúc phá vỡ chương trình điều trị. Đây là yếu tố tiên quyết vì nếu không giải quyết được vấn đề này sẽ phá huỷ toàn bộ kế hoạch, hệ thống hoạt động của Trung tâm.


3/ MÔI TRƯỜNG ĐIỀU TRỊ PHẢI LÀ MỘT NƠI AN TOÀN KHÔNG CÓ TÌNH TRẠNG BẠO LỰC:

Mọi hoạt động diễn ra một lối sống không có ma tuý, không có cảnh ức chế nhau, nơi mà hành vi của một người luôn được các người khác xem xét, góp ý mà không hề do một áp lực nào, một ý đồ xấu nào và được giáo dục liên tục về một nếp sống nề nếp chuẩn mực.


4/ MÔI TRƯỜNG ĐIỀU TRỊ PHẢI LÀ NƠI ĐỂ CÁC ĐỐI TƯỢNG CÓ THỂ GIÚP ĐỠ ĐIỀU CHỈNH SAI LẦM CHO NHAU: với những tiêu chuẩn sau đây:

 

5/ MÔI TRƯỜNG ĐIỀU TRỊ PHẢI CÓ NHỮNG CHUẨN MỰC VỀ HÀNH VI VÀ NHÂN CÁCH NHƯ MỘT XÃ HỘI GƯƠNG MẪU

  • + Trách nhiệm, quan tâm đến người khác.

  • + Trung thực, không dối trá.

  • + Thương yêu, cởi mở, chân thành.

  • + Đoàn kết.

  • + Kỷ luật.

  • + Nhận biết được bổn phận, trách nhiệm.


6/ MÔI TRƯỜNG TRỊ LIỆU PHẢI DỰ KIẾN MỌI BIỆN PHÁP KHI CÓ TÌNH HUỐNG XẤU:

Phải can thiệp ngay kịp thời khi xảy ra những vi phạm nghiêm trọng về những quy tắc xã hội và chuẩn mực hành vi.


7/ CÁC ĐIỀU KIỆN Y TẾ - GIÁO DỤC - QUẢN LÝ - CÁC BIỆN PHÁP TRỊ LIỆU KHÁC VÀ ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CÓ TRÌNH ĐỘ VÀ NHIỆT TÌNH ĐỂ SẴN SÀNG ĐÁP ỨNG ĐƯỢC VÀ KỊP THỜI MỌI TÌNH HUỐNG.

 

8/ CẦN CÓ MỘT THOẢ THUẬN ĐIỀU TRỊ NÓI LÊN QUAN HỆ GIỮA NHÂN VIÊN ĐIỀU TRỊ VÀ NGƯỜI CAI NGHIỆN:

Thỏa thuận phải nêu rõ những mục tiêu điều trị mà hai phía đều quan tâm. Nội dung thoả thuận điều trị phải bao gồm những nội dung giúp đỡ người nghiện có kế hoạch cho đời sống hàng ngày nhằm tiến đến một sự phục hồi nhân cách, một cuộc sống hữu ích cho xã hội và thu thập những kỹ năng để vượt qua thử thách tái nghiện.


9/ NHỮNG NGUYÊN TẮC QUẢN LÝ MỘT MÔI TRƯỜNG TRỊ LIỆU CỘNG ĐỒNG CÓ HIỆU QUẢ:

  • 9.1 Môi trường cộng đồng trị liệu là một môi trường học tập tích cực. Vai trò của những người có trách nhiệm, uy tín trợ giúp một cách hữu hiệu cho việc học tập của các thành viên. 


  • 9.2 Họ nhận thức được mối quan hệ chặt chẽ giữa lời nói và việc làm của những người có vị trí trách nhiệm đối với các thành viên trong cộng đồng. Phải biết rằng các thành viên trong cộng đồng luôn theo dõi việc các cán bộ điều trị có tuân thủ các quy tắc và giá trị của cộng đồng hay không, cũng như theo dõi mối quan hệ qua lại giữa các thành viên trong cộng đồng. Do đó không được để các vấn đề mâu thuẫn nảy sinh trong cộng đồng. Bất kỳ mâu thuẫn nào xảy ra giữa lời nói và hành vi sẽ bộc lộ điểm yếu của hệ thống điều trị và có thể sẽ được người nghiện lợi dụng để có những biểu hiện, hành vi không đúng. 


  • 9.3 Để thực hiện tốt vai trò của mình, người cán bộ điều trị phải nắm rõ các quy tắc của cộng đồng. Những người quản lý thành công nhất là, những người luôn được đối tượng xem là tấm gương để họ học tập, là những minh họa cụ thể trong giáo dục người nghiện. Những người quản lý không chỉ đảm bảo sự tồn tại, duy trì hoạt động của “môi trường trị liệu cộng đồng” mà còn phải biến nó thành một môi trường học tập thật sự cho người nghiện ma túy. 


  • 9.4 Người đã cai nghiện thành công là hiện thân của niềm hy vọng của người cai nghiện, đã và đang đấu tranh để vượt qua chính bản thân mình. Họ là bằng chứng sống của việc chiến thắng sự cám dỗ của ma tuý, mà chủ yếu họ là người rất thông hiểu suy nghĩ và cảm xúc của người nghiện. Khả năng của họ trong việc bày tỏ bản lĩnh của mình đối với những người nghiện khác là không gì sánh nổi. Họ đoán trước được hành vi của người nghiện trong từng hoàn cảnh cụ thể. Điều này biến họ thànhnhững người hướng dẫn rất có hiệu quả trong môi trường trị liệu cộng đồng – một môi trường điều trị mà việc thành công hay thất bại có liên quan chặt chẽ với việc thông hiểu những suy nghĩ, thậm chí cả những mánh lới của đối tượng. Tuy nhiên việc sử dụng người cai nghiện thành công vào công tác quản lý của Trung tâm là vấn đề phức tạp như việc dùng dao hai lưỡi, có thể rất nguy hiểm nếu họ có ý đồ xấu, thiếu trình độ hoặc tái nghiện lại. Do đó, để xử lý tình huống, người cán bộ quản lý phải có khả năng đoán trước sự việc xảy ra và những nguyên nhân gây ra sự việc đó.

QUY TRÌNH CAI NGHIỆN – NGOẠI TRÚ

CAI NGHIỆN MA TÚY: QUY TRÌNH ĐIỀU TRỊ, GIÁO DỤC NHẰM NHẰM ĐIỀU CHỈNH, PHỤC HỒI NHẬN THỨC,HÀNH VI, NHÂN CÁCH – NÂNG CAO SỨC KHỎE - CHỐNG TÁI NGHIỆN CHO NGƯỜI NGHIỆN MA TÚY TẠI TRUNG TÂM CAI NGHIỆN THANH ĐA (GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRỊ NGOẠI TRÚ)

Bs. Nguyễn Hữu Khánh Duy - Giám đốc Trung tâm Điều dưỡng & Cai nghiện Ma túy Thanh Đa biên soạn

 

VTV9 – Qui trình điều trị, giáo dục nhằm điều chỉnh, phục hồi nhận thức, hành vi, nhân cách – nâng cao sức khỏe – chống tái nghiện cho người nghiện ma túy tại trung tâm cai nghiện Thanh Đa

 

MÔ HÌNH ĐIỀU TRỊ

  1. I. CỘNG ĐỒNG TRỊ LIỆU (Community Therapy)

    Theo mô hình DAYTOP QUỐC TẾ . Có sửa đổi để phù hợp với điều kiện Việt Nam.
    Xem chi tiết xin bấm vào đây (1)

  2. II. MÔI TRƯỜNG TRỊ LIỆU (Environment therapy)

    Sử dụng Môi trường để điều trị, giáo dục cho học viên. Bao gồm:

    • Môi trường Thiên nhiên Trị liệu (Natural - environment Therapy).
    • Môi trường Nhân tạo Trị liệu (Artificial - environment Therapy).
    • Môi trường Văn hóa Trị liệu (Cultural - environment Therapy).
    • Môi trường Xã hội Trị liệu (Social - environment Therapy).
  3. III. KẾT HỢP ĐIỀU TRỊ BẰNG THUỐC VỚI CÁC LIỆU PHÁP TƯ VẤN – LIỆU PHÁP TÂM LÝ – LIỆU PHÁP GIÁO DỤC -  LIỆU PHÁP XÃ HỘI…

    1. Vai trò Tư vấn - Tâm lý Trị liệu – Quản lý ca trong Cai nghiện - Phục hồi

    2. Liệu pháp Giáo dục Tâm lý - Xã hội cho người nghiện ma túy

 

 


CÁC GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRỊ

  1. I. ĐIỀU TRỊ NỘI TRÚ
  2. II. ĐIỀU TRỊ BÁN TRÚ
  3. III. ĐIỀU TRỊ NGOẠI TRÚ


GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRỊ NGOẠI TRÚ

    I. ĐỐI TƯỢNG ĐIỀU TRỊ:

    1. Các học viên sử dụng ma túy nhóm OMH (Thuốc phiện – Morphim- Heroin)

    2. Các học viên nghiện các loại ma túy khác (hàng đá, cần sa, cỏ mỹ ….) đã qua giai đoạn điều trị bán trú.


    II. ĐIỀU TRỊ CHO ĐỐI TƯỢNG NGHIỆN NHÓM OMH 
    Xem chi tiết xin bấm vào đây (4) Xem chi tiết xin bấm vào đây (5) 

    Xem chi tiết xin bấm vào đây (6) 

    Phải thông qua 2 giai đoạn:

    • Giai đoạn 1: Điều trị nội trú, thời gian tối thiểu là 1 tháng
    • Giai đoạn 2: Điều trị ngoại trú thời gian tối thiểu 1 năm

    1. NGUYÊN TẮC ĐIỀU TRỊ

    Khi học viên uống thuốc Naltrexone sẽ không còn cảm giác thèm nhớ và thích thú khi sử dụng Heroin.

    1.1 Tuy nhiên học viên cần có một thời gian điều trị nội trú tối thiểu là 1 tháng để học tập, rèn luyện nhằm phục hồi một phần về nhận thức, hành vi, nhân cách và hiểu biết một số kiến thức tối thiểu những kỹ năng từ chối, kỹ năng đối phó khi gặp sự lôi kéo của bạn bè tiếp tục sử dụng heroin.

    1.2  Do đặc tính sử dụng Naltrexone học viên quên dần ma túy chứ không quên ngay được nên việc điều trị nội trú một thời gian là rất cần thiết.


    2. NỘI DUNG ĐIỀU TRỊ:

    2.1. Học viên uống thuốc một tuần 3 lần vào bất cứ thời gian nào trong ngày.

    2.2 Thường xuyên xét nghiệm nước tiểu để kịp thời phát hiện học viên có tái sử dụng ma túy hay không hoặc chuyển đổi sử dụng loại ma túy khác để có biện pháp giải quyết phù hợp.

    2.3 Học viên được tiếp tục tư vấn tâm lý trị liệu để:

    • - Giúp bệnh nhân hiểu và có thể đương đầu với áp lực của bạn bè cũphe nhóm xấu muốn họ tái nghiện.

    • - Nếu bệnh nhân bị vui hay buồn quá độ, giúp họ nhận ra tình trạng bất thường ấy để tìm cách vượt qua.

    • - Nếu bệnh nhân có những nhận thức sai lạc, giúp họ cách xử lý chúng

    • - Giúp bệnh nhân hướng tới một lối sống điều độ, cân bằng.

    • - Giúp bệnh nhân tự xây dựng cho mình những biện pháp phòng chống sa ngã và tái nghiện.

    • - Học viên sinh hoạt bình thường nên có thể tự đi học - tự đi làm tăng thêm thu nhập cho gia đình và gia đình không còn sợ cảnh học viên trộm cắp đồ đạc trong gia đình hoặc vi phạm hình sự.


    3. BIỆN PHÁP THỰC HIỆN:

    • - Kiên trì đeo bám từng học viên để họ không bỏ chương trình.

    • - Đặt vấn đề Giáp dụcTư vấn - Tâm lý trị liệu nhằm Gọt giũa - điều chỉnh - phục hồi nhận thứchành vi - nhân cách là chủ yếu. Uống thuốc là biện pháp hỗ trợ.

    • - Thực hiện một cách khoa học, kết hợp, đồng bộ, xuyên suốt, khép kín, kịp thời, linh hoạt.

    • - Học viên không vào uống thuốc sẽ được nhắc nhở liên tục trong ngày, thông báo gia đình. 100% gia đình học viên có số điện thoại của tất cả CBNV KHOA CHỐNG TÁI NGHIỆN để kịp thời thông báo và giải quyết các vấn đề phát sinh liên quan đến học viên.

    • - Khoa phục vụ 24/24h mỗi ngày.

    • - Học viên được điều trị ngoại trú có một thời gian dài để gọt giũa - điều chỉnh - phục hồi nhận thức, hành vi, nhân cách mà không ảnh hưởng đến sinh hoạt - học tập và tình cảm cá nhân cũng như gia đình - chi phí điều trị cũng giảm hơn 60% so với điều trị tập trung.

    • - Khoa có rất nhiều tư liệu về ma túy. CBNV Khoa thường xuyên được tập huấn về công tác cai nghiện - phục hồi.

    • - Củng cố cơ sở vật chất tạo điều kiện vui chơi, giải trí. Học viên đến uống thuốc được sử dụng toàn bộ câu lạc bộ. Mỗi tháng Khoa tổ chức cho học viên ngoại trú kết hợp với học viên bán trú sinh hoạt nhóm, kết hợp với dã ngoại và tổchức liên hoan vào các dịp lễ, tếtTrung tâm chịu mọi chi phí,để lôi kéo học viên uống thuốc Naltrexone.

    • - Khoa thành lập Câu lạc bộ Khoa trực thuộc Hội LHTN VN Công ty gồm các Đoàn viên, Hội viên Khoa và các học viên điều trị ngoại trú, để hổ trợ học viên về tinh thần - xây dựng niềm tin và lòng tự trọng của học viên.


    4. QUAN HỆ HỌC VIÊN TRUNG TÂM - GIA ĐÌNH - CỘNG ĐỒNG: là vô cùng cần thiết. 

    Sau thời gian điều trị ngoại trú bằng thuốc Naltrexone tối thiểu 1 nămtiếp tục theo dõi học viên có tái sử dụng ma túy hay không bằng cách xét nghiệm thường xuyên nước tiểu để phát hiện chất ma túyThời gian theo dõi nước tiểu tối thiểu là 1 năm. Học viên nếu tái sử dụng ma túy điều trị lại từ đầu. Do phát hiện kịp thời nên giảm được tác hại của ma túy, học viên phục hồi nhanh.


    II. ĐIỀU TRỊ CHO ĐỐI TƯỢNG SAU GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRỊ BÁN TRÚ:

    Đối tượng sau giai đoạn điều trị bán trú một năm có thể tham gia chương trình này. Do Naltrexone chỉ có tác dụng trên đối tượng sử dụng nhóm OMH (Heroin – Morphim – Thuốc phiện) nên không điều trị bằng Naltrexone cho học viên cai nghiện sử dụng các loại ma túy khác mà chỉ theo dõi học viên có tái sử dụng ma túy hay không (thông qua xét nghiệm nhằm phát hiện ma túy trong nước tiểu), kết hợp với biện pháp: Tư vấn – Tâm lý trị liệu – Giáo dục trị liệu.


    HÌNH ẢNH TỔN THƯƠNG NÃO BỘ NGHIÊM TRỌNG

     TRÊN NGƯỜI NGHIỆN MA TÚY:

    MA TÚY:

    NÃO BỆNH NHÂN NGHIỆN HÀNG ĐÁ (METHAMPHETAMINE)

    ma tuy

     ma tuy

    ma tuy

    ma tuy

    ma tuy

    ma tuy

    ma tuy

    ma tuy

    ma tuy

     

    TÁC ĐỘNG DÀI HẠN CỦA MA TÚY KÍCH THÍCH

     

QUY TRÌNH CAI NGHIỆN – GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRỊ BÁN TRÚ

CAI NGHIỆN MA TUY: GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRỊ BÁN TRÚ


I. ĐẶT VẤN ĐỀ:

Tại Việt Nam phần lớn người cai nghiện sau thời gian điều trị tại trung tâm về ngay với cộng đồng vì những lý do chủ yếu như công việc làm ăn, kinh tế, khó khăn, thiếu hiểu biết,... thêm vào đó chúng ta có rất ít trung tâm làm tốt công tác điều trị trung chuyển từ cai nghiện nội trú qua giai đoạn tái hòa nhập cộng đồng.

Kết quả là giai đoạn tái hoà nhập cộng đồng được thực hiện một cách cưỡng ép và thường dễ bị thất bại. Người cai nghiện từ trung tâm trở về cộng đồng dễ có tư tưởng hụt hẫng khi thay đổi môi trường một cách đột ngột. Do đó, sau thời gian cai nghiện nội trú và trước khi tái hòa nhập cộng đồng, người nghiện cần một thời gian điều trị bán trú để học cách thích nghi dần thông qua thử thách gọi là “giai đoạn chuyển tiếp”.


Để giúp người cai nghiện tiếp tục duy trì một cuộc sống không ma túy thì quá trình hỗ trợ là một yếu tố rất cần thiết. Người cai nghiện vừa có thể tham gia các hoạt động ngoài xã hội như làm việchọc nghềhọc văn hóa … nhưng vẫn chịu sự quản lý chặt chẽ của Trung tâmNHÀ TRUNG CHUYỂN SẼ GIÚP HỌ TỪNG BƯỚC TÁI HÒA NHẬP CỘNG ĐỒNG. Để thực hiện tốt việc này người cai nghiện phải hiểu rằng mình phải chịu trách nhiệm chính đối với bản thân mình dưới sự hỗ trợ của cán bộ điều trị và tập thể.


Chương trình chuẩn bị tái hoà nhập cộng đồng cho người nghiện ma tuý là rất cần một sự liên tụcPhục hồi được gọi là thành công khi người nghiện có thể đương đầu được với các tình huống  sau khi họ được ra về từ NHÀ TRUNG CHUYỂN (HALFWAY HOUSE).


II. NỘI DUNG HOẠT ĐỘNG CỦA NHÀ TRUNG CHUYỂN:

Thông qua điều trị bán trú tại Nhà trung chuyển, người cai nghiện vẫn tiếp tục được quản lý tại Trung tâm nhưng vẫn có những cơ hội tiếp cận dần với các hoạt động ngoài xã hội, giải quyết những khó khăn của bản thân, trang bị bản lĩnhkỹ năng sống. Người cai nghiện được sự hỗ trợ cần thiết để cho họ thay đổi dần trước khi hòa nhập lại cộng đồng. Để thực hiện tốt mục tiêu trên cần sự hợp tác chặt chẽ giữa Trung tâm - học viên và gia đìnhTinh thần hợp tác và ý thức tự giác của học viên là vô cùng quan trọng.


1. MỤC ĐÍCH THÀNH LẬP KHOA ĐIỀU TRỊ BÁN TRÚ:

1.1 Giúp người đã cai nghiện củng cố những kỹ năng cần thiết cho cuộc sống bình thường, tập thích nghi dần với các sinh hoạt tại cộng đồng.


1.2 Khuyến khích người đã cai nghiện tham gia các hoạt động để họ cảm thấy mình còn có ích, vẫn còn khả năng, có ý thức về bổn phận vàtrách nhiệm.


1.3 Người đã cai nghiện được mạng lưới hỗ trợ xã hội giúp đỡ để gắn kết với những người bình thường.


1.4 Giúp người đã cai duy trì ý thức làm chủ bản thân và trách nhiệm với cuộc sống của mình.


1.5 Đối tượng được tiếp tục kiểm tra việc sử dụng ma túy để có những biện pháp xử lý kịp thời.


1.6 Tất cả mọi người đều có nhu cầu giao tiếptrao đổi tâm tư tình cảmsuy nghĩ. Riêng đối với người cai nghiện khi trở về cộng đồng khó có ngay bạn bè tốt mà lại phải tiếp cận với một số bạn bè xấu, tiêu cực, sử dụng ma túy.

Đây là một nguy cơ rất lớn trong việc tái sử dụng ma túy của người cai nghiệnNhà trung chuyển sẽ là nơi người cai nghiện có điều kiện tiếp cận được những bạn bè đồng cảm - những bạn bè này đã từng sử dụng ma túy nhưng họ đã được giáo dục, rèn luyện một thời gian dài tại trung tâm, đồng thời họ cũng được tuyển chọn từ những người cai nghiện tốt.


2. PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN:

Hồi phục là một quá trình phát triển liên tục, bao gồm các vấn đề sau:


2.1 Điều chỉnh về tâm lý: Giúp đối tượng chế ngự và xử lý những thèm nhớ ma tuý, những dấu hiệu cảnh báo tái nghiện, những nguyên nhân dẫn đến buồn chán, cô đơnthất vọngchấn thương tâm l‎ý.


2.2 Điều chỉnh về xã hộiGiải quyết các mối quan hệ giữa các cá nhân với nhau, giữa cá nhân và gia đình, những căng thẳng trong cuộc sốngduy trì việc làm ổn định, những áp lực từ bạn bè  xã hộiquản lý tiền bạc và sự điều chỉnh với cuộc sống mới 


2.3 Cân bằng lối sống: Thực hiện và tham gia các hoạt động xã hội, cân bằng giữa công việc  thời gian nhàn rỗi  Trung tâm có nhiệm vụ quản lý giờ giấc sinh hoạt, làm việc, học tập của học viên để người cai nghiện có lối sống trật tự, ngăn nắp.


2.4 Kế hoạch hồi phục dài hạnCó kế hoạch từng bước cho công tác cai nghiện.


2.5 Phát triển mạng lưới trợ giúp: Đây là một yếu tố quan trọng trong quá trình hỗ trợ người cai nghiện tiến đến sự hồi phục.


3. NỘI DUNG THỰC HIỆN:

Mô hình nhà bán trú đã giữ một vai trò rất quan trọng từ thập niên 1970. Một số nhà bán trú thuộc nhà thờ Thiên chúa đã được thành lập vào khoảng thời gian đó, gồm có tên là: Hiding Place (Nơi ẩn nấp), Helping Hand (Bàn tay giúp đỡ), và Teen Challenge (Thách thức tuổi thơ) … Các nhà bán trú này đã giúp đỡ hàng ngàn người nghiện kể từ khi đó. Yếu tố tinh thần tự giác là nhân tố quyết định chính trong chương trình phục hồi của các nhà bán trú.

Chương trình điều trị trong giai đoạn này bao gồm:


3.1 Quản lý học viên:

Trong thời gian này người cai nghiện sẽ được phép đi ra ngoài làm việc,học nghềhọc văn hóa và quay về lại trung tâm khi đến giờ quy định. Quá trình này nên kéo dài ít nhất là 6 tháng.

Việc gặp gỡ giữa các học viên đã hoàn thành chương trình cai nghiện trở về tái hòa nhập cộng đồng là cần thiết để các thành viên có thể hỗ trợ nhau trao đổi tình cảm, kinh nghiệm trong cuộc sống.


3.2 Tư vấn - Tâm lý trị liệu – Giáo dục trị liệu:

Trong giai đoạn này người cai nghiện vẫn tiếp tục được sự giúp đỡ và giám sát của cán bộ điều trị. Mọi mặt đời sống của họ được chăm sóc thông qua các buổi sinh hoạt và tư vấn cá nhân  nhómNgười đã cai, từng bước được phép về nhà để học cách thích nghi dần với cuộc sống và gia đình. Họ được khuyến khích bày tỏ các cảm xúc tích cực cũng như tiêu cực khi quay trở về nhà  về với cộng đồng.


Đây là một cách tốt để điều chỉnh về hành vi  tâm lý của họ. Thông qua các biện pháp chuyên môn cán bộ điều trị sẽ sớm nhận biết các biểu hiện của người cai nghiện như thất vọng, bi quan là cực kỳ quan trọng để phát hiện  giải quyết kịp thời những khả năng gây tái nghiện. Tất cả những gì mà họ đã học được trong quá trình điều trị sẽ được bộc lộ ở giai đoạn này.


3.3 Kiểm tra việc tái sử dụng ma túy:

Học viên được thường xuyên xét nghiệm nước tiểu đột xuất và định kỳ tối thiểu 01 lần / 01 tuần để kịp thời phát hiện học viên tái sử dụng ma túy hay không để có biện pháp ngăn chặn kịp thời.


3.4 Người tư vấn đồng đẳng: 

Những người đã hoàn thành chương trình ở NHÀ TRUNG CHUYỂN (Halfway House) với kết quả đạt yêu cầu được xét làm người tư vấn đồng đẳng. Người tư vấn đồng đẳng cần có đầy đủ năng lực nghiệp vụ đề ra  thực hiện được vai trò của người giám sát.


Người tư vấn đồng đẳng có thể được xem như là đầu đàn của tập thể học viên nội trúbán trú, người sẽ làm vai trò mẫu mực cho người cai nghiện, sẽ làm việc thường xuyên trong chương trình điều trị và được hưởng phụ cấp. Họ là những trợ lý cho các cán bộ điều trị trong hoạt động hàng ngày cũng như việc tiến hành chương trình cai nghiện. Là vai trò hình mẫu và vai trò hỗ trợ cho những vẫn còn đang điều trị, họ sẽ không chỉ thôi thúc người cai nghiện tiến đến cuộc sống không ma tuý, mà họ còn là những động lực để duy trì sự thành công trong việc hoà nhập xã hội của người cai nghiện. 


3.5 Sự quan hệ đối với gia đình và những người có ảnh hưởng:

Các thành viên gia đình được mời tham gia vào quá trình điều trị ngay khi người cai được đưa vào chương trình điều trị bán trúCán bộ điều trị giữ liên lạc đều đặn với các thành viên gia đình và các buổi sinh hoạt nhóm gia đình cũng được tiến hành đều đặn. Theo cách đó, các thành viên gia đình và những người có ảnh hưởng sẽ biết cách đóng vai trò hỗ trợ trong quá trình phục hồi của người cai nghiện. Sự hợp tác từ phía gia đình và của những người có ảnh hưởng là cực kỳ quan trọng để cán bộ điều trị nắm bắt được quá trình tiến bộ cá nhân của người cai nghiện.


3.6  Làm việc nhóm: 

Người tư vấn và những tình nguyện viên có kinh nghiệm tiến hành làm việc nhóm cho người nghiện đang phục hồi. Mục tiêu là giúp người nghiện sự điều chỉnh cho phù hợp vói một lối sống mới để hoà nhập với xã hội.


3.7 Giải quyết việc làm – tiếp tục theo học các chương trình văn hóa, đào tạo nghề: 

Người cai nghiện được tạo cơ hội để tự quản lý giờ giấc sinh hoạt bản thân, mặt khác họ được trao quyền tự chịu trách nhiệm với cuộc sống. Với tính tự giác cao, dưới sự kiểm soát chặt chẽ của trung tâm giúp nâng cao sự tự tin và lòng tự trọng của người cai nghiện, khích lệ và tạo động cơ cho họ thay đổi lối sống. 


Một số người cai nghiện là sinh viên - học sinh cần phải tiếp tục theo học ở các trường lớp. Vì lý do bỏ học và ma túy làm tổn thương hệ thống não bộ nên việc theo học văn hóa sẽ gặp phải một số khó khăn.


3.8 Can thiệp gia đình: 

Gia đình cần tích cực trợ giúp họ. Điều này cực kỳ quan trọng bởi vì khi người cai nghiện trở về nhà họ cần tiếp sự hỗ trợ của gia đình để giúp họ phục hồi. Do có nhiều gia đình vẫn chưa biết cách giải quyết hay điều chỉnh khi có người nghiện trở về nên việc tư vấn gia đình là rất cần thiết. Các gia đình cần có sự hiểu biết tốt cách giúp đỡ những người thân yêu của mình khi trở về gia đình. Đôi khi có một số tình huống mà gia đình có thể trở thành những cản trở thay vì giúp đỡ sự phục hồi của người cai nghiện nếu gia đình không biết cách xử lý.


III. NHỮNG VẤN ĐỀ THƯỜNG GẶP ĐỐI VỚI NGƯỜI TƯ VẤN VÀ NGƯỜI CAI NGHIỆN:

Kết quả cai nghiện phụ thuộc vào khả năng giải quyết của người cai nghiện, họ phải sống theo một lối sống mới không ma tuý.

1. KHẢ NĂNG GIẢI QUYẾT CỦA NGƯỜI CAI NGHIỆN ĐƯỢC QUYẾT ĐỊNH BỞI NHỮNG YẾU TỐ SAU:

  •  - Mức độ tự tin và tính kiên nhẫn của cá nhân
  • - Phát triển các giá trị khác nhau để bắt đầu lại
  • - Gặp những người bạn mới không nghiện ma tuý hoặc đã cai nghiện thành công
  • - Làm việc hàng ngày trong một môi trường mới

2. KỸ NĂNG TƯ VẤN TRONG VIỆC TRANG BỊ KIẾN THỨC:

Người tư vấn cần dẫn bước người cai nghiện đi suốt quá trình học tập. Cá nhân đang phục hồi phải học cách đối phó một cách chủ động và quyết liệt khi họ rời khỏi chương trình bán trú, vì họ vẫn chưa hết rủi ro tái nghiện. Trong giai đoạn hỗ trợ điều trị nội trú và trước khi tái hoà nhập cộng đồngsự trợ giúp đưa ra phải đúng đắn, phù hợp và đúng lúcNhững trượt ngã là không thể tránh khỏi, do vậy, điều quan trọng là cá nhân đang phục hồi cần có một người thầy tốt để họ có thể có những sự giúp đỡ trước khi bị sa vào tình trạng tái nghiện. Việc giúp đỡ tư vấn này cần kéo dài ít nhất là một năm.


nghiệp có tầm quan trọng to lớn. Khái niệm việc làm được xem là một yếu tố cơ bản. Tầm quan trọng của việc học nghềhọc văn hóa được đặt trọng tâm chủ yếu ở phần điều trị bán trú. Nó nằm ở sự nhận thức về chính bản thân; có đóng góp tài chính cho gia đình được coi trọng vànâng sự tự tin lên. Lòng tự trọng thấp và sự tự tin nghèo nàn luôn song hành với tình trạng thất nghiệp. Do vậy, việc học kinh nghiệm thông qua thái độ và cách ứng xử trong công việc cần được xem là một phần của chương trình phục hồi. Việc đặt ra trách nhiệm cùng công việc (nghề nghiệp) được xem là một phần của chương trình điều trị sẽ chắc chắn đem lại sự hoà nhập cho người cai nghiện quay trở về với xã hội.


Phải giúp đỡ người cai nghiện bằng cách khơi dậy cách nhìn nhận về những điều tốt đẹpcó ý nghĩa trong cuộc sống thay vì việc phải dùng đến ma tuý hay những thứ gây hại khác.


Việc tìm hiểu các yếu tố cần thiết trong việc hỗ trợ sau cai và tái hoà nhập cộng đồng là để xác định những nhu cầu của đối tượng trong cuộc sống, để đề ra những trợ giúp về tinh thần và để nâng cao nhận thức về xã hội. Đối tượng cần được giúp đỡ để nhận ra và giải quyết những tâm tư khúc mắc của họ khi tái hoà nhập cộng đồng.


Định hướng trong giai đoạn này là đáp ứng nhu cầu của đối tượng để đảm bảo họ sẵn sàng tiến tới kết quả thực sự. Do đó điều cơ bản là cán bộ điều trị vừa có thể tạo lập được sự đánh giá lại vừa xây dựng kế hoạch điều trị có sự tham gia của đối tượng. Sự đồng ý và quyết tâm phục hồi của đối tượng là điều căn bản, nó là động lực cổ vũ họ đổi mớisẽ phục hồi họ một cách toàn diện, và nối tiếp là sự hoà nhập xã hội thành công của họ.


IV. KẾT LUẬN:

Nghiện ma túy là một bệnh não mãn tính có đặc tính dễ tái nghiện, việcđiều trị phải kiên trì nắm bắt kịp thời tâm tư, tình cảm sinh hoạt của đối tượng để có sự điều chỉnh phù hợp. Chúng ta không nên quá hoảng hốt khi một người đã cai nghiện ma túy tái sử dụng ma túy. Vấn đề chính làphải phát hiện sớm – điều trị sớm để tránh những tổn thương hệ thống não bộ, hình thành thói quen xấu.


Công tác cai nghiện phải xác định là khó khăn, lâu dài. Mục đích cai nghiện là thúc đẩy nhanh quy trình cai nghiện bằng những biện pháp khoa học, trong đó có công tác tư vấn – Tâm lý trị liệu – Giáo dục trị liệu và các liệu pháp xã hội là chủ yếu.


Để cai nghiện ma túy thành công cần có những bước đi thích hợpNgôi nhà trung chuyển là bước đệm cần thiết cho người cai nghiện chuyển từ cai nghiện nội trú qua tái hòa nhập cộng đồng.


preview

preview

YÊU CẦU VỀ CƠ CẤU – HOẠT ĐỘNG – MỐI QUAN HỆ ĐỂ MỘT MÔI TRƯỜNG TRỊ LIỆU CỘNG ĐỒNG CÓ HIỆU QUẢ

YÊU CẦU VỀ CƠ CẤU - HOẠT ĐỘNG - MỐI QUAN HỆ ĐỂ MỘT MÔI TRƯỜNG TRỊ LIỆU CỘNG ĐỒNG CÓ HIỆU QUẢ

  I/ HỆ THỐNG TỔ CHỨC:

1/ SƠ ĐỒ TỔ CHỨC:



2/ NHIỆM VỤ CỦA NGƯỜI LÃNH ĐẠO: Là vô cùng quan trọng đòi hỏi phải có TRÌNH ĐỘ và NHẠY BÉN trong công việc:

  • + Điều chỉnh cơ cấu cho phù hợp.

  • + Điều chỉnh các dịch vụ điều trị.

  • + Điều chỉnh vai trò các cán bộ điều trị.

  • + Phân công nhiệm vụ của cán bộ điều trị và nhân viên tư vấn phù hợp.

  • + Xây dựng kế hoạch bồi dưỡng kiến thức và kinh nghiệm cho tập thể CBNV để có thể triển khai chương trình điều trị.

  • + Lập kế hoạch xây dựng chương trình điều trị

  • + Phục hồi dựa vào trung tâm và dựa vào cộng đồng.

  • + Tổng kết tiến độ triển khai các chương trình từng giai đoạn.


3/ NHIỆM VỤ CỦA CÁC PHÒNG BAN CHỨC NĂNG: Cơ bản gồm 4 bộ phận chính:

  • + Y tế.

  • + Giáo dục.

  • + Quản lý.

  • + Phục vụ.

Tất cả các bộ phận trên đều phải tác nghiệp trên một thể thống nhất nhằm vào công tác điều trị, điều chỉnh, phục hồi nhận thức – hành vi – nhân cách cho đối tượng cai nghiện, nhưng nhiệm vụ ai người đó làm. Tổ chức như trên nhằm mục tiêu:

  • + Đảm bảo sức khỏe cho đối tượng cai nghiện

  • + Phát hiện và ngăn chặn kịp thời các bệnh cơ hội – dịch bệnh – bệnh mắc phải.

  • + Sử dụng các phương pháp điều trị không dùng thuốc thông qua tư vấn – liệu pháp tâm l‎ý – liệu pháp giáo dục – liệu pháp xã hội,…

  • + Theo dõi tiến độ của học viên thông qua các hoạt động của cá nhân, nhóm, tổ chức, huấn nghiệp trị liệu, lao động trị liệu, sản xuất trị liệu, ….

  • + Đảm bảo môi trường điều trị an toàn.

  • + Tạo một môi trường sẵn sàng đáp ứng kịp thời cho công tác cai nghiện (xây dựng cơ sở vật chất – vệ sinh môi trường – chuẩn bị cho công tác quản l‎ý cũng như phục vụ cho mọi hình thức trị liệu, …).


II/ NHIỆM VỤ THỰC HIỆN:
  • - Xác định nhiệm vụ rõ ràng cho từng cá nhân, từng nhóm, từng tổ chức của học viên và người phụ trách.

  • - Xác định nhiệm vụ người giám sát.

  • - Xác định nhiệm vụ của điều phối viên.


III/ PHÂN CÔNG CÔNG VIỆC:
    • - Sắp xếp công việc cụ thể cho từng đối tượng.

    • - Cho phép đối tượng đăng ký với cán bộ điều trị nhận công việc cho mình, tất nhiên sự lựa chọn phải dựa vào khả năng từng người và tiến độ điều trị.

    • - Trách nhiệm của từng người trong công việc được giao, nếu như không đáp ứng được yêu cầu cần làm rõ vì những lý do bệnh lý hoặc lý do hành vi.


    IV/ LỊCH SINH  HOẠT HẰNG NGÀY:

    Mục đích của việc bố trí lịch sinh hoạt là để điều hành hoạt động của Trung tâm, tạo cho đối tượng ‎có ý‎ thức tổ chức kỷ luật, hình thành thói quen tốt và nhận thức tốt. Một ví dụ của lịch sinh hoạt:

    6 :00  Thức dậy/ dọn giừơng/ vệ sinh phòng ngủ/ điểm danh.

    6 :30  Thể dục buổi sáng/ tắm rửa.

    7 :00  Ăn sáng.

    8 :00  Giao ban buổi sáng (là không thể thiếu được).

    8 :45  Cán bộ họp giao ban/ Họp nhóm đối tượng/ Sinh hoạt cộng đồng.

    9 :30  Lao động trị liệu – Huấn nghiệp trị liệu.

    11 :30 Tắm rửa.

    12 :00 Ăn trưa – nghỉ trưa.

    14 :00 Sinh hoạt nhóm điều trị.

    15 :30 Lao động trị liệu.

    17 :00 Hoạt động trị liệu.

    18 :00 Tắm rửa.

    18 :30 Ăn tối.

    19 :30 Tư vấn, họp nhóm, giải trí…

    21 :00 Họp toàn thể cộng đồng/ thông báo chung.

    22 :00 Điểm danh tối/ đi ngủ.

    Lịch sinh hoạt này thay đổi tùy theo từng giai đoạn điều trị và điều kiện của từng đơn vị.


    V/ NHỮNG NGUYÊN TẮC TRONG MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁC NHÂN VIÊN ĐIỀU TRỊ:

    Tình đồng đội và sự tôn trọng lẫn nhau là nguyên tắc cơ bản của các nhân viên điều trị trong cộng đồng. Các đối tượng là thành viên của cộng đồng cũng phải coi hai nguyên tắc đó là nền tảng mối quan hệ trong công việc của mình. Để xây dựng được môi trường trị liệu cộng đồng có hiệu quả, các nhân viên điều trị phải có khả năng phối hợp làm việc trên tinh thần tôn trọng lẫn nhau. Để tạo ra được một thái độ làm việc như vậy, những người lãnh đạo tổ chức phải là tấm gương của cộng đồng trị liệu. Người cán bộ lãnh đạo phải tuân thủ nguyên tắc này trong khi giao tiếp với các nhân viên của mình.


    VI/ NHỮNG NGUYÊN TẮC TRONG MỐI QUAN HỆ GIỮA NHÂN VIÊN ĐIỀU TRỊ VỚI ĐỐI TƯỢNG:

    Cộng đồng có mục tiêu là tạo một môi trường cho sự điều chỉnh nhận thức – hành vi – nhân cách của đối tượng. Cộng đồng sẽ thất bại nếu như thiếu đi lòng quyết tâm của những người lãnh đạo và những người có uy tín trong cộng đồng. Môi trường cộng đồng trị liệu bao gồm nhiều thành phần khác nhau: Có những đối tượng ích kỷ, mang chủ nghĩa anh hùng cá nhân, nhưng cũng có những sự hy sinh bản thân để giúp đỡ các đối tượng khác.


    Đa số người cai nghiện có trạng thái tình cảm không ổn định, nhưng điều đáng chú ý là chính những cán bộ điều trị chuyên đi hàn gắn vết thương này đôi khi không giải quyết được những khó khăn của chính bản thân mình. Tuy nhiên dù tình huống nào, người cán bộ điều trị, những người được xem là tấm gương sáng để toàn thể cộng đồng noi theo, luôn luôn phải cư xử với các thành viên của cộng đồng với một thái độ có trách nhiệm. Những cơ chế của cộng đồng được thể hiện ở những nghi thức và quy tắc xã hội, có thể giúp ngăn chặn việc vô tình hay cố tình sử dụng sai nguyên tắc về sức mạnh và quyền hạn trong mọi đối tượng điều trị tại cộng đồng.


    Nhằm nâng cao những quy tắc, chuẩn mực của cộng đồng, cần phải quan tâm đến việc đào tạo những cán bộ điều trị trở thành những nhân viên chuyên nghiệp có trình độ. Việc chuyên môn hóa đội ngũ điều trị có thể sẽ giúp cải thiện chất lượng điều trị của cộng đồng nói chung và của những người cán bộ quản lý nói riêng.


    VII/ CƠ CẤU CÓ ẢNH HƯỞNG ĐẾN THÁI ĐỘ VÀ HÀNH VI ĐỐI TƯỢNG:

    Môi trường cộng đồng trị liệu nổi tiếng là nhờ nó được sự tổ chức tốt, có nguyên tắc, có cơ sở vật chất đầy đủ các yếu tố trên sẽ khích lệ những hành vi lành mạnh. Môi trường sẽ phản ánh bản chất của cộng đồng sống trong môi trường đó. Mặc dù có một vài mô hình cộng đồng buộc phải thích nghi với cơ sở vật chất sẵn có ví dụ như là nhà tù, các khu nhà cũ, cơ sở khám chữa bệnh thiếu thốn nhưng chúng ta phải quyết tâm từng bước nâng cấp môi trường sao cho phù hợp với yêu cầu của một môi trường cộng đồng trị liệu.


    Cộng đồng trị liệu phải mang dáng dấp một gia đình nhiều hơn là một trung tâm điều trị. Ngay cả ở trong tù hay trong trại cải tạo, trại giáo dưỡng trẻ em vị thành niên: không khí “nhà tù” cũng không còn nữa, nhằm khiến cho cộng đồng trở thành một môi trường nhẹ nhàng, tin cậy cho việc điều trị – phục hồi, an toàn cả về thể chất lẫn tinh thần cho đối tượng: Đó phải là chỗ mà đối tượng có thể chịu trách nhiệm về sự lựa chọn và hành vi của chính mình. Trong khi nhà tù tạo ra không khí thiếu an toàn, nơi mà đối tượng muốn sinh tồn thì phải dựa hoàn toàn vào mánh khoé và luật rừng, thì môi trường cộng đồng tạo ra những hành vi xã hội lành mạnh như tin tưởng và giúp đỡ lẫn nhau trong bầu không khí gia đình.


    Những thành công lớn của môi trường cộng đồng trị liệu có được là nhờ một cơ cấu hoạt động chặt chẽ. Cần tổ chức tốt lịch sinh hoạt hàng ngày của cộng đồng tùy theo người cũ hay ngườimới tham gia điều trị. Tuy nhiên, mọi đối tượng cai nghiện đều phải hiểu được trách nhiệm của mình và các mục tiêu chung do cộng đồng đề ra.

ĐẠI CƯƠNG VỀ LIỆU PHÁP GIÁO DỤC TÂM LÝ – XÃ HỘI

VAI TRÒ GIÁO DỤC TRỊ LIỆU TRONG CAI NGHIỆN PHỤC HỒI

BS. Nguyễn Hữu Khánh Duy - Giám đốc TT ĐD & CNMT Thanh Đa

Th.S Nguyễn Phan Minh và các cộng sự

MỤC LỤC

                                                         

A.VAI TRÒ CỦA LIỆU PHÁP GIÁO DỤC TÂM LÝ -XÃ HỘI   CHO NGƯỜI NGHIỆN MA TÚY 

I. ĐỂ ĐIỀU TRỊ CÓ KẾT QUẢ PHẢI DUY TRÌ THỜI GIAN ĐIỀU TRỊ ĐỦ DÀI II. YẾU TỐ TIÊN QUYẾT LÀ QUYẾT TÂM CAI NGHIỆN CỦA ĐỐI TƯỢNG III. THUỐC. IV. CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ KHÔNG DÙNG THUỐC.       

B.NHỮNG GIAI ĐOẠN BIẾN ĐỔI TÂM SINH LÝ NGƯỜI NGHIỆN            

I. GIAI ĐOẠN THỨ NHẤT: CHƯA XEM XÉT (PRECONTEMPLATION)  II. GIAI ĐOẠN THỨ HAI: XEM XÉT (CONTEMPLATION)  III. GIAI ĐOẠN THỨ BA: CHUẨN BỊ (PREPARRION IV. GIAI ĐOẠN THỨ TƯ: HÀNH ĐỘNG (ACTION) V.  GIAI ĐOẠN THỨ NĂM:DUY TRÌ (MAINTENANCE)  VI. GIAI ĐOẠN THỨ SÁU: KẾT THỨC (TERMINATION)  V. MÔ HÌNH XOẮN ỐC – CÁC GIAI ĐOẠN BIẾN ĐỔI TÂM LÝ NGƯỜI NGHIỆN

C. CÁC BIỆN PHÁP GIÚP ĐẨY NHANH TIẾN TRÌNH TRỊ LIỆU - PHỤC HỒI CHO NGƯỜI NGHIỆN MA TÚY

I.PHƯƠNG THỨC - MỤC TIÊU VÀ MÔI TRƯỜNG GIÁO DỤC II.BIỆN PHÁP NÂNG CAO NHẬN THỨC - LƯỢNG GIÁ - ĐỊNH HƯỚNG - DUY TRÌ SỰ THÀNH CÔNG       III.  TƯ VẤN VÀ TÂM LÝ TRỊ LIỆU IV.  PHÁT HUY ĐỘNG LỰC TÍCH CỰC CỦA NHÓM ĐỒNG ĐẲNG     V.      GIÁO DỤC - NHẬN THỨC GIÁ TRỊ SỐNG -TƯ DUY TÍCH CỰC TỰ KIỂM SOÁT LÀM CHỦ BẢN THÂN VI.  XÂY DỰNG NIỀM TIN TRONG MÔI TRƯỜNG TRỊ LIỆU CỘNG ĐỒNG VII.     XÂY DỰNG YẾU TỐ TINH THẦN TRONG MÔI TRƯỜNG TRỊ LIỆU CỘNG ĐỒNG VIII. HỌAT ĐỘNG TRỊ LIỆU – HUẤN NGHIỆP TRỊ LIỆU – LAO ĐỘNG TRỊ LIỆU IX.  VAI TRÒ CỦA THIỀN ĐỊNH TRONG CAI NGHIỆN – PHỤC HỒI

E.  KẾT LUẬN

F. TÀI LIỆU THAM KHẢO 

NHỮNG PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ NGHIỆN MA TUÝ KHÔNG DÙNG THUỐC

NHỮNG PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ NGHIỆN MA TUÝ KHÔNG DÙNG THUỐC


A. NHỮNG NHẬN THỨC CƠ BẢN

Nghiện ma túy là một bệnh não mãn tính, khó chữa có đặc tính là dễ tái nghiện. Việc điều trị phục hồi cho người nghiện ma túy đòi hỏi ngoài tình thươngthấu cảm đối với người cai nghiện còn phải kiên nhẫn và phải có kiến thức về cai nghiện ma túy.


Việc tìm kiếm mô hình điều trị cho người nghiện ma túy rất khó khănkhông có mô hình cai nghiện chung nào thích hợp với mọi loại người nghiện. Mô hình điều trị tốt cho người này chưa hẳn đã phù hợp với người khác. Một phương pháp điều trị hiệu quả phải dựa vào nguyên tắc cơ bảnlàm thế nào phương pháp cai nghiện đó đáp ứng được tính chất và yêu cầu đa dạng của người nghiện chứ không chỉ đơn thuần nhằm vào việc sử dụng ma túy của họ.


Quá trình điều trị phải được đánh giá thường xuyên bởi một nhóm điều trị gồm các bác sĩ nội khoa có hiểu biết về chuyên ngành ma túy, bác sĩ tâm thần, bác sĩ điều dưỡng – phục hồi, các nhà giáo dục - hướng nghiệp, các nhà tư vấn - tâm lý học – xã hội học, các cán bộ quản lý…Quá trình điều trị này phải được chuyển đổi kịp thời theo những rối loạn tâm sinh lý của người nghiện ma túy mà chuyên môn ngành nào, ngành ấy phải giải quyết – nhưng bắt buộc các thành viên của nhóm điều trị phải phối hợp tác nghiệp ở một thể thống nhất khi đánh giálập kế hoạch điều trị cho đối tượng, nhằm kết hợp lĩnh vực mìnhlĩnh vực chuyên môn của người khác.


Khi người nghiện sử dụng ma túy càng lâu, liều lượng càng tăng thì hậu quả tác hại càng nhiềucàng nặng nề bấy nhiêu. Những tác động của ma túy trên não bộ gây ra những tổn thương tạm thời hoặc vĩnh viễn trên người nghiện, làm người nghiện ma túy suy giảm khả năng phán đoán, phân tích, tổng hợp, xử lý thông tin, khả năng tự chủ: người nghiện rất khó khăn khi đưa ra một quyết định đúng đắn. Thêm vào đó, họ lại thiếu nghị lực, thiếu sáng suốt, thiếu ý chí để thực hiện quyết định của mình. Do ký ức hồi tưởng, người nghiện rất dễbị gợi nhớ đến ma túy khi gặp lại những hình ảnh, vụ việc liên quan đến việc sử ma túy trước đây: gặp ống chích, kim chích, bạn bè cũ, quán café cũ, nghe nhạc cũ, gặp hoàn cảnh cũ, hay khi nghĩ đến những khoái cảm ngây ngất do sử dụng ma túy: họ bị kích động mạnh mẽ khiến đối tượng rất dễ tái nghiện.


lệ thuộc vào ma túy, cuộc sống người nghiện suốt ngày loanh quanh trong việc tìm kiếm, sử dụng ma túy. Đó là phương thức tồn tại của người nghiện.


Về mặt hành vi, người nghiện phát triển những cách ứng xử không thích nghi và nhiều thói quen xấu – những hành vi đó đã ngăn cách người nghiện với cộng đồng, người nghiện mất đi lòng tự trọng, tinh thần trách nhiệm. Hầu hết người nghiện không cần hoặc không còn khả năng hiểu biết những hậu quả do hành vi mình gây nên.


Người nghiện ma túy không đủ nghị lực cũng như không đủ nhận thức để sống một cách trong sạch, lành mạnh, có kỹ năng làm việc. Về mặt tinh thần, sức khỏe, nghề nghiệp, trách nhiệm với gia đình, xã hội …có thể suy sụp đến một mức làm sự điều trị - phục hồi cho đối tượng trở thành hết sức khó khăn.


Cai nghiện được gọi là thành công không chỉnhằm vào mục tiêu người nghiện không tái sử dụng ma túy mà còn đòi hỏi đối tượng phải có một lối sống điều độ, tự quản lý bản thân một cách tốt đẹpthực hiện thành công sự thay đổi về nhận thức.


Tóm lại có 4 vấn đề chính cần phải giải quyết trên đối tượng nghiện ma túy đó là:

  • 1. Tổn thương hệ thống não bộvà các vấn đề tâm thần của người nghiện ma túy.

  • 2. Rối loạnxuống cấp nhận thứchành vinhân cách.

  • 3. Chấn thương tâm lý: đâykhông phải một hành động nhất thời mà là một quá trình diễn biến đầy phức tạp của nội tâm cũng như bối cảnh đa phương diện đối với bản thân, gia đìnhxã hội của người nghiện ma túy.

  • 4. Người nghiện ma túy hầu hết đều ở trong tình trạng đói ma túy trường diễn, kể cả sau khi cai nghiện. Hội chứng hồi tưởng, chấn thương tâm lý, tổn thương não bộ, rối loạn hành vi nhân cách rất dễ dẫn người đã cai nghiện đến tái sử dụng ma túy.

Bốn vấn đề chính tác động qua lại lẫn nhau- chúng vừa là nguyên nhân cũng vừa là hậu quả của việc sử dụng ma túy. Nếu chúng ta giải quyết không toàn diện và triệt để sẽ dễ dẫn người đã cai nghiện đến tái nghiện.


B. NHỮNG NGUYÊN TẮC CƠ BẢN TRONG CAI NGHIỆN PHỤC HỒI

Qua bảng phân tích trên, chúng ta đã thấy cai nghiện ma túy rất khó khăn và phức tạp. Y VĂN đã rút ra một số kết luận sau:

1. NGUYÊN TẮC ĐIỀU TRỊ:

 “Không có một loại thuốc, một biện pháp đơn thuần nào (châm cứu, bấm huyệt, phẫu thuật ….) có thể chữa được bệnh nghiện ma túy mà phải đòi hỏi một liệu pháp tổng hợp, đồng bộ, xuyên suốt, khép kín, linh hoạt, kịp thời”.


2. BIỆN PHÁP THỰC HIỆN:

 Trong điều trị bệnh nghiện ma túy những biện pháp đơn thuần như sử dụng thuốc, châm cứu, bấm huyệt chỉ là biện pháp hỗ trợ cho cắt cơn, giải độc cũng như chống tái nghiện. Biện pháp chủ yếu để cai nghiện thành công người nghiện phải được điều trị toàn diện: ngoài việc sử dụng thuốc người cai nghiện còn phải được gọt dũa, điều chỉnh, phục hồi nhận thức, hành vi, nhân cách, giải quyết những chấn thương tâm lý, mâu thuẫn nội tâm thông qua các biện pháp điều trị không dùng thuốc bao gồm:

  • + Tư vấn

  • + Liệu pháp Tâm lý

  • + Quản lý ca

  • + Liệu pháp Học tập Xã hội – Tự giúp đỡ (SSTLM)

 Một người nghiện nếu không được giải quyết các vấn đề nêu trên thì sau khi cai nghiện về, hầu hết sẽ tái nghiện. Điều này lý giải tại sao các chương trình cai nghiện thường thất bại và đạt kết quả thấp.


Để hiểu rõ các phương pháp điều trị nêu trên, đề nghị các bạn tham khảo tại mục Nghiên cứu Khoa học - Bài 4:“Vai trò Tư vấn – Tâm lý trị liệu – Quản l‎ý ca trong cai nghiện – phục hồi” và tại mục: “Các phương pháp điều trị nghiện ma túy” Phần 2 Bài 3: “Giai đoạn điều trị nội trú tập trung” tại trang web này của Trung tâm.



3. YẾU TỐ QUYẾT TÂM CAI NGHIỆN CỦA ĐỐI TƯỢNG:

 Là yếu tố tiên quyết nhưng không phải yếu tố quyết định trong việc cai nghiện ma túy.

Khi đối tượng không chịu cai nghiện thì khó có thể chữa được bệnh. Tuy nhiên, biện pháp cai nghiện bắt buộc không phải là không có kết quả. Tại các trung tâm cai nghiện cưỡng bức, đối tượng có thời gian cách ly với môi trường ma túy, sẽ có thời gian suy nghĩ lại mình. Nếu tại các trung tâm cai nghiện tốt, đối tượng sẽ được giúp đỡ, quan tâm, giáo dục đúng đắn; do đó nhận thức, tư tưởng đối tượng sẽ chuyển đổi dần thành cai nghiện tự nguyện. Trái lại, tại các trung tâm cai nghiện không tốttự nguyện hay không tự nguyện cũng sẽ dẫn đối tượng tới những đối kháng với trung tâm, dẫn tới đối kháng thêm với gia đình, dễ có những hành vi hung hăng, bạo loạn bộc phát. Tại các trung tâm không tốt trên, một số đối tượng khác không thể phản kháng được, âm thầm chấp nhận cai nghiện nhưng rất dễ dẫn đến trầm cảm phản ứng, phải chấp nhận thời gian cai nghiện nhưng sau khi rời trung tâm trở về dễ bùng phát dẫn đến tái nghiện nhanh.


4. ĐIỀU TRỊ CÓ KẾT QUẢ PHẢI DUY TRÌ THỜI GIAN ĐIỀU TRỊ ĐỦ DÀI:

Để phục hồi hệ thống não bộ, gọt dũa, điều chỉnh lại nhận thức, hành vi, nhân cách, giải quyết các chấn thương tâm lý, mâu thuẫn nội tâm, trang bị bản lĩnh, kỹ năng sống, phát hiện các yếu tố nguy cơ và cácyếu tố bảo vệ để biết cách vươn lên, xa lánh môi trường xấu, phát huy lợi thế hoàn cảnh bản thân.


Thời gian cai nghiện lý tưởngtừ 6 tháng đến 2 năm. Trong thời gian cai nghiện, một số trường hợp không nhất thiết phải cách ly hoàn toàn với xã hội mà nên dùng những biện pháp cai nghiện ngoại trú hoặc kết hợp giữa nội trúngoại trú, đồng thời áp dụng những phương cách để người nghiện không sử dụng ma túy (Ví dụ: giúp đỡ, hỗ trợ nhưng kèm theo những biện pháp quản lý chặt chẽ tại cộng đồng, điều trị kết hợp nội trúngoại trú bằng thuốc Naltrexone trong cai nghiện Heroine …) – tuy nhiên, dù biện pháp gì chăng nữa thì công tácgiáo dục, gọt dũa, phục hồi nhận thức, hành vi, nhân cách và giải quyết cácchấn thương tâm lý không thể thiếu được.


Một quan điểm rất sai lầm của nhiều người là cắt cơn nghiện là đã chữa xong bệnh nghiện ma túy. Thực chất cắt cơn nghiện ma túy chỉ là giai đoạn đầu để chuẩn bị cho mọi quy trình điều trị, cai nghiện rất khó khăn tiếp theo. Bản thân việc cắt cơn nghiện có rất ít tác động đến việc thay đổi tình trạng sử dụng ma túy của đối tượng mà cần phải điều trị sau cắt cơn một thời gian dài. Việc cắt cơn nghiện được ví như chiếc xe nổ máy nhưng chưa chạy được.


Do các rối loạn tâm trí thực tổn, các phản ứng tâm sinh lý và đặc biệt là chứng hồi tưởng: dẫn người nghiện đến những cơn thèm nhớ ma túy với tất cả sự khoái cảm của nó và sự phản ứng yếu ớt của bản thân trước sự quyến rũ của ma túy. Nếu được điều trị tích cực, đúng cách, đủ thời gian, cách ly với môi trường ma túy: cường độ và tần số nhớ này sẽ giảm dần, tổn thương hệ thống não bộ được phục hồi, ngoài ra bệnh nhân còn được trang bịbản lĩnh và kỹ năng sống, biết được ưu nhược điểm bản thân đểvươn lên trong hoàn cảnh của mình. Tuy nhiên, cần lưu ý là ngay cả khi tạm gọi là cai nghiện thành công, người nghiện vẫn phải tiếp tục cai nghiện cả đời.


C. GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRỊ CẮT CƠN - GIẢI ĐỘC - NÂNG CAO SỨC KHỎE:

  • +  Tiến hành ghi chép bệnh án theo lời khai bệnh nhân - Bác sĩ khám bệnh và cho Y lệnh điều trị - chú ý phát hiện các bệnh tâm thần - bệnh cơ hội.

  • +  Xác định các loại ma tuý và liều lượng ma túy mà đối tượng đã sử dụng để định hướng cắt cơn.

  • +  Phát đồ cắt cơn: phác đồ an thần kinh của Bộ Y tế đối với bệnh nhân sử dụng Heroine.

  • +  Thực hiện tư vấn tâm lý trước khi cắt cơn

  • +  Kết hợp sử dụng thuốc với biện pháp tâm lý và các biện pháp phục hồi chức năng: cắt cơn trong phòng lạnh (lạnh trị liệu) - Massage - tắm hơi.

  • + Cắt cơn kết hợp với điều trị các bệnh cơ hội (Nếu cần thiết phải điều trị ngay).

  • +  Nâng cao sức khỏe.


 D. GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRỊ - GIÁO DỤC NHẰM GỌT GIŨA - ĐIỀU CHỈNH - PHỤC HỒI NHẬN THỨC - HÀNH VI - NHÂN CÁCH bao gồm:

 1. NÂNG CAO NHẬN THỨC -TRÌNH ĐỘ học viên:

1.1 DẠY VĂN HÓA:

1.2 HỌC TẬP CÁC CHUYÊN ĐỀ: Giáo dục công dân + Giáo dục đạo đức + Giáo dục sức khỏe và cộng đồng + Giáo dục pháp luật, an ninh quốc phòng + Giáo dục truyền thống.

1.3 GIÁO DỤC KẾT HỢP VỚI THỰC TIỄN: Xem phim - giao lưu - thăm viếng….

 

  2. GIÁO DỤC TRỊ LIỆU: nhằm nâng cao bản lĩnh và kỹ năng sống cho học viên.

2.1 GIÁO DỤC TƯ DUY TÍCH CỰC – TỰ CHỦ, QUẢN LÝ BẢN THÂN – NHẬN THỨC CÁC GIÁ TRỊ SỐNG (Living values). Chương trình này được sự hỗ trợ của Tổ chức UNESCO và UNICEF (Liên hiệp quốc) và do CỤC PHÒNG CHỐNG TỆ NẠN XÃ HỘI - Bộ Lao động - Thương binh & Xã hội huấn luyện.

 2.2 TƯ DUY TÍCH CỰC:

Khi ta làm những gì  - cảm nhận những gì cũng bắt đầu từ một suy nghĩ và đều nhận sau đó mọi hệ quả của nó tác động vào bản thânmôi trường, mối quan hệ chung quanh.

Chúng ta có 4 loại suy nghĩ chính sau đây:

  • - Suy nghĩ tích cực: Suy nghĩ mang lại ích lợi cho chính bản thân bạn và cho những người khác. Đó là những suy nghĩ về sự chấp nhận, hòa bình, lạc quan, khoan dung,...Suy nghĩ tích cực là thấy một chiếc ly “đầy nửa ly” thay vì “vơi nửa ly”; nghĩa là thấy cái gì mà bạn có và tập trung vào đó thay vì cảm thấy thất vọng về những cái mà bạn không có. Suy nghĩ tích cực giúp bạn hạnh phúc hơn nhiều trong cuộc sống.

  • - Suy nghĩ tiêu cực: Những suy nghĩ có hại cho chính bạn và cho những người khác. Đó là những suy nghĩ thể hiện sự giận dữ, không thể chịu đựng, chỉ trích, phân biệt ……

  • - Suy nghĩ vô ích: Suy nghĩ về quá khứ hay những thứ vượt qua kiểm soát của bạn: “Tại sao?”; “Giá như...”, ...Suy nghĩ loại này bao gồm cả sự nghi ngờ, hối tiếc, ảo vọng không thực tế, lo lắng về những việc nhỏ nhặt.

  • - Suy nghĩ cần thiết: Những suy nghĩ để lập kế hoạch cho ngày làm việc của bạn; “Tôi cần phải gặp người này vào thời điểm này, tôi cần phải đi đến nơi này,...”


Suy nghĩ tích cực giúp ta có hành động tốt. Hành động này tác động tự tinổn định cho bản thân đồng thời tác động với môi trườngmối quan hệ quanh ta. Trái lại, nếu chúng ta suy nghĩ tiêu cực, ta sẽ phải trải qua những điều buồn chán, căng thẳngchính ta sẽ là người chịu đựng. Ví dụ:


Nếu ta thay thế những suy nghĩ tiêu cực bằng suy nghĩ tích cực ta sẽ có những niềm vui mới và nhiều thành công hơn:



Những bước giúp thay đổi phản ứng tiêu cực sang tích cực:

Bước 1: Tôi chú ý những gì tôi nói và cách tôi phản ứng người khác. Tôi kiểm tra và thay đổi chính tôichứ không phải những người khác.

Bước 2: Nếu tôi thấy chính tôi chỉ tríchphản ứng những người khác, tôi thay thế những ý nghĩ này bằng những ý nghĩ, phản ứng hữu íchtích cực.

Bước 3: Bất cứ khi nào tôi có những ý nghĩ tiêu cực về chính tôi, người khác và hoàn cảnh, tôi tập trung nhìn vào những khía cạnh tốttích cực.

Bước 4: Khi tôi đối mặt với những thử thách – Tôi chấp nhận rằng tôi thể thay đổitập trung tìm kiếm những giải pháp có lợihiệu quả.

Bước 5: Ngày hôm nay tôi ghi lại những điểm tích cực của mọi người xung quanh và tập sống tốt giống như vậy.

Bước 6: Ngày hôm nay tôi đã xác định rằng những sức mạnh, khả năng cùng với mục tiêu của cuộc đời tôi là hiện thực. Tôi không quan tâm những lúc nản lòng và tôi cũng không bị tác động nào ảnh hưởng được trên con đường tự khẳng định hạnh phúc sẵn có của mình.


Sức mạnh và hiệu quả của ý nghĩ: giúp đối tượng

  • - Có trách nhiệm về những ý nghĩ của mình.

  • -Ý nghĩ có sức mạnh rất lớn, tạo nên cảm xúc dẫn tới hành động.

  • -Sự lặp đi lặp lại thường xuyên của các ý nghĩ tích cực sẽ tạo niềm tin và thái độ rõ ràng.

  • -Các ý nghĩ giống như những hạt giống gieo trồng trong tâm trí. Càng đầu tư càng thêm nhiều sức mạnh cho ý tưởng đó.

  • -Các ý nghĩ tích cực cho ta nghị lựcsức mạnh.

  • -Các ý nghĩ tiêu cực khiến ta đánh mất sức mạnh, khiến ta mệt mỏikiệt quệ.

  • -Cần mất thời gian để thay đổi các tư duy cũ. Hãy kiên nhẫn với chính mình.


2.3 Tự kiểm soát làm chủ bản thân:

Người nghiện ma tuý vốn rối loạn tâm sinh lý nên rất dễ bị lôi cuốn, kích động trước một vấn đề gì, đó là  một trong những cái cớ để họ trở lại với việc tái sử dụng ma tuý.


Bằng phương pháp tư duy tích cực đối tượng có thể điều chỉnh được những hành động suy nghĩ của chính mình bằng sự tự kiểm soát làm chủ bản thân.


Hai yêu cầu chủ yếu của tự kiểm soát làm chủ bản thân là:

Tinh thần khách quan: Tinh thần thần khách quan làm đối tượng nhìn nhận rõ hơn sự việc và con người của mình không làm sai lạc nhận thức và phán xét của mình.

Bình tĩnh đánh giá sự việc và cách giải quyết:Từ những dữ kiện có được, đối tượng phải bình tĩnh đánh giá lại tình huống, sự việc một cách có tình có lý và từ đó vạch ra hướng giải quyết vấn đề.


Để giáo dục người nghiện ma tuý, phải thực hiện việc này một cách thường xuyên  cho họ tự đánh giá và trình bày cách giải quyết và cách thực hiện. Động tác này được lặp đi lặp lại để trở thành một thói quen tốt.


Để đạt được hai yêu cầu trên đối tượng cần phải tập các đức tính sau:

Trách nhiệm : Khi đã quyết định và hành động đối tượng phải dũng cảm chấp nhận những hậu quả, việc làm của mình, không đổ lỗi nhưng cũng không phải khư khư giữ lấy ý kiến mình mà phải can đảm nhìn lại các mặt của vấn đề, phát huy những mặt tốt và cương quyết loại bỏ những cái sai, cái xấu để điều chỉnh lại quyết định và chương trình hành động.

Tinh thần tập thể : “ Gieo là gặt ”, ” sự hợp tác sẽ dẫn đến sự hợp tác ” sức mạnh hợp tác sẽ tạo cho công việc dễ dàng và vui vẻ . Người nghiện ma tuý bản thân sống rất chủ quan và ích kỷ do hình thành nhũng thói quen xấu, tinh thần tập thể sẽ tạo cho họ sự thoải mái, nhận thức được chân giá trị của cộng đồng, trách nhiệm vai trò của cá nhân trong tập thể.


Tự kiểm soát làm chủ bản thân là một sự tập luyện lâu dài, đối tượng phải được từng bước làm quen và tiến hành thực hiện bằng những tình huống do nhà quản lý đặt ra hoặc những công việc, vụ việc cụ thể trong đời sống cộng đồng .


Đối tượng phải được đóng góp sự giúp đỡ của nhà quản lý , của tập thể thông qua tư vấn cá nhân, tư vấn nhóm hoặc trong giao ban buổi sáng tại các trung tâm cai nghiện.


Khi đối tượng đạt được các đức tính trên họ có thể hi vọng đối phó với những nghịch cảnh , nhũng tình huống không thuận lợi.


2.4. Nhận thức về những giá trị sống:

CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC NHỮNG GIÁ TRỊ SỐNG là một chương trình của nhiều nhà giáo dục trên toàn thế giới – chương trình này được sự hỗ trợ của UNESCO – Nhóm giáo dục của UNICEF và nhiều tổ chức khác. Nội dung chương trình nhằm giáo dục các giá trị về cá nhân – xã hội bao gồm các đức tính: Hợp tác – Tự do - Hạnh phúc – Trung thực – Khiêm tốn – Tình yêu – Hòa bình – Tôn trọng – Trách nhiệm – Giản dị – Khoan dung và Đoàn kết. Mục đích của chương trình là:

  • - Giúp đỡ các cá nhân suy nghĩ những giá trị cuộc sống – các tác động thực tế trong việc thể hiện những giá trị này khi liên hệ với chính mình, với người khác, với cộng đồng.

  • - Để đối tượng hiểu sâu sắc hơn về động cơ, trách nhiệm liên quan đến những suy nghĩ  - hành động của bản thân.

  • - Điều chỉnh cho đối tượng nhận thức những giá trị cá nhân, xã hội về đạo đức, tinh thần, lối sống – phát triển và làm sâu sắc hơn các giá trị này.

  • - Để các nhà quản lý, giáo dục thấy rõ phương pháp giáo dục  là một phương pháp trị liệu quan trọng giúp đối tượng có thể hòa nhập vào cộng đồng với sự tôn trọng – tự tin và có mục đích.


Chương trình được xây dựng trên 3 luận điểm cơ bản là:

  • - Dạy sự tôn trọng nhân phẩm cho mỗi người và mọi người

  • - Khả năng sáng tạo và học tập một cách tích cực khi có cơ hội.

  • - Phát triển trong một môi trường tích cực, an toàn, có sự tôn trọng và chăm sóc lẫn nhau.


3. XÂY DỰNG NIỀM TIN TRONG MÔI TRƯỜNG TRỊ LIỆU CỘNG ĐỒNG:

Danh ngôn ta có câu: “NIỀM TIN CHỞ ĐƯỢC NÚI”. Xây dựng được niềm tin trong môi trường trị liệu cộng đồng là một trong những yếu tố quan trọng nhằm điều trị và phục hồi cho đối tượng cai nghiện.

* Niềm tin vào sự tồn tại của lòng tốt:

Khi chúng ta dẫn dắt đối tượng của cộng đồng quay trở về quá khứ, chính chúng ta đã giúp đối tượng đối diện với sự thật, nói ra những điều bí mật mà đối tượng dấu diếm trong lòng để tìm cách học hỏi từ những vấp váp mà đối tượng đã từng gặp phải. Mặc dù gặp bất hạnh như thế nào trong cuộc đời thì đối tượng cũng không nên đeo đẵng mãi những suy nghĩ về những điều đã xảy ra. Chúng ta không đánh giá con người qua những việc mà đối tượng đã làm trong quá khứ mà cần thái độ trung thực để sửa chữa những sai lầm của quá khứ. Người nghiện có thể thay đổi nhưng chỉ khi anh ta thật sự mong muốn mình thay đổi. Nếu như đối tượng cố gắng nổ lực không ngừng thì nhất định cuối cùng cũng duy trì được một lối sống lành mạnh. Đó chính là điều mà trị liệu cộng đồng tin tưởng.


* Niềm tin vào khả năng hối cải và phục thiện của con người:

Có một thời gian khá dài cả xã hội đều tin chắc một điều rằng “người nghiện thì mãi mãi sẽ là người nghiện”. Môi trường trị liệu cộng đồng đã bác bỏ điều này vì qua thực tiễn, nhiều người đã từng tham gia điều trị, đã vượt qua được sự cám dỗ của ma tuý và nay đang sống một cuộc sống lành mạnh. Không ít người trong số họ vẫn đang  tiếp tục cuộc chiến chống lại nguy cơ tái nghiện. Những ai không bỏ cuộc thì nhất định cuối cùng sẽ có một cuộc sống bình thường và ổn định.


* Niềm tin vào việc giúp người khác cũng là giúp chính bản thân mình:

Một trong những phẩm chất quý báu mà đối tượng sau khi điều trị ở môi trường trị liệu cộng đồng có được là việc luôn sẵn sàng giúp đỡ những ai cần sự giúp đỡ. Khái niệm “cho” hầu như trở nên quen thuộc đối với mọi người. Đối tượng muốn duy trì một lối sống lành mạnh thì đối tượng phải biết chia sẽ những gì mà anh ta nhận được, anh ta mới là người sở hữu thật sự của chúng. Có một câu nói rất hay mô tả được hết ý nghĩa của khái niệm “cho” trong môi trường trị liệu cộng đồng : “Bạn sẽ không thể chịu đựng nổi vấn đề trừ khi bạn chia sẽ với người khác”.


* Niềm tin vào phẩm giá của con người:

Có một phẩm chất đạo đức của con người mà ta luôn luôn phải coi trọng đó chính là phẩm giá hay giá trị của con người. Khi người nghiện có niềm tự  hào về phẩm giá của mình thường tích cực tham gia vào chương trình điều trị - phục hồi vì đó là biện pháp giúp họ nhanh chóng chuyển đổi thái độ và hành vi, nhằm lấy lại những gì mà họ đã mất.

Thành viên nào vốn đã có niềm tự hào về phẩm chất thì thường tỏ ra là một người tốt của cộng đồng, tuân thủ các quy tắc về trách nhiệm đối với thái độ, hành vi của mình. Duy trì được niềm tự hào về - phẩm chất trong lối sống sẽ giúp con người tránh xa ma tuý và tránh xa được cả những yếu tố tiêu cực luôn đi kèm theo nó.


4. XÂY DỰNG YẾU TỐ TINH THẦN TRONG MÔI TRƯỜNG TRỊ LIỆU CỘNG ĐỒNG:

Trong bất cứ cuộc thảo luận nào về yếu tố tinh thần trong môi trường trị liệu cộng đồng hầu như người ta cũng dễ nói lạc sang chủ đề tôn giáo và tín ngưỡng. Nhằm tránh việc nhằm lẫn giữa yếu tố tinh thần và khái niệm tôn giáo, tinh thần trong cộng đồng trị liệu được định nghĩa là: “bất kỳ hành động hay hoạt động nào thể hiện, phản ánh lòng tốt của con người”. Đây là một định nghĩa khái quát, nó bao gồm rất nhiều loại hoạt động của con người kể cả hoạt động tôn giáo hay những việc làm có ích giúp tăng cường nhận thức của con người.


Chương trình trị liệu cộng đồng không phải là một chương trình thuần túy nói về yếu tố tinh thần mà còn cần phải sử dụng nhiều biện pháp trị liệu khác. Yếu tố tinh thần chỉ được sử dụng với khía cạnh giúp cho quá trình thay đổi, phục hồi của người nghiện thông qua việc nhìn nhận cuộc sống dưới một góc độ khác. Điều quan trọng ở đây là sự góp phần điều trị nhằm tăng cường nhận thức cho người nghiện trong giai đoạn phục hồi.


Cuộc sống trong cộng đồng là một cuộc sống tập thể. Cuộc sống tập thể ở đây tạo ra những điều kiện cần thiết cho người nghiện ma tuý để họ có thể nhanh chóng phục hồi trong môi trường có định hướng rõ ràng về “mục đích và kết quả”. Họ cần phải biết được thế nào là hành vi đúng trước khi có thể bước vào quá trình phục hồi. Đây chính là một thử thách lớn không chỉ với họ mà còn với tất cả các nhân viên điều trị.


Sau khi đã tìm lại được chính bản thân mình, người nghiện bắt đầu quá trình học hỏi những giá trị của cuộc sống, hệ thống niềm tin trong cộng đồng, mối quan hệ xã hội, định hướng nghề nghiệp nhằm hướng tới một cuộc sống lành mạnh, không có ma tuý Sự thay đổi lớn lao trong thái độ của đối tượng ở giai đoạn này là rất đáng chú ý. Đối tượng tỏ ra có triển vọng và trở nên có tinh thần trách nhiệm trong lao động và hành vi ứng xử. Anh ta đã có cuộc sống đời thăng trầm chìm nổi nhưng đối tượng đã biết chấp nhận sự thật, biết kiểm soát nó và tìm kiếm sự giúp đỡ khi cần thiết. Đối tượng hiểu rằng cuộc chiến chống lại sự cám dỗ của ma tuý vẫn chưa chấm dứt và vẫn còn phải rèn luyện thêm những điều đã học để có thể duy trì một cuộc sống lành mạnh lâu dài. Một người nghiện không đơn thuần là sự phụ thuộc vào ma tuý mà còn là sự lệ thuộc vào quá khứ cùng những yếu tố xã hội đi liền với quá khứ ấy. Đối tượng phải biết có thể đốt thành tro tất cả những nổ lực bấy lâu nay nhằm đạt được sự phục hồi. Do đó phải tránh mọi mối liên quan dẫn đến quá khứ tội lỗi đó là yếu tố tiên quyết để duy trì cuộc sống lành mạnh không ma tuý.


Để duy trì được những gì mà được học, đối tượng phải biết cách chia xẽ những quan điểm – hành vi đúng đắn cho người khác. Đối tượng đã hoàn tất giai đoạn này, phải biết cách dạy lại những thành viên mới bằng chính ví dụ cuộc đời đối tượng. Vai trò của đối tượng trong cộng đồng bây giờ là dạy lại những điều mình được học. Chỉ có như vậy đối tượng mới thật sự hiểu hết ý nghĩa của mọi vấn đề đã học và có trách nhiệm hơn đối với hệ thống niềm tin trong môi trường trị liệu cộng đồng.



KẾT LUẬN

Nghiện ma túy là một bệnh mãn tính, khó chữa, có đặc tính là dễ tái nghiện. Việc cắt cơn nghiện có rất ít tác động đến việc thay đổi tình trạng sử dụng ma túy của đối tượng. Do những tổn thương về hệ thống não bộ tạo nên những rối loạn về hành vi- nhân cách của người bệnh - suy giảm khả năng xét đoán - xử lý thông tin - mất khả năng tự chủ - hình thành những thói quen xấu sau một thời gian sử dụng ma túy. Người nghiện ma túy là một người đa nhân cách.


Lạm dụng ma túy là hội chứng rối loạn toàn cơ thể bắt nguồn từ nhiều lý do khác nhau : Tâm sinh lý người bệnh - hoàn cảnh cá nhân, ảnh hưởng do gia đình và tác động của xã hội.


Việc sử dụng thuốc chỉ có một tác dụng giới hạn mà cần những biện pháp điều trị tổng hợp: Việc điều trị không chỉ nhằm vào việc cai nghiện của đối tượng mà phải giải quyết tận gốc những vấn đề liên quan đến hành vi - nhân cách, hoàn cảnh cá nhân, gia đình xã hội và động cơ đã ảnh hưởng đến việc nghiện ma túy của từng đối tượng.


Từ những lý do trên việc trị liệu cho người nghiện trong một môi trường trị liệu cộng đồng là rất cần thiết. Khác với những phương thức điều trị cổ điển, quy ước chỉ gồm thầy thuốc và bệnh nhân, trị liệu cộng đồng đã huy động được toàn bộ những nguồn nhân lực là bệnh nhân - thân nhân bệnh nhân - tập thể người bệnh cũng như toàn bộ nhân viên Trung Tâm tập trung vào mục đích điều trị cho mỗi bệnh nhân, tạo nên một sức mạnh tổng hợp. Với thời gian điều trị dài và những biện pháp đúng đắn nhằm gọt dũa, phục hồi hành vi - nhân cách, tạo cho người cai nghiện những nhận thức đúng đắn, hình thành những thói quen, nếp sống tốt để khi trở về với xã hội họ được trang bị bản lĩnh sống với lòng tự tin và sự tự trọng. Họ sẽ từng bước tiến lên trong cuộc sống với sự hỗ trợ của toàn xã hội.

 

PHƯƠNG PHÁP TIẾP CẬN VÀ ĐIỀU TRỊ NGHIỆN MA TÚY HIỆN NAY

PHƯƠNG PHÁP TIẾP CẬN VÀ ĐIỀU TRỊ NGHIỆN MA TÚY HIỆN NAY

Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), nghiện ma túy là căn bệnh mạn tính của não bộ, khó điều trị và dễ tái phát. Chính vì vậy, điều trị nghiện ma túy cần thực hiện một số bước sau:

  • - Giải độc (quá trình mà cơ thể ngừng dung nạp một chất ma túy vào cơ thể)
  • - Sử dụng thuốc cai nghiện (đối với thuốc phiện, thuốc lá hoặc nghiện rượu);
  • - Đánh giá và điều trị  các vấn đề sức khỏe tâm thần xảy ra: rối nhiễu tâm lý như trầm cảm và lo âu ở người sử dụng ma túy;
  • - Can thiệp về nhận thức - hành vi;
  • - Theo dõi dài hạn để ngăn ngừa tái phát.

Trong quá trình điều trị cần có một loạt các dịch vụ chăm sóc với một chương trình điều trị phù hợp và theo dõi diễn biến rất quan trọng để thành công. Điều trị bao gồm cả các dịch vụ sức khỏe y tế và tinh thần khi cần thiết. Theo dõi chăm sóc có thể bao gồm các hệ thống hỗ trợ phục hồi cộng đồng hoặc tại gia đình.



Can thiệp nhận thức - hành vi chính là hỗ trợ, giúp đỡ bệnh nhân - người sử dụng ma túy nhận ra:

  • - Thái độ và hành vi liên quan đến việc sử dụng ma túy của bản thân;
  • - Nâng cao kỹ năng sống lành mạnh và tích cực hơn;
  • - Sử dụng một số loại thuốc hỗ trợ cho công tác điều trị nghiện ma túy.

Bệnh nhân có thể điều trị ở các môi trường khác nhau:

1. Điều trị ngoại trú:

Điều trị ngoại trú là hình thức điều trị bao gồm một loạt các chương trình dành cho những bệnh nhân được nhân viên tư vấn sức khỏe hành vi quản lý, theo dõi và hỗ trợ trong một kế hoạch cụ thể và trình thường xuyên. Hầu hết các chương trình liên quan đến tư vấn thuốc cá nhân hoặc nhóm, hoặc cả hai. Các chương trình này thường cung cấp các hình thức trị liệu hành vi như:

  • - Liệu pháp nhận thức hành vi,  giúp bệnh nhân nhận biết, tránh và đối phó với những tình huống mà ở đó họ có nhiều khả năng sử dụng ma túy;

  • - Liệu pháp gia đình đa chiều – được phát triển dành cho thanh thiếu niên với vấn đề lạm dụng ma túy cũng như những gia đình chịu ảnh hưởng bởi người thân là người sử sụng ma túy và được thiết kế để cải thiện chức năng của gia đình một cách toàn diện để hỗ trợ tốt nhất cho người thân của mình;

  • - Phỏng vấn động lực, tác động làm cho hầu hết người bệnh, người sử dụng ma túy sẵn sàng thay đổi hành vi của họ và tham gia điều trị;

  • - Khuyến khích động lực (quản lý dự phòng), trong đó tăng cường tích cực và khuyến khích từ bỏ ma túy cũng như các chất gây nghiện khác.


Điều trị đôi khi cần chuyên sâu ở lần điều trị đầu tiên, sau đó các bệnh nhân tham gia điều trị ngoại trí mỗi tuần theo lịch đã được sắp xếp. Sau khi hoàn thành điều trị có hiệu quả tích cực, bệnh nhân chuyển sang điều trị ngoại trú thường xuyên, sau đó, dần dần ít thường xuyên hơn và ít thời gian điều trị hơn để giúp duy trì sự phục hồi của họ.


2. Điều trị nội trú

Loại hình điều trị này đặc biệt phù hợp cho những người có vấn đề nghiêm trọng hơn (ngoài việc lạm dụng chất gây nghiện bệnh nhân còn có nhiều rối loạn tâm lý khác). Các cơ sở điều trị nội trú được cấp phép cung cấp dịch vụ 24 giờ có tổ chức và phương pháp hỗ trợ và chăm sóc đặc biệt, bao gồm cả nhà ở an toàn và chăm sóc y tế. Các cơ sở điều trị tại nhà có thể sử dụng một loạt các phương pháp điều trị, và họ thường nhắm mục đích giúp bệnh nhân sống một lối sống tội phạm tự do không có ma túy sau khi điều trị. Các phương pháp điều trị nội trú bao gồm:

  • - Điều trị nghiện dựa vào cộng đồng, được xây dựng một cách chặt chẽ giữa các chương trình hoạt động trong đó bệnh nhân vẫn có một nơi cư trú, thường từ 6 đến 12 tháng. Toàn bộ cộng đồng, bao gồm cả nhân viên điều trị và những người trong cộng động làm công tác hỗ trợ chính cho những thay đổi, ảnh hưởng của bệnh nhân: thái độ, sự hiểu biết, và các hành vi liên quan đến sử dụng.

  • - Điều trị nội trú ngắn hạn, thường tập trung vào quá trình cắt cơn, giải độc cũng như cung cấp tư vấn chuyên sâu ban đầu và chuẩn bị điều - Cai nghiện tại nhà, cung cấp nhà ở có giám sát, ngắn hạn cho bệnh nhân, thường sau các loại điều trị nội trú hoặc để ở. Phục hồi tại nhà có thể giúp mọi người chuyển đổi sang một cuộc sống tích cực hơn ví dụ như độc lập, biết cách quản lý tài chính hoặc tìm kiếm việc làm, cũng như kết nối chúng để hỗ trợ các dịch vụ trong cộng đồng.

Nghiên cứu khoa học từ giữa năm 1970 cho thấy: điều trị lạm dụng chất gây nghiện có thể giúp những người phạm tội sử dụng ma túy thay đổi thái độ, niềm tin và hành vi đối với việc lạm dụng ma túy; tránh tái phát; và thành công loại bỏ mình khỏi một cuộc sống lạm dụng ma túy và tội phạm. Tuy nhiên, nhiều người phạm tội không có quyền truy cập vào các loại hình dịch vụ mà họ cần. Cách điều trị có chất lượng kém hoặc không tốt phù hợp với nhu cầu của người phạm tội có thể không có hiệu quả trong việc giảm sử dụng ma túy và hành vi tội phạm.


Ngoài những nguyên tắc chung của điều trị, một số cân nhắc cụ thể đến người phạm tội bao gồm:

  • - Điều trị bao gồm phát triển các kỹ năng nhận thức cụ thể để giúp người phạm tội điều chỉnh thái độ và niềm tin dẫn đến lạm dụng ma túy và tội phạm, chẳng hạn như cảm giác được có những thứ của một người theo cách riêng hoặc không hiểu biết những hậu quả của hành vi của một người. Điều này bao gồm các kỹ năng liên quan đến suy nghĩ, hiểu biết, học hỏi, và ghi nhớ.

  • - Lập kế hoạch điều trị bao gồm tất cả các dịch vụ nhằm chuyển đổi phù hợp với quy trình điều trị cai nghiện dựa vào cộng đồng;

  • - Phối hợp tác giữa các nhà cung cấp dịch vụ điều trị lạm dụng chất ma túy và tòa án hoặc viện kiểm soát cũng như các cán bộ quản chế là rất quan trọng trong việc giải quyết những nhu cầu phức tạp của người phạm tội tái nhập xã hội đặc biệt là người phạm tội liên quan đến ma túy;

Như chúng ta đã biết, lạm dụng các chất gây nghiện (ma túy) sẽ làm thay đổi chức năng của não bộ, có thể “kích hoạt” cơn thèm nhớ trong não của người sử dụng. Điều quan trọng đối với những người đang điều trị, đặc biệt là những người điều trị tại một cơ sở điều trị nội trú hay nhà tù là giúp họ nhận biết được kiến thức tốt, trang bị một số kỹ năng phòng tránh và đối phó với các tình huống nguy cơ sau khi điều trị.


 

Tuy nhiên, nghiện ma túy có thể điều trị được nếu chúng ta thực hiện đúng, đầy đủ các nguyên tắc sau:

  • - Nghiện là một bệnh phức tạp nhưng có thể điều trị, tuy nhiên có ảnh hưởng đến chức năng của não và hành vi của người nghiện;

  • - Không có phương pháp điều trị duy nhất là đúng cho tất cả mọi người;

  • - Mọi người cần phải được cung cấp thông tin nhanh chóng để điều trị;

  • - Điều kiện đảm bảo việc điều trị hiệu quả tất cả các nhu cầu của bệnh nhân, không chỉ với người sử dụng ma túy mà bao gồm cả người xung quanh họ;

  • - Điều trị cần quá trinh đủ dài là rất quan trọng;

  • - Tư vấn và các liệu pháp hành vi khác là những hình thức phổ biến nhất được sử dụng trong điều trị cai nghiện chống tái nghiện;

  • - Thuốc thường là một phần quan trọng trong điều trị, đặc biệt là khi kết hợp với các liệu pháp hành vi;

  • - Kế hoạch điều trị phải được xem xét thường xuyên và sửa đổi để phù hợp với nhu cầu thay đổi của bệnh nhân;

  • - Điều trị phải giải quyết các rối loạn tâm thần khác có thể xảy ra đối với người bệnh;

  • - Cắt cơn, giải độc chỉ là giai đoạn đầu điều trị;

  • - Điều trị phải là tự nguyện như vậy mới có hiệu quả tích cực và bền vững;

  • - Sử dụng ma túy trong thời gian vì vậy điều trị cần phải được theo dõi thường xuyên và liên tục;

  • - Chương trình điều trị cho người sử dụng ma túy cần kiểm tra sức khỏe bệnh nhân. Đặc biệt lưu ý đối với người bệnh có HIV/AIDS, Viêm gan B, C, Lao phổi và các bệnh truyền nhiễm khác. Nhằm giảm nguy cơ lây nhiễm bệnh cho người xung quanh và điều trị hiệu quả.

        Vũ Bền

GIAI ĐOẠN CẮT CƠN – GIẢI ĐỘC – NÂNG CAO SỨC KHỎE

GIAI ĐOẠN CẮT CƠN – GIẢI ĐỘC – NÂNG CAO SỨC KHỎE

(Trung tâm Điều dưỡng & Cai nghiện Ma túy Thanh Đa biên soạn)


I. ĐIỀU TRỊ NGỘ ĐỘC CÁC CHẤT DẠNG THUỐC PHIỆN (CDTP):

Nguyên nhân ngộ độc các chất dạng thuốc phiện: là do người nghiện sử dụng các chất dạng thuốc phiện (CDTP) quá liều. Mức độ dung nạp lượng ma túy mỗi người nghiện khác nhau, tăng dần theo thời gian sử dụng (trường hợp đối tượng sau điều trị cắt cơn vẫn sử dụng liều lượng cũ, không giảm cũng sẽ bị ngộ độc). Ngộ độc CDTP thường gặp trong điều trị cấp cứu liên quan đến sử dụng ma túy. Sự thành công của điều trị ngộ độc CDTP đòi hỏi đánh giá trên 03 mặt:

  • - Mức độ nhận thức (Bệnh nhân hồi tỉnh sớm hay muộn).

  • - Khai thông đường thở.

  • - Sử dụng một antidote hợp lý.

    • Tác dụng của ma túy nhóm OMH rất nhanh, khoảng 30 giây theo đường tĩnh mạch và  01 giờ theo đường uống. Phải sử dụng xét nghiệm cận lâm sàng kết hợp vớichẩn đoán lâm sàng trongngộ độc ma túy nhóm Opiates. Điều trị ngộ độc nhóm CDTP đòi hỏi đội ngũ cán bộ chuyên môn nhạy bén, giải quyết kịp thời.


      1. CHẨN ĐOÁN NGỘ ĐỘC CÁC CHẤT DẠNG THUỐC PHIỆN (CDTP):

      1.1 Hiện đang sử dụng nhóm Opiates. Bệnh sử có sử dụng ma túy nhóm Opiates.

      1.2 Phương diện lâm sàng có những triệu chứng thay đổi hành vi hoặc thay đổi các yếu tố tâm thần.

      (Vd: Hưng cảm tiên phát sau đó có trạng thái vô cảm, rối loạn cảm xúc, tâm thần tự động hoặc sa sút, giảm sút sự phán đoán hoặc tổn hại chức năng xã hội).

      1.3 Co đồng tử (Đôi khi giãn đồng tử do triệu chứng quá liều nặng), kèm theo một hoặc hơn những dấu hiệu sau khi sử dụng ma túy nhóm Opiates:

      • - Ngủ gà hoặc hôn mê

      • - Nói lắp.

      • - Giảm tập trung hoặc trí nhớ.

      1.4 Trên lâm sàng có những đặc điểm kèm theo như: giảm hô hấp có thể dẫn đến ngưng thở, rối loạn nhịp tim chậm, giảm thân nhiệt, giảm phản xạ, nôn ói, hôn mê.

      1.5 Những triệu chứng trên không do bệnh cơ thể, và loại trừ những nguyên nhân ngộ độc khác.


      2. NGUYÊN TẮC XỬ LÝ NGỘ ĐỘC CÁC CHẤT DẠNG THUỐC PHIỆN cần thiết trong một cơ sở được trang bị đầy đủ cho cấp cứu nội khoa.

      - Điều trị khởi đầu: Đánh giá đầu tiên là đường thở, phải xử lý trợ giúp kịp thời bằng mọi phương tiện như dụng cụ bóp bóng, Oxy nguồn, hoặc thông đường thở. Bệnh nhân có thể rơi vào tình trạng nặng của phù phổi cấp. Các thuốc được sử dụng như: Glucoza ưu trương, chất đối kháng Opium như naloxone.


      - Sau khi điều trị cấp cứu cần theo dõi tiếp tục để điều trị nâng đỡ, chú ý đến tình trạng tụt huyết áp, rối loạn thân nhiệt. Nếu sau khi điều trị bằng Naloxon với tổng liều 10mg bệnh nhân vẫn chưa hồi tỉnh nên hướng tới một chẩn đoán của một loại ngộ độc khác tương tự như ngộ độc thuốc phiện.


      3. XỬ TRÍ NGỘ ĐỘC NHÓM CÁC CHẤT DẠNG THUỐC PHIỆN (CDTP):

      Trước hết phải để người bệnh nằm ở phòng thoáng mát để tiến hành cấp cứu (tốt nhất là chuyển đến khoa hồi sức cấp cứu càng sớm càng tốt)

      3.1 NẾU NGUỜI BỆNH CÓ BIỂU HIỆN NGẠT THỞ:

      Tiến hành thổi ngạt, nếu không kết quả thì tiến hành bóp bóng AMBU, nếu người bệnh có biểu hiện nặng hơn (ngừng thở hoặc tím tái nhiều) thì cho thở máy.


      3.2 TIÊM NALOXONE (THUỐC GIẢI ĐỘC ĐẶC HIỆU):

      - Tiêm tĩnh mạch chậm Naloxone: ống 0,4mg x 01 ống/lần tiêm; có thẻ tiêm tiếp lần thứ 2 sau 05 phút.

      - Có thể truyền tĩnh mạch Naloxone bằng cách hòa 2mg Naloxone (5 ống) trong 500ml Natri clorua (NaCl) 0.9%, tốc độ truyền thay đổi tùy theo đáp ứng lâm sàng.

      - Có thể dùng Naloxone tiêm dưới da hoặc tiêm bắp với tổng liều có thể tới 10mg.


      3.3 KẾT HỢP GIẢI ĐỘC BẰNG TRUYỀN CÁC DUNG DỊCH MẶN, NGỌT ĐẲNG TRƯƠNG


      3.4 THEO DÕI LÂM SÀNG:

      a) Quan sát sự đáp ứng của người bệnh khi tiêm hoặc truyền Naloxone

      • - Nếu đồng tử giãn ra, thở lại, tỉnh ra, đỡ dần tím tái,…tức là tình trạng tốt dần lên.

      • - Nếu kích thước đồng tử co dưới 2mm là triệu chứng còn ngộ độc Opiats.

      • - Nếu đồng tử giãn trên 3mm có kèm theo trụy tim mạch, tím tái, tức là biểu hiện của quá liều Naloxone.

      b) Tiếp tục theo dõi người bệnh 4 giờ sau khi dùng liều Naloxone cuối cùng.


      II. ĐIỀU TRỊ HỘI CHỨNG CAI CÁC CHẤT DẠNG THUỐC PHIỆN (CDTP) – (ĐIỀU TRỊ CẮT CƠN)

      Điều trị cắt cơn nghiện chất dạng thuốc phiện chủ yếu nhằm giúp cho người nghiện vượt qua hội chứng cai mà không bị đau đớn, vật vã, nhất là trong trường hợp nghiện nặng. Cắt cơn nghiện không phải là cai nghiện ma túy mà đó chỉ là bước đầu của điều trị, còn vấn đề chính của điều trị là phục hồi hệ thống não bộ, chuyển đổi nhận thức – hành vi – nhân cách, giải quyết các chấn thương tâm lý, các mâu thuẫn và rối loạn nội tâm của đối tượng. Các liệu pháp này cần một thời gian điều trị lâu dài bằng cách kết hợp giữa điều trị thuốc với các liệu pháp tâm lý – giáo dục – xã hội. Trong đó điều trị bằng thuốc chỉ là liệu pháp hổ trợ.


      1. PHƯƠNG PHÁP CAI KHÔ:

      Cai khô còn gọi là cai chay được áp dụng tại Mỹ năm 1938, bằng cách cô lập bệnh nhân, không cho tiếp xúc với môi trường bên ngoài, ngừng hoàn toàn việc sử dụng các chất ma túy làm cho người nghiện lên cơn vật vã. Cơn nghiện sẽ giảm dần sau 7 – 10 ngày. Phương pháp này hiện nay được một số nước Châu Á như Indonesia, Malaysia, Brunei sử dụng.


      2. PHƯƠNG PHÁP CAI DẦN:

      Bằng cách giảm liều lượng ma túy mỗi ngày trong thời gian từ 15 – 30 ngày, đồng thời tăng cường thuốc bổ và thuốc an thần. Phương pháp này có ưu điểm là người nghiện thích nghi dần, cơn nghiện giảm từ từ, không vật vã như phương pháp cai khô, nhược điểm là đòi hỏi phải dùng chất ma túy, thời gian cắt cơn kéo dài.


      3. CẮT CƠN CỰC NHANH:

       Có thể điều trị hội chứng cai phương pháp cực nhanh bằng cách sử dụng đồng thời:

      • - Gây mê ngắn(2-3 giờ), đồng thời tiêm naloxone để thúc đẩy hội chứng cai ngay lập tức.

      • - Kết hợp với tiêm Catapressan để điều trị các triệu chứng của hội chứng cai.

      • - Sau đó điều trị tiếp hội chứng cai nhẹ còn lại, theo phác đồ dùng Catapressan. Người bệnh có thể ra viện sau điều trị tại bệnh viện 01 ngày.


      4. LIỆU PHÁP TÂM LÝ:

      Liệu pháp tâm lý có thể giảm nhẹ các triệu chứng của hội chứng cai (chỉ áp dụng với người nghiện nhẹ, trung bình). Thậm chí không điều trị gì sau 5 – 10 ngày hội chứng cai cũng thuyên giảm do cơ thể tự điều chỉnh cân bằng trở lại. Việc điều trị chỉ là hỗ trợ giảm khó chịucho người bệnh, giúp họ vượt qua hội chứng cai.


      5. PHƯƠNG PHÁP THỤY MIÊN:

      Cho bệnh nhân giấc ngủ nhân tạo từ 3–7 ngày, nuôi dưỡng bệnh nhân bằng truyền dịch, săn sóc đặc biệt. Phương pháp này có tác dụng làm người cai nghiện bớt cơn vật vã. Thường kết hợp chlorpromazinevới diazepam, phenobarbital. Phương pháp này có ưu điểmlàm giảm bớt cơn vật vã, bệnh nhân không đau đớn, nhưng nhược điểm là nếu nội tạng có bệnh lýsẽ gặp khó khăntrong chẩn đoán và điều trị, ảnh hưởng đến tính mạng người bệnh. Thời gian cai nghiện từ 7 – 10 ngày.


      6. PHƯƠNG PHÁP PHẪU THUẬT THÙY TRÁN:

      Phẫu thuật nhằm phá hủy một số điểm ở thùy trán của não liên quan đến sư thèm muốn ma túy, làm cho người nghiện không còn thèm muốn chất ma túy nữa. Phương pháp này có nhược điểm là sau khi phẫu thuật, bệnh nhân trở nên không bình thường, không phân biệt được phải, trái của hành động. Viện Hàn lâm Y học Nga đã công bố thành tựu nghiện cứu này do GS.Natalia Bectereva thực hiện. Trong số 34 người nghiện đã phẫu thuật, có 27 người không trở lại với ma túy (đạt tỷ lệ 80%).


      7. CẮT CƠN BẰNG THUỐC CATAPRESSAN (CLONIDINE):

      (1) Cơ chế:

      • - Catapressan là loại thuốc hạ huyết áp, α blocker có tác dụng ức chế dẫn truyền noradrenaline.

      • - Catapressan khi vào cơ thể tác dụng vào thụ thể α 2, tăng ức chế dẫn tới nồng độ noradrenaline giảm xuống, do đó, dẫn đến hội chứng cai nhẹ.


        (2) Liều lượng và cách sử dụng:

        • + Catapressan 0.15 mg x ½ viên một lần, cứ 3 giờ một lần (liều hàng ngày từ 2-4 viên).

        • + Chỉ điều trị khi huyết áp tối đa > 90mHg và mạch > 60l/ phút.

        • + Còn kết hợp điều trị thuốc chống đau nhức Panacetamol và an dịu, chống lo âu Diazepam.


        8. PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ BẰNG CHẤT THAY THẾ :(METHADONE)

        Thay thế nghiện chất dạng thuốc phiện bằng thuốc methadone, sau đó giảm liều dần (kéo dài khoảng 20 ngày đến 2 tháng) rồi cắt thuốc methadone khi liều còn rất thấp (hội chứng cai nhẹ hơn). Hiện nay phương pháp này ít được áp dụng mà chủ yếu sử dụng methadone vào điều trị thay thế lâu dài.


        9. PHƯƠNG PHÁP DÙNG THUỐC ĐỐI KHÁNG:

        Phương pháp dùng thuốc đối kháng Naltrexone kết hợp với Clonidine, đã được áp dụng tại một số quốc gia trên thế giới. Phương pháp này có ưu điểm là làm cho bệnh nhân sớm bỏ thèm nhớ chất ma túy những có nhược điểm là vật vã, bức rức, khó chịu, có thể gây ngộ độc khi bệnh nhân vẫn sử dụng chất ma túy.


        10. THUỐC ĐÔNG Y:

        Thuốc Đông y có nguồn gốc từ thảo dược, nên an toàn, không độc, có hiệu lực trong hổ trợ cắt cơn nghiện ma túy, thuốc có khả năng bình ổn các triệu chứng của hội chứng cai. Nhược điểm của các thuốc Đông y là chưa thực hiện được nghiên cứu mù kép và cơ chế tác dụng của thuốc. Hai thuốc Đông y hiện đã được Bộ Y tế cho phép lưu hành trong các Trung tâm cai nghiện là Cedemex và thuốc Bông sen.


        11. PHƯƠNG PHÁP CHÂM CỨU, ĐIỆN CHÂM:

        Theo phác đồ của Bộ Y tế. Châm cứu có ưu điểm cắt cơn nhanh, ít tốn kém, dễ thực hiện tại tuyến cơ sở.


        12. HỖ TRỢ ĐIỀU TRỊ BẰNG THUỐC AN THẦN KINH:

         Phác đồ này được Bộ Y tế Việt Nam ban hành từ năm 1995 và đang được áp dụng điều trị tại nhiều Trung tâm cai nghiện tại Việt Nam.

        Tiêu chuẩn điều trị:

        • + Đặt trong một cơ sở khép kín, tránh được mọi can thiệp và xâm phạm từ bên ngoài. Có trang bị đủ thuốc và phương tiện để khám chữa bệnh và cấp cứu.

        • + Có y, bác sĩ được tập huấn về lý thuyết và thực hành để điều trị và xử trí những trường hợp cấp cứu thường gặp, có sự chỉ đạo của bác sĩ chuyên khoa tâm thần phụ trách về điều trị nghiện ma túy.

        • + Bảo đảm các điều kiện ăn, ở, vệ sinh thuận lợi cho bệnh nhân (thời gian cắt cơn trung bình là 10 ngày).

        • + Cơ sở Y tế có khả năng tự làm hoặc liên hệ với các cơ quan khác làm các xét nghiệm cần thiết (morphine trong nước tiểu, HIV,…).


        Tiêu chuẩn bệnh nhân:

        Bệnh nhân phải có đủ các tiêu chuẩn chẩn đoán trạng thái nghiện và hội chứng cai

        Trạng thái nghiện (theo bảng phân loại bệnh quốc tế 10): có ít nhất 3 trong 6 hiện tượng sau đây:

        • + Thèm muốn mãnh liệt chất ma túy (CMT)

        • + Sau khi ngưng dùng CMT từ 6 -8 giờ sẽ xuất hiện hội chứng cai, buộc phải dùng CMT trở lại.

        • + Khó khăntrong việc kiểm tra tập tính sử dụng CMT

        • + Có hiện tượng dung nạp CMT (liều dùng ngày càng tăng).

        • + Sao nhãng các thích thú cũ.

        • + Biết rõ tác hạicủa CMT nhưng vẫn tiếp tục dùng.


        Hội chứng cai: có ít nhất 4 trong 12 triệu chứng sau đây:

        • + Thèm CMT

        • + Buồn nôn hay nôn

        • + Đau các cơ

        • + Chảy nước mắt nước mũi

        • + Nổi da gà

        • + Toát mồ hôi

        • + Đi rửa

        • + Dãn đồng tử

        • + Ngáp

        • + Ngây ngấy sốt

        • + Mất ngủ

        • + Cảm giác dòi bò trong xương.


        Quy trình sử dụng thuốc hướng thần:

        a. Thuốc giải lo âu: dẫn xuất benzodiazepine như diazepam (seduxen, valium):

        Trạng thái lo âu (nôn nao, bồn chồn) là trạng thái tâm thần cơ bản, thường xuyên có và tăng cường các triệu chứng thần kinh thực vật của hội chứng cai. Những người cai nhiều lần, do nhớ lại những cảm nhận đau khổ trong những lần trước càng lo âu nhiều hơn. Do vậy thuốc giải lo âu cần sử dụng trước tiên và liên tục nhất là trong 1-2 ngày đầu. Không cho diazepam, nếu có các chống chỉ định sau: dị ứng với diazepam, suy hô hấp mất bù, nhược cơ.


        Cách cho thuốc diazepam (seduxen, valium), viên nén 5mg

        • + Hai ngày đầu: uống 4 viên mỗi lần; cách 4 giờ lại cho uống 1 lần, cho đến khi hết bồn chồn và ngủ yên.

        • + Sau khi tỉnh giấc nếu vẫn còn lo âu thì tiếp tục cho thuốc như trên

        • + Ngày thứ 3, 4 bắt đầu giảm liều: 2 viên/lần, cách từ 6-8 giờ cho thêm 1 lần.

        • + Ngày thứ 5 cắt hẳn thuốc để tránh khả năng gây nghiện diazepam.


        b. Thuốc an thần kinh: levomepromazin (tisercin, nozinan):

        Đa số các biểu hiện của hội chứng cai và các rối loạn thần kinh thực vật có thể thanh toán bằng diazepam.


        Nếu có một triệu chứng nặng hơn(ví dụ: vật vã, kích động) hay phức tạp (ví dụ: cảm giác dòi bò trong xương) thì mới sử dụng levomepromazin, một loại an thần kinh, an dịu mạnh. Không dùng levomepromazin nếu có các chống chỉ định sau: dị ứng với levomepromazin, glaucoma góc đóng, bí tiểu tiệdo u tuyến tiền liệt, có tiền sử mất bạch cầu nhiễm độc.


        Liều lượng: phụ thuộc vào trạng thái tiếp thu của cơ thể và mức độ nghiện của từng bệnh nhân. Sau đây là các phương thức sử dụng trung bình:

        Cách cho thuốc: levomepromazin viên nén 25mg

        • + Lần đầu cho uống 2 viên

        • + Lần 2: sau một giờ nếu chưa an dịu và huyết áp tối đa bằng hay cao hơn 100 mmHg thì cho uống thêm 4 viên.

        • + Lần 3: sau một giờ vẫn chưa an dịu và huyết áp như trên thì cho uống thêm 4 viên

        • + Lần 4 và những lần sau: đợi sau 2 giờ nếu chưa an dịu và huyết áp như trên thì cho uống thêm 2 viên.


        Kết quả nghiên cứu vủa Viện Sức khỏe tâm thần cho thấy: sau từ 2-6 giờ (từ 4-16 viên, trung bình 10 viên) thì bệnh nhân an dịu và ngủ ngon (có thể ngủ đến 16 hay 20 giờ liền). Không cần thêm nếu bệnh nhân ngủ dậy không còn vật vã, kích động. Trong khi dùng levomepromazin cần bố trí người săn sóc và theo dõi liên tục để bệnh nhân khỏi ngã khi đứng dậy hay di chuyển. Đặc biệt cần theo dõi huyết áp thường xuyên, nhất là trước khi cho uống thêm levomepromazin. Nếu huyết áp hạ cần cho phối hợp thêm thuốc nâng huyết áp.


        c. Thuốc nâng huyết áp: heptaminol (Hept – A – Myl):

        Chỉ sử dụng khi huyết áp tối đa dưới 100mmHg. Thường gặp sau khi dùng levomepromazin liều cao hay ở những bệnh nhân tiêm chích sái thuốc phiện.

        Heptaminol viên nén 0.2g; uống từ 2-3 lần trong 24 giờ.

        • + Có thể dùng từ 2-3 ngày sau khi phát hiện hạ huyết áp và thôi dùng khi huyết áp trở lại bình thường.

        • + Nếu huyết áp tụt nhiều cần xử trí cấp cứu và dùng thuốc tiêm hay thuốc viên.

        Heptaminol ống 5ml (0.3g) mỗi lần 1-2 ống; 2-3 lần trong 24 giờ. Tiêm bắp hay tĩnh mạch chậm hoặc truyền tĩnh mạch trong dung dịch natriclorid 0.9% hoặc dung dịch glucoza 5% 500ml.


        d. Paracetamol:

        • + Nếu bệnh nhân đau nhức cơ bắp nhiều có thể dùng thêm thuốc giảm đau.

        • + Paracetamol viên nén 0.5g.

        • + Uống mỗi lần 2 viên; uống từ 2-3 lần trong 24 giờ.

        • + Có thể dùng trong 3 ngày đầu.


        e. Thuốc chống co thắt: phloroglucinol (spasfon):

        Nếu bệnh nhân có triệu chứng đau quặn cơ bụng do co thắt các nội tạng, đường tiêu hóa cần dùng thêm thuốc chống co thắt. Spasfon viên nén 80mg, uống mỗi lần 2 viên; uống từ 2-3 lần trong 24 giờ. Có thể dùng từ 1-3 ngày

        Nếu không có spasfon, có thể dùng Alverine (spasmaverine) viên nén 40mg; uống mỗi lần 1-2 viên; ngày uống 3-4 lần


        g. Thuốc chống tiêu chảy và mất nước:

        Tiêu chảy và nôn trong hội chứng cai thường do tăng nhu động ruột, dùng spasfon với liều lượng ở trên cũng có thể chữa khỏi. Nếu tiêu chảy kéo dài kèm thêm vã mồ hôi, nôn, gây trạng thái mất nước, cần cho uống thêm dung dịch oresol (dung dịch uống glocosa - điện giải). Một gói (theo công thức của Tổ chức y tế thế giới) hòa với một lít nước đun sôi để nguội. Cho uống từ 3-4 lít nước trong 24 giờ chia làm nhiều lần.


        h. Thuốc gây ngủ: Alimemazin (théralène):

        Hầu hết các trường hợp dùng diazepam và levomepromazin với liều lượng kể trên đã làm cho bệnh nhân yên tĩnh, ngủ ngon và ngủ lâu. Sau khi cắt diazepam và levomepromazin nếu vẫn còn mất ngủ thì dùng alimemazin một loại thuốc ngủ không gây nghiện, có thể dùng lâu dài. Alimemazin viên nén 5mg; uống 2-4 viên trước giờ ngủ; có thể cho uống thêm từ 2-4 viên nếu bệnh nhân chưa ngủ được. Dùng thuốc đến khi giấc ngủ trở lại bình thường thì giảm liều rồi cắt hẳn.


        i. Điều trị hoàn thiện: Để thực hiện phương châm điều trị toàn diện cần:

        Đặc biệt chú trọng đến chế độ dinh dưỡng nhất là trong những ngày đầu (ăn mềm, có chất đạm và sinh tố). Nếu cơ thể suy sụp cần tiếp nước và điện giải, cho thêm vitamin C và vitamin nhóm B uống.

        Đối với bất cứ loại bệnh nào trong khi điều trị vẫn có thể có các trường hợp cấp cứu xảy ra. Do vậy, đơn vị điều trị phải được trang bị thuốc cấp cứu, các phương tiện và phác đồ cấp cứu. Y bác sĩ phải biết sử dụng phác đồ cấp cứu và các phương pháp nội - ngoại khoa cấp cứu thường gặp.


        III. KẾT LUẬN:

        Để cai nghiện ma túy có hiệu quả, chúng ta phải hiểu rằng cắt cơn nghiện không khó. Cắt cơn nghiện chỉ là bước chuẩn bị cho một quá trình điều trị lâu dài thông qua các biện pháp điều trị kết hợp giữa thuốc và liệu pháp không dùng thuốc. Trong đó, liệu pháp không dùng thuốc là quan trọng, liệu pháp này bao gồm:

        • - Tư vấn

        • - Liệu pháp tâm lý

        • - Liệu pháp giáo dục

        • - Liệu pháp xã hội